Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam

Càng ngày, Việt Nam càng phải đối diện với áp lực cạnh tranh rất mạnh từ các đối thủ chính trong khu vực đó là các nước Đông Bắc Á và ASEAN. Mạnh nhất phải kể đến Trung Quốc, kế đó là Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trên thực tế, mặc dù tốc độ tăng trưởng khách quốc tế hàng năm của Việt Nam luôn cao hơn so với hầu hết các nước ASEAN, nhưng về số tuyệt đối thì vẫn còn khoảng cách xa. Cụ thể, năm 2007, Việt Nam đón 4,2 triệu lượt khách quốc tế, tốc độ tăng trưởng 18%. Song, con số này chỉ gần bằng 1/2 của Singapore (10,27 triệu lượt), 1/3 của Thái Lan (khoảng 14,4 triệu lượt) và chỉ bằng 1/5 của Malaysia (20,97 triệu lượt).[18] Điều đó cho thấy năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế trong việc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam. Trong giới hạn bài viết cho phép, xin được phân tích một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam, bao gồm:

2.3.1 Về giá sản phẩm dịch vụ

Tham khảo bảng giá một số chương trình tham quan ngắn ngày tại một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trên địa bàn Hà Nội:

Bảng 2.7. Giá một số chương trình tham quan ngắn ngày

Như vậy, so với Thái Lan và Malaysia, giá của Việt Nam chỉ bằng một nửa. Thậm chí, kể cả so với Lào, Campuchia, mức giá của Việt Nam cũng thấp hơn mặc dù hai nước này thuộc diện kém phát triển nhất trong 5 nước cả về du lịch và kinh tế. Ngoài ra, các biểu phân tích khác cũng đều chứng tỏ, sản phẩm du lịch của Việt Nam rất cạnh tranh về giá, đặc biệt là các dịch vụ có chất lượng trung, cao cấp. Ngành Du lịch và các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam nên tập trung khai thác phân khúc khách du lịch có nhu cầu sử dụng dịch vụ trung, cao cấp để phát huy lợi thế cạnh tranh về giá. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Nói chung, xét đơn thuần về giá của các dịch vụ trung và cao cấp, lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt Nam có đủ năng lực cạnh tranh và cạnh tranh tốt với các nước trong khu vực, nhất là các nước như Thái Lan, Malaysia, Lào và Campuchia. Tuy vậy, những phân tích ở đây chỉ tập trung phân tích giá cả các dịch vụ có chất lượng trung, cao cấp nên chưa mang tính bao quát về năng lực cạnh tranh trong du lịch quốc tế giá rẻ và du lịch đại trà.

Đối với du lịch giá rẻ và du lịch đại trà, giá cả của Việt Nam kém tính cạnh tranh hơn các nước trong khu vực, nhất là kém cạnh tranh so với Indonesia, Thái Lan và Malaysia. Du lịch quốc tế Thái Lan đã và đang thu hút số lượng lớn khách du lịch Trung Quốc đến du lịch Thái Lan với giá tour là zero, Việt Nam chắc chắn không thể thực hiện được loại tour như vậy.

Bên cạnh đó là tình trạng cạnh tranh không lành mạnh của nhiều doanh nghiệp lữ hành nhỏ, tình trạng chất lượng dịch vụ không tương xứng giá tour chào bán của các doanh nghiệp lữ hành. Theo thống kê, trong số gần 700 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, hiện chỉ có khoảng 20 doanh nghiệp có khả năng đón trên 20 nghìn khách quốc tế/năm.[10] Hầu hết các doanh nghiệp lữ hành quốc tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; nhiều doanh nghiệp chỉ đón được vài trăm khách/năm. Tình trạng này dẫn đến nhiều doanh nghiệp cạnh tranh phá giá theo kiểu giảm chất lượng dịch vụ và ít khi có cùng tiếng nói chung trong các chiến dịch quảng bá lớn, vì muốn tối đa hoá lợi nhuận mà cạnh tranh bằng bất cứ giá nào để có được tour.

Theo điều tra mới đây của Tổng cục du lịch thìtrong giá tour , phí lưu trú, tức ăn ở khách sạn , chiếm tới 45-50%, phí vận chuyển , như vé máy bay , đi lại thăm quan chiếm 25-30%, nâng giá thành chung lên rất cao . Hai dịch vụ đi lại và lưu trú (thường chiếm 70% giá tour) trong năm qua tăng mạnh; trong đó, các khách sạn cao cấp tăng giá tới 30-50%, thậm chí có khách sạn tăng tới 100% so với đầu năm 2007 đã khiến nhiều tour tới Việt Nam trong năm nay phải huỷ hoặc chuyển sang các nước lân cận.[32]

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu lan rộng, chính trị bất ổn một số nước, tâm lý khách du lịch sẽ chọn điểm đến an toàn, giá hấp dẫn. Việt Nam cần có ngay một chương trình hành động, tranh thủ cơ hội này để thu hút khách nếu không muốn tuột mất. Hàng không cần bắt tay với khách sạn, doanh nghiệp lữ hành kéo khách quốc tế vào Việt Nam thông qua việc xây dựng các gói sản phẩm hấp dẫn, có giá cạnh tranh; kể cả khi các bên đều phải xác định giảm lợi nhuận vì mục đích và lợi ích chung.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.3.2 Về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Theo một thống kê thăm dò ý kiến những du khách đến Việt Nam của Tổng cục Du lịch thì có đến trên 70% những người hỏi trả lời rằng họ sẽ không quay lại Việt Nam một lần nữa.[26] Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng “một đi không trở lại” này? Các hãng lữ hành lớn như Saigontourist, Vietravel, Fiditourist, Bến Thành Tourist, Thanh Niên, Chợ Lớn Tourist… – những đơn vị trực tiếp đưa khách quốc tế đến Việt Nam đều cho rằng, sở dĩ du khách ít quay trở lại lần hai là do sản phẩm du lịch – đặc biệt là dịch vụ vui chơi giải trí ở Việt Nam rất thiếu và yếu.

Lâu nay ngành du lịch cũng như các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam thường đánh giá sự phát triển của mình dựa trên số lượng du khách gia tăng mà chưa chú ý đánh giá việc tăng chất lượng dịch vụ. Trong khi chất lượng mới là yếu tố giúp phát triển bền vững và đạt được doanh thu cao. Các công ty lữ hành Việt Nam luôn ở trong tình trạng báo động về chất lượng dịch vụ ở một khâu nào đó, một nơi nào đó và thời điểm nào đó. Điều này có thể được lý giải là do doanh nghiệp lữ hành Việt Nam thì đông nhưng nhiều khi không vì mục tiêu kinh doanh lành mạnh, tối đa hoá lợi nhuận mà cạnh tranh bằng bất cứ giá nào, kể cả mánh lừa, để có được tour.

Một số biểu đồ dưới đây thể hiện mức độ hài lòng của du khách, thông qua đó có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ:

Biểu đồ 2.2 Mức độ hài lòng của du khách

So sánh các biểu đồ trên có thể thấy mức độ hài lòng về phương tiện giao thông, liên lạc, tiện nghi ngủ, nghỉ, dịch vụ giải trí và nhân sự du lịch của du khách nước ngoài đến Hà Nội, nơi thu hút hơn một triệu du khách năm 2008 thấp hẳn so với các nước trong khu vực. Đây cũng chính là tình trạng chung của cả Việt Nam. Xin được phân tích kỹ hơn về sự yếu kém của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam thể hiện ở hai tiêu chí trong biểu đồ: Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Cơ sở hạ tầng

Trong mùa du lịch trọng điểm hay các dịp lễ, Tết, nhiều hãng lữ hành có uy tín đều phải từ chối khách rất sớm vì không có phòng. Trên địa bàn cả nước hiện có 8.556 cơ sở lưu trú du lịch với 170.551 phòng, trong đó lượng khách sạn 4-5 sao chỉ có hơn 15.000 phòng, lại chỉ tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Tp.HCM. Hiện công suất phòng của các khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội, Tp.HCM luôn từ 90% – 95%, thậm chí 99%.[28] Tại Nha Trang, Phan Thiết, Hội An, Phú Quốc… trong mùa cao điểm hoặc lễ hội cũng thiếu phòng trầm trọng, dẫn đến tăng giá đột biến, có khi lên gấp đôi.. Điều này dẫn đến sự hài lòng của du khách về hệ thống phòng khách sạn của Việt Nam không cao.

Các đường bay quốc tế lẫn trong nước của hàng không Việt Nam còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều doanh nghiệp đã bán tour cho khách nhưng khi đặt vé máy bay không có, đành phải hủy tour. Trong khi đó Phulket cứ 30 phút là có 1 chuyến bay. Vận chuyển đường bộ trong nước cũng không khá hơn. Lượng ô tô phục vụ du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu khách, đặc biệt vào mùa cao điểm.

Hiện Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch tàu biển. Các hãng tàu lớn đã đến Việt Nam nhiều lần, ghé nhiều cảng với số ngày lưu trú tại mỗi cảng cũng dài hơn. Thế nhưng chúng ta chưa có cảng hành khách chuyên dụng tại Tp.HCM, Nha Trang, Đà Nẵng, Hạ Long… để đón khách mà vẫn phải sử dụng các bến bãi của cảng hàng hóa.

Dịch vụ vui chơi giải trí

Khu vực dịch vụ vui chơi giải trí, khu vực thu hút du khách tiêu tiền nhiều nhất, lại thu hút ít khách như vậy là một vấn đề đáng bàn. Bởi vì mức độ hài lòng của du khách về truyền thống văn hóa rất cao, mà truyền thống văn hóa phong phú là nguồn sáng tạo cho các sản phẩm lưu niệm, các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc, là vốn để khai thác trong lĩnh vực dịch vụ giải trí, mua sắm. Tuy nhiên ngay cả quà lưu niệm cho khách quốc tế, qua các cuộc thi thiết kế của ngành du lịch vẫn chưa tìm được một tặng phẩm nào mới lạ, có ý nghĩa, mang tính đặc trưng cho hình ảnh Việt Nam. Thêm nữa, hằng năm các địa phương đầu tư hàng tỷ đồng để làm lễ hội. Tỉnh nào cũng có lễ hội, nhưng một lễ hội mang tính đặc thù dân tộc, để quảng bá bán tour cho khách nước ngoài thì lại chưa có.

Nhiều doanh nghiệp lữ hành Việt Nam rất bức xúc vì ngay cả những thành phố du lịch lớn vẫn thiếu chỗ để du khách tiêu tiền. Theo điều tra của Công ty Saigontourist, một du khách Mỹ chi tiêu trung bình cho một chuyến du lịch dài ngày tại Việt Nam là 2.916 USD, trong đó chi cho vé máy bay đã là 1.405 USD. Khách du lịch quốc tế đến Úc, New Zealand chi tiêu mua sắm khoảng 1.500 USD, còn ở Việt Nam chỉ 200 – 300 USD/người. Khách du lịch đường tàu biển đi từ Hồng Kông đến Phú Quốc (Việt Nam), tiêu không quá 1 USD khi lên bờ.[29] Chất lượng sản phẩm dịch vụ nghèo nàn có lẽ là yếu tố then chốt để du khách một đi không trở lại.

Ngay như Tp.HCM chứ chưa nói đến các địa phương khác, khách đến chỉ ăn và ngủ, rất ít nơi giải trí, không có chỗ tiêu tiền. Cụ thể, hai khu du lịch được xem có quy mô lớn là Đầm Sen và Suối Tiên, nhưng lượng khách du lịch quốc tế đến đây chỉ đạt khoảng 10%. Hoặc nếu muốn đi xem chương trình biểu diễn nghệ thuật dành cho du khách nước ngoài thì cũng không có. Các trung tâm mua sắm hiện đại chỉ đếm trên đầu ngón tay như: Parkson, Thương xá Tax, Diamond Plaza, Zen Plaza, Windsor Plaza… nhưng những nơi này so với các trung tâm mua sắm ở Singapore thì thua xa về cả quy mô lẫn dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du khách.

2.3.3 Về Marketing, quảng cáo Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Theo “Cha đẻ marketing thế giới” Philip Kotler, trong kinh doanh, thu hút được khách hàng là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phải giữ được họ. Du lịch Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu khởi sắc và đang được xem là điểm đến hấp dẫn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, hơn 70% khách du lịch đã đến Việt Nam không có ý định quay trở lại lần hai là một thực tế đáng lo ngại cho ngành Du lịch Việt Nam. Mặc dù mỗi năm Tổng cục Du lịch chi hàng tỷ đồng cho việc quảng bá du lịch nhưng hiện tại du lịch Việt Nam vẫn chưa hấp dẫn đối với các du khách nước ngoài vì chưa có sự đầu tư, quảng bá bài bản.

Việt Nam có rất nhiều cảnh đẹp, được thiên nhiên ưu đãi hơn nhiều nước, nhưng thế giới vẫn chưa biết nhiều đến Việt Nam. Các nước trong khu vực ASEAN đều định vị được sản phẩm du lịch thế mạnh của mình . Thương hiệu du lịch của Singapore là du lịch đô thị; Malaysia là điểm mua sắm, biển; Thái Lan là spa, nghỉ dưỡng… Riêng Việt Nam vẫn là cái gì đó còn “tiềm ẩn” như đúng câu slogan “Viet Nam – the hidden charm”. Khách du lịch không muốn đi đến một nơi mà họ không có nhiều thông tin về nó nên sẽ chọn điểm đến có nhiều thông tin hơn. Thay vì đến Việt Nam, họ sẽ đến Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines vì hình ảnh du lịch của các nước đã được quảng bá rất tốt trên các phương tiện truyền thông quốc tế.

Không chỉ thua trong việc quảng bá trên các kênh truyền hình quốc tế mà ngay việc tiếp thị trên Internet, du lịch Việt Nam cũng không bằng các nước trong khu vực. Phần lớn người Hàn Quốc tìm hiểu thông tin du lịch qua Internet. Việt Nam đang là điểm đến của khách du lịch Hàn Quốc đứng thứ 3 trong ASEAN, chỉ sau Thái Lan và Philippines. Nhưng vẫn chưa có một trang web quảng bá du lịch nào của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam giới thiệu bằng tiếng Hàn. Nguyên nhân là hầu hết doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam chưa trực tiếp khai thác, thu hút được khách du lịch quốc tế, ít nghiên cứu, tiếp cận và thâm nhập thị trường nước ngoài. Tính chủ động, năng động trong hoạt động marketing, quảng cáo của các doanh nghiệp lữ hành còn nhiều yếu kém.

Thế mạnh của nhiều doanh nghiệp ít được phát huy do chiến lược quảng bá thiếu chuyên nghiệp. Theo thống kê, trong số 700 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, hiện chỉ có khoảng 20 doanh nghiệp có khả năng đón trên 20 nghìn khách quốc tế/năm.[10] Hầu hết các doanh nghiệp lữ hành quốc tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; nhiều doanh nghiệp chỉ đón được vài trăm khách /năm và các doanh nghiệp này cạnh tranh theo kiểu mạnh ai nấy làm. Tình trạng này dẫn đến nhiều doanh nghiệp cạnh tranh phá giá theo kiểu giảm chất lượng dịch vụ và ít khi có cùng tiếng nói chung trong các chiến dịch quảng bá lớn.

Số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đầu tư cho marketing, xúc tiến quảng quá như tham gia hội chợ quốc tế và khu vực chưa nhiều. Hiện chỉ có khoảng 10 – 15% doanh nghiệp lữ hành quốc tế tham dự từ 1 hội chợ quốc tế/năm trở lên và cũng chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp lữ hành quốc tế chuyên kinh doanh khách inbound và đây chính là những doanh nghiệp chủ chốt đưa khách đến Việt Nam.[10] Điều này một mặt làm cho khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp kém hiệu quả mặt khác nó cũng gây không ít khó khăn cho việc quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam như là một điểm đến hấp dẫn trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Tại Việt Nam mấy năm về trước, một số công ty lữ hành cũng đã áp dụng chiến lược thuê người nước ngoài làm quảng bá như: Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, Tổng công ty Du lịch Hà Nội, Công ty Du lịch Dịch vụ Bến Thành, tuy nhiên hiệu quả chỉ dừng lại ở những công ty đơn lẻ.

2.3.4 Về nhân lực Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Hiện tại nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nước ta thiếu cả về số lượng và chất lượng.

Theo Tổng cục Du lịch, trong những năm gần đây, nhu cầu về lao động ngành Du lịch tăng lên đáng kể. Với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của ngành Du lịch là 11 – 11,5%/năm, thì đến năm 2010 Việt Nam sẽ thu hút khoảng 5,5 – 6 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 25 – 26 triệu lượt khách nội địa và ngành Du lịch Việt Nam sẽ cần trên 330.000 lao động trực tiếp và con số này sẽ tăng lên 500.000 người vào năm 2020.[28] Trước yêu cầu phát triển, mỗi năm ngành du lịch cần khoảng 35.000 lao động được đào tạo bài bản, nhưng thực tế các cơ sở đào tạo mới chỉ đáp ứng được gần 1/3 số lượng đó (tổng số cơ sở đào tạo du lịch hiện nay có 70 cơ sở với số học sinh, sinh viên ra trường khoảng 13 nghìn người mỗi năm). Cả nước có hơn 20 trường đại học có khoa hoặc bộ môn du lịch , nhưng chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Đào tạo chuyên về du lịch hiện chỉcó 4 trường đặt tại Hà Nội, Huế, Vũng Tàu, Tp.HCM. Ở hệ trung cấp , dạy nghề ngành du lịch có hơn 40 trường nhưng các trường này đào tạo nhiều lĩnh vực khác nhau , chỉ có một nhóm đào tạo về du lịch . Với thực trạng này đây là thách thức về chất lượng nguồn nhân lực du lịch trước yêu cầu của thị trường.

Một ví dụ điển hình là hiện số học sinh được đào tạo làm nhân viên dịch vụ hàng không, như đặt chỗ, xuất vé, tính giá… rất ít. Cả nước duy nhất có Học viện Hàng không đào tạo các ngành nghề cho lĩnh vực này, nhưng đặt phía Nam và chủ yếu phục vụ Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines). Số học sinh ra trường mỗi năm không đủ cung ứng cho thị trường. Chất lượng nhân viên dịch vụ hàng không, vì thế, cũng còn yếu. Ví dụ, nhân viên booking (đặt chỗ) của Việt Nam trong một năm chỉ làm được số lượng hợp đồng bằng 1/2 của nhân viên Thái Lan và 1/3 của nhân viên Singapore.[12]

Đáng lo ngại hơn, chất lượng nhân lực còn hạn chế trên nhiều mặt: Tính chuyên nghiệp thiếu, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử hạn chế. Nếu những năm 1990, toàn ngành có khoảng 20.000 lao động, thì đến năm 2008 đã tăng lên khoảng 1,2 triệu, chiếm 2% lao động cả nước. Tuy nhiên trong số hơn 1 triệu lao động này, chỉ có 0,2% có trình độ trên đại học, 12% đã qua đào tạo bậc cao đẳng và đại học, 15% có trình độ trung cấp, còn lại gần 73% nhân lực ngành du lịch sơ cấp và dưới sơ cấp – trong đó số nhân lực dưới sơ cấp chiếm tỷ lệ áp đảo với 53%.[28]

Cụ thể, lao động trực tiếp làm trong các công ty lữ hành, đưa đón khách, khách sạn, công ty hoạt động du lịch là hơn 280.000 người và lao động gián tiếp gần 900.000. Trong nhóm làm việc trực tiếp chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% người từ ngành khác chuyển sang và 20% còn lại thì không qua đào tạo.[28]

Ngoài điểm yếu về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, hạn chế lớn nhất của nhân viên du lịch Việt Nam là trình độ ngoại ngữ. Dựa vào nhu cầu sử dụng tiếng Anh với từng vị trí, TOEIC đã thực hiện gần 400 cuộc điều tra khảo sát về yêu cầu sử dụng ngôn ngữ của gần 200 khách sạn (từ 3 – 5 sao) và DN lữ hành đại diện trên toàn quốc. Đối tượng chính là giám đốc, cán bộ quản lý nhân sự và cán bộ quản lý trực tiếp như trưởng, phó bộ phận – những người nắm rõ nhất yêu cầu về trình độ sử dụng tiếng Anh đối với nhân viên do mình quản lý và định hướng phát triển của đơn vị.

Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nhân viên chưa đạt chuẩn tiếng Anh theo kết quả khảo sát của TOEIC Việt Nam.

Kết quả kiểm tra ngẫu nhiên 1.000 nhân viên ở các doanh nghiệp, đơn vị cho thấy trình độ tiếng Anh của nhân viên phần lớn đều thấp và còn cách khá xa so với chuẩn xây dựng theo yêu cầu của cấp quản lý đề ra, mặc dù chuẩn thấp mà TOEIC đưa ra để đánh giá trình độ nhân viên là đảm bảo ở mức chất lượng dịch vụ tối thiểu. Như vậy, qua kết quả có thể thấy trình độ tiếng Anh của nhân viên đang ở mức thấp, thấp hơn cả chuẩn thấp. Cá biệt là các khách sạn càng nhiều sao, yêu cầu càng cao thì tiếng Anh đạt chuẩn càng thấp.

Bên cạnh tiếng Anh – ngôn ngữ giao tiếp chính, các ngôn ngữ khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…, nhân viên du lịch cũng rơi vào tình trạng thiếu và yếu. Cụ thể, lượng khách Hàn Quốc đến Việt Nam tăng mạnh (đứng thứ hai sau Trung Quốc) nhưng hiện cả nước chỉ có 50 hướng dẫn viên biết tiếng Hàn. Hay với Nhật Bản – thị trường tiềm năng đứng thứ ba hiện nay cũng mới chỉ có 8% hướng dẫn viên thành thạo tiếng. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Phần lớn nhân lực lấy từ đầu ra của các trường du lịch chỉ mới đáp ứng được nhu cầu khách nội địa, rất khó tìm được người giỏi, đáp ứng được yêu cầu giao tiếp với khách nước ngoài. Vì vậy, các doanh nghiệp đang vướng vào bài toán khó: nếu lấy những người giỏi ngoại ngữ (thường là sinh viên chuyên ngành ngoại ngữ) thì phải đào tạo thêm về nghiệp vụ; ngược lại, nếu lấy những người từ các cơ sở đào tạo trong ngành thì ngoại ngữ kém. Dù thế nào, doanh nghiệp cũng mất thời gian và kinh phí đào tạo nhân viên theo yêu cầu công việc. Thực tế này đòi hỏi ngành du lịch cần sớm có giải pháp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và tuyển dụng mới có thể theo kịp sự phát triển của du lịch trong khu vực.

Vì vậy có thể nói tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng đang là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp cũng như đối với ngành du lịch trước yêu cầu của thị trường.

2.3.5 Về vị thế tài chính, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp

Về vốn: Năng lực canh tranh về vốn đầu tư cho kinh doanh lữ hành của các doanh nghiệp còn thấp. Hầu hết doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Việt Nam là các doanh nghiệp nhỏ, với số vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và lao động không quá 30 người. Các công ty nhỏ khó khăn khi phải cạnh tranh với những đối thủ lớn.

Về công nghệ: Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã đổi mới trang thiết bị văn phòng, áp dụng công nghệ mới trong quản lý lữ hành. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới còn chậm, chưa đồng bộ và chưa có định hướng, lộ trình ưu tiên rõ rệt, gây lãng phí và giảm hiệu quả kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp chưa có website hoặc có nhưng chỉ hình thức, phong trào, chưa thực chất khai thác hiệu quả nhằm giảm thời gian và chi phí giao dịch, tiến tới áp dụng thương mại điện tử vào kinh doanh, quảng cáo, phát triển thị trường.

Về trình độ quản lý lữ hành: Quản lý kinh doanh lữ hành bị buông lỏng ở nhiều địa phương. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch chưa tương xứng với vai trò của ngành kinh tế mũi nhọn, các cơ quan quản lý du lịch địa phương chưa đủ mạnh. Hoạt động lữ hành cũng chịu chung những bất cập của doanh nghiệp Việt Nam. Việc phân cấp quản lý lữ hành vẫn còn chồng chéo, gây nhiều phiền hà cho doanh nghiệp. Vẫn còn hiện tượng phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp nhà nước với tư nhân, liên doanh… tạo nên những bất hợp lý, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh giữa các doanh nghiệp.

Khả năng quản lý của hầu hết doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam, cả về công nghệ, vốn và tài chính, là tương đối hạn chế. Trình độ cán bộ quản lý còn hạn chế, chưa tiếp cận tốt với kiến thức, phong cách quản lý hiện đại, đặc biệt là kinh nghiệm nghiên cứu thị trường, giao dịch thương mại điện tử và tiếp cận thị trường thế giới. Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp nhà nước hiện còn quá cồng kềnh, chưa năng động, linh hoạt.

2.4 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Qua nghiên cứu trên đây có thể thấy năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam còn rất hạn chế và yếu kém. Người viết xin được đánh giá chung năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam thông qua mô hình SWOT như sau:

2.4.1 Điểm mạnh

Với nền chính trị ổn định, Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến an toàn, hấp dẫn với du khách quốc tế. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành gia tăng số lượng khách quốc tế và quảng bá phát triển sản phẩm du lịch của mình.

Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác lợi thế, tiềm năng du lịch ở các địa phương và tạo ra các sản phẩm du lịch mới lạ, hấp dẫn du khách.

Các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam có khả năng cạnh tranh về giá ở các dịch vụ trung và cao cấp. Vì thế cần tập trung khai thác phân khúc khách du lịch có nhu cầu sử dụng dịch vụ trung và cao cấp để phát huy lợi thế cạnh tranh về giá.

2.4.2 Điểm yếu

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành trong dịch vụ du lịch giá rẻ và đại trà kém hơn các nước trong khu vực, nhất là kém cạnh tranh so với Indonesia, Thái Lan và Malaysia.

Chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam cung cấp, đặc biệt là cơ sở hạ tầng và dịch vụ vui chơi giải trí, còn rất hạn chế và yếu kém. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hơn 70% du khách không có ý định quay lại Việt Nam lần hai.

Hoạt động marketing, quảng cáo của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam còn yếu. Thế mạnh của các doanh nghiệp ít được phát huy do chiến lược quảng bá thiếu chuyên nghiệp, kém hiệu quả. Các doanh nghiệp chưa chủ động, nhạy bén trong việc xâm nhập thị trường, tham gia các hội chợ, triển lãm, sự kiện quốc tế để quảng bá thương hiệu của mình, tăng cường vị thế chiến lược của doanh nghiệp mình.

Chưa có sự phối hợp, hợp tác giữa các doanh nghiệp lữ hành với nhau cũng như với các khách sạn, nhà hàng, hãng hàng không,… cùng hoạt động vì một lợi ích chung.

Các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn khi cạnh tranh với các đối tác nước ngoài về vốn, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp lữ hành ở Việt Nam là các doanh nghiệp nhỏ với số vốn điều lệ hạn chế, không có kinh nghiệm và sự chuyên nghiệp trong vấn đề tổ chức và quản trị doanh nghiệp.

2.4.3 Thời cơ Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Tổ chức thành công Hội nghị APEC, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, uy tín và vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Trong con mắt bạn bè quốc tế, Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn, an toàn, thân thiện trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong khi các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia đang phải khắc phục những bất ổn chính trị, khủng bố. Bằng chứng là tháng 9/2007, Việt Nam lọt vào danh sách 20 điểm đến du lịch được yêu thích nhất năm theo khảo sát của Tạp chí du lịch Conde Nast Traveller, một trong hai tạp chí du lịch uy tín của Mỹ. Không chỉ có vậy, hãng nghiên cứu RNCOS cũng dự báo Việt Nam sẽ lọt vào danh sách 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới vào năm 2016. Du lịch Việt Nam đang đứng trước những vận hội mới, tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa du lịch nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, trở thành nền kinh tế mũi nhọn, một trung tâm du lịch hàng đầu của khu vực.

Có thể nói tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam đứng trước 3 cơ hội lớn:

Cơ hội đầu tiên và rõ nhất sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO là sự tăng trưởng mạnh của dòng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam.

Trên thực tế, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và việc tổ chức thành công Hội nghị APEC 2006 đã gây sự chú ý lớn đối với cộng đồng quốc tế bằng hình ảnh một điểm đến an toàn, hấp dẫn và cởi mở. Ngày càng có nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam nhiều hơn và có ý định đến tìm hiểu và làm ăn với Việt Nam. Số liệu của Tổng cục du lịch Việt Nam cho thấy lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong những năm qua liên tục tăng trưởng trên hai con số. Nếu năm 2000, Việt Nam mới thu hút được khoảng 2,12 triệu lượt khách quốc tế, thì đến năm 2008, con số này đã đạt 4,25 triệu lượt. Ước tính đến năm 2010, lượng khách quốc tế đến Việt Nam sẽ đạt 6 triệu lượt khách, nâng mức thu nhập từ 2 tỷ USD như hiện nay lên 4 – 5 tỷ USD.[24] Ngoài việc gia tăng về số lượng khách, thị trường khách cũng được mở rộng. Vào WTO, do đặc điểm của thị trường du lịch khác với thị trường hàng hóa nên du lịch có tính độc lập cao trong cạnh tranh toàn cầu, không bị phụ thuộc vào thị trường Mỹ cũng như không bị ảnh hưởng bởi các hiệp định về thuế quan và thương mại quốc tế như hàng hóa thông thường. Dự báo trong những năm tới, châu Á – Thái Bình Dương sẽ là khu vực thu hút dòng khách du lịch nhiều nhất với mức tăng trưởng bình quân 7-8%. Đây cũng chính là một điều kiện thuận lợi để Việt Nam xúc tiến các chương trình quảng bá, thu hút khách du lịch.

Cơ hội lớn thứ hai là tăng thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào du lịch để phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực phục vụ khách trong và ngoài nước. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 9 tháng đầu năm 2006 có tới 2,2 tỷ USD (chiếm gần 43% tổng vốn đầu tư cam kết vào Việt Nam) đầu tư vào lĩnh vực du lịch – dịch vụ. Các chuyên gia nhận định, trong thời gian tới đây, làn sóng đầu tư vào du lịch – dịch vụ sẽ tiếp tục gia tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực khách sạn nhà hàng. Bởi theo cam kết gia nhập WTO về du lịch, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào lĩnh vực khách sạn nhà hàng và dịch vụ đại lý lữ hành.

Một trong những điểm yếu của ngành du lịch Việt Nam là năng lực cạnh tranh và quản lý yếu, thiếu tính chuyên nghiệp. Vì vậy, gia nhập WTO chính là môi trường để các doanh nghiệp vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh nếu muốn tồn tại trên thị trường. Đây là cơ hội thứ ba mà doanh nghiệp du lịch Việt Nam được hưởng.

2.4.4 Thách thức Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Tuy nhiên, “thách thức nhiều hơn cơ hội” là lo lắng chung của nhiều doanh nghiệp lữ hành Việt Nam trong thời điểm hiện nay. Trong các năm qua các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam đã hoạt động dưới hàng rào bảo hộ chắc chắn từ phía Nhà nước, khi các công ty nước ngoài không được phép mở chi nhánh hoặc tham gia trong lĩnh vực này với 100% vốn, mà chỉ có thể hoạt động dưới dạng liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam trong một tỷ lệ vốn đóng góp khá hạn chế.

Nhưng khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì hàng rào bảo hộ sẽ được dỡ bỏ. Việt Nam phải thực hiện lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ lữ hành, trong đó cho phép các công ty nước ngoài được kinh doanh đưa khách quốc tế đến nước ta dưới hình thức đầu tư 100% vốn hoặc liên doanh với tỷ lệ góp vốn lớn hơn. Nguồn vốn lớn, thương hiệu mạnh, công nghệ du lịch cao, hệ thống tổ chức chuyên nghiệp, có mạng lưới đại lý toàn cầu và có khả năng khai thác thị trường cao, lại đang nắm giữ nguồn khách nên các công ty nước ngoài có thể áp đảo, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước.

Thực tế nhiều doanh nghiệp lữ hành trong nước chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho hội nhập khi sự cạnh tranh diễn ra quyết liệt trên nhiều phương diện. Trước hết là cạnh tranh về sản phẩm, với những lợi thế của mình, các công ty nước ngoài sẽ có chiến lược cạnh tranh nhằm phân chia thị phần khách sử dụng sản phẩm du lịch Việt Nam, như dùng hệ thống đại lý phân phối hùng mạnh của họ để giành giật thị phần khách đến Việt Nam hoặc sử dụng hãng hàng không của họ hoặc do họ khống chế thông qua việc điều tiết vận chuyển khách đến nước ta. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

Ngoài ra các công ty nước ngoài thường tận dụng khả năng tài chính để tung ra các chương trình khuyến mại trong những thời gian nhất định nhằm loại bỏ những đối thủ cạnh tranh không mạnh về tài chính và sử dụng các biện pháp tài chính để hạ giá thành sản phẩm, giành ưu đãi đặt chỗ, đặt phòng cho họ, hay thông qua những chế độ lương bổng ưu đãi để thu hút các nhà quản lý, điều hành, hướng dẫn viên giỏi của Việt Nam và từ đó khiến các doanh nghiệp nội địa suy giảm thế mạnh….

Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là là thời cơ cho các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam nâng cao vị thế của mình nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn cho các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh nếu không muốn bị đánh bại ngay trên sân nhà, nhất là khi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam đang còn rất hạn chế và yếu kém so với các đối thủ trong khu vực.

Tóm tắt chương 2

Chương 2 tập trung phân tích một cách khái quát quá trình hình thành và phát triển của ngành du lịch lữ hành ở Việt Nam, doanh thu và đóng góp của du lịch Việt Nam từ khách du lịch quốc tế, chỉ ra những thời cơ và thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, mà cụ thể là khi Việt nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Trọng tâm của chương 2 là đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của tổng thể của ngành du lịch và lữ hành Việt Nam các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành của Việt Nam. Để đánh giá được năng lực cạnh tranh của tổng thể ngành du lịch lữ hành Việt Nam,

Chương 2 bám sát theo những tiêu chí đánh giá xếp hạng trong Báo cáo năng lực cạnh tranh về du lịch lữ hành 2009 của Diễn đàn kinh tế thế giới để phân tích, so sánh với Trung Quốc và các đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippine, Campuchia…

Qua đó sẽ có một cái nhìn khái quát về năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch, từ đó đi sâu phân tích năng lực của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trong nội bộ ngành, thông qua các tiêu chí như: giá cả sản phẩm và dịch vụ, chất lượng sản phẩm dịch vụ, Marketing quảng cáo, nguồn nhân lực và vị thế tài chính, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp. Từ đó có thể thấy được những yếu kém, những khó khăn thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam. Đây cũng là cơ sở rất quan trọng để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay sẽ được trình bà y ở chương 3. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao kinh doanh lữ hành ở VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về du lịch lữ hành của Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464