Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng tổ chức và quản lý của các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam nói chung
1.1. Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Khi chuyển đổi và cơ cấu lại theo mô hình Tập đoàn kinh tế , cơ cấu của các tổng Công ty đã được điều chỉnh lại theo hướng phát triển cơ cấu Công ty mẹ-Công ty con là chủ yếu. Trong đó Công ty mẹ có vốn đầu tư đa dạng dưới hình thức vốn cổ phần, vốn liên doanh và vốn góp ở các Công ty con, Công ty liên kết. Không phải tất cả các thành viên của tổng Công ty phải theo cơ cấu Công ty mẹ – Công ty con, nhưng đây chính là cơ cấu chủ đạo trong các Tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Công ty mẹ: Trong mô hình Tập đoàn kinh tế này, Công ty mẹ là Công ty nhà nước, hoạt động theo luật doanh nghiêp nhà nước và được hình thành từ việc chuyển đổi, tổ chức lại tổng Công ty. Công ty mẹ trong cơ cấu Tập đoàn hiện nay giữ vai trò quan trọng. Đó là đầu tàu của Tập đoàn và là trung tâm chính sách. Các Công ty mẹ hiện nay đều do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, vốn góp chi phối. Vì vậy các Công ty mẹ thường được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước. Tuy nhiên hiện nay cũng xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng nên mở rộng loại hình của Công ty mẹ, có thể là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, tùy thuộc vào quyết định phân loại tổng Công ty đó thuộc nhóm nhà nước giữ 100% vốn hay cổ phần chi phối.
Về tên gọi của Công ty mẹ, ở một số Tập đoàn mới hình thành ở Việt Nam hiện nay, Công ty mẹ được lấy tên là Tập đoàn . Điều đó có thể dẫn đến nhận thức nhầm lẫn giữa Công ty mẹ với vai trò chủ chốt của Tập đoàn với lại Tập đoàn bản chất là một tổ hợp hay một nhóm các doanh nghiệp liên kết nhau. Tập đoàn BCVT Việt Nam là một trường hợp như vậy. Cụ thể, theo Quyết định 58/2005/QĐ-TTg ngày 23/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn BCVT Việt Nam thì: ―Tập đoàn BCVT Việt Nam được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại TCT BCVT Việt Nam và các đơn vị thành viên, có cơ cấu bao gồm: Công ty mẹ – Tập đoàn BCVT Việt Nam (2) (gọi tắt là Tập đoàn); TCT Bưu chính Việt Nam; Các TCT viễn thông vùng; Các Công ty do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ; Các Công ty do Tập đoàn nắm giữ 50% vốn điều lệ; Các Công ty liên doanh với nước ngoài về viễn thông và công nghệ thông tin; Các đơn vị sự nghiệp‖. Như vậy, rõ ràng thuật ngữ ―Tập đoàn BCVT‖(1) được hiểu là một tổ hợp các DN bao gồm Công ty mẹ và các DN thành viên. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Đồng thời, do đặt luôn tên Công ty mẹ là Tập đoàn BCVT Việt Nam nên lúc này thuật ngữ ―Tập đoàn BCVT Việt Nam‖ (2) được hiểu là chỉ một đơn vị là Công ty mẹ . Và theo cách hiểu này thì ―Tập đoàn BCVT‖ (1) bao gồm cả Công ty mẹ – ―Tập đoàn BCVT Việt Nam‖ (2). Như vậy, rõ ràng do đặt tên Công ty mẹ là Tập đoàn BCVT Việt Nam nên có đôi lúc sẽ gây nhầm lẫn và không rõ ràng trong cách hiểu và nhìn nhận về cả tổ hợp – Tập đoàn BCVT Việt Nam và Công ty mẹ trong Tập đoàn.
Về chức năng và cơ cấu của Công ty mẹ, Công ty mẹ có thể trực tiếp thực hiện thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ thực hiện hoạt động quản lý và kinh doanh vốn đầu tư ở các Công ty khác hoạt động dưới dạng quản lý và kinh doanh vốn đầu tư ở các Công ty khác dưới hình thức Công ty ― holding ‖. Công ty mẹ có thể thực hiện chức năng đầu tư tài chính vào các Công ty con, Công ty liên kế mà không cần trực tiếp sản xuất kinh doanh nhưng cần điều kiện đi kèm là Công ty mẹ phải thực sự có quyền đầu tư tài chính , thực sự là chủ sở hữu các khoản vốn hiện tại đã nằm ở các doanh nghiệp thành viên của tổng Công ty. .Điều này còn phụ thuộc vào đặc thù riêng cũng như chiến lược phát triển riêng của từng Tập đoàn. Ví dụ, đối với Tập đoàn bưu chính viễn thông và Tập đoàn điện lực thì Công ty mẹ tập trung vào chức năng đầu mối thống nhất hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên hoặc nắm giữ khâu then chốt như mạng trục viễn thông, mạng phân phối điện quốc gia. Như vậy tùy tùy theo tính đa dạng về ngành nghề hoạt động cùng với số lượng và loại hình doanh nghiệp thành viên Tập đoàn, Công ty mẹ có thể trực tiếp chi phối các Công ty con hoặc chi phối các Công ty con thông qua Công ty đầu tư tài chính của Tập đoàn
Công ty con: Các Công ty con trong Tập đoàn là các doanh nghiệp có quan hệ với Công ty mẹ, là nhưng doang nghiệp mà Công ty mẹ đầu tư, nắm giữ 100% vốn hoặc nắm giữ cổ phần hoặc vốn góp chi phối. Các Tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay có một số loại hình Công ty con như sau:
- Công ty con là các Công ty cổ phần hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn có cổ phần, vốn góp chi phối của Công ty mẹ, hoạt động trong nước hoặc ở nước ngoài
- Công ty con là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Công ty mẹ là chủ sở hữu
- Công ty con là Công ty liên doanh với nước ngoài do Công ty mẹ giữ quyền chi phối hoạt động theo qui điịnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và điều lệ Công ty
- Các Công ty con khác không có cổ phần, vốn góp chi phối nhưng tự nguyện chịu sự chi phối của Công ty mẹ thông qua hợp đồng liên kết, theo pháp luật tương ứng với hình thức pháp lý của mình
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1.2. Cơ chế quản lý của Tập đoàn kinh tế Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Bộ máy lãnh đạo của Công ty mẹ thường được coi là bộ máy lãnh đạo, quản lý của Tập đoàn. Hiện nay ở Việt Nam có một số hình thức quản lý của Công ty mẹ với tổ hợp Tập đoàn như sau:
- Lãnh đạo của Công ty mẹ kiêm nhiệm lãnh đạo của các Công ty con, thành viên Tập đoàn
- Công ty mẹ xây dựng chiến lược chung của Tập đoàn, quản lý chung chiến lược của Tập đoàn
- Công ty mẹ định hướng cho Công ty con thể hiện ở điều lệ của các Công ty con và Công ty mẹ chịu trách nhiệm phê duyệt điều lệ của Công ty con
- Công ty mẹ quản lý việc xây dựng, sử dụng và bảo vệ thương hiệu chung của tạp đoàn
- Công ty mẹ chịu trách nhiệm trong việc xây dựng và hình thành tổ chức tham vấn của Tập đoàn bằng cách tổ chức các hội nghị, cuộc họp giữa các đại diện của các Công ty con, thành viên Tập đoàn để tham vấn về các vấn đề chung của Tập đoàn.
Tùy theo đặc trưng của từng Tập đoàn mà có nhưng hình thức tổ chức quản lý khác nhau.Đối với Tập đoàn tập doàn bưu chính viễn thông thì Công ty mẹ (Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam) là Công ty nhà nước, có chức năng đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối các Công ty con thông qua vốn, nghiệp vụ, công nghệ, thương hiệu, thị trường đồng thời trực tiếp quản lý, kinh doanh mạng lưới viễn thông đường trục và đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ công ích do nhà nước giao.Trong quyết định vêgồm: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc
2. Thực trạng phát triển của một số Tập đoàn kinh tế đã được thành lập ở Việt Nam
Một Tập đoàn kinh tế bao giờ cũng gồm những thành viên tự nguyện, các thành viên xét thấy có được những lợi ích khi gia nhập Tập đoàn. Nhưng nước ta, việc thành lập các tổng Công ty theo mô hình Tập đoàn kinh doanh lại dựa trên sự chỉ định của Nhà nước, các doanh nghiệp thành viên có nghĩa vụ phải tham gia. Vì vậy, nếu tổng Công ty hoạt động không có hiệu quả, ở một mức độ nào đó sẽ là một rào cản đối với các doanh nghiệp thành viên. Quan hệ nội bộ giữa tổng Công ty và các doanh nghiệp thành viên không hình thành mô hình Công ty mẹ – con dựa trên sự tham gia đan xen của nhiều chủ thể thuộc các lĩnh vực có chế độ sở hữu khác nhau, mà chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước trong cùng một ngành, một lĩnh vực. Các quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của tổng Công ty theo mô hình Tập đoàn kinh doanh còn có nhiều hạn chế và thiếu đồng bộ, gây trở ngại cho hoạt động của các doanh nghiệp thành viên như cơ chế điều hoà vốn, các vấn đề về đầu tư, tiền lương, đơn giá sản phẩm… Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Ngoài ra, có thể thấy quy mô hoạt động của các tổng Công ty còn khá nhỏ bé, các chỉ tiêu về vốn, doanh thu, lợi nhuận so với các Tập đoàn kinh tế trong khu vực và thế giới còn khá khiêm tốn, phạm vi hoạt động của các tổng Công ty hầu hết mới dừng lại ở thị trường trong nước. Tóm lại, các tổng Công ty theo mô hình Tập đoàn kinh doanh ở nước ta hiện nay thực sự mới chỉ là hình thức sơ khai ban đầu của mô hình Tập đoàn kinh tế. Hình thức chủ yếu một số Tập đoàn kinh tế non trẻ tại Việt Nam như Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực…hiện nay là hình thức Công ty mẹ – Công ty con.
