Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ứng dụng marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường và mặt hàng dệt may xuất khẩu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA

2.1.1. Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng ở Việt Nam

Hơn 20 năm, kể từ năm 1989, đổi mới trải qua 4 kế hoạch 5 năm,Việt nam đã có diện mạo mới,nền kinh tế Việt Nam hiện tại cũng đứng ở vị thế khác trong bảng xếp hạng kinh tế thế giới. Từ 1 nước phải sống nhờ vào hàng viên trợ và nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam bỗng trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, thứ nhất về xuất khẩu hạt tiêu, thứ hai về cà phê và hạt điều, thứ tư về cao su…thực sự khẳng định vị trí cường quốc xuất khẩu nông sản…Hàng Việt Nam đã có mặt ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Theo Bộ công thương, đến nay, đã có gần 40000 doanh nghiệpViệt Nam hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp, tăng khoảng 1000 lần so với năm 1986. Số mặt hàng xuất khẩu cũng tăng, từ 4 nhóm là dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may lên tới 40 nhóm mặt hàng. Chính sách tự do hoá thương mại, xoá bỏ độc quyền ngoại thương, mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu là bước đột phá tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động ngoại thương, đẩy nhanh tăng trưởng xuất khẩu trên cả nước.

Dưới đây là bảng thể hiện tình hình xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam những năm gần đây:

Qua đó, có thể thấy tổng giá trị xuất khẩu và tổng giá trị nhập khẩu hầu như tăng theo từng năm. Các mặt hàng chủ lực cũng không ngừng tăng cao và đạt được những kết quả khả quan như sau:

Bảng 2: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đã có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng hàng chế biến sẵn và nhóm hàng công nghiệp tăng lên, số lượng mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng nhanh, thể hiện qua biểu đồ sau:

Hình 1: Tổng kim ngạch xuất khẩu từ 1996 – 2020

Sau gần 3 năm gia nhập WTO, hoạt động ngoại thương nói chung, đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nói riêng có nhiều thuận lợi để phát triển. Các nhà xuất khẩu Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn, những hạn chế và rào cản thuế đối với hàng hoá Việt Nam được cắt giảm.

Năm 2021, xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao. Kim ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2020 (7,9 tỷ USD) và vượt 15,5% so với kế hoạch. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước chiếm 42% và tăng 22,3%; khu vực FDI chiếm 58% và tăng 18,4%. Có 10 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD. Mặc dù đã là thành viên đầy đủ của WTO, nhưng xuất khẩu trong những tháng đầu năm dường như chưa đạt mức tăng trưởng tương xứng so với tiềm năng và cơ hội mang lại. Kết quả là xuất khẩu chỉ tăng bình quân 22%. Trong bối cảnh giá cả và thị trường thế giới không có nhiều biến động lớn nhưng xuất khẩu những tháng đầu năm tăng trưởng không cao (trên 25%). Lượng hàng hóa xuất khẩu tăng khá, nhưng chưa có nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn, có khả năng bù đắp phần thiếu hụt khi giá và lượng dầu thô xuất khẩu giảm. Chất lượng hàng hóa xuất khẩu, đặc biệt là thủy sản và thực phẩm chưa thực sự ổn định, vẫn còn những lô hàng bị trả lại. Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Năm 2022, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương đương 73% GDP, tăng 33,9% so với năm 2021. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của năm 2022 đạt mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước đó. Khu vực doanh nghiệp FDI đạt kim ngạch xuất khẩu 37,3 tỷ USD (kể cả dầu khí), chiếm tỷ trọng 57,4% tổng kim ngạch cả nước và tăng 34,6% so với năm 2021. Doanh nghiệp vốn trong nước chỉ đạt 27,7 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 42,6% tổng kim ngạch cả nước và tăng 36,5% so với năm 2021. Có 12 nhóm mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1 tỉ USD trở lên, hơn được 2 nhóm mặt hàng so với năm 2021. Trong số 2 thành viên mới này có nhóm hàng thủ công mỹ nghệ. Năm 2021 nhóm hàng này chỉ đạt được kim ngạch 825 triệu USD, nhưng năm 2022, với sự tăng đột biến của sản phẩm đá quý và kim loại quý thêm gần 500 triệu USD, nên cả nhóm đạt trên 1,3 tỉ USD. Với ngưỡng đó, khả năng nhóm thủ công mỹ nghệ đạt mục tiêu 1,5 tỉ vào năm 2010 không còn là điều xa vời.

Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 57,1 tỷ USD, giảm 8,9%so với năm 2022 và nhập khẩu là 69,95 tỷ USD, giảm 13,3%. Như vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2023 là 127,05 tỷ USD, giảm 11,4% so với năm 2022, cán cân thương mại hàng hoá thâm hụt 12,85 tỷ USD, bằng 22,6% xuất khẩu, được thể hiện rõ nét qua biểu đồ kim ngạch xuất nhập khẩu dưới đây:

Hình 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại năm 2023

Tuy nhiên, xét trong bối cảnh hiện nay, mức sụt giảm này là tương đối ít so với mức sụt giảm của các nền kinh tế khác. Và sang năm 2010, tình hình xuất khẩu của Việt Nam đã có những chuyển biến khả quan rõ rệt, thể hiện qua 2 tháng đầu năm như sau:

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.1.2. Nét chung của ngành dệt may Việt Nam

So với nhiều ngành khác, ngành dệt may ở Việt Nam là ngành công nghiệp truyền thống có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Từ khi đổi mới, ngành dệt may không ngừng phát triển về quy mô, năng lực sản xuất, trình độ công nghệ trang thiết bị, ngày một tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Cho đến nay, sản phẩm dệt may đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và có khả năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ…. Việc xuất khẩu hàng dệt may đã đem lại một khoản ngoại tệ rất đáng kể để đổi mới và nâng cấp toàn bộ trang thiết bị công nghệ của ngành dệt may. Ngành dệt may không chỉ đem lại nguồn tích lũy cho đất nước mà còn góp phần quan trọng giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cho người lao động, tạo sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào, người Việt Nam lại có truyền thồng cần cù và rất sáng tạo. Mặt khác, giá cả sinh hoạt thấp, chi phí lao động hạ, tạo điều kện thuận lợi cho hàng dệt may có ưu thế cạnh tranh. Hơn nữa, Việt Nam còn có vị trí địa lý và cảng khẩu rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa bằng đường biển nên giảm được chi phí vận tải. Hệ thống cảng biển Việt Nam nói chung đều gần kề đường hàng hải quốc tế nên có thể hành trình theo tất cả các tuyến đi Bắc Á, Đông Á và Nam Á Thái Bình Dương, đi Trung Cận Đông, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Việt Nam cũng nằm trong khu vực các nước xuất khẩu lớn hàng dệt may như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, nên ngành công nghiệp Việt Nam đang là một thị trườn hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.

Có thể nói, phát triển ngành dệt may Việt Nam là phát huy tối đa những lợi thế hiện nay để phát triển kinh tế, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

2.1.3. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong thời gian qua Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Bảng 3: Các mục tiêu cụ thể trong Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may đến năm 2015, với tầm nhìn đến năm 2020

Ngành công nghiệp dệt may là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam, được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khá mạnh. Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngành dệt may đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, phải cạnh tranh ngang bằng với các cường quốc xuất khẩu lớn.

Việt Nam hiện có hơn 1000 nhà máy dệt may, thu hút trên 50 vạn lao động, chiếm đến 22% tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp. Sản lượng sản xuất hàng năm tăng trên 10% nhưng quy mô còn nhỏ bé, thiết bị và công nghệ khâu kéo sợi và dệt vải lạc hậu, không cung cấp được vải cho khâu may xuất khẩu. Những năm qua, tuy đã nhập bổ sung, thay thế 1.500 máy dệt không thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện có là 10.500 máy, thì cũng chỉ đáp ứng khoảng 15% công suất dệt.

Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyền đồng bộ chuyên sản xuất một mặt hàng như dây chuyền may sơ mi, may quần âu, quần Jean, complet, hệ thống giặt là… nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao. Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch cao, nhưng chủ yếu làm gia công, ngành dệt vẫn nhập khẩu nhiều và nguyên liệu cho sản xuất của ngành dệt hầu như hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài…

Nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm xuất khẩu và tiến tới chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào, ngành dệt may đang tập trung đầu tư lớn vào khâu sản xuất nguyên phụ liệu. Cụ thể, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) cùng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đầu tư trên 2.000 tỷ đồng sản xuất xơ polyeste từ sản phẩm hóa dầu tại khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng). Vinatex cũng kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư cho 1 nhà máy sản xuất xơ polyeste ở tỉnh Đồng Nai và 2 nhà máy ở tỉnh Bình Dương.

