Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của du lịch lữ hành Việt Nam

2.1.1 Tiềm năng du lịch của Việt Nam

Điều kiện địa lý tự nhiên đã tạo cho Việt Nam có tiềm năng du lịch dồi dào với chiều dài bờ biển hơn 3.260 km; Việt Nam có hơn 4.510 km đường biên giới đất liền tiếp giáp với ba nước Trung Quốc, Lào, Campuchia; với hệ thống cửa khẩu đường hàng không, các cửa khẩu đường bộ, đường sắt, đường sông và đường biển. Bờ biển Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam với nhiều bãi tắm nổi tiếng thơ mộng và xinh đẹp. Là quốc gia trong vùng nhiệt đới nhưng Việt Nam có nhiều điểm nghỉ mát vùng núi mang tính ôn đới như Sa Pa, Tam Đảo, Bạch Mã, Đà Lạt. Các điểm nghỉ mát này thường ở độ cao trên 1.000m so với mặt biển. Việt Nam còn có những khu rừng quốc gia nổi tiếng với những bộ sưu tập phong phú về động thực vật nhiệt đới như rừng quốc gia Cúc Phương, rừng quốc gia Cát Bà, rừng quốc gia Côn Đảo… Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Với hàng ngàn năm lịch sử, Việt Nam có trên 7.000 di tích lịch sử (trong đó khoảng 2.500 di tích được Nhà nước xếp hạng bảo vệ), văn hóa, dấu ấn của quá trình dựng nước và giữ nước như Đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu… và nhiều kỳ quan, danh lam thắng cảnh đã được thế giới công nhận như vịnh Hạ Long , phố cổ Hội An , biển Nha Trang… Với 54 nhóm dân tộc thiểu số, Việt Nam có di sản quý báu về những nét sinh hoạt văn hóa và tôn giáo truyền thống.

Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng và tuy còn nhiều khó khăn nhưng những năm gần đây ngành du lịch Việt Nam cũng đã thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước, góp phần đáng kể trong tăng trưởng GDP quốc gia. Phát huy và khai thác tiềm năng du lịch của đất nước, ngành du lịch sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng của đất nước trong quá trình hội nhập.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.1.2 Quá trình hình thành của ngành du lịch Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Ngày 09/07/1960 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/CP thành lập Công ty du lịch Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của Ngành Du lịch Việt Nam. Du lịch Việt Nam đã phát triển qua các thời kỳ sau đây:

  • Từ năm 1960 đến 1975: là giai đoạn đất nước còn trong chiến tranh khốc liệt, du lịch ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nước, khách du lịch vào nước ta chủ yếu là du khách trong các nước XHCN, theo các Nghị định thư.
  • Từ năm 1975 đến 1990: Ngành du lịch hoạt động trong điều kiện đất nước vừa trải qua cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lâu dài, phải tập trung sức lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và phá thế bao vây cấm vận của Mỹ, đồng thời lại phải tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc và Tây Nam. Thông qua du lịch, thế giới hiểu rõ hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đầu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
  • Từ 1990 đến nay – Thời kỳ đổi mới và hội nhập: Sau 2 năm sáp nhập vào Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ thương mại, tháng 11 năm 1992 Tổng cục Du lịch được thành lập lại trực thuộc Chính phủ. Ngày 31 tháng 7 năm 2007, Quốc hội khóa 12 ra Nghị quyết thành lập Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cơ sở sáp nhập Ủy ban Thể dục, Thể thao và Tổng cục Du lịch. Trong những năm gần đây, khách du lịch quốc tế luôn tăng trưởng cao trung bình mỗi năm hai con số. Từ 250.000 lượt khách quốc tế năm 1990, đến năm 2007 là 4,229 triệu lượt khách. Khách du lịch nội địa từ 1 triệu khách năm 1990, đạt 19,2 triệu khách năm 2007.

Hoạt động du lịch khởi sắc đã tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước, thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ phát triển, tăng tỷ trọng dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân. Theo tạp chí Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2007 – 2008, tính đến hết năm 2007 cả nước đã có gần 9.000 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số 180.057 buồng phòng, một nửa trong số này đạt tiêu chuẩn 5 sao, 256 khách sạn từ 3 – 5 sao, 605 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hàng nghìn doanh nghiệp lữ hành nội địa…[31]

Về cơ cấu doanh nghiệp trong ngành, trong những năm qua cũng chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng về tỷ lệ cơ cấu giữa các thành phần doanh nghiệp. Nếu như năm 2001, tỷ lệ các doanh nghiệp lữ hành nhà nước chiếm đại đa số, sau 5 năm, tỷ lệ đó giảm đáng kể và thay vào đó là số lượng lớn doanh nghiệp hữu hạn và cổ phần. Xem biểu đồ sau:

Tổng cục Du lịch cho biết, trong năm 2007, du lịch Việt Nam đã có thêm 100 doanh nghiệp lữ hành quốc tế mới ra đời, nâng tổng số lên 605 doanh nghiệp lữ hành quốc tế. Trong số trên 600 doanh nghiệp lữ hành quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam, có 87 doanh nghiệp nhà nước, 157 công ty cổ phần, 12 công ty liên doanh, 345 công ty trách nhiệm hữu hạn và 4 doanh nghiệp tư nhân.[26]

2.1.3 Khách du lịch và doanh thu của ngành du lịch (2000 – 2008): Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Kinh tế Việt Nam không ngừng tăng trưởng, an ninh chính trị luôn ổn định và thu nhập cá nhân tăng theo, từ đó nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí tăng cao. Số lượng khách du lịch nội địa tăng nhanh, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng cao liên tục và du lịch liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2000 – 2008. Bảng về lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch dưới đây sẽ cho thấy rõ điều đó:

Bảng 2.1: Khách du lịch và doanh thu của ngành du lịch (2000 – 2008):

Từ bảng trên có thể thấy:

  • Tỷ lệ tăng trưởng khách du lịch nội địa là 6,89%/năm
  • Tỷ lệ tăng trưởng khách du lịch quốc tế là 10,57%/năm
  • Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu của ngành du lịch là 18,33%/năm.

Sự tăng trưởng khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế là một biểu hiện sinh động của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. Số lượng khách du lịch nội địa từ con số 1 triệu lượt vào năm 1990, đã tăng lên 11,2 triệu lượt vào năm 2000 và tiếp tục tăng đến 20 triệu lượt vào năm 2008. Hiện nay cơ cấu khách nội địa có nhu cầu du lịch và sẵn sàng chi tiêu ở mức cao tương tự khách quốc tế đang gia tăng nhanh. Do đó, ngành Du lịch cần chú ý thu hút, khai thác hiệu quả đối tượng khách này.

Có thể thấy số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh trong những năm vừa qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 10,57%. Có sự sụt giảm trong tỷ lệ tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam trong hai năm 2006 (3%) và 2008 (0,6%). Điều này có thể được lí giải như sau: với việc Việt Nam gia nhập WTO, cộng với việc các nước lân cận gặp khủng hoảng chính trị nên khách quốc tế chú ý đến Việt Nam. Khi ấy chúng ta chưa chuẩn bị tốt nên đã xảy ra tình trạng thiếu phòng khách sạn. Thêm nữa, lẽ ra phải nhân cơ hội này để tạo ấn tượng thu hút khách thì nhiều khách sạn đã tăng giá 50% so với một năm trước để thu lợi nhuận…đã ảnh hưởng không nhỏ tới lượng khách du lịch quyết định đến Việt Nam trong năm 2006. Năm 2008, Châu Âu, thị trường du lịch chính của Việt Nam, mùa du lịch hè đã kết thúc không khả quan, vì người dân trong làn sóng giá cả đắt đỏ buộc phải thắt chặt chi tiêu. Thị trường chính thứ hai của Việt Nam là Trung Quốc cũng lao đao với sự cố melamine. Còn thị trường Mỹ cũng giảm do khủng hoảng tài chính.

