Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam
Có thể thấy “nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm chính là nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm, đảm bảo đến mức độ tối đa việc phát hiện và xử lý các bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng” [18, tr.52]. Nhằm hướng tới việc nâng cao chất lượng của công tác kháng nghị giám đốc thẩm, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện hoạt động này được hiệu quả và đồng bộ là yêu cầu cấp thiết được đặt ra. Từ các phân tích trong phần nguyên nhân pháp lý, tác giả đã làm rõ một số hạn chế, bất cập trong quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC hiện hành. Từ cơ sở này, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp hoàn thiện để khắc phục những hạn chế qua đó hướng tới và xây dựng hoàn thiện, chỉn chu hơn các nội dung nói chung và chế định giám đốc thẩm trong TTHC nói riêng.
Thứ nhất, pháp luật TTHC cần hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng hơn các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm tại khoản 1 Điều 255
Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là một trong những tiêu chí quan trọng nhất, không thể thiếu trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC. Việc hoàn thiện minh thị các quy định về căn cứ kháng nghị không chỉ bảo đảm chất lượng của công tác giám đốc thẩm VAHC, mà còn là cơ sở thể hiện sự giám sát hoạt động xét xử giữa Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới đồng thời góp phần giảm thiểu những sai sót trong các quyết định, bản án của Tòa án, đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm được đúng đắn và thống nhất. Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy, song hiện nay một vài quy định của Luật TTHC còn tồn tại những điểm bất cập, hạn chế gây lúng túng trong việc xác định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm. Vì vậy, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp khắc phục như sau:
Một là, Luật TTHC và các văn bản có liên quan cần có quy định hướng dẫn, giải thích rõ thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm tại điểm b khoản 1 Điều 255 Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC, căn cứ kháng nghị là điều kiện tiên quyết để các chủ thể có thẩm quyền thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm. Nếu căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm được quy định rõ ràng, minh thị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong việc xác định căn cứ, nâng cao hơn chất lượng của công tác kháng nghị giám đốc thẩm; ngược lại nếu quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm mập mờ, không rõ ràng thì sẽ gây nhiều cách hiểu bất nhất với nhau, tạo ra nhiều khó khăn cho công tác kháng nghị. Như đã phân tích, Luật TTHC hiện hành chưa giải thích rõ thế nào là “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”, tiêu chí nào để đánh giá các vi phạm thủ tục tố tụng là chưa nghiêm trọng, nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, điều này đã gây nên nhiều cách hiểu mang tính cảm tính, do đó mà việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất. Vì lẽ đó, tác giả đề xuất, Luật TTHC cần phải có điều khoản để giải thích rõ ràng thế nào là “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” trong căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm tại khoản 2 Điều 255 Luật TTHC.
Hiện nay, về mặt học thuật, “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” có nhiều cách giải thích khác nhau, tuy nhiên tác giả nhận thấy có hai quan điểm tiêu biểu là: Quan điểm thứ nhất cho rằng: vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là những vi phạm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án không chính xác hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng [23, tr.375]; Quan điểm thứ hai cho rằng: vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là những vi phạm đồng thời dẫn đến hậu quả tước bỏ, làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án [58, tr.9]. Có thể thấy, hai quan điểm trên đã đưa ra những lý giải dựa trên những phương diện tiếp cận khác nhau, cách lý giải có một phần tương đồng nhưng cũng có phần nào thể hiện sự khác biệt rõ ràng. Việc lựa chọn cách hiểu nào cho phù hợp không chỉ dựa vào cách lập luận mà còn cần phải soi chiếu vào thực tiễn công tác giám đốc thẩm ở nước ta và cần phải có sự hướng dẫn của những nhà làm luật. Về phía tác giả, để giải thích và xác định được thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì cần thực hiện việc xem xét các quy định của pháp luật hiện hành kết hợp đồng thời với việc tập trung, làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành. Cụ thể, theo tác giả: thứ nhất, cần dựa vào tinh thần của Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán TANDTC là “ phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung được áp dụng tại thời Điểm ra bản án, quyết định bị đề nghị kháng nghị, bị kháng nghị” [12]. Thứ hai cần bám sát và làm rõ các yếu tố của vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là: 1/ Chủ thể của vi phạm thủ tục tố tụng đó là ai? 2/ Chỉ vi phạm các trình tự, thủ tục hay vi phạm tất cả các nội dung do Luật TTHC quy định? 3/ Hậu quả của việc vi phạm thủ tục tố tụng đó phải có tính chất gây ảnh hưởng, cản trở việc thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ảnh hưởng đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba. Một khi làm rõ được những vấn đề này chắc chắn khái niệm “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” sẽ được hình thành một cách toàn diện, cụ thể, minh thị, nhận được sự đồng tình cao.
Dẫn chiếu sang lĩnh vực TTHS, tuy hiện nay Bộ luật TTHS và các văn bản có liên quan chưa có quy định cụ thể về thế nào là “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm nhưng ở lĩnh vực này, trước đây Nghị quyết 04/2004/NQHĐTP ngày 5 tháng 11 năm 2004 hướng dẫn thi hành một số quy định về “Xét xử sơ thẩm” có hướng dẫn như sau: “Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp BTTHS quy định bắt buộc phải tiến hành theo thủ tục tố tụng đó nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện” [11]; bên cạnh đó hiện nay dựa trên tinh thần Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27 tháng 8 năm 2010 của VKSNDTC, Bộ Công an và TANDTC thì giải thích về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo hướng là “trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án” [13] và có quy định một số trường hợp cụ thể tại khoản 2 Điều này. Hiện nay, tuy Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 5/11/2004 đã hết hiệu lực nhưng với cách hướng dẫn tại nghị quyết này và thông tư liên tịch nêu trên đã phần nào cho chúng ta hiểu rõ hơn về vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng và không nghiêm trọng. Tuy nhiên theo cách hướng dẫn này, việc mặc định vi phạm thủ tục tố tụng là vi phạm các trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định có sự chưa bao quát hết. Ngoài thủ tục trong TTHS, Bộ luật TTHS còn quy định một số điều mà Tòa án phải tuân thủ trong quá trình xét xử như quy định về thẩm quyền xét xử hay các quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm, thẩm quyền của Tòa phúc thẩm… mà thực tiễn có thể thấy các hành vi thụ lý sai thẩm quyền, vi phạm trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ vẫn mặc nhiên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và là căn cứ của kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Do đó, việc thừa nhận nội dung hướng dẫn trong văn bản trên trong lĩnh vực TTHS làm cơ sở để quy định vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHC cần phải có sự chắt lọc và cân nhắc kỹ càng.
Từ các phân tích trên đây, theo tác giả chúng ta có thể hiểu “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trong quá trình thụ lý, giải quyết VAHC, người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ các quy định của pháp luật TTHC làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án hoặc xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự”. Mặc dù, khái niệm và cách hiểu này chỉ được thể hiện theo quan điểm chủ quan của tác giả nhưng thiết nghĩ Luật TTHC và các văn bản có hướng dẫn thi hành nên có điều khoản hướng dẫn cụ thể theo mô phỏng của khái niệm mà tác giả đã đưa ra để bảo đảm việc áp dụng và thực thi pháp luật được đồng bộ, thống nhất.
Hai là, Luật TTHC và các văn bản có liên quan cần có quy định chính thức nhằm hướng dẫn, giải thích thế nào là sai lầm trong việc áp dụng pháp luật Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Kháng nghị giám đốc thẩm VAHC là một hoạt động chuyên biệt có tính chất thường xuyên, hằng năm số lượng quyết định kháng nghị giám đốc thẩm được các chủ thể có thẩm quyền ban hành không ít. Thông qua kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, những sai phạm, thiếu sót trong bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án được kịp thời phát hiện và khắc phục. Việc ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đúng đắn, có đầy đủ căn cứ là điều rất cần thiết cho việc nâng cao chất lượng công tác giám đốc thẩm. Để thực hiện được điều đó, một trong những yêu cầu tiên quyết đặt ra đó là các quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm mà đặc biệt là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải được quy định đầy đủ, rõ ràng, hợp lí. Song, theo phân tích ở trên, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm tại điểm c khoản 1 Điều 255 Luật TTHC “có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật” chưa thực sự minh thị, rõ ràng điều này đã gây ra những cách hiểu, quan điểm không thống nhất, tạo ra không ít khó khăn trong việc xác định và xây dựng căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm. Xuất phát từ bất cập này, tác giả đề xuất Luật TTHC và các văn bản có liên quan cần khẩn trương hướng dẫn giải thích rõ thế nào là “sai lầm trong việc áp dụng pháp luật”. Đề xuất này nhằm hướng tới bảo đảm việc hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất, tránh việc tùy tiện, lạm quyền khi xác định căn cứ kháng nghị, đồng thời bảo đảm tính hiệu quả của công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Về giải pháp cụ thể, theo tác giả cần thực hiện kết hợp cùng lúc hai hoạt động.
Thứ nhất, xem xét, tiếp thu tinh thần quan điểm cho rằng có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật “bao gồm tất cả những sai lầm trong việc xác định đúng sự việc thực tế đã xảy ra; sai lầm trong việc lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với trường hợp cụ thể; sai lầm trong việc ra văn bản áp dụng pháp luật; sai lầm trong việc tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật cả về nội dung cũng như hình thức, thủ tục tố tụng” [27, tr.48].
Thứ hai, cần phải minh thị các yếu tố sau trong quá trình giải thích về sai lầm trong việc áp dụng pháp luật. Về chủ thể có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật là ai? Pháp luật bị áp dụng sai là pháp luật nội dung hay pháp luật về thủ tục? Hậu quả của việc áp dụng sai lầm pháp luật như thế nào? Những sai lầm đó ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức cá nhân, người thứ ba, Nhà nước ở mức độ nào ? Từ các tiêu chí này, trong phạm vi nghiên cứu có hạn của mình, tác giả xin đề xuất khái niệm có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật như sau: “có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật là việc Tòa án khi giải quyết VAHC đã không áp dụng hoặc áp dụng không đúng văn bản quy phạm pháp luật nội dung trong việc xem xét tính hợp pháp của đối tượng khiếu kiện, áp dụng quy phạm pháp luật nội dung đã hết hiệu lực pháp luật, áp dụng không đúng với tinh thần nội dung của quy phạm pháp luật khi giải quyết vụ án”. Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Thứ hai, pháp luật TTHC cần có những sửa đổi kịp thời về điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng khả thi hơn
Việc đặt ra điều kiện để các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC là rất cần thiết, góp phần không nhỏ vào việc loại bỏ các trường hợp tùy tiện, lạm quyền trong việc kháng nghị giám đốc thẩm đồng thời nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác giám đốc thẩm. Để có thể đảm bảo phát huy tốt nhất ý nghĩa này đòi hỏi các quy định trong Luật TTHC về điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cần phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng. Tuy nhiên, việc thực hiện điều này trong Luật TTHC phần nào còn hạn chế, quy định về điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm chưa thực sự khả thi, gây không ít cản trở cho hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm. Do đó, theo tác giả Luật TTHC cần phải thiết kế lại các quy định này theo hướng đơn giản, rõ ràng và khả thi hơn.
Một là, cần lược bỏ điều kiện thứ hai trong hai điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm mà tác giả đã phân tích trong phần Nguyên nhân pháp lý. Cụ thể, theo quan điểm của tác giả Luật TTHC cần quy định như sau: khi các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm phát hiện ra các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm thì họ có quyền tự mình ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm mà không bắt buộc phải có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Thiết nghĩ, đề xuất này sẽ góp phần khắc phục những bất cập cản trở quyền kháng nghị giám đốc thẩm của các chủ thể được pháp luật trao quyền, đồng thời đảm bảo những sai lầm, thiếu sót trong bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án được kịp thời phát hiện từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến VAHC được bảo đảm tốt nhất.
Hai là, cần sửa đổi quy định về chủ thể có quyền làm đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm VAHC. Như đã phân tích ở phần nguyên nhân pháp lý, có thể thấy việc quy định chủ thể có quyền làm đơn đề nghị rất rộng là không cần thiết. Vì lẽ đó, tác giả đề xuất Luật TTHC cần sửa đổi, bổ sung như sau: Chỉ đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự mới có quyền làm đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Việc quy định tập trung và cụ thể này giúp cho công tác xem xét, giải quyết đơn đề nghị của người dân được thực hiện đảm bảo, đồng thời giảm thiểu áp lực đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền. Mặt khác, cũng cần quy định minh thị hơn trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, xem xét, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong VAHC để nâng cao hơn tính toàn diện trong các quy định của pháp luật và hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền.
Ba là, cần công bố, giải thích các án lệ hành chính để hướng dẫn giải thích rõ thế nào là xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của người thứ ba. Đẩy mạnh việc thực hiện công tác này sẽ góp phần không nhỏ trong việc quy định một cách minh thị, thấu đáo các quy định trong Luật TTHC, góp phần tạo hành lang pháp lý toàn diện hơn để kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện chính xác, thuận lợi, hiệu quả.
Thứ ba, cần thiết phải bổ sung quy định chi tiết về việc “thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm”
Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm là hoạt động quan trọng trong việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng của quyết định kháng nghị đã được ban hành; quyết định không nhỏ tới chất lượng của công tác kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng và công tác giám đốc thẩm VAHC nói chung. Do đó, một số bất cập còn tồn tại trong quy định của Luật TTHC về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm như đã trình bày ở phần trên có ảnh hưởng lớn đến quá trình nghiên cứu tìm hiểu của các học giả, chuyên gia nghiên cứu pháp luật và việc áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm. Vì vậy, cần kịp thời khắc phục những bất cập, hạn chế đang tồn tại trong quy định pháp luật, để pháp luật được áp dụng thống nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân được bảo vệ tối đa. Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Một là, về bất cập liên quan đến việc Luật TTHC hiện hành chưa quy định về thời điểm mà các chủ thể đã ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm được quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị. Đây là hạn chế cần phải được xem xét và đánh giá lại. Về vấn đề này, trong lĩnh vực TTHS đã đề cập rất rõ, theo đó thời hạn thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm là trước khi mở phiên tòa giám đốc thẩm hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị [7]. Trên tinh thần tham chiếu tiếp cận Bộ luật TTHS, Luật TTHC cũng nên quy định cụ thể về thời điểm mà chủ thể có thẩm quyền đã kháng nghị được thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm như sau: “trước khi mở phiên tòa giám đốc thẩm hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị”. Bên cạnh đó, để đạt được mục tiêu hoàn thiện chặt chẽ chế định giám đốc thẩm trong Luật TTHC, nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng và thực thi pháp luật, tác giả đề xuất nên hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục thay đổi bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm như sau “Việc chủ thể đã kháng nghị giám đốc thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi mở phiên tòa giám đốc thẩm phải được ban hành bằng quyết định; nếu thay đổi, bổ sung kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa”. Việc ấn định một cách rõ ràng thời điểm mà người đã kháng nghị được thay đổi, bổ sung kháng nghị sẽ đảm bảo cho các quy định pháp luật được minh thị, cách hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất.
Thứ hai, đối với vấn đề hiện nay Luật TTHC chưa có quy định chi tiết về việc phân tách nội dung rút kháng nghị một phần hay toàn bộ và thẩm quyền đình chỉ xét xử của HĐXX giám đốc thẩm. Thiết nghĩ, để hoạt động này được thực hiện chính xác, hiệu quả, thống nhất và thuận lợi, Luật TTHC cần bổ sung, cụ thể các quy định về việc rút kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng rõ ràng hơn là: trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm VAHC, người có thẩm quyền đã kháng nghị có quyền rút toàn bộ hoặc một phần kháng nghị. Việc sửa đổi, bổ sung quy định này cần được thực hiện đồng thời với việc hoàn thiện các quy định về thẩm quyền đình chỉ xét xử giám đốc thẩm của HĐXX trong các trường hợp rút một phần kháng nghị, rút toàn bộ kháng nghị. Về vấn đề này, tác giả đồng tình với quy định thẩm quyền đình chỉ xét xử giám đốc thẩm thuộc về HĐXX nếu người kháng nghị thực hiện rút kháng nghị tại phiên tòa, còn đối với trường hợp người kháng nghị thực hiện rút kháng nghị trước thời điểm mở phiên tòa giám đốc thẩm thiết nghĩ cần trao thẩm quyền đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ khắc phục được sự bất tiện trong việc thành lập Hội đồng giám đốc thẩm, hạn chế các thủ tục rườm rà cho Tòa án và tiết kiệm thời gian, công sức của Hội đồng giám đốc thẩm và ngân sách Nhà nước [68].
Tóm lại, để khắc phục những hạn chế trong quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC trong pháp luật hiện hành, tác giả kiến nghị bổ sung quy định tại Điều 265 Luật TTHC hiện hành như sau:
“ 1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 263 Luật này. Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm trước khi mở phiên tòa phải được ban hành bằng quyết định và gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 264 Luật này. Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
2. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền rút một phần hoặc rút toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được ban hành bằng quyết định và đượ gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 264 Luật này, việc rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên tòa thì HĐXX giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.”
3.2. Giải pháp nâng cao kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính tại Việt Nam Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Thứ nhất, chú trọng nâng cao chất lượng công tác giải quyết, xét xử các VAHC ngay từ cấp sơ thẩm, phúc thẩm để hạn chế tối đa những vụ việc phải xem xét, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm.
Hoạt động kháng nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt để xem xét lại tính đúng đắn, hợp pháp trong bản án, quyết định đó. Số kháng nghị giám đốc thẩm được Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận càng nhiều chứng tỏ chất lượng công tác xét xử, giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm càng chưa đảm bảo và ngược lại. Do đó, biện pháp then chốt và cũng là cách tốt nhất để hạn chế số kháng nghị giám đốc thẩm, củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động xét xử đó là nâng cao chất lượng xét xử các VAHC ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm, đảm bảo các vụ án phải được giải quyết đúng đắn [17, tr.86]. Để chất lượng công tác xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các VAHC được nâng cao cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với yêu cầu sử dụng cán bộ, công chức; đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ mà cải cách tư pháp đặt ra; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin; chủ động thực hiện tốt Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án… Bên cạnh đó, VKSND cũng cần phải thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp để góp phần hạn chế các vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án. Để có thể nhìn nhận một cách khách quan, không né tránh các sai lầm cần thực hiện công tác tổng kết, đánh giá công tác xét xử, kiểm sát thường xuyên, hiệu quả, thực chất.
Thứ hai, tăng cường đội ngũ công chức có năng lực, đổi mới công tác tổ chức, nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho công chức bên cạnh đó cần đẩy mạnh thực hiện các đề án về hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị
Không sai khi nhận định rằng con người là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của bất kỳ hoạt động nào và kháng nghị giám đốc thẩm cũng không ngoại lệ. Thủ tục giám đốc thẩm VAHC là lần cuối cùng VAHC được xem xét đánh giá lại, vì tầm quan trọng của nó mà yêu cầu đặt ra với đội ngũ nhân lực làm công tác giám đốc thẩm nói chung và kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng là phải có chuyên môn nghiệp vụ chắc chắn, có kiến thức pháp luật và bản lĩnh chính trị vững vàng và được tổ chức, phân bổ một cách hợp lý. Theo số liệu thống kê mới nhất “tính đến ngày 30/9/2023, TAND có 13.515 biên chế (gồm 6.408 Thẩm phán; 6.824 Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và tương đương và 283 chức danh khác)” [48]. Mặc dù TAND và VKSND đã có sự tập trung vào việc bổ sung biên chế, nâng cao chất lượng nhân lực ngành nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn và chỉ tiêu đặt ra về cả số lượng và chất lượng. Chính vì vậy, kịp thời hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng nhân lực ngành là điều hết sức cần thiết. Để thực hiện điều đó, cần thực hiện một số giải pháp như: thứ nhất đối với người lãnh đạo các cơ quan này với vai trò là người đứng đầu cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, thường xuyên giám sát, kiểm tra đối với những vụ án có yêu cầu kháng nghị, đồng thời cần đổi mới phương thức tổ chức, chỉ đạo điều hành và nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công chức tại đơn vị. Thứ hai, đối với công tác nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, Đảng và Nhà nước ta cần xây dựng những kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm phát triển đội ngũ cán bộ, công chức giỏi về nghiệp vụ, vững về ý thức chính trị, tốt về phẩm chất đạo đức và chuẩn mực về hành vi; tăng cường xây dựng các quy định, quy chế về kỷ luật công vụ. TANDTC và VKSNDTC cần nhanh chóng hoàn thiện hơn nữa các văn bản, kế hoạch phát triển đội ngũ công chức làm công tác tư pháp. TAND các cấp và VKSND các cấp cần tích cực đánh giá thực tiễn hoạt động của cơ quan mình để đề xuất, kiến nghị tới cấp trên những biện pháp thiết thực và hữu hiệu trong việc nâng cao chất lượng người lao động trong ngành Tòa án và Viện kiểm sát. Ngoài ra, cần tiếp tục xây dựng một môi trường làm việc hiệu quả, hoàn thiện hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính nói riêng và giải quyết vụ án hành chính nói chung, một chế độ chính sách đãi ngộ thỏa đáng đảm bảo cho cán bộ, công chức yên tâm công tác và tập trung tối đa vào nhiệm vụ được giao.
Thứ ba, nâng cao chất lượng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm, thực hiện tốt công tác giám đốc, kiểm tra đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Bản chất của kháng nghị giám đốc thẩm là mở ra một môi trường tố tụng đủ để có thể khắc phục những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. “Đây cũng là hy vọng, cơ hội cuối cùng của người dân nên yêu cầu đặt ra với ngành kiểm sát và tòa án là làm tốt, làm đúng tỷ lệ giải quyết cao các đơn đề nghị” [73]. Song, việc thực hiện công tác này còn nhiều bất cập, hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này là trách nhiệm, năng lực của một số lãnh đạo ở một số Tòa án, Viện kiểm sát ở địa phương có phần hạn chế, thêm vào đó số lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm cần phải giải quyết rất lớn. Nâng cao chất lượng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm là một trong những biện pháp hàng đầu nhằm tránh tình trạng tồn đọng, giải quyết kéo dài, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng và giám đốc thẩm nói chung. Để nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm trước hết cần thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của các cơ quan đầu ngành đồng thời thường xuyên tổng kết đánh giá hiệu quả công tác để kịp thời chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và có phương hướng hoàn thiện tốt nhất.
Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm thì tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cũng là một biện pháp cần thiết được đẩy mạnh. Trên thực tế, do số lượng VAHC được giải quyết hàng năm rất lớn; số bản án, quyết định được Tòa án các cấp ban hành không phải con số nhỏ, do đó phần nào việc thực hiện công tác này còn nhiều khó khăn, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Thêm vào đó, lực lượng công chức thực hiện công tác kiểm tra, kiểm sát đối với các bản án, quyết định còn yếu và thiếu, chưa đảm bảo yêu cầu. Để nâng cao hiệu quả công tác giám đốc, kiểm tra các bản án, quyết định; công tác thanh tra trong nội bộ ngành của ngành Tòa án cần được tổ chức cứng rắn hơn, cần thiết phải thực hiện thanh tra, kiểm tra đột xuất khi có yêu cầu hoặc theo chuyên đề định kỳ nhằm kịp thời chỉ ra và khắc phục những sai sót trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới. Về phía cơ quan kiểm sát, cần tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi Kiểm sát viên; đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của ngành; bảo đảm kiểm sát chặt chẽ ngay tại các phiên tòa, phiên họp để kịp thời phát hiện những sai phạm và báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm; bên cạnh đó cần bố trí những công chức có trình độ, năng lực và kinh nghiệm kiểm sát chặt chẽ bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp và cấp dưới nhằm kịp thời phát hiện những vi phạm để xem xét thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm.
Thứ tư, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Công tác xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là một hoạt động phức tạp; để xem xét một cách khách quan, toàn diện và chính xác đòi hỏi cần có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng. Theo quy định hiện hành, các cơ quan tiến hành TTHC gồm có: TAND và VKSND [7]. Cơ sở của sự phối hợp giữa các cơ quan này là dựa trên các quy định của Luật TTHC, bên cạnh đó mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong TTHC còn xuất phát từ yêu cầu phải thực hiện đúng đắn thẩm quyền, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng. Vì vậy, nâng cao, đẩy mạnh việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong mỗi giai đoạn tố tụng đều là rất cần thiết và phải được định hướng để ngày càng nâng cao. Với mục đích để hoạt động xem xét, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC đạt được hiệu quả cao bên cạnh việc đẩy mạnh sự phối hợp giữa chính các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này với các cơ quan Nhà nước khác. Nhằm tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc xem xét kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án cần tăng cường trao đổi về kỹ năng, nghiệp vụ kết hợp với kiến nghị, đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng công tác. Đặc biệt đối với đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm những VAHC có tính chất phức tạp cao việc trao đổi, thống nhất về nghiệp vụ, nhận thức pháp luật và phương hướng giải quyết là rất quan trọng. Bên cạnh đó, TANDTC cần chỉ đạo TAND các cấp thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng việc chuyển hồ sơ khi có yêu cầu của Viện kiểm sát để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngược lại, phía Viện kiểm sát cần nhanh chóng trả hồ sơ cho Tòa án để Tòa án thực hiện công tác giám đốc thẩm trong thời hạn pháp luật quy định.
Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử; thực hiện tổng kết, đánh giá công tác kháng nghị giám đốc thẩm thường xuyên, có hiệu quả Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Các quy định của pháp luật muốn đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi cần được hiểu và áp dụng đúng đắn, thống nhất bởi các chủ thể có thẩm quyền. Tuy nhiên với những bất cập còn tồn tại như đã nêu ở phần nguyên nhân pháp lý có thể thấy một số quy định của Luật TTHC hiện hành được quy định chưa rõ ràng, chưa đồng bộ do đó cần phải có sự chỉ đạo, hướng dẫn để có cách hiểu chính xác, thống nhất từ đó loại bỏ những cách hiểu mang tính chủ quan, hạn chế các sai phạm xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Để thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn áp dụng pháp luật có hiệu quả cần phải chú trọng việc xây dựng các chương trình, kế hoạch ngắn hạn và dài hạn trong công tác này, tăng cường nghiên cứu khoa học gắn với công tác xét xử, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật.
Để nâng cao và hoàn thiện chất lượng của bất kỳ hoạt động nào; việc tổng kết, đánh giá chất lượng định kỳ là không thể thiếu. Kháng nghị giám đốc thẩm cũng vậy, tổng kết, đánh giá thường xuyên là biện pháp hữu hiệu để các cơ quan, người có thẩm quyền nhìn nhận lại những kết quả đã đạt được từ đó chỉ ra những ưu điểm, thành tích, đồng thời phát hiện những vướng mắc để đề xuất phương hướng giải quyết, làm cơ sở cho việc hoàn thiện chất lượng công tác kháng nghị giám đốc thẩm. Đẩy mạnh, thực hiện tốt công tác tổng kết, đánh giá chất lượng hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm góp phần đảm bảo chất lượng của kháng nghị được ban hành, đồng thời bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thứ sáu, nâng cao trình độ nhận thức và ý thức pháp luật cho công dân Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 Nhà nước ta là “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước và xã hội, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong đó có hệ thống cơ quan tư pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện giải quyết vụ án đúng đắn, hạn chế các hành vi tùy tiện, lạm quyền của các chủ thể tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC, quyền giám sát của công dân cũng được thể hiện rõ nét qua việc công dân là chủ thể được quyền gửi đơn đến đề nghị kháng nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm tới các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị sau khi bản án, quyết định của Tòa án phát hiệu lực pháp luật. Song, do nhận thức và ý thức pháp luật của người dân có phần còn hạn chế dẫn đến tình trạng đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm có số lượng lớn, tỷ lệ trùng lặp cao, nhiều đơn có căn cứ không rõ ràng. Thêm vào đó, cũng bởi vì nhận thức pháp luật còn hạn chế nên họ khó có thể đánh giá được bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật có vi phạm, sai phạm không. Vì vậy, cần thiết phải nâng cao trình độ nhận thức và ý thức pháp luật của người dân, để nhân dân có ý thức tích cực chủ động và hoạt động có hiệu quả trong việc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền. Nhà nước cần có các biện pháp tuyên truyền sâu rộng và có hiệu quả thực chất để công dân nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về các quy định của pháp luật để hạn chế đến mức tối đa những đơn đề nghị không có căn cứ, mang tính cầu may và thực hiện tốt quyền và vai trò của mình đối với hoạt động giải quyết VAHC.
Kết luận chương 3
Nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm luôn là yêu cầu cấp thiết, chất lượng của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm được nâng cao, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đảm bảo công bằng xã hội đồng thời đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Nhằm đáp ứng các yêu cầu trong việc nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC, trên cơ sở đánh giá thực tiễn và nghiên cứu so sánh những quy định về kháng nghị giám đốc thẩm, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật như: quy định cụ thể, rõ ràng hơn các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm; cần có những sửa đổi kịp thời về điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng khả thi hơn; bổ sung quy định chi tiết về việc “thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm”. Ngoài ra, tác giả đã đưa ra một số giải pháp khác về mối quan hệ, con người và sự phối hợp giữa nội bộ các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan nhà nước khác trong công tác kháng nghị giám đốc đối với VAHC. Các giải pháp được đưa ra với mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định của Luật TTHC nói riêng và pháp luật TTHC nói chung về công tác kháng nghị giám đốc thẩm.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt nhằm xét lại tính đúng đắn, hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Thủ tục tố tụng đặc biệt này được quy định trong hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới, dù có những sự khác biệt nhất định nhưng nhìn chung kháng nghị giám đốc thẩm đều mang ý nghĩa, vai trò như một công cụ hữu hiệu nhằm khắc phục những sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở phát sinh thủ tục giám đốc thẩm đồng thời là tiền đề cho quá trình xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án từ đó kịp thời khắc phục, sửa chữa những vi phạm, đảm bảo việc giải quyết vụ án có căn cứ, đúng quy định pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đảm bảo công bằng xã hội, giữ vững an ninh chính trị, ổn định xã hội, tạo lòng tin trong nhân dân với Đảng và Nhà nước. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, công trình đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn và đạt được một số kết quả có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, khóa luận đã làm rõ những vấn đề chung khái quát liên quan đến kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Trong đó, tác giả tập trung làm rõ khái niệm về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC, thông qua đó tác giả đã đưa ra khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm một cách khái quát nhất để làm rõ hơn về mặt đối tượng, tính chất cũng như ý nghĩa của thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm; trình bày và phân tích dưới góc độ lý luận về đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị giám đốc thẩm. Tiếp đó, tác giả đã đi sâu vào phân tích các quy định của Luật TTHC hiện hành về kháng nghị giám đốc thẩm như chủ thể có thẩm quyền kháng nghị, đối tượng kháng nghị, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, trình tự, thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm và thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm. Bên cạnh đó, khóa luận nghiên cứu quy định của một số nước trên thế giới về kháng nghị giám đốc thẩm trong sự so sánh, đối chiếu với quy định ở nước ta để làm sáng tỏ các quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC hiện hành.
Thứ hai, thông qua nghiên cứu việc thực hiện hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm trên thực tiễn, công trình đã cung cấp một lượng thông tin đáng kể về việc thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC trên cả nước trong 5 năm từ năm 2019 đến năm 2023. Thông qua các số liệu chi tiết về công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC đã được nêu chỉ ra rằng bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn có những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác này, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân về mặt pháp lý và những nguyên nhân khác của những hạn chế, vướng mắc đó. Về mặt pháp lý, nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là: Luật TTHC quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính chưa rõ ràng; Luật TTHC hiện hành quy định về điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm chưa thực sự hợp lý; Luật TTHC quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm tại Điều 265 còn chưa toàn diện, thiếu rõ ràng. Những nguyên nhân khác dẫn đến hạn chế trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC là: việc bố trí công chức có năng lực thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm tại một số cơ quan tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra; năng lực, trình độ của một số chủ thể thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm còn hạn chế; công tác kiểm tra, giám đốc xét xử tuy được các đơn vị triển khai và thực hiện thường xuyên nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao; điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, điều kiện làm việc tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ; trình độ nhận thức và ý thức pháp luật của công dân còn tồn tại một số hạn chế. Những nguyên nhân này là cơ sở để định hướng hoàn thiện và xây dựng các giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại, góp phần nâng cao chất lượng công tác kháng nghị giám đốc thẩm, khắc phục, sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Thứ ba, qua việc phân tích tình hình thực tiễn, tác giả mạnh dạn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Các giải pháp đó bao gồm các giải pháp về hoàn thiện pháp luật, các giải pháp về nâng cao hiệu quả kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC ở Việt Nam. Các giải pháp đưa ra có tính kế thừa, đồng bộ có hệ thống, có giá trị tham khảo cho các công trình nghiên cứu pháp lý về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC cũng như trong việc hoàn thiện các quy định của Luật TTHC trong tương lai. Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng