Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Tiêu chuẩn bồi thường được ghi nhận trong các hiệp định đầu tư
2.1.1 Tại các hiệp định đầu tư quy định rõ ràng về “giá trị thị trường hợp lý” là tiêu chuẩn của khoản bồi thường
Số lượng lớn các hiệp định đầu tư quốc tế ngày càng có sự giao thoa về cách thức quy định tiêu chuẩn bồi thường. Nhìn chung, các hiệp định này đều ghi nhận về sự bồi thường một cách toàn diện và đầy đủ dựa trên “giá trị thị trường hợp lý”.
Trong các hiệp định về đầu tư, sự ghi nhận trên thường được thể hiện qua các thuật ngữ khác nhau. Có thể kể đến một số ví dụ như sau:
Trong Hiệp định giữa Việt Nam – Nhật Bản về Tự do, Xúc tiến và Bảo hộ Đầu tư, tiêu chuẩn này được quy định như sau:
“Khoản bồi thường phải tương đương với giá trị thị trường thoả đáng của các khoản đầu tư bị trưng thu ngay trước khi việc trưng thu được thực hiện. Giá trị thị trường thoả đáng không phản ánh bất kỳ sự thay đổi nào về giá trị phát sinh từ việc trưng thu được công bố rộng rãi trước khi tiến hành. Khoản bồi thường phải được thanh toán không chậm trễ và kèm theo lãi suất hợp lý, có xem xét đến khoảng thời gian cho đến khi thanh toán. Khoản bồi thường phải được thực hiện thực tế và chuyển tự do và được tự do chuyển đổi sang đồng bản tệ của Bên Ký kết có nhà đầu tư và chuyển đổi sang các đồng tiền tự do chuyển đổi theo quy định tại các Điều khoản của Hiệp định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, theo tỷ giá hối đoái được áp dụng trên thị trường vào ngày tiến hành việc trưng thu”(Nhấn mạnh được thêm vào). Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
Còn trong Hiệp định giữa Hong Kong và Australia, hai bên đã sử dụng thuật ngữ “giá trị thực” khi nhắc đến khoản bồi thường:
“Khoản bồi thường như vậy sẽ bằng với giá trị thực của khoản đầu tư ngay trước khi bị truất hữu hoặc trước khi sự truất hữu trở thành kiến thức công khai tùy thuộc điều nào xảy ra sớm hơn” (Nhấn mạnh được thêm vào).
Ngoài ra, một số các thuật ngữ khác cũng xuất hiện trong các hiệp định đầu tư như: giá trị xác thực của thị trường (genuine market value), giá trị thật sự của thị trường (actual market value),… Tất cả các thuật ngữ này đều được giải thích là tương đương với “giá trị thị trường hợp lý”.
Trong một số trường hợp, các hiệp định chỉ sử dụng thuật ngữ “giá trị” (value) mà không đề cập đến yếu tố “thị trường”, tuy nhiên, theo cách giải thích trong một số quyết định của tòa trọng tài thì việc xác định giá trị của khoản bồi thường phải thông qua việc thẩm định, hay nói cách khác việc xác định “giá trị” nói trên cũng phải dựa vào sự so sánh với giá trị thị trường.
Như vậy, có thể nói “giá trị thị trường hợp lý” là tiêu chuẩn chung để xác định khoản bồi thường khi truất hữu hóa hợp pháp trong quy định tại các hiệp định đầu tư.
2.1.2 Tại các hiệp định đầu tư không quy định rõ ràng về “giá trị thị trường hợp lý” là tiêu chuẩn của khoản bồi thường
Tại một số hiệp định đầu tư, khi các điều khoản không có một quy định rõ ràng về “giá trị thị trường hợp lý” của khoản bồi thường, nhà đầu tư thường dựa trên điều khoản tối huệ quốc (MFN) để có thể tính tiêu chuẩn của khoản bồi thường với mức cao hơn “giá trị thị trường hợp lý”.
Một trong những vụ tranh chấp tiêu biểu về việc viện dẫn điều khoản MFN để định nghĩa tiêu chuẩn của việc bồi thường là vụ CME v. Czech Republic [46]. Trong phán quyết của mình, tòa trọng tài trong vụ việc này đã kết luận rằng: nếu thuật ngữ “chỉ bồi thường được ghi nhận trong hiệp định đầu tư Czechoslovakia – Hà Lan được giải thích là it hơn “giá trị thị trường hợp lý”, nhà đầu tư có thể dựa trên Czechoslovakia – US BIT này để lập luận rằng khoản bồi thường phải tương ứng với “giá trị thị trường hợp lý”. Điều này có thể xảy ra do trong Czechoslovakia – US BIT, khoản bồi thường được quy định là bằng “giá trị thị trường hợp lý”. Như vậy, tòa trọng tài đã ra phán quyết bằng cách vận dụng quy tắc tối huệ quốc.
2.2 Tiêu chuẩn bồi thường được ghi nhận trong tập quán quốc tế Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
Trước khi các BIT được hình thành thì quyền lợi của nhà đầu tư được bảo vệ bởi tập quán quốc tế. Tuy nhiên, ngay cả hiện nay, thời kỳ mà các hiệp định đầu tư luôn không ngừng gia tăng thì tập quán quốc tế vẫn đóng vai trò quan trọng. Theo một số số liệu thống kê, các BIT trên thực tế chỉ điều chỉnh khoảng 13% tổng số mối quan hệ song phương giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Ví dụ như tính đến năm 2017, số BIT mà Mỹ tham gia là 46, con số này của Úc là 17, của Nhật Bản là 28 và của Việt Nam là 61. Bởi vậy, cùng với sự tồn tại của hơn 2500 BIT, tập quán quốc tế vẫn còn giữ vai trò của mình trong vấn đề đầu tư quốc tế nói chung và vấn đề bồi thường trong truất hữu nói riêng.
Trước đây, việc xác định phương thức bồi thường giữa các nước phát triển và đang phát triển thường có sự khác nhau. Các nước xuất khẩu vốn (nước phát triển) thường cam kết một sự bồi thường một cách đầy đủ theo giá thị trường. Mặt khác, các nước nhập khẩu vốn (nước đang phát triển) thường đưa ra những tiêu chuẩn thấp hơn là “sự bồi thường đầy đủ”, một lượng bồi thường mà linh hoạt hơn về số lượng, cách thức và thời gian trả.
2.2.1 Nguyên tắc của trong việc hình thành yêu cầu bồi thường trong truất hữu trong tập quán quốc tế
Một trong những nguyên tắc của luật quốc tế được viện dẫn để tính giá trị của khoản bồi thường trong việc truất hữu là nguyên tắc Pacta Sunt Servanda (agreements must be kept). Theo nguyên tắc này, một quốc gia phải trung thực, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế. Dựa vào nguyên tắc này, PCIJ trong vụ Chorzow Factory đã chỉ ra rằng việc vi phạm hiệp định bảo vệ tài sản của người nước ngoài đòi hỏi việc phải bồi thường cho những thiệt hại đã xảy ra:
“Một nguyên tắc của pháp luật quốc tế là việc vi phạm cam kết sẽ kéo theo một nghĩa vụ bồi thường theo một hình thức thích hợp. Do đó, trách nhiệm bồi thường là sự bổ sung không thể thiếu khi thất bại trong thực thi áp dụng một công ước và điều này không cần thiết phải nêu rõ trong bản hiệp định”
Như vậy, nguyên tắc Pacta Sunt Servanda đã bảo vệ tài sản của người nước ngoài. Việc vi phạm nguyên tắc Pacta Sunt Servanda là cơ sở của việc yêu cầu bồi thường thiệt hại.
2.2.2 Một số tiêu chuẩn phổ biến được sử dụng việc xác định khoản bồi thường khi truất hữu trong tập quán quốc tế
- (a) Học thuyết Hull Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
Bối cảnh ra đời của học thuyết Hull là năm 1938, khi tài sản của những công dân Mỹ bị truất hữu tại Mexico. Tên của học thuyết được đặt theo tên của Thư ký bang Cordel Hull, người mà trong bức thư nổi tiếng gửi cho Chính phủ Mexico yêu cầu sự bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và có hiệu quả cho các tài sản nông nghiệp của công dân Mỹ đã bị truất hữu bởi Mexico.
Công thức tính cho việc bồi thường dựa trên học thuyết này là nhanh chóng, đầy đủ, hiệu quả. Nhanh chóng có nghĩa là chủ sở hữu tài sản bị truất hữu phải được bồi thường hợp lý ngay sau khi nhận, mà không chậm trễ quá đáng. Tuy nhiên, một trong những vấn đề liên quan đến việc đền bù nhanh chóng là thiếu cơ chế đảm bảo thực thi quốc tế cho các quốc gia không muốn trả khoản bồi thường được yêu, ngay cả khi vụ tranh chấp đã được xử bởi một tòa trọng tài quốc tế. Đầy đủ có nghĩa là việc bồi thường dựa trên giá trị hợp lý (fair valuation), thực chất đây chính là “giá trị thị trường hợp lý” của tài sản [25, tr. 606]. Tiêu chuẩn hiệu quả có nghĩa là việc bồi thường phải ở hình thức có thể thực hiện được, nó có thể chuyển đổi thành tiền tệ hay dạng khác như vàng. Ba tiêu chuẩn của học thuyết Hull đều được dựa trên tiêu chuẩn “chỉ bồi thường” (just compensation) được hình thành từ vụ Norwegian Shipowners và việc bồi thường hợp lý được hình thành từ vụ Chorzow Factory.
Tiêu chuẩn này vẫn được áp dụng tại Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ NAFTA và một số hiệp định được ký kết bởi Mỹ.
(b) Tiêu chuẩn “bồi thường hợp lý” (fair compensation) trong vụ
- Chorzow Factory
Theo vụ tranh chấp này, tòa PCIJ đã đưa ra kết luận rằng cần có sự bồi thường hợp lý, bao gồm cả chi phí bồi thường việc nhà máy bị ngưng sản xuất. Toà án tuyên bố sẽ ấn định số tiền bồi thường cho các điều kiện và hình thức thanh toán trong phán quyết tương lai. Tòa còn chỉ ra rằng bồi thường, có thể được trả theo hình thức một lần. Tuy nhiên, tòa đã không đưa ra một quyết định cụ thể về vấn đề.
Như vậy, phán quêt của tòa PCIJ đã quan tâm đến phần lợi nhuận bị mất của tài sản đã bị truất hữu. Không chỉ vậy, việc tính giá trị của khoản bồi thường còn được dựa trên giá trị thị trường hợp lý của tài sản.
2.3 Cách tính giá trị thị trường hợp lý Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
Dù tiêu chuẩn bồi thường nào có được áp dụng thì việc tính cụ thể khoản bồi thường mới là điều mà cả nhà đầu tư lẫn nước nhận đầu tư hướng tới. Tuy nhiên, trong các BIT, không có một hướng dẫn thực tiễn nào về các phương pháp tính khoản bồi thường này. Do vậy, nghĩa vụ xác định phương pháp tính toán trong từng trường hợp cụ thể thuộc về các cơ quan xét xử.
Không có một phương pháp tính nào có thể áp dụng cho mọi loại tài sản. Việc lựa chọn phương pháp tính được dựa vào bản chất của tài sản bị truất hữu. Một số phương pháp được áp dụng phổ biến như: phương pháp dựa trên thu nhập/ phương pháp dòng tiền, phương pháp dựa trên sự tiếp cận thị trường, phương pháp dựa trên tài sản và chi phí
2.3.1 Phương pháp dựa trên thu nhập/ phương pháp dòng tiền
Đây là phương pháp tính giá trị hiện tại của khoản đầu tư dựa trên dòng tiền ước tính trong tương lai. Bản chất của phương pháp này là giá trị của khoản đầu tư sẽ được phản ánh qua những gì nhà đầu tư dự kiến kiếm được. Thực chất, phương pháp dòng tiền thường được sử dụng bởi những người sẵn sàng mua trên thị trường, và do đó kết quả đạt được thông qua quá trình này có thể sẽ gần với giá trị thị trường hợp lý nếu các giả định được đưa ra trong tính toán tương tự như dự tính của một người sẵn sàng mua.
Công thức của phương pháp dòng tiến:
Giá trị hiện tại = Dòng tiền hàng năm / (1+r)t
Trong đó r là tỉ lệ chiết khấu còn t là số năm từ thời điểm xảy ra truất hữu.
Ưu điểm của phương pháp này là khách quan và thực tế do đã tính đến lãi suất. Ngoài ra phương pháp này còn kể đến rủi ro tương lai.
Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng thì phương pháp này vẫn còn tồn tại một số rủi ro như khả năng giảm tỉ lệ tăng trưởng trong tương lai có thể xảy ra thường xuyên trong các hoạt động đầu tư do các yếu tố như sự cạnh tranh từ các nhà đầu tư mới, tăng thuế,…
2.3.2 Phương pháp dựa trên sự tiếp cận thị trường Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
Phương pháp dựa trên sự tiếp cận thị trường bao gồm việc tìm kiếm giá trị của khoản đầu tư theo luật của thị trường. Hướng tiếp cận của phương pháp này là quyết định giá của một tài sản dựa trên hàng loại cac phương pháp so sánh giá trị tương đương của tài sản đó với các tài sản có thể so sánh khác. Đây được coi là phương pháp khách quan và được sử dụng rộng rãi nhất trong các vụ tranh chấp liên quan đến truất hữu tài sản.
Về cơ bản, để áp dụng phương pháp này cần trải qua ba bước. Bước đầu tiên là tìm kiếm các tài sản có thể so sánh với giá thị trường. Nếu tài sản không đồng nhất về quy mô hoặc đơn vị thì cần phải có một bước thứ hai để tăng giá thị trường lên một biến số chung. Bước cuối cùng là điều chỉnh sự khác biệt về chất lượng của tài sản.
Trong vụ tranh chấp CMS v. Argentina, giá thị trường của một tài sản được định nghĩa là:
“[giá trị] mà tài sản có thể được trao đổi giữa một người mua giả định muốn mua và có thể mua với một người bán giả định muốn bán và có thể bán dựa trên nguyên tắc độc lập và bình đẳng giữa hai bên trong một thị trường không giới hạn, khi cả hai bên đều không bị bắt buộc bán hoặc mua và có thông tin cơ bản về tài sản”.
Theo nguyên tắc này, cần phải tham chiếu một giao dịch để xác định số tiền mà hai bên tham gia thị trường sẵn sàng chi trả để có một khoản đầu tư hoạt động trong cùng một ngành và chịu các biến số kinh tế tương tự. Một trong những điều đáng chú ý của phương pháp này là phải xác định ngày tham chiếu (vì giá thị trường có thể lên xuống thường xuyên và thậm chí có thể bằng không trong một số trường hợp liên quan đến chứng khoán). Phương thức này thường được áp dụng bởi các tòa trọng tài trong trường hợp tài sản đầu tư đã cho thấy được lợi nhuận.
Ưu điểm của phương pháp này là có thể xác định được giá trị thực sự của việc “bồi thường đầy đủ”. Một số trọng tài viên cho rằng một tài sản đầu tư không chỉ là một tài sản cố định mà còn bao gồm các hoạt động mà làm gia tăng vốn. Bởi vậy, giá trị của nó không chỉ bao gồm giá trị nội tại của tài sản đó mà còn cả lợi nhuận của việc đầu tư đó nữa.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế. Đầu tiên, hạn chế có thể kể đến là phương pháp này bao gồm một loạt các quá trình suy đoán và thao tác. Bởi vậy, nó dễ dàng dẫn đến sai số. Thứ hai, phương pháp này không thể áp dụng trong trường hợp không có tài sản tương tự để so sánh. Điều này có thể xảy ra trong trường hợp các doanh nghiệp độc quyền sở hữu sản phẩm hoặc trường hợp không có một thị trường mang tính quốc tế do nền kinh tế cũng như chính trị tại mỗi nước là khác nhau. Trong trường hợp này, việc áp dụng phương pháp dựa trên sự tiếp cận thị trường có thể dẫn đến thiệt hại cho nước nhận đầu tư do phải bồi thường quá mức của tài sản đầu tư. Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
2.3.3 Phương pháp dựa trên giá trị sổ sách của tài sản
Giá trị sổ sách của một tài sản được xác định bằng giá trị thuần của nó trừ đi số tiền khấu hao và / hoặc các khoản dự phòng. Trong thực tế, phương pháp giá trị sổ kế toán bao gồm trong trường hợp này đánh giá giá trị cố định (về nguyên tắc là tối thiểu) của tổng số tài sản của một khoản đầu tư vào một ngày nhất định. Nó chỉ tính đến giá trị quá khứ mà không kể đến thu nhập trong tương lai.
Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp tài sản đầu tư chưa cho thấy được lợi nhuận trong quá khứ do hoạt động đầu tư chưa diễn ra. Trong một số trường hợp hoạt động đầu tư chưa diễn ra thì lợi nhuận của khoản đầu tư còn không được bồi thường.
Trong Siemens v Argentina, ICSID đã điều chỉnh giá trị sổ sách bằng cách loại bỏ khoản tín dụng thuế vì Tòa đã phát hiện ra rằng công ty sẽ không kiếm được lợi nhuận nào mà nó có thể sử dụng tín dụng thuế. Tòa cũng đã xóa một mục nhập sổ sách về các rủi ro liên quan đến chấm dứt hợp đồng do Tòa ICSID đã quyết định rằng nhà đầu chịu tư thiệt hại cho những tổn thất mang tính hẩu quả mà có thể sẽ dẫn đến việc tính hai lần. Như vậy, trường hợp này cho thấy quá trình điều chỉnh giá trị sổ sách là nhất thiết phụ thuộc vào các tình huống cụ thể của doanh nghiệp có giá trị và tài sản của nó, đòi hỏi một sự đánh giá của người định giá.
Ưu điểm của phương pháp này là khách quan do dựa trên thực tế là giá trị trong quá khứ của tài sản đầu tư. Nói cách khác, phương pháp này không phải chịu rủi ro do không tính đến yếu tố tương lai.
Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không tính đến lợi nhuận của tài sản đầu tư. Bởi vậy, việc áp dụng phương pháp này có thể dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư do chỉ được nhận giá trị thấp hơn giá trị thực của khoản đầu tư trên thị trường.
2.4 Ngày định giá Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
Trong trường hợp truất hữu hợp pháp, việc định giá đồng nghĩa với việc phải xác định giá trị của tài sản bị truất hữu vào thời điểm ngay trước khi sự việc truất hữu diễn ra. Mục đích của việc này là nhằm bảo vệ nhà đầu tư trước sự suy giảm về giá trị của tài sản bị truất hữu, điều có thể xảy ra trong trường hợp việc truất hữu được mọi người biết đến, Trong trường hợp công chúng biết đến việc truất hữu trước, thì ngày định giá chính là ngày việc truất hữu được biết đến rộng rãi [Ripinsky (2008) p. 243-244]. Thông thường, việc truất hữu sẽ được biết đến thông qua một quyết định của chính phủ thể hiện ý định muốn truất hữu.
Ví dụ như trong vụ Santa Elena v. Costa Rica [53], tòa trọng tài đã quyết định rằng ngày định giá chinh là ngày Costa Rica đưa ra một nghị định về việc truất hữu tài sản của nhà đầu tư [53, ¶¶ 80-84]. Tương tự, trong vụ AMINOIL [42], tòa trọng tài cũng dễ dàng tuyên bố rằng ngày định giá là ngày có quyết định quốc hữu.[42 , ¶¶ 178]
Nguyên tắc của việc xác định ngày này là nhằm loại bỏ bất kỳ sự ảnh hưởng nào của việc quốc gia công bố thông tin về việc truất hữu trên thị trường. Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Bồi thường trường hợp truất hữu hóa bất hợp pháp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Bồi thường do truất hữu hóa trong thực tiễn