Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam chi nhánh Tô Hiệu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NH Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tô Hiệu.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Ngân hàng có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 01 Sở giao dịch, 151 chi nhánh và trên 1000 phòng giao dịch, . Ngân hàng có 09 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty Chứng khoán Công thương, Công ty TNHH MTV Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản, Công ty TNHH MTV Bảo hiểm, Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý, Công ty TNHH MTV Công đoàn và 5 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin, Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhà nghỉ Bank Star I và nhà nghỉ Bank Star II – Cửa Lò. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là sáng lập viên và là đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA và là công ty chuyển mạch tài chính quốc gia Việt Nam (Banknet). Ngân hàng là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội các Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên Ngân hàng toàn cầu(SWIFT), Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế. Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

Vietinbank là Ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử tại Việt Nam. Để có thể đứng vững và phát triển trên thị trường, Ngân hàng Vietinbank không ngừng nghiên cứu, cải tiến các sản phẩm mới nhằm đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng: Các dịch vụ Ngân hàng bán buôn và bán lẻ trong nước và ngoài nước,bảo lãnh và tái bảo lãnh, cho vay đầu tư, tài trợ thương mại, tiển gửi, thanh toán, chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối, phát hành và thanh toán thẻ tín dụng trong nước và quốc tế, séc du lịch, chứng khoán, kinh doanh, bảo hiểm và cho thuê tài chính…

Ngân hàng Công thương Việt Nam là Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000. Năm 2009 là năm đầu tiên Vietinbank hoạt động theo mô hình Ngân hàng cổ phần, đã có nhiều đổi mới và tích cực và mang tính đột phá.

 Sứ mệnh

Là ngân hàng số 1 của hệ thống ngân hàng Việt Nam, cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại, tiện ích, tiêu chuẩn quốc tế.

Tầm nhìn

Đến năm 2018, trở thành một tập đoàn tài chính ngân hàng hiện đại, đa năng, theo chuẩn quốc tế.

 Giá trị cốt lõi

  • Hướng đến khách hàng
  • Hướng đến sự hoàn hảo
  • Năng động, sáng tạo, chuyên nghiệp, hiện đại
  • Trung thực, chính trực, minh bạch, đạo đức nghề nghiệp
  • Sự tôn trọng
  • Bảo vệ và phát triển thương hiệu
  • Phát triển bền vững và trách nhiệm với cộng đồng, xã hội

 Triết lý kinh doanh

  • An toàn, hiệu quả và bền vững
  • Trung thành, tận tụy, đoàn kết, đổi mới, trí tuệ, kỷ cương
  • Sự thành công của khách hàng là sự thành công của Vietinbank.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam –Chi nhánh Tô Hiệu

Quá trình hình thành và phát triển

Chi nhánh Tô Hiệu Hải Phòng được thành lập từ ngày 16/06/2006 lấy tên là Ngân hàng Công thương Tô Hiệu.

Đến tháng 8/2009, hệ thống Công thương cổ phần chuyển tên thành Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam- chi nhánh Tô Hiệu.

Trong hơn 6 năm thành lập và đổi mới tuy phải đương đầu với nền kinh tế thị trường hết sức sôi động và cạnh tranh, chi nhánh không tránh khỏi những khó khăn trở ngại trong lĩnh vực kinh doanh – tiền tệ nhưng bằng ý chí vươn lên từ nội lực của gần 50 cán bộ công nhân viên chức, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của NHTMCPCT, NHNN thành phố Hải Phòng của các cấp, các ngành chính quyền địa phương, từng bước chi nhánh NHTMCP chi nhánh Tô Hiệu đã lập lại thế chủ động, hòa nhập với cơ chế thị trường mở cửa, nâng cao năng lực cạnh tranh, đứng vững và ngày càng phát triển, góp phần trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế thành phố, trở thành chi nhánh cấp 1, hạng 3.

Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Tô Hiệu

Chi nhánh Tô Hiệu Hải Phòng bao gồm 7 phòng ban được đặt dưới sự điều hành của ban giám đốc theo sơ đồ sau:

Chức năng nhiệm vụ của Ban giám đốc và các phòng ban Giám đốc

Là người phụ trách chung trong toàn chi nhánh Ngân hàng, là người chịu trách nhiệm với toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Ngân hàng, có trách nhiệm phân công cấp phó giúp việc Giám đốc. Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

Giám đốc có quyền quyết định việc điều hành hoạt động của Ngân hàng theo kế hoạch, chính sách Pháp luật của Nhà nước, ngoài trách nhiệm chung, giám đốc trực tiếp phụ trách công tác tổ chức, kế hoạch và kiểm tra.