Toàn ngành cũng triển khai mô hình cổ phần, thành lập các khu vực trồng bông trang trại có tưới ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Quảng Ngãi và Đồng Nai với mục tiêu đến năm 2010 có từ 45.000 ha đến 50.000 ha trồng bông. Dự kiến, khi các nhà máy của Vinatex ra đời cùng với các dự án mới đang triển khai thì từ năm 2023 trở đi, tỷ trọng sản xuất xơ polyeste sẽ đáp ứng được 15 – 20% nhu cầu so với hiện nay phải nhập khẩu hoàn toàn và đến năm 2012 chiếm khoảng 50%. Vinatex còn yêu cầu các doanh nghiệp lớn như: Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, Hanosimex, May 10 và Đức Giang mạnh dạn chuyển đổi và xây dựng một bản sắc, thương hiệu riêng nhằm tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước.

Về chất lượng, lượng tăng trưởng vẫn đang là vấn đề lớn đặt ra đối với ngành dệt may Việt Nam. Với những cơ hội do hội nhập mang lại, ngành dệt may Việt Nam hiện chủ yếu tham gia vào khâu gia công sản phẩm cuối cùng với giá trị gia tăng thấp. Do vậy việc thâm nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu là hết sức cần thiết để ngành dệt may phát huy hơn nữa vai trò trong phát triển nền kinh tế đất nước. Theo một đánh giá gần đây nhất của ngành, chuỗi giá trị dệt may được chia làm 4 giai đoạn, cụ thể:

Thứ nhất là ý tưởng thiết kế: Đây là khâu có tỷ suất lợi nhuận cao trong chuỗi giá trị thì lại là khâu yếu nhất của ngành may mặc Việt Nam. Chỉ khoảng 30% giá trị xuất khẩu của ngành dưới dạng FOB(tức là có tham gia vào khâu ý tưởng và thiết kế) còn lại xuất khẩu dưới hình thức gia công

Thứ hai là công nghiệp phụ trợ: Đến nay hơn 70% nguyên vật liệu đầu vào phải nhập khẩu, theo đó ngành may mặc Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn: chi phí nguyên liệu cao dẫn đến giá thành sản xuất cao, giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm may mặc thông qua công cụ giá cả, không chủ động trong kế hoạch kinh doanh, các doanh nghiệp sản xuất chịu sức ép đáng kể từ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu.

Thứ ba là sản xuất: hình thức chủ yếu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là gia công, khâu sản xuất có tỉ suất lợi nhuận thấp nhất, chỉ chiếm 5-10%. Song những năm qua, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang tập trung khai thác các lợi thế ở công đoạn này. Đứng trên giác độ của các chuyên gia kinh tế cho thấy, mặc dù tạo giá trị gia tăng không cao nhưng giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh hơn bởi các “cường quốc may mặc”, họ cạnh tranh nhau khốc liệt giai đoạn thiết kế và phát triển phụ trở mà tạo ra nhiều thị trường ngách cho các nước trong đó có Việt Nam. Với việc hội nhập sâu rộng của nước ta đã tạo cho ngành Dệt may Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để phát triển và khai thác triệt để các lợi thế trong khâu này. Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Thứ tư là thương mại hoá: Đây là khâu dệt may Việt Nam mới thực sự mạnh về khâu phân phối trong nước, thương mại hoá ở các thị trường xuất khẩu còn rất yếu. Do vậy, để tăng giá trị gia tăng cho toàn ngành, việc chú trọng vào khâu thương mại hoá nhằm tăng giá trị cảm nhận của sản phẩm, tăng khối lượng tiêu thụ, kích thích tiêu dùng thực sự cần chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá.

Một số thuận lợi và khó khăn của ngành dệt may Việt Nam:

  • Thuận lợi : Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO và được đối xử bình đẳng như các thành viên khác của tổ chức này. Từ chỗ chỉ được xuất khẩu theo hạn ngạch khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, bây giờ các doanh nghiệp dệt may có thể xuất khẩu theo năng lực thị trường mà không lo về hạn ngạch. Thuế nhập khẩu dệt may của Việt Nam vào các nước thành viên WTO sẽ theo khung NTR. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện thâm nhập mạnh hơn vào thị trường nước ngoài, tăng thêm kim ngạch xuất khẩu. Trong thời gian qua ngành dệt may Việt Nam không ngừng phát triển trang thiết bị được đổi mới và hiện đại hoá tới 90%. Lực lượng lao động dồi dào, có kỹ năng và tay nghề tốt, có kỷ luật, chi phí lao động còn thấp so với nhiều nước. Có khả năng sản xuất được các loại sản phẩm phức tạp, chất lượng cao, được phần lớn khác hàng khó tính chấp nhận. Nhiều doanh nghiệp trong ngành may được tổ chức tốt, đáp ứng được các tiêu chuẩn xã hội, xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các nhà nhập khẩu, bán lẻ nước ngoài, đặc biệt là Hoa Kỳ. Ngành dệt may Việt Nam đã tận dụng được trong việc hấp dẫn các thương nhân và nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư và làm ăn khi được đánh giá là điểm đến ổn định về chính trị, an toàn về xã hội.
  • Khó khăn : Trước những cơ hội lớn khi là thành viên WTO thì ngành dệt may Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong cạnh tranh. Đó là hàng rào bảo hộ hàng sản xuất trong nước đã giảm đến mức tối đa. Thuế nhập khẩu hàng dệt may giảm ngay tức thì từ 11/01/2021, (thuế nhập khẩu hàng may mặc giảm từ 50% xuống còn 20%, vải từ 40% xuống còn 12%). Vì vậy, các nhà sản xuất dệt may trong nước sẽ phải cạnh tranh khôc liệt với các sản phẩm của một số nước cạnh tranh lớn như Trung Quốc, Ấn Độ… Từ ngày 11/1/2021, hàng dệt may Việt Nam không còn phải chịu hạn ngạch khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, nhưng dưới áp lực của các nhà sản xuất dệt Hoa Kỳ, Bộ Thương Mại nước này đã đưa ra một rào cản mới, đó là việc xây dựng cơ chế giám sát nhập khẩu và tự khởi động điều tra chống bán phá giá hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh khi thị trường Mỹ chiếm đến trên 50% thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam.

Ngoài ra, ngành dệt may hiện nay đang trải qua tình trạng thiếu công nhân cục bộ tại các thành phố lớn. Mối quan hệ lao động, tiền lương đang có chiều hướng phức tạp. Nhiều cuộc đình công tự phát đã xảy ra tại các thành phố và khu công nghiệp tập trung đã ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh. Thiếu lao động kỹ năng trung cao cấp về công nghệ, thương mại, quản trị.

2.1.4. Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động xuất nhập khẩu của hàng dệt may Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các sản phẩm về may mặc ngày càng hoàn thiện. Từ những nguyên liệu thô sơ, con người đã sáng tạo ra những nguyên liệu nhân tạo để phục vụ cho nhu cầu sử dụng các sản phẩm may mặc ngày càng phổ biến. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với những phát minh khoa học trong lĩnh vực công nghiệp đã giúp cho ngành dệt may có sự phát triển vượt bậc. Quá trình phát triển của ngành dệt may trên thế giới gắn liền với sự phát triển của các nước công nghiệp. Do đó, các nước công nghiệp vẫn luôn thực hiện các biện pháp bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các nước đang phát triển. Cùng với đó, dệt may cũng luôn là một lĩnh vực nhạy cảm khi đàm phán và giải quyết các tranh chấp trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia.

Việt Nam, dệt may cũng là một trong những ngành được chú trọng phát triển khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với những ưu thế về nguồn nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, Việt Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành dệt may để vừa thu về giá trị xuất khẩu lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vừa giải quyết được việc làm cho phần lớn người lao động.

2.1.4.1. Xuất khẩu dệt may đối với chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Xét về cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia ngành dệt may Việt Nam, trước thời mở cửa chỉ có các công ty, xí nghiệp và hợp tác xã quốc doanh hoạt động với tổng sản lượng bị hạn chế, nhưng sau khi Đảng và nhà nước chủ trương mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, ngành dệt may Việt Nam đã thể hiện sự năng động chuyển mình đáng khâm phục, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dệt may Việt Nam bao gồm đầy đủ cả doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, liên doanh, và 100% vốn nước ngoài. Do có sự cạnh tranh, một tất yếu của quá trình hội nhập và mở cửa các doanh nghiệp quốc doanh cũng đang trong quá trình tích cực thay đổi về tổ chức quản lý, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ sản xuất theo hướng liên kết cùng nhiều đơn vị cùng ngành nghề hoặc cùng cấp quản lý thành những tổng công ty, đổi mới thiết bị và công nghệ, tăng cường đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật, tiếp thị, thiết kế mẫu mã nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng và mở rộng thị trường ra nước ngoài.

Xét dưới góc độ cơ cấu sản phẩm, có thể thấy rằng từ việc sản xuất hàng giản đơn, chất lượng trung bình hoặc kém, phục vụ thị trường nội địa là chủ yếu thì sau khi mở cửa ngành dệt may Việt Nam đã chuyên sâu về sản xuất hàng chất lượng tốt với mức độ ngày càng tăng và cơ cấu hàng gia công và sản xuất phục vụ xuất khẩu ngày càng tăng. Đây cũng là đóng góp rất lớn cho một trong những mục tiêu của kinh tế Việt Nam là mở cửa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, định hướng xuất khẩu.

2.1.4.2. Hiệu quả kinh tế Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Khi Việt Nam thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường thế giới, tham gia trên một sân chơi rộng khắp toàn cầu, Ngành dệt may đã tận dụng những cơ hội mang lại và phần nào đã chuyển những thách thức thành những kết quả đáng ghi nhận của ngành, để ngành trở thành một trong những hướng phát triển chủ lực trong dự án mở rộng xuất khẩu của nhà nước. Sức tăng trưởng lớn, kim ngạch xuất khẩu tăng dần mỗi năm, nhất là trong năm 2023, kim ngạch cả năm đạt 9,1 tỷ USD, tăng 1% so với năm 2022, trong điều kiện xuất khẩu của cả nước tăng trưởng “âm”, đưa dệt may nằm trong top dẫn đầu những mặt hàng xuất khẩu của cả nước. Không những thế, thời trang Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 6 của Liên đoàn thời trang châu Á (AFF).

Với những thành công lớn như thế, không quá khi nói rằng dệt may xuất khẩu đã góp phần không nhỏ trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, mang lại cho nhà nước ta một nguồn ngân sách lớn. Bên cạnh đó, còn là những lợi ích quốc tế khi có càng nhiều các khách hàng quốc tế biết đến dệt may Việt Nam. Cho đến nay Việt Nam đã có mối quan hệ thương mại trong lĩnh vực dệt may với rất nhiều nước trên thế giới, hàng dệt may Việt Nam đã xuất hiện ở hầu hết các thị trường quan trọng, như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Nga, Anh, Pháp…

2.1.4.3. Hiệu quả xã hội

Trong những thập kỉ qua, công nghiệp dệt may luôn có vị trí quan trọng trong đời sống con người, đây là ngành tạo nhiều công ăn việc làm nhất cho người lao động. Nét nổi bật của ngành dệt may là tạo việc làm cho hơn 2,2 triệu lao động trong tổng số khoảng 6 triệu lao động công nghiệp, đó là chưa kể đến một lực lượng lao động khá lớn thu hút vào lĩnh vực phát triển cây bông và trồng dâu nuôi tằm.

Vai trò của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam với việc cải thiện đời sống nhân dân còn được thể hiện ở nguồn lợi mà nó đem về cho đất nước, từ tổng kinh ngạch xuất khẩu, ngân sách nhà nước có nguồn thu, từ đó nhân dân có bệnh viện, trường học, nơi vui chơi giải trí và các công trình phúc lợi xã hội. Điều này được thể hiện ở việc hiện nay ngành dệt may Việt Nam là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ hai ( chỉ sau dầu thô) trong cả nước. Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

One thought on “Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Ứng dụng marketing trong doanh nghiệp Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464