Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Những chủ trương, chính sách của Chính phủ về Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong những năm qua
Mặc dù quan niệm và phương thức tiến hành CPH DNNN ở mỗi nước có những khác biệt nhất định song đều nhằm mục đích chung là tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hoá không ngừng tăng lên của xã hội. Tại Việt Nam, Đại hội VI năm 1986 của Đảng đã tạo ra những tiền đề trọng yếu cho đổi mơi toàn bộ nền kinh tế, trong đó có vấn đề Nhà nước ta khẳng định đa dạng hoá hình thức sở hữu với cơ cấu kinh tê nhiều thành phần là nhân tố quyết định sự thành công của tiến trình CPH DNNN sau này. CPH một số DNNN được coi là một trong những giải pháp cơ bản để cải cách khu vực kinh tế Nhà nước, làm cho nó thích ứng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại.
1. Giai đoạn thí điểm từ 1990 đến 1996
Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá VIII nhấn mạnh: “Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý DNNN. Thực hiện các hình thức CPH thích hợp tính chất và lĩnh vực sản xuất để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả,…”. Để thực hiện chủ trương của Đảng và Quốc hội, ngày 10/5/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 143/HĐBT “về tổng kết thực hiện Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987, các Nghị định 50/HĐBT ngày 22/3/1988 và 98/HĐBT ngày 02/6/1988 và làm thử việc tiếp tục đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh”. Trong Quyết định này có đề ra thí điểm chuyển xí nghiệp quốc doanh thành Công ty Cổ phần đối với một số ít các xí nghiệp có đủ điều kiện và tiêu chuẩn. Quyết định cũng nêu rõ hơn mục đích và cách làm của CPH, song chưa có hướng dẫn của các Bộ, ngành chức năng nên chỉ có số ít DNNN triển khai thực hiện và mỗi nơi làm một kiểu, dẫn đến tình trạng rời rạc, không hiệu quả. Khóa luận: Tổng quan các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
Chỉ đến khi có Chỉ thị số 202/CT ngày 08/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) “về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN thành Công ty Cổ phần” thì chủ trương này mới thực sự được tiến hành có tổ chức và có hệ thống. Chỉ thị này đã nêu những doanh nghiệp được chọn CPH là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ hoạt động kinh doanh có lãi và tự nguyện xin CPH. Sự ra đời của Chỉ thị này nhằm mở rộng diện thí điểm và tiếp tục rút kinh nghiệm, đặc biệt là hành lang pháp lý để Công ty Cổ phần hoạt động.
Cùng ngày 08/6/1992, Chỉ thị số 203/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) được ban hành. Chỉ thị đã chọn 7 DNNN do Chính phủ chỉ đạo thí điểm và giao nhiệm vụ cho mỗi bộ, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn từ 1-2 doanh nghiệp thí điểm chuyển thành Công ty Cổ phần.
Mặc dù vậy vẫn còn phải có sự đôn đốc tiếp của Thủ tướng Chính phủ bằng Chỉ thị số 84/TTg ngày 04/3/1993 “về việc xúc tiến thực hiện thí điểm CPH DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với các DNNN”. Chỉ thị đã chỉ ra rằng: CPH chưa kết hợp chặt chẽ với sắp xếp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp gặp khó khăn; trong khi sắp xếp, thiên về giải thể hơn là hình thức đa dạng hoá sở hữu. Sau đó là Thông tư số 36/TC-CN ngày 07/5/1993 của Bộ Tài chính và Thông tư số 09/LĐTBXH-TT ngày 22/7/1992 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội “hướng dẫn về lao động và chính sách đối với người lao động trong thí điểm chuyển một số DNNN thành Công ty Cổ phần theo Quyết định 202/CT ngày 08/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng” thì cuối cùng CPH mới đi vào sự nghiệp cải cách khu vực kinh tế Nhà nước.
Sau 4 năm đầu thực hiện CPH, cả nước tiến hành CPH được 5 DNNN và đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm. Từ đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 “về chuyển một số DNNN thành Công ty Cổ phần”. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách tương đối đồng bộ về các chính sách đối với DNNN CPH [20].
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Giai đoạn mở rộng từ 6/1996 đến 6/1998 Khóa luận: Tổng quan các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
Ngày 26/3/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/CP “về sửa đổi một số điều của Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 về chuyển một số DNNN thành Công ty Cổ phần”.
Ngày 04/4/1997, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Thông báo số 63/TB-TW về “Ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc CPH DNNN” một lần nữa khẳng định lại: “CPH là một bộ phận doanh nghiệp, là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”. Trên cơ sở đánh giá kết quả bước đầu và vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện CPH DNNN, Thông báo đã đề ra các công việc yêu cầu tổ chức Đảng và chính quyền các cấp cần thực hiện nhằm đẩy mạnh tiến trình CPH DNNN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII.
Quán triệt ý kiến của Bộ Chính trị trong Thông báo số 63/TB-TW, ngày 29/6/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP “về chuyển DNNN thành Công ty Cổ phần” với những sửa đổi, bổ sung và phát triển nhiều quy định mới nhằm tập trung chỉ đạo CPH DNNN, tiếp tục rút kinh nghiệm chuẩn bị những điều kiện để đẩy mạnh quá trình CPH. Cụ thể, giao và tạo quyền chủ động cho các bộ, ngành, địa phương và các Tổng công ty 90, trong việc lựa chọn, tổ chức thực hiện quy trình và kế hoạch CPH; phương pháp định giá doanh nghiệp được xây dựng có tính khả thi cao; việc mua Cổ phần của người lao động trong doanh nghiệp được ưu đãi hơn, cho phép việc chuyển nhượng, thừa kế Cổ phiếu,…. Tuy vậy, thời gian này cả nước cũng chỉ tiến hành CPH được 590 doanh nghiệp. Đây là một Nghị định thông thoáng, tạo ra sức hấp dẫn mới đối với doanh nghiệp CPH và người lao động trong doanh nghiệp CPH với thủ tục rõ ràng, có phân công trách nhiệm cụ thể, tạo điều kiện pháp lý cho các Bộ, ngành, các địa phương và các doanh nghiệp dễ dàng triển khai thực hiện Nghị định số 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ [20].
3. Giai đoạn chủ động từ 7/1998 đến 7/2002
Giai đoạn này tiến hành mở rộng, vừa làm, vừa bổ sung, sửa đổi nhằm tiến tới việc hoàn thiện hành lang pháp lý. Ngày 18/7/1998, Bộ Tài chính ra Thông tư số 104/1998/TT-BTC “hướng dẫn những vấn đề về tài chính khi chuyển DNNN thành Công ty Cổ phần (theo Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998)”.
Ngày 21/8/1998, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ra Thông tư số 11/1998/TT-LĐTBXH “hướng dẫn về chính sách đối với người lao động khi chuyển DNNN thành Công ty Cổ phần theo Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ.
Ngày 29/8/1998, Văn phòng Chính phủ ra Công văn số 3395/VPCP-ĐMDN về việc hướng dẫn quy trình và phương án mẫu CPH.
Ngày 28/9/1998, ngân hàng Nhà nước ra Thông tư số 07/1998/TT-NHNN1 về “Hướng dẫn thực hiện một số nội dung liên quan đến ngân hàng khi chuyển DNNN thành Công ty Cổ phần (theo Nghị định 44/1998 ngày 29/6/1998)”.
Thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp DNNN, Nghị quyết Trung ương khoá IX nhấn mạnh: “… đẩy mạnh CPH những DNNN không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN”. Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về chuyển DNNN thành Công ty Cổ phần đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình thực hiện CPH: đẩy nhanh CPH DNNN gắn với sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh của DNNN, nêu rõ phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền quyết định giá trị doanh nghiệp cho các bộ, các tỉnh, thành phố. Chính phủ tập trung chỉ đạo các bộ, các tỉnh, thành phố và các Tổng công ty rà soát, xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới DNNN bằng nhiều hình thức khác nhau như: bán, khoán, cho thuê. Tuy nhiên, một số quy định của Nghị định số 64 trong quá trình thực hiện dần dần bộc lộ những hạn chế. Chẳng hạn như: CPH vẫn chủ yếu là khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. Việc xác định giá trị doanh nghiệp theo Nghị định số 64 thiếu khách quan, không sát với giá thị trường, gây tiêu cực trong định giá [6].
4. Giai đoạn đẩy mạnh từ 8/2002 trở đi Khóa luận: Tổng quan các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
Đây là thời kỳ Đảng và Nhà nước khẳng định quyết tâm trong việc đẩy nhanh, đẩy mạnh, vững chắc tiến trình CPH DNNN, gắn với sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh của DNNN. Đảng ta đã khẳng định nhất quán trong đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, tổ chức lại nhằm nâng cao hiệu quả của DNNN đáp ứng yêu cầu hội nhập nền kinh tế. Chính từ quan điểm đúng đắn đó, DNNN đã được tiếp thêm năng lực cạnh tranh, quy mô vốn ngày càng được mở rộng, từ chỗ trung bình 24 tỷ đồng/doanh nghiệp nay đã tăng lên 71 tỷ đồng/doanh nghiệp, vai trò định hướng chủ đạo của DNNN ngày càng rõ nét, nhất là các Tổng công ty “90” và “91”. Từ chỗ, chúng ta chỉ là những nhà thầu phụ, nay nhiều đơn vị là những nhà thầu chính, tổng thầu trong các công trình trọng điểm quốc gia. Các Tổng công ty đã và đang từng bước kiện toàn đổi mới nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhiều lĩnh vực Nhà nước không cần nắm vốn 100% đang tiến hành CPH. Nhiều doanh nghiệp sau khi tiến hành CPH đã đi vào hoạt động hiệu quả, đảm bảo được những yêu cầu do Nhà nước đề ra. Trong số hơn 2.800 doanh nghiệp CPH giai đoạn này, có nhiều doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn, như: các Tổng công ty “90”, các ngân hàng,… [20].
Ngày 09/9/2002, Bộ Tài chính ra Thông tư số 76/2002/TT-BTC “Hướng dẫn những vấn đề tài chính khi chuyển DNNN thành Công ty Cổ phần”.
Ngày 12/9/2002, Bộ Tài chính ra Thông tư số 79/2002/TT-BTC “Hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp khi chuyển DNNN thành Công ty Cổ phần” và Thông tư số 80/2002/TT-BTC “Hướng dẫn bảo lãnh phát hành và đấu giá bán Cổ phần ra bên ngoài của các DNNN thực hiện CPH”.
Ngày 31/7/2003, Bộ Tài chính ra Thông tư số 73/2003/TT-BTC “Hướng dẫn thực hiện Quy chế góp vốn, mua Cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam”.
Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX và Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX đã khẳng định tính nhất quán của Đảng ta trong chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần; kiên quyết đẩy nhanh việc sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả DNNN. Trong đó, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX đã đề ra một số chủ trương giải pháp mới tập trung cụ thể vào 5 điểm lớn sau đây:
- Mở rộng diện và quy mô các DNNN cần CPH kể cả một số Tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong ngành: điện lực, luyện kim, cơ khí, hoá chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng bảo hiểm.
- Định giá giá trị doanh nghiệp, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc do thị trường quyết định.
- Việc mua bán Cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục việc CPH khép kín nội bộ.
- Khẩn trương xoá bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh của các DNNN. Phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã được cam kết, nhất là gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
- Đổi mới chức năng quản lý Nhà nước đối với DNNN, nghiên cứu đầu tư, thành lập Công ty của Nhà nước và cơ quan quản lý Nhà nước để thực hiện thống nhất và có hiệu quả chức năng Nhà nước là đại diện chủ sở hữu phần vốn đầu tư của mình vào doanh nghiệp thuộc mọi ngành, mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
Cụ thể hoá tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX và Chỉ thị số 45/CT-BCT ngày 22/10/2004 của Bộ Chính trị khoá IX về việc đẩy mạnh CPH DNNN, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 “Về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần” với những nội dung mới như: việc xác định giá trị DNNN chủ yếu qua đấu giá theo giá thị trường, kết quả của các trung tâm, đơn vị định giá chỉ là mức giá để tham khảo khi xác định vốn điều lệ, làm cơ sở cho chủ sở hữu đưa ra mức giá sàn; minh bạch hoá, công khai hoá tài sản, tình hình tài chính của doanh nghiệp, có quy định cụ thể, hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược,….
Nghị định này được đánh giá là biện pháp “mạnh tay” để đẩy nhanh tiến độ CPH. Tuy nhiên, sau 2 năm áp dụng, Nghị định đã bộc lộ nhiều hạn chế, như: đối tượng CPH không “lường trước” được những loại hình doanh nghiệp mới; không cho phép nhà đầu tư nước ngoài trở thành nhà đầu tư chiến lược; chưa khuyến khích doanh nghiệp bán Cổ phần ra bên ngoài,… [6].
Ngày 24/12/2004, Bộ Tài chính ra Thông tư số 126/2004/TT-BTC “Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần”. Khóa luận: Tổng quan các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
Ngày 17/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 04/2005/CT-TTg, trong đó đã chỉ rõ: “CPH là khâu then chốt nhất, là giải pháp cơ bản và quan trọng để cơ cấu lại, đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả DNNN, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,….”
Ngày 27/7/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg “Về việc thành lập Trung tâm Lưu ký Chứng khoán”.
Ngày 04/8/2005, Bộ Tài chính ra Quyết định số 2592/QĐ-BTC “Về việc ban hành quy trình kết hợp CPH DNNN với niêm yết/đăng ký giao dịch Cổ phiếu tại các Trung tâm giao dịch chứng khoán”.
Ngày 27/01/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2006/NĐ-CP “Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần”.
Ngày 25/9/2006, Bộ Tài nguyên môi trường ra Thông tư số 09/2006/TT-BTNMT “Hướng dẫn việc chuyển đổi hợp đồng thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần”.
Ngày 12/10/2006, Bộ Tài chính ra Thông tư số 95/2006/TT-BTC “Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần”.
Chỉ trong vòng 6 năm từ 2001-2006, việc phải ban hành tới 5 Nghị định hướng dẫn việc sắp xếp, CPH các DNNN không chỉ phản ánh nỗ lực của Chính phủ mà còn cho thấy quá trình này gặp phải những cản trở nghiêm trọng.
Ngày 20/3/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 38/2007/QĐ-TTg “Về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước” với những quy định rất cụ thể. Theo Quyết định này, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm khi thực hiện CPH, Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số Cổ phần.
Ngày 28/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 87/2007/NĐ-CP “Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở Công ty Cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty Cổ phần. Nghị định này thay thế Nghị định 187/2004/NĐ-CP và được đánh giá là có nhiều thay đổi phù hợp, góp phần giải quyết khá triệt để những vướng mắc trong quá trình CPH DNNN thời gian qua.
Nghị định 109 đã bổ sung các đối tượng CPH thuộc các loại hình: (i)
Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, (ii) Công ty mẹ trong tổ hợp Công ty mẹ – Công ty con, (iii) Công ty TNHH do Nhà nước nắm giữ 100% vốn. Như vậy, đối tượng CPH đã bao quát các mô hình tổ chức của DNNN mới phát sinh trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, có lẽ cũng cần phải có thêm các quy định điều chỉnh về trình tự CPH Công ty mẹ-Công ty con, vì trong một số trường hợp, việc CPH Công ty con trước, Công ty mẹ/ tập đoàn sau hoặc ngược lại sẽ có nhiều sự khác biệt.
Trong quy định về điều kiện CPH, tiêu chí “còn vốn Nhà nước” vẫn được giữ nguyên nhưng “chất” của tiêu chí đã thay đổi. Theo Nghị định 187, vốn Nhà nước được ghi chú là chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất còn theo Nghị định 109 không còn ghi chú này. Mặt khác, Nghị định 109 cũng đã quy định rõ nếu giá trị doanh nghiệp (sau khi xử lý tài chính và đánh giá lại) nhỏ hơn nợ phải trả thì không CPH mà phải tiến hành bán hoặc giải thể, phá sản doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu, giá trị quyền sử dụng đất đã được nhìn nhận đầy đủ như một cấu thành của vốn Nhà nước khi xác định giá trị doanh nghiệp.
Điểm quan trọng nhất của Nghị định 109 là trao quyền cho Hội đồng quản trị phê duyệt tất cả các quyết định liên quan đến CPH như: phương thức bán Cổ phần, xác định giá trị doanh nghiệp CPH, xử lý tài chính, công nợ,…
thay vì phải trình lên bộ quản lý ngành như trước đây. Quy định này vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc đẩy nhanh tiến trình CPH nhưng đồng thời đặt ra trách nhiệm rất cao đối với Hội đồng quản trị.
Với những nội dung đổi mới cơ bản nêu trên của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP, quá trình CPH theo cơ chế mới này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình CPH DNNN trong thời gian tới đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra. Khóa luận: Tổng quan các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