Phó Giám đốc.

Giúp việc Giám đốc, thay thế Giám đốc khi Giám đốc vắng mặt, chịu trách nhiệm trước Ngân hàng cấp trên về phần việc và nhiệm vụ được giao.

Phòng khách hàng doanh nghiệp là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với các doanh nghiệp, để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ. Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHTMCPCT. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các doanh nghiệp.

Phòng khách hàng cá nhân là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với các khách hàng là cá nhân, để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ. Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHTMCPCT. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các khách hàng cá nhân.

Phòng kế toán là các phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng. Các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chỉ tiêu nội bộ tại chi nhánh. Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lí hạch toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước và NHTMCPCT. Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phầm dịch vụ Ngân hàng.

Phòng tổ chức – hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của nhà nước và qui định của NH TMCPCT VN. Thực hiện công tác quản lý và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an toàn của chi nhánh.

Phòng tiền tệ – kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý tiền mặt theo quy định của NHNN và NH TMCPCT VN. Tạm ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có nguồn thu tiền mặt lớn.

Các phòng giao dịch: Thực hiện công tác huy động tiền gửi của dân cư và doanh nghiệp, thực hiện cho vay đối với cá nhân, doanh nghệp vừa và nhỏ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2. Khái quát về hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tô Hiệu. Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

2.2.1. Hoạt động huy động vốn

Bảng 2.1 : Tình hình huy động vốn qua các năm

Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản và có ý nghĩa to lớn đối với bản thân ngân hàng và đối với xã hội bởi các nguồn vốn mà ngân hàng huy động được tạo thành nguồn vốn để ngân hàng cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lời chủ yếu – hoạt động tín dụng. Nói cách khác, kết quả của hoạt động huy động vốn là tạo ra nguồn tài nguyên để ngân hàng đáp ứng các nhu cầu cho nền kinh tế.

Bảng số liệu thể hiện nguồn vốn huy động của ngân hàng qua các năm 2011-2013 liên tục tăng, từ 381.415 triệu đồng năm 2011 lên 455.728 triệu đồng năm 2012, tăng 74.313 triệu đồng tương đương mức tăng trưởng 19,48% và đạt 509.568 triệu đồng năm 2013, tăng 53.840 triệu đồng so với năm 2012, tương đương mức tăng trưởng 11,81%. Điều này chứng tỏ công tác huy động vốn đã được Vietinbank Tô Hiệu chú ý quan tâm.

Phân theo thành phần kinh tế:

Một điều dễ dàng nhận thấy nguồn vốn huy động của Chi nhánh chủ yếu là từ dân cư. Vì thế nguồn vốn của Vietinbank Tô Hiệu luôn tăng trưởng ổn định vững chắc, chủ động được vốn trong thanh toán. Năm 2011 nguồn vốn huy động từ dân cư là 361.810 triệu đồng chiếm tỷ trọng 94,86% trong nguồn vốn huy động. Năm 2012 nguồn vốn từ dân cư tăng lên 429.752 triệu đồng, tăng 67.942 triệu đồng so với năm 2011, tương đương 18,78%. Đến năm 2013 số tiền huy động từ nguồn này là 486.739 triệu đồng, tăng 56.987 triệu đồng so với năm 2012 tương đương 13,26%. Trong hai năm 2012 và 2013, Vietinbank Tô Hiệu đã có những chỉ đạo cụ thể và quyết liệt trong công tác huy động vốn, luôn vận dụng linh hoạt các hình thức huy động vốn tiết kiệm như: Tiền gửi tiết kiệm thông thường, Tiết kiệm gửi góp, Tiết kiệm học đường… Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

Ngoài ra, Ngân hàng không ngừng tiếp thị tận nhà các khách hàng có nguồn vốn nhàn rỗi, tư vấn cho khách hàng nên gửi loại tiết kiệm theo thời gian nào cho phù hợp với mục đích sử dụng trong công việc sắp tới của gia đình, thành lập tổ thu tiền tận nhà, phù hợp với tâm lý của từng đối tượng khách hàng. Khoán chỉ tiêu huy động vốn cho tất cả cán bộ, nhân viên, gắn với chi trả tiền lương. Nên mặc dù gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng khác trên cùng địa bàn nhưng Vietinbank Tô Hiệu đã thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư tăng lên 18,78% và 13,26% với năm trước.

Tuy nhiên, nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế (TCKT) và nguồn tiền gửi, tiền vay từ các tổ chức tín dụng (TCTD) là nguồn vốn có chi phí rẻ nhưng chỉ chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong tổng nguồn vốn huy động được. Năm 2011, số tiền huy động từ các nguồn này đạt 19.605 triệu đồng, chiếm 5,14% trong tổng nguồn vốn. Đến năm 2012 nguồn vốn từ các TCKT và các TCTD tăng và đạt 25.976 triệu đồng, tương đương mức tăng trưởng 32,50%, chiếm 5,70% trong tổng cơ cấu nguồn vốn. Năm 2013, nguồn vốn này chỉ đạt 22.829 triệu đồng, mức tăng trưởng giảm còn 12,12%. Điều này thể hiện tại Vietinbank Tô Hiệu nguồn vốn rẻ là rất ít làm ảnh hưởng đến thu nhập tài chính của Ngân hàng, như vậy việc vận động lôi kéo các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp mở tài khoản cần phải quan tâm hơn nữa.

Phân theo thời gian:

Tiền gửi không kì hạn và ngắn hạn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động. Nguồn vốn này có nhược điểm là khó kế hoạch hoá vì thời gian ngắn, nhưng có ưu điểm lớn là tiết kiệm chi phí vì lãi suất thấp và tránh được rủi ro về lãi suất. Năm 2011, tiền gửi huy động từ nguồn này đạt 270.461 triệu đồng chiếm tỉ trọng 70,91% trong tổng nguồn vốn. Năm 2012 và 2013 số tiền huy động tăng lên lần lượt là 304.244 triệu đồng chiếm tỉ trọng 66,76% và 384.497 triệu đồng chiếm tỉ trọng 84,37% trong tổng nguồn vốn huy động, tương đương mức tăng trưởng 13,75% và 26,38%.

Ngược lại nguồn tiền gửi trên 12 tháng có ưu điểm là giúp cho Chi nhánh chủ động được nguồn vốn để đầu tư trung và dài hạn, song lại có nhược điểm là tiềm ẩn rủi ro về lãi suất lớn, nhất là trong giai đoạn hiện nay, Ngân hàng Nhà nước luôn thay đổi lãi suất cơ bản nên chi nhánh vẫn khuyến khích thu hút nguồn tiền gửi này nhưng có chính sách lãi suất phù hợp. Do đó, số tiền gửi trên 12 tháng vẫn tăng từ 100.954 triệu đồng năm 2011 lên 151.484 triệu đồng năm 2012, tăng 40.530 triệu đồng, tương đương mức tăng trưởng 36,53%. Đến năm 2013, số huy động từ nguồn này giảm còn 82.031 triệu đồng, giảm 69.450 triệu đồng so với năm 2012, tương đương mức giảm sút 45,85%. Do đó, cán bộ Vietinbank Tô Hiệu nhận định cần có giải pháp để khắc phục, tăng cường công tác huy động vốn trung và dài hạn có hiệu quả hơn.

Phân theo đơn vị tiền tệ:

Qua số liệu trên ta thấy công tác huy động vốn ngoại tệ và nội tệ có mức tăng trưởng rõ nét, nhưng nhìn chung tốc độ tăng trưởng của nội tệ nhanh hơn so với ngoại tệ, nội tệ chiếm vị trí chủ đạo trong nguồn vốn huy động, chiếm trên 90% tỷ trọng nguồn vốn chi nhánh. Cụ thể năm 2012 nguồn vốn huy động từ nội tệ là 411.705 triệu đồng chiếm tỷ trọng 90,34%, tăng 64.122 triệu đồng tương đương 18,45% so với năm 2011. Năm 2013 nguồn vốn huy động từ nội tệ đạt 488.981 triệu đồng, chiếm 95,96% trong tổng nguốn vốn, tăng 77.267 triệu đồng tương đương 18,77% so với năm 2012.

Nguồn huy động bằng ngoại tệ chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn, chỉ chiếm không đến 10% nguồn vốn huy động nhưng nó giữ vai trò khá quan trọng trong nguồn vốn Ngân hàng. Năm 2012, nguồn vốn ngoại tệ quy đổi ra nội tệ là 44.023 triệu đồng, chiếm 9,66%, tăng 10.200 triệu đồng so với năm 2011, tương đương mức tăng trưởng 30,25%. Đến năm 2013, nguồn vốn ngoại tệ có sự giảm sút còn 20.587 triệu đồng, giảm 23.436 triệu đồng, tương đương 53,24%. Sự giảm sút này là do sự bất ổn về kinh tế thế giới và kinh tế trong nước tác động.

2.2.2. Hoạt động sử dụng vốn Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

Bảng 2.2 : Tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch tín dụng

Huy động vốn là điều kiện cần để tiến hành các hoạt động kinh doanh, còn hoạt động sử dụng vốn là hoạt động chính mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, nó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động cho vay nên trong thời gian qua Vietinbank Tô Hiệu đã có nhiều biện pháp nhằm mở rộng quy mô gắn liền với nâng cao chất lượng cho vay, đảm bảo an toàn vốn, hạn chế rủi ro.

Năm 2012, doanh số cho vay tăng 16.01% và doanh số thu nợ tăng 11,88% so với năm 2011. Trong năm này, Ngân hàng gặp khó khăn trong việc một số khách hàng vay nhỏ lẻ đã chuyển sang vay ngân hàng chính sách với lãi suất thấp hơn, mặt khác do các nguyên nhân khách quan khác như ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ toàn cầu, làm cho lãi suất tăng cao, dẫn đến việc cho vay gặp nhiều khó khăn. Đến năm 2013 doanh số cho vay tăng 18,27%, nguyên nhân của sự gia tăng này là do trong năm 2013 nền kinh tế có sự chuyển biến mạnh mẽ nên doanh số thu nợ tăng 9,33% so với năm 2012.

Cùng với doanh số cho vay thì tổng dư nợ của Chi nhánh cũng diễn ra theo chiều hướng tương tự. Dư nợ năm 2012 đạt 402.143 triệu đồng, tăng 46.413 triệu đồng so với năm 2011, tương đương mức tăng trưởng 13,05%. Đến năm 2013, dư nợ cuối kỳ đạt 499.351 triệu đồng, tức tăng 97.208 triệu đồng so với năm 2012, tương đương mức tăng trưởng 24,17%.

Các chỉ tiêu trên cho ta thấy hiệu suất sử dụng vốn của Ngân hàng tăng trưởng đều đặn qua các năm. Đây cũng là kết quả khá khả quan so với các ngân hàng trên địa bàn. Có được kết quả như vậy là nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của ban lãnh đạo và sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên Chi nhánh.

2.2.3. Về mặt doanh thu hoạt động. Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh

Lợi nhuận của chi nhánh tăng dần qua các năm: Năm 2011 doanh thu thu được không được cao, tổng doanh thu là 106.446 triệu đồng, tổng chi năm này là 99.710 triệu đồng. Do đó, lợi nhuận mà chi nhánh được hưởng là 6.736 triệu đồng. Tới năm 2012, doanh thu đạt 117.630 triệu đồng tăng so với tổng thu năm 2011 là 11.148 triệu đồng, tương đương mức tăng trưởng 10,5%. Tổng chi năm này là 109.996 triệu đồng, tăng 10.286 triệu đồng so với năm 2011, tương đương 10,32%, do vậy lãi mà chi nhánh có được trong năm 2012 là 7.634 triệu đồng, tăng 898 triệu đồng, tương đương mức tăng trưởng 13.36%. Đến năm 2013, tổng thu là 135.746 triệu đồng tăng thu so với năm 2012 là 18.116 triệu đồng, tương đương mức tăng trưởng 15,40%, tổng chi năm này là 126.060 triệu đồng, lãi của năm 2013 là 9.686 triệu đồng tăng 2.052 triệu đồng, tương đương mức tăng trưởng 26,88%.

Mặc dù lợi nhuận của Ngân hàng vẫn tăng hằng năm, tuy nhiên ta có thể thấy tổng chi phí hàng năm khá cao, các chi phí giành cho hoạt động quản lý, công cụ và tài sản chiếm tương đối cao, bên cạnh đó chi phi dự phòng, bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi của khách hàng cũng là chi phí khá quan trọng vì nó sẽ góp phần giảm rủi ro cho ngân hàng nhất là trong thời điểm khủng hoảng như thời gian qua. Chi phí là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận và là khoản không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh nhưng làm thế nào để hạn chế các chi phí một cách tối thiểu là vấn đề cần đặt ra. Vì vậy ngân hàng nên có những biện pháp tiết kiệm các khoản chi phí không cần thiết, nó sẽ góp phần nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng. Giai đoạn 2011-2013 là giai đoạn đầy biến động và thách thức đối với toàn nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên, qua phân tích ta thấy Chi nhánh Vietinbank Tô Hiệu đã kinh doanh có lợi nhuận trong 3 năm và đạt mức chỉ tiêu được giao, chứng tỏ rằng Chi nhánh Vietinbank Tô Hiệu vẫn hoạt động có hiệu quả ngay cả trong thời kỳ khó khăn. Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng Công Thương Việt Nam

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Vietinbank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464