Hiện nay ở Việt Nam chính thức có 8 Tập đoàn kinh tế Nhà nước (Bưu chính – Viễn thông, Than – khoáng sản, Dầu khí, Điện lực, Công nghiệp tàu thủy, Dệt may, Cao su, Tài chính – bảo hiểm) được Thủ tướng chính phủ phê duyệt thành lập thông qua các đề án thí điểm thành lập Tập đoàn kinh tế trên cơ sở Tổng Công ty Nhà nước quy mô lớn và các đề án này đang được triển khai thực hiện
Bên cạnh đó cũng một số mô hình Tập đoàn kinh tế tư nhân chưa chính danh tiêu biểu (Đồng Tâm, Kinh Đô, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, Trung Nguyên…). Tuy nhiên phải nhấn mạnh rằng: ―Các Tập đoàn kinh tế tư nhân hiện nay, nhìn chung, buộc phải mang cái tên không chính danh là Công ty cổ phần Tập đoàn, hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn Tập đoàn.Trên thực tế về pháp lý mô hình Tập đoàn kinh tế tư nhân cho đến nay vẫn chưa được thừa nhận‖. Bên cạnh đó các Tập đoàn kinh tế tư nhân tuy đã phát triển nhưng nhìn chung vẫn còn rời rạc, chưa đầu tư vào những ngành kinh tế mũi nhọn, chưa có tiềm lực mạnh. Ngoài ra, khả năng liên kết trong kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu vực này còn rất thấp. Các Tập đoàn này mới chỉ manh mún chưa đủ để trở thành Tập đoàn kinh tế một cách đúng nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường.Vì vậy mà trong phạm vi khóa luận này chỉ đề cập đến các Tập đoàn kinh tế nhà nước tiêu biểu
Xuất phát từ chủ trương và định hướng, hiện nay Việt Nam đã có được một số Tập đoàn kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực quan trọng. Dưới đây là một số Tập đoàn kinh tế đã và đang hoạt động tại Việt Nam.
2.1. Tập đoàn Bưu chính viễn thông Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Quan niệm về Tập đoàn BCVT:
Trước hết, Tập đoàn BCVT cũng là một loại hình của tập đoàn kinh tế hoạt động trong linh vực thương mại dịch vụ, bởi vậy, nó mang đầy đủ những đặc điểm của Tập đoàn kinh tế nói chung. Tuy nhiên, Tập đoàn BCVT cũng có những đặc thù riêng khác với các Tập đoàn kinh tế khác ở chỗ: Nếu như các Tập đoàn kinh tế nói chung bắt nguồn kinh doanh từ lĩnh vực đầu tư vào sản xuất hàng hoá, với các chiến lược kinh doanh tập trung vào đầu tư nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, ứng dụng tiến bộ công nghệ để sản xuất những sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường… thì các Tập đoàn BCVT lại bắt đầu lĩnh vực hoạt động kinh doanh bằng việc đầu tư vào xây dựng hạ tầng mạng lưới BCVT và bắt đầu các hoạt động kinh doanh của mình qua việc cung cấp các dịch vụ BCVT (bưu phẩm, điện thoại…), và tổ chức các kênh phân phối dịch vụ đến khách hàng. Do vậy chiến lược kinh doanh của Tập đoàn BCVT là tập trung đầu tư vào phát triển hạ tầng mạng lưới, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ và tổ chức các kênh phân phối để thoả mãn tối đa các nhu cầu đa dạng của các thị trường về hàng hoá (thiết bị đầu cuối, hệ thống mạng…) và dịch vụ BCVT. Từ đó, tập đoàn BCVT sẽ mở rộng liên kết với các nhà cung cấp khác nhau để hình thành nên các kênh phân phối hàng hoá, dịch vụ đa dạng, rộng khắp đảm bảo khai thác, thâm nhập và mở rộng được cả thị trường trong nước và thị trường thế giới. Cùng với khả năng tích tụ và tập trung vốn của Tập đoàn được nâng lên, chúng sẽ mở rộng kinh doanh đầu tư sang các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác có lợi thế nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường, hoạt động kinh doanh thương mại và sản xuất được tích hợp trở thành những Tập đoàn kinh tế vừa chuyên sâu vừa tổng hợp dựa trên các liên kết kinh tế đa chiều.
Tóm lại, Tập đoàn BCVT cũng là một loại hình của Tập đoàn kinh tế thương mại với lĩnh vực kinh doanh chủ yếu và xuất phát ban đầu từ lĩnh vực cung ứng dịch vụ BCVT trên thị trường thích ứng với quá trình hội nhập kinh tế vào khu vực và toàn cầu của Việt Nam
Lộ trình hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông Việt Nam:
Ngày 23/03/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 58/2005/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại tổng Công ty Bưu chính Viễn thông và các đơn vị thành viên.
Quý IV năm 2005: Chuyển Cục Bưu điện Trung ương về trực thuộc Bộ Bưu chính Viễn thông quản lý, chuyển các đơn vị sự nghiệp gồm Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông và các bệnh viện thuộc tổng Công ty Bưu chính Viễn thông hiện nay thành đơn vị sự nghiệp độc lập và hoạt động theo cơ chế quy định tại nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ.
Các cơ quan tổ chức thực hiện đề án Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam bao gồm: Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Tài chính, Hội đồng quản trị tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, cùng Bộ trưởng của các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ. Thủ trưởng các cơ quan liên quan, Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Bưu chính viễn thông Việt Nam trong việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên.
Ngày 09/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 06/2006/QĐ-TTg về việc chuyển tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, và quyết định này được chính thức trao cho Hội đồng Quản trị Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam vào ngày 26/3/2006. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Như vậy, sau hơn một năm thực hiện quyết định 58/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam chính thức được ra đời với mô hình Công ty mẹ – Công ty con, trực tiếp kinh doanh một số lĩnh vực như mạng đường trục, quản lý, đầu tư, kinh doanh vốn. Mô hình Công ty mẹ – Công ty con của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (xem mô hình) là một mô hình được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và phát triển theo mô hình Tập đoàn kinh tế Nhà nước kinh doanh đa ngành. Mục tiêu của quá trình chuyển đổi VNPT sang Tập đoàn Kinh tế Nhà nước nhằm tăng cường tích tụ về vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận, trong đó, điểm mấu chốt là tập trung sắp xếp đổi mới quản lý, xác lập lại cơ cấu sản xuất kinh doanh, lành mạnh hóa các quan hệ tài chính trong quá trình đổi mới quản lý, tạo điều kiện mới thuận lợi hơn cho các đơn vị thành viên đủ sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Qua lộ trình trên có thể thấy việc chuyển đổi từ Tổng Công ty thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam chỉ diễn ra trong hơn một năm nhưng trên thực tế Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chỉ là hợp thức hóa những gì mà Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã làm khi có Quyết định số 91/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thành lập các Tổng Công ty hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh doanh. Trong thời gian trước đó, quan hệ giữa VNPT với các đơn vị thành viên của VNPT vẫn mang nặng tính hành chính bao cấp với cơ chế nặng về ―xin-cho‖ chứ chưa hoàn toàn tuân theo quy luật của kinh tế thị trường. Đó chính là nguyên nhân hạn chế sự năng động, sáng tạo, sự tự chủ của các đơn vị thành viên của VNPT. Đồng thời, Tổng Công ty do quá tải trong quản lý, điều hành, kiểm tra, kiểm soát dẫn đến hoạt động không hiệu quả. Chính vì vậy, cần phải chuyển đổi mối quan hệ giữa VNPT với các đơn vị thành viên theo hướng tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường, để phù hợp với các mối quan hệ trong Tập đoàn kinh doanh. Tức là nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên, dựa trên cơ sở liên kết về tài chính và các liên kết khác để gắn kết thực sự giữa Công ty mẹ với các Công ty con (như đã nêu trong mô hình trên). Với mô hình như vậy, Công ty mẹ chỉ tập trung quản lý một số lĩnh vực quan trọng của Tập đoàn, còn lại để cho các Công ty con tự quản lý theo quy định của pháp luật. Có nghĩa là với sự quản lý tập trung vào những lĩnh vực quan trọng của Tập đoàn thì Công ty mẹ không còn chịu nhiều gánh nặng như trước đây mà chỉ tập trung vào việc quản lý những lĩnh vực quyết định tới sự sống còn của Tập đoàn. Cho phép các Công ty con tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhưng vẫn cần có sự kiểm soát của Công ty mẹ. Cơ chế kiểm soát sẽ giúp cho các đơn vị thành viên của Tập đoàn thực hiện tốt công tác tài chính nằm trong chiến lược kinh doanh nói chung và chiến lược tài chính nói riêng của Tập đoàn.
Mô hình tổ chức của Tập đoàn bưu chính viễn thông
Với mô hình đó, Công ty mẹ đầu tư vào các Công ty con, các Công ty liên kết và các doanh nghiệp khác trực tiếp hoạt động kinh doanh. Các Công ty con có quyền góp vốn đầu tư vào các Công ty thành viên khác trừ Công ty mẹ. Nhà nước sẽ không giao vốn như trước đây cho Tổng Công ty mà thực hiện đầu tư vốn cho Công ty mẹ. Công ty mẹ sẽ chuyển từ quản lý hành chính đối với Công ty con thành quản lý và kiểm soát vốn, công nghệ, thị trường thông qua việc đầu tư cho các Công ty con. Tuy nhiên, các hoạt động như mua, bán, thuê, cho thuê, vay, cho vay… giữa Công ty mẹ và Công ty con phải được thực hiện bằng việc ký các hợp đồng kinh tế (tức là giữ quan hệ bình đẳng giữa Công ty mẹ và Công ty con).
Tóm lại, qua phân tích trên có thể thấy việc chuyển Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã mang lại nhiều thuận lợi cho đơn vị này. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý tới vấn đề kiểm soát các hoạt động của Công ty mẹ từ phía nhà nước bởi: Công ty mẹ vẫn nắm quyền sở hữu phần lớn cổ phần tại các Công ty con tức là Công ty mẹ vẫn có nhiều quyền lực để chi phối Công ty con và dễ dẫn đến một số tiêu cực không mong muốn.
2.2. Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Để phát huy được lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập, Bảo Việt đã chuyển đổi từ mô hình tổng Công ty quốc doanh sang mô mình Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm kinh doanh đa ngành gồm bảo hiểm nhân thọ, chứng khoán, ngân hàng, đầu tư tài chính, bất động sản… Theo Quyết định số 310/2005/QĐ-TTg ngày 28/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Việc chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động này đối với Bảo Việt cũng có nhiều thuận lợi và thách thức trong bối cảnh phải hoàn thành sứ mạng là Tập đoàn Tài chính – Bảo Hiểm hàng đầu trên thị trường Việt Nam.
Một số lợi thế của Bảo Việt khi chuyển sang hình thức Tập đoàn tài chính – bảo hiểm:
- Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập đầu tiên trên thị trường từ năm 1964, đến nay đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức hoạt động, ngành nghề kinh doanh, xây dựng đội ngũ cán bộ và mạng lưới khách hàng.
- Về mô hình tổ chức, Bảo Việt đã có thời gian dài vận hành theo mô hình tổng Công ty có phân cấp giữa Tổng Công ty với các Công ty thành viên trong lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ rộng khắp các tỉnh thành trên cả nước. Đồng thời, Bảo Việt đã thành lập Công ty chứng khoán, tham gia đầu tư chiến lược thông qua góp vốn cổ phần, liên doanh chiến lược với các đối tác trong và ngoài nước trong lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư, sản xuất và dịch vụ khác…
- Về ngành nghề kinh doanh, Bảo Việt đã có hơn 40 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, hơn 10 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, đầu tư tài chính, kinh doanh bất động sản…
- Về nguồn nhân lực, Bảo Việt là doanh nghiệp hàng đầu thị trường về đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ và giàu kinh nghiệm. Bên cạnh đó, Bảo Việt đã xây dựng và phát triển tốt mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, các nhà môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng đầu thế giới. Năng lực quản trị điều hành và hệ thống công nghệ thông tin đã bắt đầu được đầu tư theo chiều sâu. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
- Bộ máy quản lý, điều hành Tập đoàn Bảo Việt bao gồm: Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát; Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc. Tập đoàn Bảo Việt kế thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Mô hình tổ chức của Tập đoàn:
Tập đoàn Bảo Việt thực hiện đầu tư chiến lược và đầu tư tài chính cho các Công ty con độc lập như: Bảo Việt Nhân Thọ, Bảo Việt Việt Nam kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, Công ty quản lý quỹ đầu tư Bảo Việt, Công ty Chứng khoán Bảo Việt, các Công ty liên doanh và liên kết khác kinh doanh bảo hiểm, tài chính và nhiều ngành nghề khác. Ngoài ra còn có 6 Công ty con do Tập đoàn Bảo Việt giữ trên 50% vốn điều lệ; 20 Công ty liên kết do Tập đoàn Bảo Việt giữ dưới 50% vốn điều lệ. Trong số các Công ty con do Tập đoàn Bảo Việt giữ trên 50% vốn điều lệ, ngoài Công ty cổ phần Chứng khoán
Bảo Việt, Công ty liên doanh Bảo hiểm quốc tế Việt Nam và Công ty cổ phần Khách sạn và Du lịch Bảo Việt, sẽ có 3 Công ty được thành lập mới là Ngân hàng cổ phần Bảo Việt, Công ty cho thuê tài chính Bảo Việt và Công ty Bất động sản Bảo Việt. Như vậy, Tập đoàn Bảo Việt đã chính thức được phép kinh doanh các nghiệp vụ ngân hàng và bất động sản. Cũng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính sẽ quyết định phương án cụ thể cổ phần hoá tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam; thành lập Tập đoàn Bảo Việt và các Công ty con theo các quy định hiện hành; Quyết định chọn Công ty tư vấn nước ngoài để tư vấn cổ phần hoá và Phê duyệt Quy chế tài chính của Tập đoàn Bảo Việt.
Trong năm 2006, nhiệm vụ trọng tâm của Bảo Việt là thực hiện quyết định 310/2005/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ, hoàn thiện mô hình phân cấp quản lý giữa Tập đoàn và các đơn vị thành viên; mở rộng hoạt động bảo hiểm và các lĩnh vực dịch vụ tài chính khác như thành lập mới Ngân hàng cổ phần Bảo Việt, Công ty cho thuê tài chính Bảo Việt, Công ty bất động sản Bảo Việt, Công ty bảo hiểm Y tế cộng động Bảo Việt…
Hiện nay, Bảo Việt là một nhà kinh doanh bảo hiểm lớn trên thị trường Việt Nam. Bảo Việt có mạng lưới 128 Công ty phụ thuộc, 400 phòng phục vụ khách hàng trên cả nước… Doanh thu năm 2005 đạt 6.100 tỷ đồng trong đó có 3.100 tỷ đồng từ kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, chiếm 39% thị phần bảo hiểm và đang dẫn dầu thị trường. Bên cạnh đó, tính đến năm 2005, Bảo Việt đã đầu tư trở lại trên 9.700 tỷ đồng cho nền kinh tế, trong đó có đến 60% đầu tư cho các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của Chính Phủ.
Việc chuyển đổi và vận hành theo mô hình Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm của Bảo Việt sẽ tạo điều kiện cho Bảo việt phát huy được lợi thế về quy mô kinh doanh, đa dạng hóa ngành nghề và liên minh chiến lược, bảo đảm duy trì được lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập về tất cả các mặt hiệu quả, chất lượng, đổi mới và đáp ứng kỳ vọng của khách hàng.
2.3. Tập đoàn Điện lực Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Trong Quyết định số 147/2006/QĐ-TTg ngày 22/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam, đã nêu rõ nhiệm vụ của Tập đoàn là ―…kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng, cơ khí điện lực là ngành kinh doanh chính; làm nòng cốt để ngành công nghiệp điện lực Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả‖.
Ngoài ra, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng sẽ hoạt động các ngành nghề kinh doanh cụ thể như công nghiệp điện năng, khảo sát thiết kế, tư vấn xây dựng, xây lắp, bảo dưỡng các công trình điện, công trình công nghiệp, dân dụng, công trình viễn thông công nghệ thông tin; sản xuất, sửa chữa, thí nghiệm thiết bị điện và phụ kiện điện, cấu kiện thép bê tông và cung ứng vật tư thiết bị ngành điện; xuất nhập khẩu điện năng, vật tư thiết bị phục vụ ngành điện. Tập đoàn được phép kinh doanh vận tải thủy bộ phục vụ sản xuất, kinh doanh; khai thác nguyên liệu phi quặng; kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin; hoạt động tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm…
Tập đoàn Điện lực Việt Nam sẽ nắm giữ 100% vốn điều lệ và có 6 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 5 Công ty chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong năm 2006 – 2007 và 2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mới lập. Công ty mẹ sẽ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ của 26 Công ty đồng thời có thêm 6 Công ty liên kết và 5 đơn vị sự nghiệp khác
Tập đoàn Điện lực Việt Nam được hình thành trên cơ sở đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp đa sở hữu, được sắp xếp, tổ chức lại từ tổng Công ty Điện lực Việt Nam và các đơn vị thành viên. Tập đoàn có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và có chuyên môn hóa cao; kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng, cơ khí điện lực là ngành kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu, triển khai, đào tạo và làm nòng cốt để ngành công nghiệp điện lực Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.
Mối quan hệ giữa Công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam với chủ sở hữu nhà nước và các Công ty con, Công ty liên kết được thực hiện theo pháp luật và quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ. Chính phủ thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Công ty mẹ – Tập đoàn Điện lực Việt Nam là Công ty nhà nước, có chức năng trực tiếp sản xuất, kinh doanh và đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác.
Mặc dù vẫn được viết tắt là (EVN) nhưng Tập đoàn Điện lực Việt Nam với đầy đủ những yếu tố chuẩn bị chín muồi, đã được hình thành với một dáng dấp và nguồn lực hoàn toàn đổi mới. Đây là bước phát triển tất yếu của tổng Công ty Điện lực Việt Nam nhằm đáp ứng những đòi hỏi về nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, thu hút vốn đầu tư, xác lập, vận hành thị trường điện, hội nhập kinh tế quốc tế.
2.4. Tập đoàn Dầu khí Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 198/2006/QĐ-TTg, ngày 29/8/2006, chính thức phê duyệt Đề án hình thành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.Theo quyết định trên, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam được thành lập với hình thức đa sở hữu, trong đó Nhà nước sở hữu chi phối về vốn. Tập đoàn này được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và các đơn vị thành viên.
Cơ cấu Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam bao gồm Công ty mẹ (Tập đoàn Dầu khí) Việt Nam là Công ty nhà nước; có chức năng ký kết và giám sát việc thực hiện các hợp đồng dầu khí với nước ngoài; thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia về dầu khí; đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác; giữ quyền chi phối các Công ty con thông qua vốn, tài sản được Nhà nước giao quản lý, công nghệ, thương hiệu và thị trường.
Các tổng Công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, trong đó Công ty mẹ thường do chính tổng Công ty đảm nhiệm và thường nắm giữ 100% vốn điều lệ. Với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng vậy, Công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Trong cơ cấu Tập đoàn còn có 4 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sở hữu 100% vốn điều lệ, 14 Công ty do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, 2 Công ty Tập đoàn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ và 2 cơ sở đào tạo khác… Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Quyết định số 198/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam sẽ làm nòng cốt để ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả và bảo đảm an ninh năng lượng cho sự phát triển của đất nước.
Cơ chế vốn của Tập đoàn dầu khí:
Một trong những yếu tố quan trọng, quyết định sự thành bại của quá trình xây dựng và phát triển mô hình Tập đoàn Dầu khí là xây dựng mô hình tài chính phù hợp.
Trước hết, vốn của Tập đoàn bao gồm vốn của Công ty mẹ và vốn của các Công ty con. Vốn của Công ty mẹ hình thành từ nguồn vốn của Nhà nước bao gồm: toàn bộ phần vốn của Nhà nước tại Công ty mẹ được xác định tại thời điểm thành lập Tập đoàn (phần này sẽ được xác định như phần vốn đầu tư của Nhà nước vào Tập đoàn) và phần vốn đầu tư bổ sung của Nhà nước trong quá trình hoạt động sau này.
Ngoài phần vốn của Nhà nước, vốn của Tập đoàn phải được hình thành chủ yếu từ phần vốn tự bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn vay và các nguồn vốn huy động đa dạng khác thông qua liên doanh, hợp tác đầu tư, trong đó, đặc biệt chú ý đến vai trò của nguồn phát hành trái phiếu. Vốn của Công ty con được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn đầu tư của Công ty mẹ.
Trong quá trình hoạt động, các Công ty con có thể bổ sung nguồn vốn thông qua các kênh đầu tư bổ sung của Công ty mẹ, vay vốn, tự bổ sung từ kết quả sản xuất kinh doanh và các nguồn vốn huy động khác.
2.5. Tập đoàn Than – Khoáng sản Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Tập đoàn Than Việt Nam là Tập đoàn kinh tế đa ngành và chính thức hoạt động theo hình thức Tập đoàn từ 01/01/2005 theo quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ. Hầu hết những gì Tập đoàn Than Việt Nam đã thực hiện trước đây và đang triển khai hiện nay là theo tinh thần của Quyết định số 199/2005/QĐ-TTg ngày 08/08/2005 của Thủ tướng Chính phủ.
Sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý của Tập đoàn Than Việt Nam:
- Về sắp xếp tổ chức, trong giai đoạn từ 2001 đến 2005, Tổng Công ty Than Việt Nam đã có những hoạt động sau:
- Cổ phần hóa 11/57 doanh nghiệp thành viên (Đặc biệt, ngày 29-12-2005 Tổng Công ty đã tổ chức bán 12 tỷ đồng cổ phiếu của Công ty than Núi Béo tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội. Đợt bán cổ phiếu đã thu hút 204 nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đăng ký mua với giá bình quân mỗi cổ phiếu đạt 29.200 đồng/cổ phiếu, tăng gấp 2,29 lần so với mệnh giá).
- Chuyển sang mô hình trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên 6 doanh nghiệp
- Tiếp nhận 1 tổng Công ty và 3 Công ty từ Quảng Ninh và Thái Nguyên về làm doanh nghiệp thành viên hoặc trực thuộc doanh nghiệp thành viên.
Đến cuối năm 2005, trong Tổng Công ty than đã có 45 Công ty con, trong đó có 11 Công ty cổ phần, 6 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Hai Công ty than Nội địa và Uông Bí hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con. Và tổng Công ty Than Việt Nam đã vinh dự được trở thành Tập đoàn kinh tế đầu tiên của cả nước.
Từ khi chuyển sang hình thức Tập đoàn kinh tế, Tập đoàn Than Việt Nam đã chuyển sang cơ chế hợp đồng giao nhận thầu khai thác, sàng tuyển than với các Công ty thành viên, thanh toán nhanh tiền bán than nhanh hơn trước (từ 5 đến 7 ngày 1 lần thanh toán); chuyển hẳn mối quan hệ giữa Tổng Công ty và các Công ty thành viên sang hợp đồng kinh tế.
Trong quá trình hoạt động cùng với việc sắp xếp lại và đổi mới tổ chức, Tập đoàn Than Việt Nam đã từng bước xóa bỏ các Công ty vùng bằng cách đưa tất cả các mỏ than lớn, xí nghiệp tuyển than, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác có quy mô và các đơn vị hành chính sự nghiệp ra khỏi các Công ty vùng và trở thành đơn vị thành viên của Tập đoàn.
Cùng với việc sắp xếp lại, thành lập và kiện toàn tổ chức các đơn vị trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch, tư vấn, thăm dò khảo sát, sản xuất điện cho phù hợp với yêu cầu phát triển; chuyển một số đơn vị sự nghiệp về Bộ hoặc địa phương quản lý để thực hiện mục tiêu xã hội hóa công tác giáo dục, y tế của Nhà nước như các trung tâm y tế khu vực, Bảo hiểm xã hội ngành Than, nhà trẻ, mẫu giáo… Tập đoàn chỉ trực tiếp nắm giữ các trường đào tạo nghề chuyên ngành khai thác than; đồng thời tiếp nhận một số doanh nghiệp địa phương có liên quan đến sản xuất, kinh doanh của ngành, từng bước thực hiện cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đơn vị thành viên (đến nay đã cổ phần hóa được 18 đơn vị, trong đó có 6 đơn vị thành viên và 12 bộ phận doanh nghiệp; bán cho tập thể người lao động 1 doanh nghiệp và 1 bộ phận doanh nghiệp; chuyển đổi 3 doanh nghiệp thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên).
Qua quá trình sắp xếp lại và đổi mới đến nay, Tập đoàn Than Việt Nam đã có 5 đầu mối trực thuộc, trong đó có 46 doanh nghiệp thành viên (26 thành viên hạch toán độc lập, 7 thành viên hạch toán phụ thuộc, 3 thành viên là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và 10 thành viên là Công ty cổ phần do Tập đoàn Than Việt Nam giữ cổ phần chi phối); 6 đơn vị sự nghiệp có thu (2 Viện Nghiên cứu, 3 trường đào tạo và 1 Trung tâm y tế lao động); 3 đơn vị trực thuộc, hạch toán báo sổ.
2.6. Tập đoàn Dệt may Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Ngày 8/12/2005, Tổng Công ty Dệt May Việt Nam đã tổ chức công bố Quyết định 314/2005/QĐ-TTg ngày 02/12/2005 về việc phê duyệt đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Dệt May Việt Nam và quyết định 316/2005/QĐ-TTg ngày 02/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX). Với quyết định này, từ một tổng Công ty có trên đơn vị thành viên và Công ty liên kết, VINATEX trở thành một Tập đoàn có trên 10 Công ty mẹ – Công ty con, Công ty 100% vốn nhà nước, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên và Công ty cổ phần.
Quá trình đổi mới
Một số tổng Công ty được chuyển đổi theo mô hình Công ty mẹ-con và một số chuyển đổi sang Tập đoàn. Điểm giống nhau giữa hai mô hình là cùng hoạt động trên nguyên tắc Công ty mẹ đầu tư vốn vào các Công ty con. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình là quy mô hoạt động. Thực tế tại tổng Công ty Dệt May Việt Nam, hầu hết các đơn vị thành viên đã được cổ phần hóa, trong đó nhiều đơn vị đã tự phát hoạt động theo mô hình mẹ – con. Chẳng hạn, Công ty May Việt Tiến có khoảng 30 Công ty con không thành lập theo kiểu hành chính, mà hình thành trên cơ sở đầu tư vốn hoặc cùng góp vốn kinh doanh. Tương tự, trong tổng Công ty hiện có khoảng 15 Công ty đang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – con như: Công ty May Nhà Bè, Dệt Phong Phú, Dệt May Hà Nội, Dệt Nam Định, May 10, May Đức Giang, May Phương Đông, Dệt May Hòa Thọ, Dệt Thành Công… Việc Chính phủ ra quyết định thành lập Tập đoàn Dệt May thể hiện tính quy mô của Tập đoàn và tạo cơ sở pháp lý vững chắc để VINATEX hoạt động, tăng cường sức mạnh liên kết trong toàn hệ thống và phát huy vai trò nòng cốt hạt nhân vào sự phát triển của toàn ngành.
Thực tế cho thấy việc chuyển sang hoạt động theo mô hình Tập đoàn mẹ – con của tổng Công ty Dệt May Việt Nam mang tính tất yếu, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển. Theo mô hình Tập đoàn mẹ – con được phê duyệt, cơ quan tổng Công ty trước đây nay chuyển thành Tập đoàn Dệt May và là Công ty mẹ đại diện sở hữu trực tiếp vốn Nhà nước tại Tập đoàn. Quan hệ mệnh lệnh hành chính trước kia trong mô hình tổng Công ty 91 được thay bằng quan hệ của chủ sở hữu đầu tư. Hiện nay, Tập đoàn Dệt May Việt Nam đã trực tiếp đầu tư vào 04 Công ty con là Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước 1 thành viên, 23 Công ty cổ phần có vốn chi phối và 19 Công ty cổ phần và Công ty liên doanh khác. Mục tiêu của Tập đoàn Dệt May Việt Nam là trở thành một Tập đoàn đa sở hữu hàng đầu cả về quy mô sản xuất kinh doanh lẫn sức cạnh tranh sản phẩm trong khu vực châu á với kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD vào năm 2010 và 3,5 tỷ USD vào năm 2015.
Theo cơ chế tổ chức cán bộ của Tập đoàn Dệt May, Hội đồng Quản trị bổ nhiệm tổng giám đốc Tập đoàn sau khi đã xin ý kiến chủ sở hữu nhà nước là Thủ tướng Chính phủ; Tổng Giám đốc được quyền chọn và đề nghị Hội đồng quản trị bổ nhiệm Phó tổng giám đốc, giám đốc điều hành và kế toán trưởng Tập đoàn. Các trưởng ban thì do tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi thông qua Hội đồng quản trị còn các cấp khác là do tổng giám đốc lựa chọn và quyết định bổ nhiệm. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Tầm nhìn của Tập đoàn sẽ là hình thức đa sở hữu và không còn là đơn vị 100% vốn Nhà nước. Năm 2010, Tập đoàn sẽ trở thành thương hiệu mạnh, lấy thị trường nội địa làm địa bàn hoạt động và thị trường xuất khẩu làm động lực phát triển.
Để quản lý, Tập đoàn cũng chia ra thành 4 khối là quản lý chức năng, quản lý chuyên môn hoá, quản lý kinh doanh phụ trợ và quản lý theo mô hình sự nghiệp.
Về các lĩnh vực hoạt động, có 5 lĩnh vực mà Tập đoàn hướng tới. Thứ nhất là, sản xuất và kinh doanh sản phẩm dệt may. Các sản phẩm sẽ phải mang giá trị cao, có tính năng và sự khác biệt sẽ ra đời theo hình thức FOB. Thứ hai là, hoạt động thương mại, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống bán lẻ. Đây là hoạt động chủ đạo trong kinh doanh nhằm xây dựng thị trường trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, đặt nền móng trong bối cảnh hội nhập. Thứ ba là, hoạt động tài chính, tín dụng và kinh doanh tài chính với thiên hướng về hoạt động của một Công ty đầu tư. Thứ tư là, kinh doanh hạ tầng cơ sở, đồng thời 3 khu công nghiệp của Tập đoàn sẽ tiếp tục được mở rộng. Lĩnh vực này sẽ tạo điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài. Thứ năm là, dịch vụ tư vấn, thương mại, sẽ đẩy mạnh hoạt động của các viện nghiên cứu, trường đào tạo…
Việt Nam hiện nay đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO thì việc xuất khẩu không còn quota sẽ làm cho tính cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam tăng lên một cách mạnh mẽ.
Tổng Công ty Dệt may Việt Nam được thành lập từ năm 1995, sau 10 năm hoạt động đã có sự đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của ngành dệt may Việt Nam. Mặc dù với số lao động 105.000 người, chỉ chiếm 10% so với lao động công nghiệp của toàn ngành nhưng năm 2004 đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp gần 9.500 tỷ đồng, chiếm 32% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành.
Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu của Vinatex đạt trên 1.035 triệu USD, chiếm 23,6% của toàn ngành. Năng lực sản xuất bông của Vinatex hiện chiếm 95% năng lực của toàn ngành, tương tự sợi chiếm 45%, vải chiếm 26,4%, may công nghiệp chiếm 20%. Lợi nhuận lũy kế 10 năm của Vinatex đạt 510 tỷ đồng và nộp ngân sách 1768 tỷ đồng… Thực ra, hiện nay Vinatex đã hoạt động một phần theo mô hình Công ty mẹ – con. Cho đến thời điểm này, Vinatex đã cổ phần hóa được 40 trên tổng số 52 đơn vị, trong đó Vinatex đã giữ cổ phần chi phối và thực sự đã là Công ty mẹ của 28 đơn vị cổ phần trong nhóm 40 Công ty đã cổ phần hóa.
Ngoài ra, Vinatex đã thực hiện việc chuyển đổi 9 đơn vị là doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Trong cơ cấu các doanh nghiệp thành viên của Vinatex, đã có trên 15 doanh nghiệp do cơ chế thị trường đã tự phát hoạt động theo mô hình mẹ – con từ nhiều năm nay như: Công ty may Việt Tiến, May Nhà Bè, May 10, Hanosimex, Dệt Phong Phú, Dệt Thành Công, Dệt Nam Định, May Đức Giang, May Phương Đông, Dệt may Hòa Thái, Dệt Việt Thắng, Cty bông Việt Nam… Các Công ty này đang là những Công ty mẹ đầu tư vốn vào các Công ty con và cả Công ty ―cháu‖ ở bên dưới. Như vậy việc Chính phủ ra quyết định thành lập Tập đoàn đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Vinatex nói riêng và Tập đoàn Dệt may Việt Nam nói chung hoạt động và đóng góp lớn hơn vào sự phát triển của toàn ngành dệt may.
2.7. Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin
Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định số104/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006 phê duyệt đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Vinashin, trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
Theo quyết định này, Tập đoàn Vinashin sẽ hoạt động theo hướng đa sở hữu, trong đó sở hữu Nhà nước là chủ đạo, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp đa sở hữu. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Tập đoàn Vinashin sẽ kinh doanh đa ngành, ngành công nghiệp đóng mới, sửa chữa tàu thủy và vận tải biển là chủ đạo, gắn kết giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo. Tập đoàn sẽ là nòng cốt để ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.
Mối quan hệ giữa Công ty mẹ trong Tập đoàn Vinashin với chủ sở hữu nhà nước và các Công ty con, Công ty liên kết được thực hiện theo pháp luật và quy định trong điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ.
Trái phiếu của Vinashin đã phát hành 500 tỉ đồng trong nước và sẽ phát hành ra nước ngoài để tạo vốn đóng tàu. Vinashin đang nỗ lực cao nhất để tự vượt lên chính mình, nhanh chóng trở thành Tập đoàn kinh tế hàng đầu của Việt Nam.
Tập đoàn Vinashin sẽ sử dụng công cụ tài chính, thương hiệu, thị trường, khoa học công nghệ để điều hành thay cho mệnh lệnh hành chính trước đây. Cụ thể là Công ty mẹ với tiềm lực tài chính lớn lên tới vài chục ngàn tỷ đồng sẽ nắm giữ 100% vốn hoặc cổ phần khống chế và quyết định về mô hình tổ chức quản lý, nhân sự chủ chốt của Công ty con. Công ty mẹ sẽ tiến hành chức năng thương mại chung, trực tiếp ký những hợp đồng xuất khẩu lớn, dài hạn, đảm bảo thống nhất thị trường.
Mục tiêu của Tập đoàn Vinashin đến năm 2010 sẽ trở thành quốc gia đóng tàu mạnh thứ tư trên thế giới, nâng tỷ lệ nội địa hoá từ 15% hiện nay lên 60%, tạo việc làm, cải thiện đời sống người lao động, đưa mức sản lượng lên 3 triệu tấn tàu/năm, phấn đấu đạt 10% thị trường đóng tàu thế giới trong một tương lai gần… Trước mắt, ngành công nghiệp tàu thuỷ đang nỗ lực hoàn thành những mục tiêu đề ra trong đề án phát triển công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: đóng mới tàu chở hàng 80.000 DWT, tàu chở dầu thô từ 100.000-300.000 tấn, tàu container 3.000 TEU… và sửa chữa các loại tàu có trọng tải 400.000 DWT.
Tập đoàn Vinashin đã có những thành công nhất định và đáng ghi nhận đối với sự phát triển chung của cả nước sau 10 năm hoạt động về kinh doanh, quản lý, tổ chức sản xuất, đào tạo con người, mở rộng, thâu tóm thị trường quốc tế, nắm được thế chủ động trong những cơ hội thuận lợi. Chính vì vậy, Tập đoàn Vinashin sẽ ngày càng phát triển và sẽ đi lên trở thành một trong những Tập đoàn kinh tế lớn mạnh của Việt Nam.
2.8. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Quá trình ra đời Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam
Ngày 30/10/2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định 248/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và Quyết định số 249/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ – Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam.
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Rubber Group (VRG) được tổ chức theo mô hình đa sở hữu, trong đó Nhà nước sở hữu chi phối về vốn, trên cơ sở tổ chức lại Tổng Công ty Cao su Việt Nam. Tập đoàn kinh doanh đa ngành, hoạt động chính là trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến cao su, gắn kết chặt chẽ với khoa học công nghệ và đào tạo, làm nòng cốt thúc đẩy ngành công nghiệp cao su Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế
Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam gồm 80 đơn vị thành viên và liên kết, 4 đơn vị sự nghiệp, 22 doanh nghiệp nhà nước và hơn 50 doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Đặc biệt có 13 Công ty được thành lập để đầu tư ra nước ngoài
Cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Cao su bao gồm:
- Công ty mẹ (Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam) là Công ty nhà nước,
- 3 tổng Công ty do Công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ (TCT Cao su Đồng Nai, TCT Công nghiệp cao su và TCT Cao su Việt-Lào) hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con,
- 2 Công ty con do Công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ (CTCS Dầu Tiếng, CT Tài chính cao su)
- 4 Công ty cổ phần, Công ty TNHH do Công ty mẹ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ (CT CP CS Hòa Bình, CT CP Đầu tư và Phát triển khu công nghiệp Hố Nai, CT CP Sông Côn, CT TNHH BOT 741 Bình Dương).
- 22 Công ty sẽ cổ phần hóa (CTCS Bà Rịa, Phước Hòa, Bình Long, Lộc Ninh, Đồng Phú, Phú Riềng, Tân Biên, Krông Buk, Eah Leo, Chư Pah, Chư Prông, Mang Yang, Chư Sê, Bình Thuận, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, CT Cơ khí Cao su, CT TNHH 1 TV Cao su Tây Ninh)
- 11 Công ty cổ phần do Công ty mẹ nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ
- 4 đơn vị sự nghiệp có thu do Công ty mẹ nắm giữ 100% vốn (Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam , Trường Trung học Kỹ thuật nghiệp vụ Cao su, Trung tâm Y tế Cao su, Tạp chí Cao su Việt Nam).
3. Một số khó khăn và vướng mắc trong hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Qua thực trạng một số Tập đoàn kinh tế đã được nêu ở phần trên có thể thấy Tập đoàn kinh tế là mô hình mang lại nhiều lợi ích trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên, vẫn có những khó khăn và vướng mắc cần khắc phục để có thể tiếp tục xây dựng phát triển các Tập đoàn kinh tế khác ngày một vững mạnh trong tương lai. Dưới đây là một số khó khăn và vướng mắc đối với việc hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam hiện nay.
3.1. Khó khăn về mặt quản lý Nhà nước
Việc thành lập và phát triển của các Tập đoàn kinh tế hiện nay đang gặp nhiều khó khăn và vướng mắc về văn bản pháp luật trong việc hướng dẫn thành lập các Tập đoàn kinh tế. Các mô hình Tập đoàn kinh tế không giống mô hình tổng Công ty (sự độc lập thực sự của các pháp nhân, quan hệ bình đẳng trước pháp luật của tổng Công ty và các đơn vị thành viên “pháp nhân nằm trong pháp nhân”). Chính cơ cấu tổ chức đó của tổng Công ty đã tạo ra sự không rõ ràng trong nghĩa vụ và trách nhiệm, tạo ra sự kém chủ động của các đơn vị thành viên cũng như tạo ra mối quan hệ chỉ đạo nặng về hành chính, mệnh lệnh… Mô hình Tập đoàn cơ bản sẽ khắc phục được những bất cập của mô hình tổng Công ty vì việc xây dựng mô hình Tập đoàn kinh tế hiện tại chỉ dựa vào Luật Doanh nghiệp và Nghị định 153 của Chính phủ về việc quản lý tổng Công ty Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trở ngại cho việc xây dựng các Tập đoàn lớn ở Việt Nam như thiếu chính sách khuyến khích cạnh tranh và hạn chế độc quyền; hạn chế trong chính sách đầu tư ra nước ngoài vì Luật Doanh nghiệp nhà nước hiện hành mới chỉ quy định về chi nhánh, văn phòng đại diện. Các quy định khác về thành lập Doanh nghiệp ở nước ngoài còn hạn chế về quy mô và chưa rõ ràng về pháp lý. Ngoài ra, chính sách về khoa học công nghệ, hạn chế về đầu tư, tài chính… cũng đang là những trở ngại trong việc thành lập Tập đoàn kinh tế.
Lúng túng trong giải quyết các vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án thí điểm mô hình Tập đoàn kinh tế hiện nay là mối quan hệ và liên kết giữa các đơn vị trong Tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết; cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ phận quản lý trong bộ máy quản lý Tập đoàn; thương hiệu của Tập đoàn; quy mô vốn điều lệ và các tiêu chí khác để xác lập Tập đoàn; cơ chế chính sách đối với Tập đoàn kinh tế.
Việc điều hành tài chính ở các tổng Công ty như hiện nay bằng quyền lực hành chính là chủ yếu, điều hành mang tính chất là đơn vị quản lý cấp trên, trong khi thẩm quyền lại không đầy đủ (có việc tổng Công ty giải quyết được, nhưng có việc phải cơ quan cấp Bộ mới xử lý được) và nhiều tổng Công ty có tiềm lực tài chính quá nhỏ bé.
Thiếu chính sách khuyến khích cạnh tranh và hạn chế độc quyền; chính sách đầu tư ra nước ngoài cũng đang là những hạn chế đáng kể trong việc xây dựng các Tập đoàn kinh tế (hiện tại Luật doanh nghiệp mới chỉ quy định về chi nhánh, văn phòng đại diện. Các chính sách về khoa học công nghệ, hạn chế về đầu tư, tài chính; quy định khác về thành lập doanh nghiệp ở nước ngoài còn hạn chế về quy mô và chưa rõ ràng về pháp lý).
Nhà nước không nên áp đặt một mô hình mẫu duy nhất, mô hình cụ thể do các tổng Công ty và doanh nghiệp tự quyết định, lựa chọn căn cứ vào đặc thù của mình (ví dụ như theo mô hình một ủy ban điều hành dưới đó là các doanh nghiệp khối sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp khối bán hàng, các doanh nghiệp khối tài chính…)
3.2. Khó khăn về vận hành và quản lý trong nội tại các Tập đoàn kinh tế hiện nay Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Trong việc quản lý và điều hành, các Tập đoàn kinh tế lớn hiện nay thì năng lực của lãnh đạo và các nhà quản lý còn thiếu nhiều cả về số lượng và chất lượng. Yếu tố con người trong việc quản lý và điều hành quyết định sự thành công lớn mạnh của mỗi một Tập đoàn kinh tế.
Về khả năng liên kết thì khả năng hợp tác, liên kết giữa Công ty mẹ với các Công ty con và giữa các Công ty con với nhau còn yếu kém, do đó chưa tạo ra sức mạnh tập trung, việc cạnh tranh lẫn nhau vẫn còn tồn tại. Các yếu tố đó sẽ tạo ra hiệu qủa sản xuất kinh doanh thấp, sức cạnh tranh yếu là điều tất yếu xảy ra. Cho nên việc tăng cường liên kết cứng là nòng cốt, điều tiết và liên kết mềm theo xu hướng nâng cao hiệu quả, tăng sức cạnh tranh của Tập đoàn giữa các đơn vị để nâng cao chất lượng, giảm chi phí, tích tụ vốn đầu tư để tăng sức cạnh tranh trong Tập đoàn và tăng hiệu quả hoạt động của cả Tập đoàn kinh tế. Ben cạnh đó, Mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong tổng Công ty có tính chặt chẽ của liên kết hành chính nhưng lỏng lẻo về quan hệ kinh tế và phân chia lợi ích. Về cơ bản đó là liên kết của các đơn vị thành viên thuộc một sở hữu duy nhất (Nhà nước), trong khi các Tập đoàn kinh tế trên thế giới có đan xen và đa dạng về sở hữu. Bên cạnh đó, tổ chức quản lý cũng rất khó khăn vì vai trò mờ nhạt của Hội đồng quản trị và đặc biệt là vướng mắc trong quan hệ quản lý giữa Hội đồng quản trị và điều hành của Tổng giám đốc.
Về đường lối chiến lược, việc các tổng Công ty khi thành lập Tập đoàn kinh tế chưa chú ý đến chiến lược phát triển về phát triển sản phẩm thương hiệu, thị trường tiêu thụ hoặc thị phần cho từng thành viên để cạnh tranh có hiệu quả, … thì sẽ dẫn đến các doanh nghiệp kinh doanh cùng một loại sản phẩm, cùng ngành nghề, lĩnh vực và đối tượng khách hàng. Do không đa dạng hoá các ngành nghề, sản phẩm dịch vụ khi thành lập Tập đoàn sẽ dễ xảy ra những xung đột lợi ích trong nội bộ là điều tất yếu.
Về vốn, tình trạng vốn của các tổng Công ty còn hạn chế và phụ thuộc nhiều vào vốn ngân sách nhà nước, còn yếu kém trong khả năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội do cơ cấu đơn sở hữu là chủ yếu. Số Tổng Công ty có phân công chuyên môn hoá, hợp tác hoá mạnh mẽ còn quá ít. Nhiều Tổng Công ty mang tính tập hợp các Doanh nghiệp thành viên cùng ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm, đối tượng khách hàng và thị trường nên dẫn đến xung đột về lợi ích.
Sự hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay mới chỉ là bước đầu, do đó khó tránh khỏi có những khó khăn và vướng mắc cho phía quản lý nhà nước, cũng như phía nội tại của Tập đoàn kinh tế. Trên đây là những khó khăn và tồn tại hiện nay đối với việc hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế Việt Nam. Cần phải có những biện pháp cụ thể và phải triển khai nhanh chóng các biện pháp trên nhằm tháo gỡ những khó khăn và khắc phục những tồn tại trên để tạo được những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các Tập đoàn kinh tế trong thời gian tới
III. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
1. Điều kiện khách quan hình thành Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Nước ta đã là thành viên chính thức WTO từ sau ngày 07/11/2006. Trong môi trường hội nhập kinh tế thế giới, sự cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước trở thành nhân tố bắt buộc đối với các doanh nghiệp, nhân tố đó là điều kiện đưa đến sự hình thành những doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp cần hình thành các chuỗi liên kết, chủ động thu hút đầu tư mở rộng và đầu tư chiều sâu để tăng năng lực sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, đồng thời cần linh hoạt trong hợp tác, liên doanh, thực hiện các đơn hàng lớn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, chú ý hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá, chứng nhận xuất xưởng sản phẩm và vấn đề môi trường, điều kiện làm việc để bảo đảm phát triển doanh nghiệp bền vững.
Việt Nam đang là một trong những nước xuất khẩu có vị trí cao về các mặt hàng nông sản: gạo, cà phê, hồ tiêu, chè, điều… trong khu vực và thế giới nhưng hơn 90% số sản phẩm là xuất nguyên liệu hoặc mới chế biến thô. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần tập trung nâng cấp khâu chế biến để tạo ra giá trị gia tăng của sản phẩm, khẳng định uy tín thương hiệu, giữ chữ tín trong sản xuất kinh doanh. Mặt khác, coi trọng thông tin về thị trường, giá cả, kênh phân phối hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường nước ngoài và thị hiếu người tiêu dựng nước ngoài. Xác định nhu cầu hàng hóa của thế giới và khu vực để từ đó doanh nghiệp đưa ra quyết định sản xuất theo nhu cầu, không sản xuất theo khả năng của doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh cần tuân theo các quy định của Việt Nam cam kết khi gia nhập WTO
Hiện nay, trong từng ngành sản xuất kinh doanh còn có những điểm yếu nhất định. Cụ thể như: Trong ngành dịch vụ và bán lẻ hàng hóa, điểm yếu nhất là tính liên kết trong các doanh nghiệp chưa được coi trọng đúng mức, mặc dù các nhà bán lẻ Việt Nam có những thuận lợi riêng như am hiểu thị trường, người tiêu dùng, cũng như phương thức kinh doanh. Những điều đó nhà bán lẻ nước ngoài phải mất thời gian mới có thể hiểu được. Các tập đoàn phân phối bán lẻ trên thế giới, với kinh nghiệm thương trường, mạnh vì vốn, hiện nay đang hết sức quan tâm thị trường tiêu thụ hơn 80 triệu dân sẽ tìm mọi biện pháp để nắm cho được khâu phân phối bán lẻ. Hiện đó có 15 tập đoàn phân phối lớn có mặt ở Việt Nam đang triển khai mạng lưới bán lẻ ở các thành phố lớn. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng đổi mới phương thức quản lý kinh doanh cải tiến khâu cung ứng hàng hóa, có thể thuê chuyên gia nước ngoài điều hành hoạt động kinh doanh, giảm tới mức thấp nhất chi phí kinh doanh. Để khắc phục điểm yếu trong ngành này các doanh nghiệp Việt Nam cần có sự liên kết với nhau giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán lẻ. Tạo chuỗi liên kết giữa sản xuất đến phương pháp bán lẻ, kể cả theo chiều ngang cũng như theo chiều dọc. Đây sẽ là điều kiện khách quan để hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh của Việt Nam trong ngành dịch vụ phân phối hàng hóa tại thị trường nội địa.
Đối với ngành công nghiệp, tuy chi phí đó giảm song do phụ thuộc 80-90% nguyên liệu thế giới, chủ yếu làm gia công là chính (dệt – may, da giày, cơ khí, điện tử…), việc đổi mới cơ cấu công nghiệp và trình độ công nghệ nhìn chung ở các doanh nghiệp còn thấp (tỷ lệ sử dụng công nghệ cao trong công nghiệp của Việt Nam mới chiếm 20%, thấp hơn các nước khu vực ASEAN, Philippines là 29%, Thái Lan 31%, Malaysia 51%, Singapore 73%) cho nên sức cạnh tranh của sản phẩm còn nhiều hạn chế. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Tính liên kết và mức độ hợp tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp cũng còn nhiều hạn chế. Thực tế nhiều doanh nghiệp vỡ lợi ớch riờng nờn đó phỏ giỏ hoặc ộp giỏ doanh nghiệp bạn. Một số doanh nghiệp cũn đầu tư khộp kớn cơ sở sản xuất, mặc dự cựng loại sản phẩm cỏc nơi khỏc đó làm được, gõy lóng phớ và tăng chi phớ đầu tư cho sản xuất, trong khi việc tiờu thụ sản phẩm đang khú khăn. Để giảm giỏ bỏn sản phẩm và nõng cao sức cạnh tranh của hàng húa sản xuất ra, cỏc doanh nghiệp sản xuất cần cú sự liờn doanh, liờn kết với nhau. Chớnh sự liờn doanh, liờn kết của cỏc doanh nghiệp để nõng cao năng lực sản xuất, nõng cao năng lực tài chớnh…..là điều kiện để hỡnh thành cỏc tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Xác định được việc hình thành các tập đoàn kinh tế là điều kiện khách quan trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước ta đã và có nhiều chính sách đó và sẽ ban hành để tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp thành lập tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên, khi xác định lộ trình, xác định các loại dịch vụ “nhạy cảm” cần có sự tham gia của doanh nghiệp Nhà nước, hoặc Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Các lĩnh vực còn lại mở cửa để đón nhận đầu tư. Doanh nghiệp, doanh nhân cần chủ động tìm hiểu luật ―chơi‖, nghiên cứu kỹ những thỏa thuận khi Việt Nam gia nhập WTO để hiểu ra thuận lợi và khó khăn, thay đổi nhanh cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất ra các sản phẩm theo nhu cầu thị trường quốc tế cả về thị hiếu, chất lượng và tiêu chuẩn, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam.
Các doanh nghiệp cần chú trọng nắm bắt, khai thác thông tin kịp thời về thị trường giá cả, biến động nguyên liệu, vật tư, chuẩn bị các phương án sản xuất, kinh doanh ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn nhằm đề ra giải pháp toàn diện giảm bớt rủi ro. Gia nhập WTO, doanh nghiệp, doanh nhân có thêm điều kiện để phát triển còn người tiêu dùng mà thực chất là toàn xã hội có điều kiện tiếp cận hàng hóa, dịch vụ rẻ, tốt, tiện ích hơn. Vấn đề là doanh nghiệp, doanh nhân cần tận dụng thời cơ vượt qua thách thức, cạnh tranh thắng lợi ở cả trong nước và quốc tế.
Để hình thành các tập đoàn kinh tế khi hiện nay Việt Nam đó là thành viên của WTO, các doanh nghiệp Việt Nam cần có những điều kiện sau:
- Cần có doanh nghiệp đầu tàu có tiềm lực tài chính mạnh, khoảng trên một ngàn tỷ đồng, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, đảm nhiệm vai trò một Công ty mẹ trong tập đoàn.
- Các đơn vị doanh nghiệp trong tập đoàn kinh tế cần có mối quan hệ theo ngành và theo lãnh thổ
- Bảo đảm những yêu cầu cần thiết cho thị trường trong nước
- Có triển vọng mở rộng quan hệ kinh doanh ra nước ngoài
- Có tên giao dịch riêng, đã có uy tín thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước.
2. Xu hướng phát triển của Tập đoàn kinh tế khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Cùng với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế, các Tập đoàn kinh tế sẽ lần lượt ra đời như là tất yếu khách quan. Kinh tế tư nhân Việt Nam thời gian qua tuy đã phát triển khá nhanh, nhưng về cơ cấu vẫn chưa tập trung vào những ngành kinh tế mũi nhọn, chưa có được những nguồn lực lớn; tiềm lực chưa đủ mạnh và còn phân tán, mức độ tích tụ, tập trung chưa cao. Bên cạnh đó, trình độ liên kết kinh doanh yếu (cả về kỹ năng cũng như về tập quán). Do đó, nếu để các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân tự hình thành Tập đoàn kinh tế một cách tự nhiên thì sẽ rất chậm.
Gia nhập WTO là một trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm tiếp cận thị trường thương mại toàn cầu, nâng cao vị trí của nước ta trên thị trường thương mại quốc tế, tạo tiền đề hội nhập và phát triển. Gia nhập WTO là gia nhập thị trường thương mại toàn cầu với hành trang pháp lý là quy chế WTO và những hiệp định thương mại song phương và đa phương vừa được ký với các nước thành viên. Về mặt lý thuyết, WTO sẽ đưa lại nhiều lợi ích cho các nước đang phát triển. WTO hiện chiếm hơn 85% tổng thương mại hàng hóa và 90% tổng thương mại dịch vụ toàn cầu. Tuy nhiên, trở thành thành viên của WTO cũng có nghĩa phải chấp nhận những nguyên tắc, luật chơi của WTO không phải lúc nào cũng phù hợp các nguyên tắc của mỗi quốc gia.
Mặt khác, nền kinh tế nước ta còn phụ thuộc đáng kể vào nền kinh tế thế giới ở cả “đầu vào” lẫn “đầu ra”. Vì vậy, muốn tăng trưởng cần chủ động phát huy cao nhất nội lực, tranh thủ các nguồn vốn từ bên ngoài và nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường quốc tế để tiêu thụ sản phẩm. Có một thực tế là, tâm lý e ngại bị “thua thiệt” khi tham gia WTO ở từng ngành, từng nơi không phải là không có và thể hiện ở các mức độ khác nhau. Nhiều doanh nghiệp, doanh nhân trong khi bày tỏ ý kiến đều thống nhất cho rằng: làm ăn “vững hay không vững” chủ yếu tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của doanh nghiệp và doanh nhân. Khi mở cửa WTO, thuế suất và hàng rào phi thuế quan của cả trong nước và ngoài nước sẽ giảm một cách đáng kể, song vấn đề là hàng của các doanh nghiệp có chiếm lĩnh được thị trường nước ngoài hay không tùy thuộc vào chất lượng, giá, phương thức lưu thông phân phối và sự nhạy bén của doanh nghiệp, doanh nhân. Việc mở rộng cửa hội nhập quốc tế tuy tạo ra một số khó khăn, song điều đó cũng thúc đẩy doanh nghiệp, doanh nhân trong nước vươn lên, chủ động tạo ra nhiều sản phẩm mới, chất lượng cao, giá thành thấp, cạnh tranh được với mặt hàng ngoại cùng loại.
Trên thế giới, các Tập đoàn kinh tế ra đời, theo qui luật phát triển của cơ chế thị trường và yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đây là một quá trình phức tạp, diễn ra trong mối tác động qua lại và trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định. Về mặt lý thuyết, để đảm bảo cho các Tập đoàn ra đời và hoạt động có hiệu quả, cần hội tụ một cách đồng bộ một số điều kiện cần và đủ. Tuy nhiên, trên thực tế, rất hiếm khi đạt được sự hội tụ đồng bộ đó.
Vì vậy, điều cơ bản là trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, đến một thời điểm nào đó nhận thấy rõ sự cần thiết khách quan phải có một số Tập đoàn kinh tế mạnh, trong thực tế đã xuất hiện một số điều kiện cơ bản, cốt yếu nhất, người ta vẫn có thể thúc đẩy hình thành một số Tập đoàn kinh tế và trong quá trình hoạt động sẽ bổ sung, hoàn thiện những điều kiện cần thiết khác. Việc thí điểm hình thành một số Tập đoàn kinh tế ở nước ta trong thời gian gần đây có thể coi là trường hợp như vậy.
Ngay khi bắt đầu thực hiện chủ trương hình thành một số tổng Công ty theo hướng Tập đoàn kinh tế đã có những ý kiến cho rằng: việc hình thành này mang tính hành chính là ―bình mới rượu cũ‖, chỉ là biến thể của mô hình
Liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh và tổng Công ty 91, không phải như một Tập đoàn kinh doanh theo đúng nghĩa đầy đủ của nó. Biểu hiện là những Tập đoàn trên thế giới phổ biến là đa sở hữu, hình thành bằng nhiều con đường khác nhau và kinh doanh đa ngành. Trong khi đó, tổng Công ty 91 của ta phần lớn chỉ có một sở hữu Nhà nước, do Nhà nước thành lập. Vì vậy, nước ta chưa hội tụ đầy đủ những điều kiện cần thiết cả về khách quan lẫn chủ quan để hình thành những Tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên, thí điểm thành lập Tập đoàn kinh tế hiện nay là cần thiết vì:
Thứ nhất là: chủ trương thí điểm hình thành một số Tập đoàn kinh tế ra đời trong bối cảnh chúng ta đang tiến hành sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đây được coi là một trong những giải pháp quan trọng để sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Qua đó để các tổng Công ty 91 đã có sẽ tạo nên lực hấp dẫn đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tự nguyện tham gia Tập đoàn.
Thứ hai là: bất kỳ một tổ chức kinh tế nào ra đời cũng phải trên cơ sở những điều kiện nhất định, trong môi trường nhất định, khi đã hình thành thì phải luôn tự hoàn thiện và tạo thêm những điều kiện để có thể tồn tại và phát triển. Việc hình thành một số Tập đoàn kinh tế ở nước ta hiện nay tuy chưa hội tụ thật đầy đủ những điều kiện như mong muốn, nhưng đã xuất hiện nhiều điều kiện cơ bản, trong bối cảnh nước ta hiện nay đang xây dựng một nền kinh tế mở, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, quá trình cạnh tranh và liên kết diễn ra đồng thời và tác động qua lại với nhau; thực tiễn hiện nay tiến trình chủ động hội nhập đang ngày càng sâu, rộng vào kinh tế quốc tế. Sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã đặt ra yêu cầu không chỉ phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao, bền vững, phát triển mạnh kinh tế đối ngoại mà còn cần hết sức chú trọng phát huy các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước để phát huy thế so sánh, ―đi tắt, đón đầu‖. Do đó, cần có những doanh nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, có tầm vóc quốc tế, tạo thế và lực cạnh tranh thắng lợi trên thị trường khu vực và quốc tế.
Trong cơ cấu ngành kinh tế quốc dân hiện nay, một số ngành đã đạt được trình độ tích tụ, tập trung nhất định, trong đó có những ngành trọng yếu và then chốt như Điện lực, Bưu chính viễn thông, Dầu khí, Công nghiệp xây dựng,… Những năm gần đây, các ngành này đã có được nhịp độ tăng trưởng cao, đạt được một bước về trình độ tích tụ và tập trung sản xuất, có quan hệ liên kết kinh tế trong và ngoài nước, góp phần xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng quan trọng cho nền kinh tế, trong tương lai có triển vọng phát triển tốt và sự phát triển đó có ảnh hưởng to lớn và trực tiếp đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Những ngành này đang rất cần có những giải pháp phù hợp để đáp ứng nhu cầu cao về vốn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy hơn nữa quá trình tích tụ tập trung để có thể phát huy đầy đủ vai trò thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
Sau gần 10 năm được thành lập và hoạt động dưới cơ chế kinh tế thị trường, một số tổng Công ty 91 đã có bước phát triển khá nhanh trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến, thực hiện phân công, hiệp tác trong sản xuất và liên kết kinh tế, làm cho trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được nâng cao một bước. Điều này đã đặt ra yêu cầu khách quan cần phải đổi mới quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nhìn chung qui mô vốn của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn nhỏ (bình quân vốn nhà nước của một doanh nghiệp thành viên của tổng Công ty 91 tại thời điểm 31/12/2003 mới đạt khoảng 30 tỷ đồng), phân tán và manh mún, trình độ công nghệ vẫn còn thấp kém so với khu vực và thế giới. Do đó, nếu các doanh nghiệp này không liên kết lại thì khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ rất hạn chế.
Mặt khác, trong cơ chế kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường liên kết và cạnh tranh với nhau. Tuy nhiên, trong thực tế ở nước ta thời gian vừa qua, tuy đã thiết lập được một số liên kết kinh tế trong các tổng Công ty nhà nước, đặc biệt là tổng Công ty 91 nhưng tình trạng cạnh tranh có xu hướng lấn lướt các quan hệ liên kết. Đã có nhiều trường hợp thay vì liên kết với nhau để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, thì các doanh nghiệp trong cùng tổng Công ty, lại cạnh tranh gay gắt với nhau, gây ra bất lợi cho các doanh nghiệp và thua thiệt trong quan hệ kinh tế quốc tế. (ví dụ như các doanh nghiệp ngành dệt may cạnh tranh với nhau giành giật mối hàng gia công quốc tế dẫn đến tình trạng giảm giá gia công, các doanh nghiệp kinh doanh lương thực cạnh tranh nhau để xuất khẩu gạo dẫn đến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm, các doanh nghiệp ngành xây dựng cạnh tranh trong đấu thầu các công trình có nguồn vốn của quốc tế dẫn đến thua thiệt trong quản lý kinh tế,…).
Vì vậy, để tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa với tốc độ nhanh và bền vững, tranh thủ được các cơ hội và vượt qua thách thức, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, việc mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế dưới những hình thức khác nhau, trong đó có hình thức hình thành các Tập đoàn kinh tế nhằm tăng cường sức mạnh chung của cả hệ thống là một yêu cầu cấp thiết.
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong điều kiện cơ chế thị trường, ngoài việc ban hành hệ thống chính sách, pháp luật, Nhà nước phải sử dụng hệ thống các công cụ quản lý, trong đó doanh nghiệp nhà nước được coi là công cụ vật chất quan trọng của Nhà nước. Những Tập đoàn kinh tế ở một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, trong đó Nhà nước giữ vai trò chi phối sẽ là công cụ vật chất hữu hiệu để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của mình.
Trong việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước về kinh tế, một vấn đề không kém phần quan trọng cũng được đặt ra là cải cách hành chính, xóa bỏ chế độ chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phát huy đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc thí điểm hình thành Tập đoàn kinh tế cũng là một trong những công việc của quá trình này.
Trong điều kiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc hình thành các Tập đoàn kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm hiệu quả của việc hợp tác kinh tế quốc tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta gắn liền với quá trình xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập bình đẳng và có hiệu quả vào các quan hệ kinh tế quốc tế. Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các quan hệ liên kết kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, mỗi chủ thể kinh tế của đất nước đều có thể tham gia vào quan hệ kinh tế quốc tế dưới nhiều cấp độ và hình thức khác nhau như thu hút đầu tư nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài, chuyển giao, tiếp nhận công nghệ, xuất nhập khẩu,… Trong quá trình này, thực tế đã cho thấy, từng doanh nghiệp biệt lập với nguồn lực hạn chế sẽ gặp phải khó khăn và khó tránh khỏi những thua thiệt trong hợp tác kinh doanh với nước ngoài. Vì vậy, việc mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nước, đưa chúng vào một tổ chức kinh doanh thích hợp chính là một giải pháp để khắc phục những khó khăn trên đây. Mặt khác, hình thành những Tập đoàn kinh tế mạnh sẽ góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế, trên cơ sở đó, tạo ra điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiến tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Qua phân tích trên đây thấy rằng, từ điều kiện thực tiễn của phát triển kinh tế nước ta, xu hướng phát triển có tính phổ biến của nhiều nước trên thế giới có thể khẳng định việc hình thành các Tập đoàn kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là đáp ứng nhu cầu thực sự của quá trình phát triển kinh tế và là sự cần thiết mang tính khách quan. Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam