Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường

Từ khi được xuất hiện sơ khai trong một số dự án trong những năm 1990 và chính thức được luật hóa từ năm 2005 đến nay, các quy định pháp luật về TVCĐ trong ĐTM đã có nhiều bước phát triển. Không thể phủ nhận được tầm quan trọng cũng như những thành tựu đã đạt được của của việc TVCĐ. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của thực tế của công tác quản lý môi trường thì cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến môi trường, mà cụ thể là pháp luật về TVCĐ.

Thứ nhất, TVCĐ trong ĐTM cũng góp phần đảm bảo sự tham gia của cộng đồng trong BVMT nói chung. Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật TVCĐ là một cơ chế để hiện thực các chính sách và mục tiêu BVMT của Nhà nước. Năm 1998, Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 36/CT-TW về vấn đề BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ thị nêu rõ BVMT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cũng như vai trò của toàn xã hội, công dân các tổ chức quần chúng. Đây là những cơ sở quan trọng cho việc xã hội hoá BVMT trong Chiến lược BVMT quốc gia giai đoạn 2001-2010 và định hướng đến năm 2020.Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề xuất phương châm của BVMT như sau: “lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống. Nghị quyết này yêu cầu việc phải thiết lập và phát triển các cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác BVMT. Quyết định số 166/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm 2014 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đề ra mục tiêu cần “tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về BVMT cho cộng đồng theo hướng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền; tổng kết, nhân rộng các mô hình tự quản, tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc giám sát các hoạt động BVMT.” Việc hoàn thiện pháp luật về TVCĐ trong ĐTM sẽ giúp cho mục tiêu nhanh chóng đạt được.

Thứ hai, pháp luật Việt Nam đã có một số văn bản quy định về sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ nói chung và trong ĐTM nói riêng. Tuy nhiên, những quy định trong các văn bản này vẫn còn một số bất cập, nhiều quy định chưa rõ ràng gây khó khăn cho việc thực hiện tham vấn, đặc biệt là quy định về xác định đối tượng tham vấn, thời gian tham vấn còn hạn chế, chưa quy định về trách nhiệm của chủ dự án và cộng đồng trong việc giám sát việc thực hiện báo cáo ĐTM hậu thẩm định, chế tài xử lý vi phạm còn nhẹ, chưa tương xứng với những thiệt hại môi trường do… Do vậy, cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về BVMT nói chung, và TVCĐ trong ĐTM nói riêng để cộng đồng và các đối tượng có liên quan phát huy được tối đa hiệu quả của TVCĐ. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về TVCĐ trong ĐTM phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc chung của pháp luật, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trên cơ sở sát với thực tiễn tại Việt Nam. Tháng 6/2005, các đoàn đại biểu tham gia Hội nghị giữa kỳ của các nhà tài trợ cho Việt Nam và đại diện của Chính phủ, các bộ/ngành và một số tỉnh/thành phố của Việt Nam đã thông qua bản Tuyên bố Hà Nội về hiệu quả viện trợ gồm 14 chỉ tiêu và mục tiêu định hướng đến năm 2010. Trong các chỉ tiêu đó có chỉ tiêu số 8 về ĐTM và đánh giá tác động xã hội. Chỉ tiêu này xác định đến năm 2010 sẽ có sự hài hoà nhất định giữa các báo cáo ĐTM và đánh giá tác động xã hội của Việt Nam và của các tổ chức quốc tế. Việc thực hiện nghiêm túc cam kết này chắc chắn sẽ tác động đến quy định về TVCĐ trong ĐTM ở Việt Nam. Tuy nhiên, tới nay kết quả của việc thực hiện cam kết này trong soạn thảo, tham vấn và thẩm định các báo cáo ĐTM ở Việt Nam vẫn chưa thực sự nổi bật.

3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường

Trước những hạn chế trong vấn đề cộng đồng tham gia BVMT như hiện nay thì cần có những giải pháp để khắc phục tình trạng này. Cần hoàn thiện những quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong vấn đề BVMT nói chung, trong công tác ĐTM nói riêng theo hướng quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ tham gia BVMT của cộng đồng.

Thứ nhất, cần mở rộng hợp lý các quy định mang tính nghĩa vụ của cộng đồng trong BVMT. Thể chế hóa các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia công tác ĐTM, mà cụ thể là trong quá trình lập, phê duyệt cũng như trong khâu hậu thẩm định và thực hiện dự án.

Thứ hai, xây dựng các chế tài xử phạt thích đáng, đảm bảo cho các quy định của pháp luật được cộng đồng cũng như các bên liên quan thực hiện nghiêm túc. Có nhiều biện pháp xử phạt nghiêm minh, kịp thời nhằm tạo thành công luận trong xã hội ủng hộ việc làm tốt, phản đối việc làm sai trái, đấu tranh với những tổ chức, cá nhân cố tính vi phạm pháp luật. Từ đó, hạn chế tư tưởng xem thường pháp luật cũng như đánh giá không đúng vai trò quan trọng của TVCĐ.

Thứ ba, xây dựng các quy định cần vận dụng hiệu quả các công cụ như: chính trị, tuyên truyền… đặc biệt là công cụ kinh tế. Bởi lẽ, công cụ kinh tế có tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới cộng đồng. Có các quy định tăng cường tính lợi ích của cộng đồng khi tham gia vào công tác ĐTM. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

Thứ tư, xây dựng các quy định bằng pháp luật để tạo cơ sở pháp lý về sự tham gia của cộng đồng và công chúng vào các hoạt động trong xây dựng, thẩm định và hậu thẩm định báo cáo ĐTM, từ việc đưa ra những ý kiến liên quan đến những ảnh hưởng trực tiếp của dự án đối với cộng đồng, cũng như đề xuất ra các phương án khắc phục các ảnh hưởng tiêu cực. Các quy định được xây dựng phải đảm bảo được lợi ích của cộng đồng tham gia, đồng thời phải có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để công chúng có thể dễ dàng tiếp cận các thông tin và phản hồi ý kiến một cách dễ dàng.

3.3. Một số đề xuất, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường

Sau khi nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về TVCĐ trong ĐTM, tác giả xin đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về TVCĐ trong ĐTM như sau:

Thứ nhất, cần phải xác định rõ đối tượng tham vấn. Để xác định được đối tượng tham vấn cần căn cứ vào từng loại tác động theo từng loại hình dự án và từng giai đoạn thực hiện dự án. Trong từng giai đoạn của dự án, mức độ tác động đến môi trường và đời sống cộng đồng là khác nhau đối với các đối tượng khác nhau. Vì thế, cần xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật cho báo cáo ĐTM của các dự án đặc thù, trong đó, xác định rõ các loại tác động của dự án theo các giai đoạn từ đầu tư, xây dựng, vận hành. Bên cạnh đó, việc xác định các loại hình dự án cũng giúp xác định nhóm tổ chức cần được tham vấn, đặc biệt là các tổ chức xã hội – nghề nghiệp liên quan đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Dự án sản xuất điện từ khí đốt tự nhiên ở vùng nước sâu Malampaya (gọi tắt là dự án Malampaya) được đánh giá là dự án điển hình của Phi-líp-pin về việc tham vấn công khai rộng rãi trong quá trình thực hiện ĐTM. Tham vấn dự án đã được triển khai từ trước khi tiến hành ĐTM, không chỉ thực hiện với các cộng đồng địa phương nơi đặt địa điểm nhà máy, công xưởng sửa chữa tàu mà còn cả những khu vực liên quan có khả năng bị tác động. Việc xác định phạm vi tham vấn đối với một dự án quy mô lớn và trải dài như Malampaya tương đối phức tạp và khó khăn. Cơ quan quản lý cũng không có tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tham vấn. Tuy nhiên, Pilipinas Shell Foundation – công ty chuyên trách công tác xã hội của Shell tại Phi-líp-pin đã tổ chức TVCĐ rất bài bản.

Luật BVMT hiện nay quy định các đối tượng tham vấn bao gồm UBND cấp xã, tổ chức, cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp từ dự án. Quy định này bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu về sự tham gia của các đối tượng có liên quan đến dự án. Tuy nhiên, học hỏi kinh nghiệm từ nước bạn cũng như dựa vào tình hình thực tế và tính chất các dự án của Việt Nam, cần quy định rộng rãi các đối tượng tham vấn như sau: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

Các cộng đồng nhân dân trực tiếp chịu các tác động tích cực hoặc tiêu cực về tài nguyên môi trường của dự án, các UBND các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên môi trường trên địa bàn dự án. Cấp đó là cấp xã nếu dự án chỉ có tác động đến môi trường trên địa bàn một xã, là cấp huyện nếu dự án có các ảnh hưởng đến môi trường trên địa bàn nhiều xã trong huyện, là cấp tỉnh nếu dự án có tác động đến môi trường trên nhiều huyện trong tỉnh.

2) Các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các cơ quan thông tin, truyền thông có nhiệm vụ hoạt động về tài nguyên môi trường trên địa bàn của dự án.

  • Các chuyên gia Việt Nam, các công dân Việt Nam quan tâm, am hiểu về tác động tới môi trường của dự án, có nguyện vọng đóng góp vào TVCĐ về tài nguyên môi trường của dự án và được một tổ chức có trách nhiệm tham gia.
  • Các tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực, chuyên gia nước ngoài có nhiều kinh nghiệm về các vấn đề tài nguyên môi trường liên quan đến dự án, có nguyện vọng tham vấn về nội dung báo cáo ĐTM của dự án và được một tổ chức tổ chức Việt Nam có trách nhiệm tham gia TVCĐ báo cáo ĐTM của dự án mời cùng tham dự tham vấn.

Thứ hai, xác định cách thức tham vấn. Tính đáng tin cậy và ý nghĩa của tham vấn phụ thuộc rất lớn vào phương pháp và cách thức tham vấn. Đặc biệt là việc TVCĐ ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần được trình bày đơn giản và dễ hiểu cả về hình thức và nội dung. Về mặt hình thức, thông tin nên được thể hiện bằng các ngôn ngữ bản địa, tránh dùng các thuật ngữ kỹ thuật, nếu dùng cần có giải thích cụ thể; tăng sử dụng đồ họa (bản đồ, bảng biểu, hình ảnh, đồ họa máy tính ba chiều) để làm rõ thêm thông tin và tác động; phân loại các thông tin theo từng chủ đề như: khía cạnh pháp lý, khía cạnh kỹ thuật, khía cạnh môi trường, khía cạnh xã hội và văn hóa, khía cạnh sức khỏe, và khía cạnh kinh tế tiềm năng. Về mặt nội dung, thông tin cần trình bày cụ thể và lượng hóa bằng những chỉ số cần thiết tùy thuộc theo từng nhóm dự án. Tùy thuộc vào nhóm đối tượng khác nhau mà có cách tiếp cận và cung cấp thông tin khác nhau để đạt được hiệu quả của tham vấn tốt nhất, như cộng đồng địa phương thì thuyết trình, tập huấn, thực địa hay các sổ tay, tờ rơi thông tin, còn chuyên gia, tổ chức thì các báo cáo phân tích, báo cáo nghiên cứu chuyên sâu. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

Đồng thời, cần có hình thức tổ chức tham vấn riêng biệt đối với những hộ dân trực tiếp chịu tác động của dự án như bị giải tỏa trắng, phải di dời nhà cửa của mình tìm nơi sinh sống mới; phải có biện pháp để bảo đảm rằng họ sẽ có cuộc sống ít ra cũng phải bằng hoặc tốt hơn hiện nay khi thực hiện dự án; phải công khai, minh bạch trong việc giải tỏa đền bù khi thu hồi đất của dân, chỉ thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo Luật đất đai, không vì lợi ích nhóm mà thu hồi đất của người này giao cho người khác hoặc tổ chức này cho tổ chức khác. Trên thế giới, vấn đề giải phóng mặt bằng, giải tỏa dân cư đang sinh sống bình yên để thực hiện các dự án phát triển là vấn đề hết sức quan trọng, được ưu tiên quan tâm giải quyết và phải được giải quyết một cách thỏa đáng, công bằng và minh bạch. Đề nghị trong ĐTM đối với các dự án của ta hiện nay cần nhấn mạnh thêm nhiều hơn nữa về vấn đề này thông qua tham vấn ý kiến cộng đồng.

Thứ ba, tăng thời gian tham vấn. Như đã phân tích ở trên, mục đích tham vấn là nhằm hoàn thiện báo cáo ĐTM, hạn chế thấp nhất các tác động xấu đến môi trường và con người, bảo đảm sự phát triển bền vững của dự án. Do đó, việc thực hiện tham vấn cần thực hiện trong suốt quá trình xây dựng báo cáo ĐTM và cả trong quá trình thực hiện báo cáo ĐTM đã được duyệt để đảm bảo những tác động xấu đến môi trường và con người được hạn chế ở mức thấp nhất. Nhân dân cần có đủ thời gian để có thể tham vấn một cách hiệu quả. Thời gian ngắn quá không cho phép nhân dân có khả năng nhận thức, đánh giá các vấn đề trong báo cáo ĐTM. Thời gian càng dài càng giúp cho nhân dân có cơ hội đưa ra những ý kiến xác đáng hơn. Mặc dù Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định thời hạn 15 ngày làm việc cho UBND cấp xã và tổ chức chịu tác động trực tiếp, tuy nhiên, quy định này nên được hiểu theo nghĩa 15 ngày cho việc lấy ý kiến tham vấn đối với báo cáo cuối cùng trước khi trình duyệt. Điều này có nghĩa, UBND cấp xã và tổ chức có thể được tiếp cận thông tin về báo cáo ĐTM ngay từ hoặc trước thời điểm họp lấy ý kiến cộng đồng dân cư. Theo đó, thời gian 15 ngày là khoảng thời gian cân nhắc cho báo cáo cuối cùng (sau khi chỉnh sửa theo ý kiến và kiến nghị của cộng đồng) trước khi UBND xã và tổ chức bị ảnh hưởng đưa ra quyết định cuối cùng về báo cáo ĐTM của dự án.

Thứ tư, quy định về cơ chế trao đổi thông tin giữa chủ dự án và các đối tượng được tham vấn. Tham vấn là cơ chế trao đổi thông tin mang tính hai chiều giữa bên tổ chức tham vấn và bên được tham vấn. Vì vậy, quy trình tham vấn cần đảm bảo việc trao đổi thông tin thông suốt. Một mặt, thông tin liên quan đến dự án cần được chuyển tải đến đối tượng chịu tác động một cách hiệu quả. Mặt khác, những ý kiến phản hồi từ cơ sở cần được tiếp nhận và xử lý. Cần có các tiêu chí cụ thể để xác định “những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý” phải nghiên cứu tiếp thu và yêu cầu trách nhiệm giải trình đối với các bên liên quan về những ý kiến và kiến nghị này. Đầu mối tiếp nhận thông tin cần được thiết lập không chỉ ở cơ quan quản lý nhà nước mà cả ở phía đơn vị đầu tư. Ngoài việc thể chế hóa quy trình này bằng những hướng dẫn và cơ chế cụ thể, cần xây dựng các chế tài kèm theo để đảm bảo việc tuân thủ và thực thi các quy định. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

Có nhiều hình thức tiếp nhận – phản hồi thông tin có thể tham khảo như: thông qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan, giao lưu trực tuyến, thư điện tử, hòm thư góp ý, điện thoại đường dây nóng (miễn phí), phòng tiếp dân tại cơ quan công quyền, họp đối thoại hoặc trả lời chất vấn, bằng văn bản. Mức độ tiện dụng và hiệu quả của các công cụ này chủ yếu phụ thuộc tính tích cực và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận và phản hồi. Vì vậy, trong hướng dẫn quy trình thực hiện ĐTM và tham vấn, cần quy định rõ về trách nhiệm, chế tài đối với chủ đầu tư và các cơ quan có thẩm quyền về tiếp nhận và phản hồi thông tin về các mối quan tâm của chính quyền, cộng đồng địa phương và tổ chức xã hội đối với dự án đề xuất. Cần phải công khai địa chỉ liên lạc của cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm tiếp nhận và phản hồi thông tin, đồng thời quy định thời hạn cho việc phản hồi.

Thứ năm, xây dựng cơ chế giám sát thực hiện. Mặc dù Nghị định 19/2015/NĐ-CP đã bước đầu xác lập vai trò của cộng đồng dân cư trong việc tự lựa chọn đại diện của mình giám sát các hoạt động BVMT ở địa phương và vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong phản biện, tư vấn, giám sát trong lĩnh vực môi trường cũng được luật hóa tại Chương XV Luật BVMT 2014, tuy nhiên, cơ chế để đảm bảo cho các đối tượng này thực thi quyền vẫn chưa được xác lập cụ thể.

Kinh nghiệm của Phi-líp-pin cho thấy việc giám sát cần có sự tham gia của nhiều bên gồm đại diện cộng đồng, các tổ chức xã hội, đại diện cơ quan quản lý nhà nước và vai trò của các đối tượng này cần phải được thể chế hóa chính thức. Trong dự án Malampaya, việc tham vấn đã được thực hiện qua ít nhất hai vòng, không giới hạn trong cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp mà mở rộng cho cả các tổ chức phi chính phủ, đại diện nhà thờ và những đối tượng khác có quan tâm. Thông tin về dự án, quy trình thực hiện ĐTM, các hình thức hỗ trợ sinh kế, phát triển xã hội và các dự án cơ sở hạ tầng, các quỹ đều được công bố rộng rãi trước các cuộc tham vấn. Việc tham vấn đã được thiết kế linh hoạt để phù hợp với thực tế, không phụ thuộc vào quá trình ĐTM. Mặc dù vậy, sau khi dự án được cấp giấy chứng nhận tuân thủ điều kiện môi trường, dự án vẫn gặp phải sự cố, đó là việc một số tổ chức phi chính phủ khiếu nại rằng quá trình tham vấn đã không được thực hiện phù hợp, và có những ngư dân phản đối do lo ngại đường ống dẫn khí có thể ảnh hưởng đến ngư trường của họ. Với những phát sinh mới, Shell-Oxy đã tiến hành tham vấn bổ sung và tổ chức họp nhóm với các bên để cùng giải quyết các mối quan tâm chung. Sau này, các bên đã thống nhất thành lập một đội giám sát đa bên gồm đại diện của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương. Đội này có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ các điều khoản về môi trường ở cả hai cấp là quốc gia và địa phương. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

Pháp luật về tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường của Trung Quốc cũng có nhiều điểm tiến bộ. Theo đó, luật pháp nước này đảm bảo sự tham gia của người dân vào bốn giai đoạn: lập, thẩm định và giám sát thực hiện báo cáo ĐTM. Trong đó, với quá trình lập báo cáo ĐTM, chủ dự án phải tham vấn ý kiến rộng rãi của người dân; đối với quá trình tham vấn, cơ quan thẩm định phải công bố công khai các báo cáo. Tất cả các ý kiến được tiếp thu hoặc từ chối đều phải được giải trình và được lưu kèm với báo cáo. Kết thúc giai đoạn xây dựng báo cáo, chủ dự án phải lập báo cáo thực hiện. Báo cáo này cũng phải được tham vấn ý kiến của người dân trước khi gửi cho cơ quan nhà nước để giám sát. Người dân cũng có quyền phản ánh trực tiếp đến cơ quan giám sát về những sai sót của chủ dự án trong quá trình xây dựng dự án. Cuối cùng, toàn bộ nội dung và các tài liệu liên quan nêu trên đều phải được lưu trữ và người dân có quyền tiếp cận miễn phí.

Kinh nghiệm của Phi-líp-pin và Trung Quốc cho thấy vai trò của cộng đồng trong việc giám sát thực thi các hoạt động trong ĐTM là vô cùng quan trọng. Trong thực tế, tình hình ô nhiễm môi trường xảy ra bất ngờ và khó kiểm soát. Xây dựng cơ chế giám sát của cộng đồng sẽ góp phần ngăn chặn hoặc làm hạn chế các thiệt hại đối với môi trường. Việc giám sát được thực hiện theo các tiêu chuẩn môi trường cụ thể, kết quả thực thi các yêu cầu kèm theo trong quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Ngoài ra, cơ chế giám sát chỉ thực sự phát huy được hiệu quả khi những phát hiện trong quá trình giám sát được báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan này có những biện pháp xử lý kịp thời và phù hợp. Đồng thời, việc tham vấn cộng đồng cần được tiến hành tiếp tục ở các giai đoạn sau thẩm định báo cáo ĐTM, kể cả thẩm vấn định kỳ khi dự án đã đưa vào vận hành và đang hoạt động để cộng đồng có thể góp phần vào việc kiểm soát các hành động thiếu trách nhiệm, lách luật, gây ô nhiễm môi trường của những chủ dự án vì lợi nhuận gây ra, bảo đảm phát triển bền vững.

KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

Có thể nói, cộng đồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các chính sách về môi trường nói chung, và đặc biệt là về pháp luật ĐTM nói riêng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy công tác BVMT chỉ đạt được hiệu quả khi dựa trên nguyên tắc tiếp cận quyền và đảm bảo sự tham gia trong suốt quá trình từ xây dựng, thực thi đến sửa đổi chính sách. Điều này đã thể hiện vai trò quan trọng của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong BVMT, đặc biệt trong việc quản lý các dự án đầu tư có tác động tiêu cực đối với môi trường. Sự tham gia và giám sát của các tổ chức xã hội và cộng đồng không chỉ đóng góp thêm nguồn lực cho Nhà nước để thực hiện công tác BVMT mà còn giúp đạt được sự đồng thuận trong quá trình triển khai dự án đầu tư, hạn chế các tranh chấp và xung đột liên quan đến môi trường. Trong quá trình thực hiện báo cáo ĐTM, sự tham gia của cộng đồng là một yêu cầu cơ bản để đảm bảo thể hiện sự tán thành hoặc không tán thành của cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án đối với việc đặt dự án tại địa phương, cũng như để bổ sung những tác động tiêu cực, các giải pháp BVMT mà báo cáo ĐTM có thể chưa đề cập đến. Thực tế, cộng đồng có liên quan đến các quá trình chuẩn bị của dự án có thể sẽ đóng góp nhiều ý kiến có ích cho dự án.

Trong thời gian qua, công tác TVCĐ trong quá trình lập, thẩm định báo cáo ĐTM đã được thực hiện theo các văn bản pháp lý hiện hành. Việt Nam đã dành nhiều nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách để phục vụ công tác BVMT từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Mặc dù vậy, vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong BVMT còn rất mờ nhạt, một phần nguyên nhân do thiếu những cơ chế chính sách để thúc đẩy sự tham gia một cách hiệu quả. Khóa luận “Pháp luật Việt Nam về tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường” đã phần nào làm rõ những quy định cụ thể về tham vấn ý kiến cộng đồng, đưa ra những ưu điểm và nhược điểm còn tồn tại, cũng như đề xuất các kiến nghị cho việc đổi mới và hoàn thiện các quy định pháp luật về tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Pháp luật về tham vấn cộng đồng trong môi trường

One thought on “Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng pháp luật tham vấn cộng đồng môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464