Tuy nhiên doanh thu của ngành du lịch Việt Nam chủ yếu từ khách quốc tế. Năm 2006, doanh thu từ du lịch quốc tế là 2,85 tỷ USD (Tổng doanh thu của ngành du lịch là 3,182 tỷ USD), chiếm 89,56% tổng doanh thu của toàn ngành du lịch. Năm 2007 doanh thu từ khách quốc tế đạt 3,33 tỷ USD (Tổng doanh thu của ngành du lịch là 3,5 tỷ USD), chiếm 95,14% tổng doanh thu của toàn ngành.[25] Đây là một tín hiệu tích cực của ngành du lịch Việt Nam, từng bước trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và then chốt của đất nước.

2.1.4 Thị trường trọng điểm khách du lịch quốc tế vào Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Bảng số liệu dưới đây sẽ cho thấy số lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2003 – 2008 tập trung vào 10 thị trường trọng điểm là Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Úc, Pháp, Thái Lan, Campuchia và Anh. Theo đó, khách du lịch quốc tế ở các thị trường trọng điểm này so với tổng số các thị trường khách quốc tế đến Việt Nam (2003 – 2008) chiếm tỷ trọng trung bình 74,05%/năm.

Bảng 2.2: 10 thị trường trọng điểm khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

Bảng số liệu trên cho thấy đây là các thị trường khách quốc tế chủ yếu và quan trọng của du lịch Việt Nam trong thời gian qua. Thị trường khách này có khả năng chi trả cao, thời gian lưu trú dài và đem lại doanh thu chủ yếu cho ngành du lịch. Khách quốc tế đến từ các thị trường này chiếm tỷ trọng trên 70%/năm so với tổng số khách quốc tế đến, cụ thể các năm như sau:

  • Năm 2003 chiếm 75,10%
  • Năm 2004 chiếm 76,74%
  • Năm 2005 chiếm 75,66%
  • Năm 2006 chiếm 73,96%
  • Năm 2007 chiếm 70,86%
  • Năm 2008 chiếm 71,98%

Theo Tổng cục du lịch, phân khúc thị khách quốc tế vào Việt Nam cho thấy: khách Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) chiếm tới 33%, châu Âu: 16%, Bắc Mỹ 13%, Úc và New Zealand chiếm 6%… Lượng khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm 2009 ước đạt 1.297.672 lượt, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2008. Một số thị trường khách quan trọng đã có dấu hiệu suy giảm như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Anh.[25]

2.2 Khả năng cạnh tranh tổng thể của ngành du lịch và lữ hành Việt Nam (theo báo cáo năng lực cạnh tranh của WEF)

Tháng 3/2009, Diễn đàn kinh tế thế giới đã công bố bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành toàn cầu 2009 (gồm 133 nước). Thụy Sĩ tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng, kế đến là Áo, Đức, Pháp và Canada. Năm nay Singapore là quốc gia châu Á duy nhất lọt vào top 10 (10/133).[18] Việt Nam xếp thứ 89/133, tuy đã tăng hạng so với báo cáo năm trước (96/130) nhưng trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn không tạo được bước đột phá về tính cạnh tranh. Trong tám quốc gia Đông Nam Á được WEF khảo sát (không có Lào và Myanmar), Việt Nam chỉ đứng trên Campuchia về mức độ cạnh tranh, tương tự như năm ngoái. Trong đó năng lực cạnh tranh ngành Du lịch và lữ hành của Việt Nam, một số nước ASEAN và Trung Quốc được xếp hạng như sau (xem bảng 2.3):

Bảng 2.3: Xếp hạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành của Việt Nam và một số nước:

Nhìn vào bảng trên ta thấy, trong số 133 nước được xếp hạng, Việt Nam đứng thứ 89, điều đó chứng tỏ năng lực cạnh tranh lữ hành của nước ta còn rất thấp. So với Trung Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng trên Campuchia. Nguyên nhân là do hành lang luật pháp còn thiếu đồng bộ, môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế; nguồn lực tự nhiên, nhân lực và văn hoá cũng xếp thứ 76/133 nước, chứng tỏ du lịch Việt Nam chưa phát huy được thế mạnh này; mặc dù đất nước, văn hóa và con người Việt Nam được đánh giá những nguồn lực rất có tiềm năng để phát triển du lịch.

Để hiểu rõ hơn về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành của nước ta trong so sánh với một số nước trong khu vực và Trung Quốc, xin được tiếp tục phân tích sâu hơn về các chỉ số đơn đánh giá về năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành đã cấu thành 3 chỉ số nêu trên, bao gồm:

2.2.1 Hành lang luật pháp Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Trước hết là phân tích, đánh giá các chỉ số đơn cấu thành chỉ số hành luật pháp. Xem bảng 2.4:

Bảng 2.4 Xếp hạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành của Việt Nam và một số nước – chỉ số hành lang luật pháp:

So với những đối thủ cạnh tranh trong khu vực như Singapore, Malaysia, Philipine và Thái Lan, chỉ số năng lực cạnh tranh về hành lang luật pháp của Việt Nam còn rất yếu kém. Điều này cho thấy, các quy định luật pháp và chính sách của nước ta chưa tạo thuận lợi cho du lịch và lữ hành phát triển, còn nhiều rào cản về thủ tục, giấy phép, về đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như về sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực du lịch và lữ hành. Chính những yếu kém, bất cập trong hệ thống luật pháp và chính sách của Việt Nam đã làm giảm tính cạnh tranh của ngành du lịch cũng như của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam so với các nước trong khu vực, đặc biệt là so với đối thủ cạnh tranh nước láng giềng Thái Lan.

Đối với chỉ số quy định về môi trường, Việt Nam xếp thứ 100/133, mặc dù đứng trên Campuchia, Trung Quốc và Indonesia nhưng thứ hạng này cho thấy tình hình môi trường ở Việt Nam đang ở mức đáng lo ngại và cần được cải thiện; các quy định của Chính phủ về môi trường chưa thực sự chặt chẽ và còn nhiều hạn chế. Chính sự ô nhiễm môi trường sinh thái đang làm mất đi hình ảnh của một điểm đến hấp dẫn du khách, thân thiện với môi trường, ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển du lịch và lữ hành.

Về an toàn và an ninh, Việt Nam xếp thứ 100/133 nước, đứng trên khá nhiều nước trong khu vực trong bảng xếp hạng nêu trên. Tuy nhiên, so với Singapore và Malaysia, chỉ số này của Việt Nam còn xa mới đạt được. An toàn giao thông vẫn là một nỗi ám ảnh đối với khách du lịch khi mà hệ thống giao thông của ta vẫn còn lạc hậu, ý thức chấp hành giao thông của người dân chưa cao, tai nạn giao thông diễn ra hàng ngày khá nghiêm trọng.

Về vệ sinh và y tế, Việt Nam nằm trong thứ hạng thấp (95/133 nước), chỉ đứng trên Campuchia và Indonesia là 2 nước có chỉ số về vệ sinh và y tế gần như kém nhất thế giới. Khi mà Việt Nam được quảng cáo như là “nhà bếp của thế giới” thì đây là điều đáng lo ngại đối với hoạt động lữ hành của nước ta. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cần được chú trọng hàng đầu nếu như không muốn hình ảnh Việt Nam xấu đi trong mắt du khách thế giới.

Về ưu tiên cho du lịch và lữ hành, Việt Nam đứng cuối bảng xếp hạng nếu so với các nước trong khu vực nêu trên là do mức độ ưu tiên của Chính phủ đối với hoạt động du lịch và lữ hành chưa cao, ngân sách đầu tư cho du lịch còn thấp, nhất là ngân sách cho xúc tiến du lịch ở nước ngoài. Năm 2007, ngân sách dành cho hoạt động xúc tiến du lịch của Việt Nam (thông qua Tổng cục du lịch) chỉ là 1,25 triệu USD, trong khi ở Thái Lan con số này là 150 triệu USD và Malaysia là 120 triệu USD.[11] Nguồn ngân sách hạn hẹp làm cho hoạt động xúc tiến du lịch trở nên vô cùng khó khăn.

2.2.2 Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Đánh giá môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng có các chỉ số đơn sau:

Bảng 2.5: Xếp hạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành của Việt Nam và một số nước – chỉ số môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng

Xếp hạng 1: nước cạnh tranh tốt nhất. Xếp hạng 133: nước cạnh tranh kém nhất chỉ số này, Việt Nam thua xa các đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Cơ sở hạ tầng yếu kém là một nguyên nhân không thu hút được khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Tình trạng tắc nghẽn giao thông, phương tiện vận chuyển du lịch còn lạc hậu, cung số phòng khách sạn cao cấp thấp, hệ thống rút tiền tự động ATM tại các điểm du lịch còn ít… làm cho chỉ số năng lực cạnh tranh về cơ sở hạ tầng của Việt Nam bị xếp hạng rất kém. Đây là vấn đề nan giải đối với ngành du lịch Việt Nam vì muốn cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng cần có thời gian và nguồn vốn lớn.

Các tiêu chí về cơ sở hạ tầng giao thông và cơ sở hạ tầng du lịch của Việt Nam đều có thứ hạng rất thấp. Cơ sở hạ tầng vật chất hàng không cũng là một điều đáng bàn đến. Bảng số liệu cho thấy hàng không Việt Nam còn rất yếu kém so với khu vực, chất lượng cơ sở hạ tầng hàng không của Việt Nam đứng ở vị trí 84, kém xa các đối thủ cạnh tranh như Singapore, Malaysia, Thái Lan. Số lượng sân bay của nước ta còn quá ít. Tình trạng thiếu máy bay, thiếu chuyến bay, chậm chuyến, huỷ chuyến thường xuyên diễn ra. Các hãng lữ hành cũng luôn gặp khó khăn trong việc thu xếp vé máy bay cho khách quốc tế đến Việt Nam.

Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông của Việt Nam cũng được xếp hạng 79/133 nước cho thấy Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực này, nhưng so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn còn nhiều hạn chế. Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Năng lực cạnh tranh giá du lịch và lữ hành của Việt Nam được đánh giá khá cao với việc được xếp hạng thứ 11/133 nước về chỉ số này. Với lợi thế này, Việt Nam đang trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của du khách quốc tế. Sức mua tương đương cao, mức giá nhiên liệu thấp và mức thuế vé du lịch và lệ phí sân bay cũng không cao đã tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá cho hoạt động du lịch và lữ hành của nước ta. Tuy nhiên, mặc dù so với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam có năng lực cạnh tranh giá du lịch và lữ hành khá cao nhưng so với các đối thủ cạnh tranh như Malaysia, Indonesia, năng lực cạnh tranh giá du lịch và lữ hành của Việt Nam lại thấp hơn.

2.2.3 Nguồn lực tự nhiên, văn hoá và nhân lực

Về nguồn lực tự nhiên, văn hoá và nhân lực, xem bảng 2.6:

Bảng 2.6 Xếp hạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành của Việt Nam và một số nước – chỉ số nguồn lực tự nhiên, văn hóa và nhân lực

Xếp hạng 1: nước cạnh tranh tốt nhất. Xếp hạng 133: nước cạnh tranh kém nhất

Theo bảng 2.6 ta thấy Việt Nam cũng được đánh giá có thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên (xếp hạng 52/133). Ở tiêu chí này, Việt Nam xếp thứ 23 thế giới về số lượng cảnh quan thiên nhiên được UNESCO công nhận là di sản thế giới và đứng thứ 21 thế giới về tổng số sinh vật được khoa học biết đến. Tuy nhiên về tổng thể thì năng lực cạnh tranh về nguồn lực tự nhiên, văn hoá của Việt Nam chỉ đứng trên Campuchia, còn lại kém xa với Trung Quốc và các nước trong khu vực, trong khi đây được coi là những thế mạnh và tiềm năng của du lịch Việt Nam. Điều này có thể được giải thích là do chúng ta chưa biết khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực này .

Với chỉ số nhân lực xếp hạng 82/133, kém xa với Trung Quốc và các nước trong khu vực, đây quả thật là một thách thức cho ngành Du lịch Việt Nam trong việc đào tạo được một đội ngũ hướng dẫn viên du lịch lành nghề, giỏi ngoại ngữ khi mà thực tế cho thấy nhân lực trong ngành du lịch nước ta thiếu cả về số lượng và chất lượng phục vụ. Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

One thought on “Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464