Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải ngoài tố tụng trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Sự cần thiết xây dựng và hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại.
3.1.1. Cơ sở lý luận.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ kể từ sau đổi mới vào năm 1986, việc chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước quản lý các thành phần kinh tế bằng chính sách và pháp luật. Trong đó lĩnh vực kinh doanh thương mại là lĩnh vực quan trọng quyết định đến sự phát triển của kinh tế đất nước. Việc mở rộng giao lưu buôn bán giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã tạo nên một hoạt động kinh doanh thương mại sôi động đa thành phần, đa lĩnh vực. Và một tất yếu xảy ra điều không ai mong muốn nhưng không thể tránh khỏi là đó là các tranh chấp thương mại. Vấn đề đặt ra là khi xảy ra những tranh chấp đó thì cần những phương pháp nào, cơ quan nào, căn cứ pháp luật nào để giải quyết, bảo đảm lợi ích chính đáng của mỗi bên. Đây chính là việc bảo đảm cho sự tin cậy, độ an toàn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi mua bán . Chính quá trình phát triển này đã đặt ra yêu cầu đối với mỗi quốc gia là phải đổi mới hệ thống pháp luật của mình phù hợp với đặc thù quốc gia vừa phù hợp với sự phát triển chung của thế giới.
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp quan trọng và hiệu quả. Tuy nhiên ở Việt Nam pháp luật về việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải còn mới mẻ và hạn chế trong khi đó ở nhiều quốc gia về mặt lập pháp hòa giải ngày càng được quan tâm, được thể chế hóa trên mọi phương diện quốc gia, khu vực và quốc tế. Đây là căn cứ để hình thành quy tắc hòa giải như bộ quy tắc hòa giải Uncitral, Luật mẫu về hòa giải thương mại quốc tế của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, Quy trình hòa giải không bắt buộc của phòng thương mại quốc tế tại London, Ủy ban quốc gia về thống nhất pháp luật Hoa Kỳ ban hành đạo luật hòa giải thống nhất năm 2001. Gần đây liên minh Châu Âu đã ban hành chỉ thị số 2008/52/EC về một số khía cạnh hòa giải các vụ việc dân sự, thương mại [38]. Tại Việt Nam trước kia hòa giải được quy định trong các văn bản như BLDS 2005, BLTTDS 2004, LTM 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Trọng tài thương mại 2010,…mà chưa tổng hợp lại thành một văn bản pháp lý cụ thể, rõ ràng về hòa giải thương mại. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ra đời là văn bản pháp lý đầu tiên quy định cụ thể, chi tiết về hòa giải thương mại, tuy nhiên văn bản này cũng chưa phải là văn bản pháp lý lý tưởng về phương thức hòa giải thương mại. Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
Do đó thay đổi, phát triển khuôn khổ pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng hòa giải cũng có thể xem là một tất yếu không tránh khỏi trong kinh doanh thương mại. Điều này hoàn toàn phù hợp với nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định “Khuyến khích giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”; Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO về dịch vụ hòa giải tranh chấp giữa các thương nhân thể hiện tại Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, phần dịch vụ liên quan đến tư vấn quản lý; Quyết định số 808/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành chương trình hành động thực hiện chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020, trong đó có phân công nhiệm vụ xây dựng trình chính phủ. Tuy kết quả của chương trình này đã cho ra đời Nghị định số 22/2017/NĐ-CP Nghị định về hòa giải thương mại, song Nghị định này vẫn chưa thực sự hoàn hảo về khung pháp lý đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại. Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần phải nghiên cứu thêm để sửa đổi, bổ sung sao cho hoàn thiện các quy định pháp luật thích ứng với các hoạt động thương mại ngày càng phát triển.
3.1.2. Cơ sở thực tiễn.
Trong những năm gần đây Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới và đặc biệt đã trở thành thành viên cảu WTO. Điều này sẽ tạo nhiều thuận lợi để kinh tế phát triển nhưng cũng đầy thách thức trong tương lai. Trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có các quy định về áp dụng phương thức thương lượng, hòa giải như là các biện pháp ưu tiên trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh. Do đó Việt Nam cần có những thay đổi phù hợp với sự thay đổi chung của quốc tế. Việt Nam cần nhìn lại khung pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, đặc biệt là hòa giải kinh doanh thương mại để từ đó rút ra được những bất cập, hạn chế nhằm tạo điều kiện cho việc sửa đổi toàn diện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn đặt ra trong tình hình mới đồng thời phù hợp với chuẩn mực quốc tế và khu vực.
Thực tiễn cho thấy hòa giải kinh doanh thương mại thường được tiến hành kết hợp với phương thức tố tụng tòa án hay tố tụng trọng tài, theo đó việc hòa giải giữa các bên tranh chấp chủ yếu do các thẩm phán hoặc trọng tài viên tiến hành trong quá trình tố tụng căn cứ vào các quy định của pháp luật đối với hòa giải ngoài tố tụng các quy định của pháp luật còn khá mới mẻ và vẫn chưa được hoàn thiện. Trong khi đó hòa giải ngoài tố tụng đang được các nước phát triển trên thế giới ưa chuộng bởi các bên tranh chấp có thể nhờ tới các chuyên gia có kinh nghiệm về hòa giải hoặc các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực đang tranh chấp như vận tải, tài chính, ngân hàng,..đứng ra làm trung gian hòa giải các bên tranh chấp.
G.S. Kobayashi (Đại học Kyusu – Nhật Bản) cho biết “Sự mất cân bằng giữa hòa giải do nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành ở Nhật là 1/10. Vì thế Nhật Bản đã ban hành luật về hòa giải, quy định áp dụng hình thức hòa giải trong giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại nhưng vì không rõ ràng nên khi áp dụng trong thực tiễn đã xuất hiện nhiều hình thức hòa giải (cả theo truyền thống Nhật Bản và phương tây) thực trạng này dẫn đến sự rối loạn và không phát huy được hiệu quả của biện pháp hòa giải, thậm chí tạo ra phản ứng ngược lại với việc áp dụng các biện pháp hòa giải để giải quyết tranh chấp. Từ kinh nghiệm đó của Nhật Bản cho thấy cần có luật điều chỉnh hoạt động hòa giải kinh doanh thương mại nhưng phải cụ thể phải rõ ràng cũng như hoàn thiện cơ chế pháp lý áp dụng đối với các thiết chế tư pháp và hỗ trợ tư pháp như luật sư, trọng tài thương mại, giám định tư pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp xử lý tranh chấp khi tham gia các hoạt động thương mại quốc tế” [44].
Thực tế hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam đang cần những phương thức giải quyết tranh chấp thực sự có hiệu quả. Bởi đặc tính của hoạt động kinh doanh là làm sao để mọi bất đồng được giải quyết một cách êm đẹp nhất, tiết kiệm nhất, nhanh gọn nhất và đặc biệt là giữ được mối quan hệ hợp tác với nhau sau khi giải quyết tranh chấp xong. Hòa giải thương mại chính là phương thức đáp ứng được những yêu cầu trên. Vì vậy, cần chú trọng hoàn thiện hơn nữa những quy định pháp luật về hòa giải để hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam diễn ra hiệu quả, thúc đẩy quá trình đầu tư, tham gia thị trường kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại ở Việt Nam trên cơ sở thực tiễn hoạt động hòa giải trong nước và kinh nghiệm hòa giải của các quốc gia trên thế giới, cụ thể:
Hoàn thiện những quy định về hoạt động hòa giải thương mại, về trình tự thủ tục hòa giải, thực thi điều khoản hòa giải, chế tài xử lý quy phạm,…
Nghiên cứu áp dụng án lệ, tập quán thương mại, quy định về hiệp hội nghề nghiệp trong hoạt động hòa giải.
Thứ hai, vận dụng linh hoạt các nguyên tắc kinh nghiệm của các cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại trên thế giới như WTO, ASEAN, công ước Washington…tham khảo hoạt động của các trung tâm hòa giải quốc tế và khu vực như Trung tâm hòa giải Delhi (Ấn Độ), Trung tâm hòa giải Singapore,.. từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để xây dựng hoàn thiện pháp luật hòa giải kinh doanh thương mại phù hợp với sự phát triển kinh tế trong nước và quốc tế.
Thứ ba, đào tạo hệ thống người hòa giải trên cơ sở người hòa giải phải có kĩ năng hòa giải. Tại Việt Nam trong mỗi một tranh chấp thương mại thì người tham gia giải quyết tranh chấp thường là các đại diện có thẩm quyền nhưng những người này không phải lúc nào cũng là người hòa giải giỏi, hiểu biết. Trong khi đó ở các quốc gia trên thế giới vai trò của luật sư, chuyên gia, cố vấn pháp lý rất quan trọng. Họ được các doanh nghiệp ủy quyền tham gia giải quyết tranh chấp thương mại ngay từ khi xảy ra tranh chấp đến khi vụ tranh chấp được giải quyết các chủ doanh nghiệp ủy quyền cho luật sư là hoàn toàn tin tưởng vào trình độ và năng lực của luật sư. Do đó Việt Nam cần phải quan tâm đến vấn đề này. Việt Nam nên có tác động tích cực vào cơ chế ủy quyền này tạo điều kiện cho đại diện tham gia hòa giải để quá trình hòa giải đạt hiệu quả. Với việc ủy quyền họ có thể tham gia vào toàn bộ quá trình hòa giải, nắm bắt toàn bộ vấn đề, trên cơ sở kinh nghiệm và kỹ năng hòa giải họ sẽ quyết định vấn đề giải quyết tranh chấp nhanh gọn, chính xác. Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
3.3. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải như sau:
Thứ nhất, sự tham gia của Luật sư vào quá trình hòa giải. Nghị định số 22/2017/NĐ-CP Nghị định về hòa giải thương mại đã không đề cập đến sự tham gia của Luật sư trong quá trình hòa giải thương mại. Luật sư có thể tham gia vào quá trình hòa giải thương mại dưới hai tư cách, đó là bên thứ ba hòa giải hoặc người đại diện cho bên tranh chấp tham gia hòa giải. Để trở thành bên thứ ba hòa giải, luật sư phải là hòa giải viên trong một tổ chức hòa giải hoặc trở thành người đại diện cho các bên tranh chấp nếu được các bên tranh chấp ủy quyền. Hiện nay, phương thức ủy quyền cho luật sư tham gia hòa giải đang được các quốc gia khuyến khích sử dụng bởi hiệu quả hòa giải cao, tiết kiệm được thời gian để các bên tranh chấp thực hiện hoạt động khác.
Thứ hai, về giá trị pháp lý của thỏa thuận hòa giải thành. Thỏa thuận hòa giải thành theo quy đinh của pháp luật hiện hành thì được Tòa án công nhận khi có yêu cầu của một hoặc tất cả các bên tranh chấp. Quyết định công nhận đó sẽ được coi như bản án của Tòa án và có giá trị ràng buộc thực hiện đối với các bên. Nếu các bên không thưc hiện thì quyết định công nhận của Tòa án sẽ chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự thi hành. Tuy nhiên, làm như vậy thủ tục sẽ bị kéo dài. Do vậy chỉ cần quy định thỏa thuận hòa giải thành được tổ chức hòa giải xác nhận và chuyển cho cơ quan thi hành án thi hành như một bản án.
Thứ ba, về mối quan hệ giữa hòa giải thương mại với trọng tài và tòa án. Ở đây cần xem xét vấn đề nếu có tranh chấp thương mại xảy ra mà các bên không tiến hành hòa giải theo như điều khoản hòa giải đã thỏa thuận mà lại khởi kiện ngay ra Tòa án hay trọng tài thì những cơ quan này sẽ trả lại đơn khởi kiện hay vẫn thụ lý, giải quyết? Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã không đê cập đến vấn đề này. Theo tác giả cần quy định cụ thể và rõ ràng rằng, nếu các bên đã có thỏa thuận hòa giải và cam kết không khởi kiện ra Tòa án và trọng tài trong một thời gian xác định thì Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án phải thừa nhận hiệu lực của thỏa thuận đó và từ chối thụ lý vụ việc cho đến hết thời hạn trong cam kết. Sở dĩ phải quy định như vậy vì trong thực tế, đã có nhiều trường hợp, mặc dù các bên quy định phải đảm bảo điều kiện nhất định thì mới có thể khởi kiện trọng tài hoặc tòa án nhưng trọng tài và tòa án vẫn thụ lý vụ việc dù các điều kiện được thỏa thuận chưa được đáp ứng. Để khuyến khích hoạt động hòa giải thì nên quy định thêm điều khoản này bởi lẽ, nếu không có quy định này thì thỏa thuận hòa giải có thể được tiến hành hoặc không tiến hành tùy thuộc vào sự thiện chí của các bên. Như vậy, mục đích của việc lựa chọn hòa giải để giải quyết tranh chấp không đạt được.
Thứ tư, nên quy định cụ thể trình tự, thủ tục và các loại chi phí cơ bản cho hoạt động hòa giải thương mại. Bởi lẽ, chi phí hòa giải cũng là một trong những yếu tố mà các bên tranh chấp quan tâm và đưa ra quyết định có nên lựa chọn phương thức hòa giải để giải quyết tranh chấp hay không, vì vậy, cần có một trình tự và mức phí khung cụ thể để các bên tiện theo dõi.
3.4. Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại. Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
3.4.1. Đào tạo bồi dưỡng hòa giải viên
Trong giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại, hòa giải viên là một thành phần hết sức quan trọng. Hòa giải viên là người chủ trì phiên hòa giải.
Tại Quy tắc hòa giải Uncitral và Bộ quy tắc hòa giải của VIAC không quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên mà chỉ quy định về vai trò của hòa giải viên. Tại Điều 7 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại như sau:
“Hòa giải viên là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín, độc lập, vô tư, khách quan; có trình độ đại học trở lên và đã qua thời gian công tác trong lĩnh vực được đào tạo từ 02 năm trở lên; có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật, tập quán kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực liên quan”
Hòa giải viên có thể là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn nêu trên. Hòa giải viên được đào tạo kỹ năng hòa giải, được bồi dưỡng thường xuyên trong quá trình hoạt động cả về trình độ chuyên môn lẫn kỹ năng nghiệp vụ hòa giải. Để nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên cần phải thực hiện những bước như sau:
Thứ nhất, xây dựng tiêu chuẩn chọn lựa những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kinh doanh thương mại như tài chính ngân hàng, bất động sản, bảo hiểm,..và khuyến khích họ trở thành hòa giải viên thương mại. Những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kinh doanh thương mại là người có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kỹ năng hòa giải thực tế. Do vậy cần phải xây dựng cơ chế để thu hút, đào tạo đội ngũ chuyên gia trở thành những hòa giải viên tiêu biểu cả về chất lượng và số lượng nhằm thúc đẩy hoạt động hòa giải ngoài tố tụng cũng như tạo niềm tin cho các doanh nghiệp.
Thứ hai, tận dụng nguồn nhân lực từ đội ngũ luật sư và thẩm phán đã về hưu. Luật sư và thẩm phán về hưu là nguồn nhân lực chất lượng, bởi trong quá trình làm việc họ có năng lực, kinh nghiệm và kĩ năng về hòa giải các vụ việc thuộc tất cả các lĩnh vực. Đối với nguồn nhân lực này chỉ cần đào tạo, bồi dưỡng thêm kiến thức kỹ năng về hòa giải về lĩnh vực kinh doanh thương mại. Nếu tận dụng được nguồn nhân lực này bổ sung vào đội ngũ hòa giải viên thương mại thì sẽ thu hút sự chú ý của doanh nghiệp đến hoạt động hòa giải. Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
Thứ ba, xây dựng chương trình đào tạo đội ngũ hòa giải viên phù hợp như tổ chức khóa học hòa giải, thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng vận dụng thực tế hòa giải, gửi hòa giải viên đi học hỏi kinh nghiệm hòa giải tại các quốc gia có hoạt động hòa giải phát triển. Đặc biệt đào tạo đội ngũ hòa giải viên trẻ để bổ sung nguồn nhân lực kịp thời, đáp ứng yêu cầu phát triển hòa giải kinh doanh thương mại trong và ngoài nước.
Thứ tư, hình thành tổ chức được quyền cấp công nhận cho một cá nhân có đủ khả năng hành nghề hòa giải. Khi một cá nhân đạt tiêu chuẩn trở thành một hòa giải viên sẽ được cấp một giấy chứng nhận hành nghề, công nhận họ trở thành hòa giải viên có thể tham gia vào các tổ chức hòa giải để thực hiện hòa giải. Tổ chức được quyền cấp công nhận một cá nhân trở thành hòa giải viên có thể là cơ quan quyền lực nhà nước Bộ Tư Pháp, Tòa án hoặc các cơ quan, tổ chức phi chính phủ như liên đoàn luật sư, VIAC.
Thứ năm, xây dựng cơ chế nhằm kiểm tra tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của những người hành nghề hòa giải viên. Trong hòa giải thương mại đạo đức nghề nghiệp của hòa giải viên là vô cùng quan trọng, bởi hòa giải viên là người quyết định khả năng thành công của hòa giải, nắm giữ những bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp. Do đó cần có cơ chế chặt chẽ nhằm kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời những hòa giải viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời hình thành cơ chế kỷ luật nghề nghiệp, quy trình kỷ luật phù hợp cho những người hành nghề hòa giải viên vi phạm.
3.4.2. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức về ý nghĩa và hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại.
Với thực trạng ở Việt Nam, trong hoạt động kinh doanh thương mại, khi xảy ra tranh chấp thông thường các bên nghĩ ngay đến việc khởi kiện ra tòa án, số ít nghĩ đến giải quyết bằng trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp khác. Chính xu hướng này đã làm quá tải công việc xét xử của Tòa án, dẫn đến tình trạng tồn đọng án từ năm này qua năm khác. Dường như các nhà kinh doanh thương mại quên đi việc sử dụng hòa giải như một phương thức chủ yếu để giải quyết tranh chấp bởi hòa giải vừa tiết kiệm thời gian, chi phí, giữ gìn mối quan hệ làm ăn tốt đẹp, giữ được bí mật kinh doanh và đạt hiệu quả cao hơn so với phương thức giải quyết tranh chấp khác. Thực tế cho thấy các nhà kinh doanh thương mại thường e ngại sử dụng phương thức hòa giải bởi nhiều lý do khách quan và chủ quan, họ vẫn tin vào quyền phán xét và hiệu lực thi hành khi sử dụng phương thức tố tụng. Rất ít người sử dụng phương thức hòa giải. Để phát huy những ưu điểm của hoạt động hòa giải, kinh doanh thương mại cũng như hạn chế vấn đề quá tải trong hoạt động xét xử của tòa án, nhà nước cần có những chính sách tuyên truyền và phổ biến pháp luật, khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa giải. Nhà nước khuyến khích các bên sử dụng phương thức hòa giải để giải quyết tranh chấp được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật Trọng tài thương mại 2010 theo đó tại Điều 9, Luật Trọng tài thương mại quy định: Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp.
Để tuyên truyền lợi ích của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải và khuyến khích sử dụng hòa giải như một biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế hàng đầu thì cần có những cách thức tuyên truyền hiệu quả như:
Thứ nhất, hình thành đội ngũ tuyên truyền là luật sư, trọng tài viên, thẩm phán vì họ là những người thường xuyên tiếp xúc, giải quyết các tranh chấp thương mại nên việc sử dụng đội ngũ này để tuyên truyền hoạt động hòa giải sẽ đạt hiệu quả cao. Luật sư khuyến khích các bên chọn hòa giải ngay từ giai đoạn đầu tranh chấp, khi tư vấn cho các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả. Đội ngũ này sẽ tuyên truyền và phổ biến những lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài mà các bên có được nếu chọn phương thức hòa giải để giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, xây dựng hình thức tuyên truyền phù hợp. Hình thức được lựa chọn đề tuyên truyền có thể là truyền hình, phát thanh, báo chí, biểu ngữ hoặc internet. Thông qua các kênh thông tin này phương thức hòa giải sẽ được phổ biến đến tất cả người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt phải kể đến phương thức tuyên truyền truyền thông qua các buổi tọa đàm, đối thoại. Tổ chức các buổi tọa đàm, mời các doanh nghiệp tham gia, tại buổi tọa đàm phân tích những lợi ích của hòa giải, các khía cạnh của hòa giải, giải đáp thắc mắc của doanh nghiệp liên quan đến hòa giải thương mại để phát triển phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại như là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế độc lập.
Thứ ba, tổ chức các cuộc thi liên quan đến hòa giải thương mại, tuyên truyền cho hoạt động hòa giải. Có thể thực hiện các cuộc thi như: hòa giải viên tiêu biểu, tìm hiểu pháp luật về hòa giải thương mại. Qua các cuộc thi này nâng cao nhận thức của cá nhân về lợi ích của hòa giải thương mại, đặc biệt là nhận thức của các doanh nghiệp.
Tóm lại, tuyên truyền phổ biến pháp luật là một quá trình lâu dài, cần có sự tham gia, phối hợp của các cơ quan tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên để hòa giải trở thành phương thức giải quyết tranh chấp thay thế và được các doanh nghiệp ưa chuộng thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật vè hòa giải thương mại là yếu tố quan trọng đầu tiên, đào tạo đội ngũ hòa giải viên có năng lực và kinh nghiệm, hình thành các trung tâm hòa giải chuyên nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ hòa giải. Ngoài ra Việt Nam cần xây dựng cơ chế quản lý nhà nước đối với hòa giải, tổ chức tuyên truyền phổ biến pháp luật về hòa giải thương mại, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp về một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
Các tranh chấp kinh doanh, thương mại hiện đang phát sinh với số lượng ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp hơn đòi hỏi phải có những cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu thực tiễn của Việt Nam, góp phần tạo môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định.
Một phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển, chính là hòa giải thương mại. Cùng với thương lượng và trọng tài, hòa giải được coi là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thay thế và rất được các doanh nhân ưa chuộng do những ưu điểm vượt trội của các phương thức này so với tố tụng tòa án.
Nhận thức được những ưu điểm này, cơ quan lập pháp Việt Nam đã ban hành Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ra đời đã có một khung pháp lý điều chỉnh về hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại, song những quy định này vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh. Khóa luận đã phân tích, chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của những quy định đó.
Để hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hòa giải thương mại là điều tất yếu. Đó là điều kiện cần của một nền kinh tế thị trường. Bởi một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả sẽ thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
Nhìn chung, giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả cần được các doanh nghiệp quan tâm lựa chọn sử dụng phổ biến để giải quyết tranh chấp thương mại. Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện khung pháp luật để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp về một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại