Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Nhật Bản trong đàm phán thương mại quốc tế với các đối tác Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN
Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Nhật Bản đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài. Đến khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và đặt đại sứ quán tại Thủ đô của mỗi nước vào ngày 21/9/1973 thì quan hệ kinh tế thương mại Việt – Nhật càng phát triển một cách mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn. Trải qua một chặng đường dài hơn 35 năm, mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản luôn được vun đắp, củng cố đã tạo đà cho sự phát triển vì lợi ích của nhân dân hai nước, đặc biệt là đã trợ giúp tích cực cho sự phát triển của Việt Nam.
3.1.1. Những kết quả đã đạt được
3.1.1.1. Trong lĩnh vực ngoại giao
Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thực sự phát triển mạnh mẽ sau hội nghị hoà bình về Campuchia năm 1991, đánh dấu bằng sự kiện Nhật Bản nối lại viện trợ với Việt Nam. Mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước được thắt chặt bằng nhiều cuộc viếng thăm cấp cao giữa các thành viên hai Chính phủ trong những năm sau đó. Ngày 12/9/2008, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản đã phối hợp tổ chức long trọng Lễ kỷ niệm 35 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản (21/9/1973 – 21/9/2008), cùng nhau bày tỏ niềm tin tưởng rằng quan hệ Việt Nam – Nhật Bản sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, hướng tới quan hệ đối tác chiến lược, vì lợi ích lâu dài của mỗi nước, vì hoà bình, phồn vinh ở châu Á cũng như trên thế giới. Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nước đều đánh giá rất cao những ghi nhận về sự phát triển mạnh mẽ toàn diện trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, và khẳng định rằng: Việt Nam và Nhật Bản là những đối tác chân thành và cởi mở “cùng hành động, cùng tiến bước” trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, sẽ đóng góp tích cực cho hoà bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực, thông qua việc thúc đẩy quan hệ thân thiện và hợp tác trên tinh thần “ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau” trên cơ sở quan hệ đối tác bình đẳng.
3.1.1.2. Trong lĩnh vực đầu tư và viện trợ phát triển
Sự giúp đỡ to lớn và rất hiệu quả về ODA của Chính phủ và nhân dân Nhật Bản dành cho Việt Nam có ý nghĩa quan trọng góp phần vào sự phát triển nhanh chóng, bền vững về kinh tế, xã hội của Việt Nam, đặc biệt là việc xóa đói giảm nghèo ở các vùng xa, miền núi, dân tộc ít người. Nhật Bản là nhà viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam. Trong giai đoạn 1992- 2007, tổng số vốn ODA Nhật Bản cam kết dành cho Việt Nam đạt khoảng 13 tỉ USD, chiếm khoảng 30% tổng số khối lượng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam.
Về đầu tư trực tiếp, đến tháng 9/2008, Nhật Bản có hơn 928 dự án đầu tư trực tiếp (FDI) còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 9,03 tỷ USD, đứng thứ 4 trong các nước và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư trực tiếp tại Việt Nam. Tuy nhiên, Nhật Bản lại là nước đứng đầu trong thực hiện và giải ngân nguồn vốn này, với tổng số vốn thực hiện lên tới hơn 5,2 tỷ USD. Đáng chú ý là từ năm 2005, Việt Nam đã tiếp nhận hàng loạt các dự án đầu tư lớn từ các tập đoàn nổi tiếng của Nhật Bản như: Yamaha Motor với 48 triệu USD; Nippon với 145 triệu USD; Canon với 70 triệu USD. Các nhà đầu tư Nhật Bản đang có xu hướng chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào các ngành sản xuất linh kiện máy móc vận tải (23%) và linh kiện điện tử (18%).
Về phía Việt Nam, đến nay, Việt Nam có 5 dự án đầu tư sang Nhật Bản là Công ty Liên doanh Gemasa Corp (dịch vụ hàng hải), Công ty Liên doanh Yasaka – Sài Gòn, Công ty Liên doanh Dịch vụ Du lịch và Nhà hàng Việt – Nhật (Khách sạn và du lịch), Vijasgate Japan (hợp đồng sản xuất phần mềm), Công ty TNHH Phần mềm FPT Nhật Bản. Tổng vốn đầu tư sang Nhật Bản là 2,1 triệu USD, trong đó vốn thực hiện là 400.000 USD.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
3.1.1.3. Trong lĩnh vực thương mại Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Những năm 1990-1998 đã được ghi nhận như một giai đoạn hưng thịnh nhất của quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản trong toàn bộ tiến trình phát triển từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cho đến nay. Giai đoạn tiếp theo, từ năm 1999 đến 2002 quan hệ kinh tế Việt Nhật tuy vẫn tiếp tục phát triển nhưng động thái tăng trưởng đã không đều qua từng năm. Mặc dù vậy, nếu nhìn về tổng thể thời gian hơn 5 năm kể từ 1997 đến 2002, phải thừa nhận rằng vượt qua những khó khăn, thách thức riêng đối với từng nước trong bối cảnh kinh tế toàn cầu, khu vực, nhất là kinh tế Nhật Bản bị suy giảm, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Việt – Nhật vẫn được duy trì ở mức tăng trưởng tương đối ổn định như vậy đã là một cố gắng lớn, một thành công lớn của cả hai nước.
Cho đến nay, quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Nhật Bản đã vượt qua mọi trở ngại và đang ở trong một thời kỳ mới với triển vọng tốt đẹp chưa từng có. Trong quá trình đổi mới, mở rộng hội nhập và tăng cường hợp tác với các nước, Việt Nam luôn coi Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế thương mại quan trọng hàng đầu. Trong giai đoạn 2000 – 2005, tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản tăng gần 2 lần (từ 4,871 tỷ USD năm 2000 lên 8,510 tỷ USD năm 2005). Năm 2007, kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 12,5 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2006, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 6,5 tỷ USD, tăng 16,7%, và nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt khoảng 6 tỷ USD, tăng 38,2%. Trong quan hệ thương mại với Nhật Bản, Việt Nam luôn xuất siêu và đạt mức thặng dư thương mại với hơn 500 triệu USD. Trong tháng 8/2008 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đạt 687,6 triệu USD, tính chung 8 tháng đạt 5,7 tỷ USD tăng 56,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Về nhập khẩu, 8 tháng năm 2008, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Nhật Bản đạt 5,6 tỉ USD.
Về cơ cấu xuất nhập khẩu giữa hai nước, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản chủ yếu là các loại sản phẩm thô hoặc có hàm lượng chế biến thấp như: dầu thô, thuỷ hải sản, hàng dệt may, than đá, giày dép, cà phê và một số mặt hàng nông sản khác, ngoài ra là hàng tiêu dùng như dụng cụ gia đình, vali, cặp túi…, trong khi nhập khẩu từ Nhật Bản các loại hàng hóa có lượng công nghệ cao như hàng điện tử, hoá chất, máy móc xây dựng, thiết bị viễn thông, ôtô, xe máy…
3.1.2. Những cơ hội và thách thức đối với việc tăng cường và mở rộng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Nhật Bản Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
3.1.2.1. Cơ hội
Trong bối cảnh gia tăng hội nhập khu vực và toàn cầu hoá hiện nay, với tiềm năng của hai nước, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản có rất nhiều thuận lợi và cơ hội để phát triển hơn nữa về mọi mặt, đặc biệt là về lĩnh vực kinh tế thương mại.
Những bước phát triển toàn diện trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản là cơ sở để thúc đẩy mở rộng hợp tác kinh tế giữa hai nước
Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đã có những bước phát triển khá vững chắc và toàn diện về mọi mặt: văn hoá, chính trị, ngoại giao, an ninh quân sự…. Mối quan hệ hai nước được tạo lập trên cơ sở tự nguyện vì lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi nước là điều kiện hết sức quan trọng để thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản phát triển hơn nữa trong tương lai. Về chính sách đối ngoại, cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều tương đồng quan điểm trong việc ưu tiên phát triển mạnh quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện với nhau trên nhiều lĩnh vực vì lợi ích của mỗi nước, đồng thời góp phần tích cực vào hoà bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới. Trong những năm vừa qua, Chính phủ hai nước đã có những phối hợp tích cực để góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế trên nhiều lĩnh vực. Các cuộc viếng thăm cấp chính phủ giữa hai nước, giữa các tập đoàn kinh tế đã tăng cường hiểu biết lẫn nhau nhằm tìm hiểu thị trường cùng khả năng hợp tác. Rõ ràng, sự phát triển quan hệ hai nước với nền tảng cơ bản là các lợi ích chính trị, ngoại giao sẽ tạo lập cơ sở vững chắc để hướng đến tầm cao mới trong việc tăng cường hợp tác kinh tế thời gian tới.
Sự ổn định và phát triển quan hệ kinh tế hai nước trước đây và hiện nay chính là tiền đề quan trọng đối với tương lai Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Dù rằng quan hệ hai nước đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm, song khi được khởi động trở lại thường hồi phục khá nhanh chóng và có kết quả tốt đẹp. Việt Nam và Nhật Bản đã có rất nhiều nỗ lực để thúc đẩy mối quan hệ này. Những con số về ODA, đầu tư, giá trị xuất nhập khẩu đã cho thấy sự hợp tác ngày càng tăng của hai nước và điều quan trọng là tạo lập được sự tin cậy với tư cách là bạn hàng, là đối tác tin cậy trong quan hệ kinh tế ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây chính là cơ sở cần thiết quan trọng và là một thuận lợi để hai nước có thể tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế trong tương lai.
Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản phát triển ngày càng mạnh mẽ
Ngày nay, liên kết hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã trở thành xu hướng nổi trội hơn bao giờ hết và đã trở thành hiện thực ở các cấp độ, mức độ khác nhau. Mở cửa hội nhập là yêu cầu khách quan để tăng cường các hoạt động kinh tế và gắn kết các nền kinh tế với nhau. Việt Nam hiện nay đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và đang hết sức nỗ lực để khẳng định vị trí của mình trên thị trường khu vực cũng như thế giới. Trong bối cảnh đó, quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản càng có nhiều cơ hội thuận lợi để mở rộng và phát triển. Ngày 25/12/2008, tại Tokyo, Việt Nam và Nhật Bản đã ký Hiệp định Đối tác Kinh tế (VJEPA). Đây là hiệp định tự do thương mại thứ 10 mà Nhật Bản ký kết tiếp sau những hiệp định tương tự với các nền kinh tế như: Singapore, Mexico, Malaysia, Chile…, nhưng là hiệp định tự do thương mại song phương đầu tiên của Việt Nam kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. VJEPA là một thoả thuận song phương mang tính toàn diện bao gồm các lĩnh vực như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, di chuyển lao động, hợp tác về tiêu chuẩn kỹ thuật .v.v. Hiệp định sẽ khuyến khích hoạt động hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Nhật Bản, qua đó phát huy hiệu quả các tiềm năng và lợi thế của hai nước trong mối tương quan chung với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Theo đó, Nhật Bản cam kết trong vòng 10 năm sẽ đưa thuế suất xuống bằng 0% đối với 94% giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản. Đáng chú ý, Nhật Bản sẽ miễn thuế đối với 86% hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Đây là cam kết cao nhất của Nhật Bản về hàng nông sản so với các nước ASEAN khác mà Nhật Bản đã ký kết hiệp định tự do thương mại. Đổi lại, trong vòng 10 năm, Việt Nam cũng đưa thuế suất về 0% đối với 87% giá trị hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản sang Việt Nam. Việt Nam vẫn giữ được quyền bảo hộ đối với những hàng hóa đang có lợi thế đồng thời chỉ nhập khẩu những sản phẩm hiện đang rất cần cho đầu tư và sản xuất ở Việt Nam, nhất là máy móc, thiết bị, công nghệ… Phần xuất khẩu của Nhật Bản sang Việt Nam có tính chất hỗ trợ rất nhiều cho Việt Nam. Đối với ngành Dệt may, Nhật Bản cam kết giúp Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, triển khai những dự án tăng khả năng sản xuất tại chỗ của Việt Nam đối với nguyên phụ liệu cho ngành Dệt may. Đây là nội dung rất quan trọng góp phần tăng giá trị gia tăng của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản nói riêng và sang các nước khác nói chung. Trong thời gian tới, hai nước sẽ bàn cụ thể về những dự án, lĩnh vực mà ngành Dệt may Việt Nam sẽ triển khai để tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhật Bản
Việc triển khai Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản VJEPA sẽ tạo bước ngoặt cho mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Chính phủ, các doanh nghiệp và người dân hai nước Việt Nam – Nhật Bản, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện mục tiêu hướng tới quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á mà lãnh đạo hai nước đã đề ra từ năm 2006.
3.1.2.2. Khó khăn và thách thức Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Trình độ phát triển của Việt Nam và Nhật Bản quá chênh lệch
Dù quan hệ hai nước Việt Nam – Nhật Bản nói chung, quan hệ kinh tế nói riêng khá phát triển, song chưa thực sự vững chắc, thiếu tính chủ động, độc lập và thiếu chiều sâu. Sự khác biệt về chế độ chính trị cũng như mục tiêu và cơ chế vận hành nền kinh tế sẽ là trở ngại vô cùng to lớn để hai nước có thể có được tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn đề, trong đó có các vấn đề kinh tế.
Việt Nam và Nhật Bản là hai nền kinh tế có trình độ phát triển rất chênh lệch nhau: Việt Nam chưa phát triển, trong khi đó Nhật Bản đã là cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới. Trong quá trình hợp tác cùng phát triển, hai nước đã gặp nhau ở nhiều điểm về đất nước học, địa lý, nhân văn… và có thể bổ sung hỗ trợ lẫn nhau về vốn đầu tư, kỹ thuật, thị trường lao động, vật tư nguyên liệu và các loại hàng hoá. Thế nhưng, thực tế quan hệ Việt Nam
Nhật Bản hiện nay vẫn chưa tương xứng với nhu cầu và với tiềm năng hiện có của hai nước. Trong quan hệ buôn bán với Nhật Bản nhiều năm qua, hầu như Việt Nam liên tục xuất siêu, song xem xét kỹ, trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản, giá trị hàng hoá Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, khoảng 0,6% trong khi đó của Trung Quốc là 14,4%, Malaysia 2,7%, Thái Lan 2,6%. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản còn khá hạn hẹp, trên 50% vẫn là các sản phẩm thô và sản phẩm sơ chế. Dù rất coi trọng địa bàn nước ta, song dường như họ quan tâm với tư cách là một thị trường tiêu thụ mà dung lượng của nó còn quá nhỏ bé và một tiềm năng ở mức trung bình.
Nhật Bản hiện nay đang lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế
Tình hình kinh tế kém khả quan của Nhật Bản hiện nay cũng là một trở ngại sẽ tác động tiêu cực đến triển vọng quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới. Xuất khẩu sụt giảm mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy nền kinh tế lớn nhất châu Á, lớn thứ hai thế giới lâm vào suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II. Từ tháng 10 cho đến tháng 12 năm 2008, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này đã giảm 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản trong năm 2009 sẽ là âm 5,8%. Cùng sự tụt dốc của cỗ xe kinh tế, tại đất nước Mặt trời mọc, chỉ số niềm tin của các doanh nghiệp lớn cũng đã hạ xuống mức thấp nhất kể từ năm 1974, còn tỉ lệ phá sản doanh nghiệp lại tăng lên mức cao nhất trong 6 năm qua. Tình hình kinh tế này của Nhật Bản sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ hợp tác buôn bán giữa Nhật Bản và các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Khả năng của các doanh nghiệp Việt Nam và mẫu mã, chất lượng của hàng hoá Việt Nam còn nhiều hạn chế
Trình độ phát triển kinh tế, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu theo cơ chế thị trường của Việt Nam còn thấp so với một số nước Châu Á khác, trong khi đó thị trường Nhật Bản lại là một thị trường rất khắt khe, khó tính về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh kiểm dịch…Vì thế nhìn chung hàng hoá của Việt Nam tuy đã vào được thị trường Nhật Bản song uy tín và sức cạnh tranh chưa cao, còn gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí phải nhượng bộ, thua kém các đối thủ như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… Trong điều kiện hiện nay do khủng hoảng kinh tế, sức mua của thị trường Nhật càng bị giảm sút vì người Nhật thắt chặt hơn nữa các nhu cầu đầu tư và chi tiêu, do đó hàng hoá Việt Nam muốn tồn tại và xuất hiện nhiều hơn nữa ở thị trường Nhật Bản là điều không đơn giản, cần phải phấn đấu cải tiến, đổi mới mẫu mã hình thức, nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các mặt hang… Đây rõ ràng là một khó khăn, thách thức rất lớn đối với Việt Nam.
Kinh nghiệm thời gian qua cho thấy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam thường mắc phải 3 nhược điểm chính khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: Thứ nhất, doanh nghiệp Việt Nam chưa có khả năng tiếp nhận những đơn hàng lớn từ phía đối tác. Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam thường vi phạm điều khoản về thời hạn giao hàng. Thứ ba, nhiều loại hàng hoá của Việt Nam xuất sang Nhật, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ có chất lượng không đồng đều nên nhiều lô hàng thường bị loại từ các địa điểm kiểm tra chất lượng trước khi vào thị trường Nhật.
Các hoạt động xúc tiến thương mại ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức
Vấn đề thiếu những giải pháp phát triển thương mại một cách tích cực hơn cũng cần được chú trọng. Ở bất kỳ đâu người ta cũng nghe nói tới các hoạt động của văn phòng xúc tiến thương mại Jetro (Nhật Bản), Kotra (Hàn Quốc), Matrade (Malaysia) song ít khi nghe nói về các hoạt động xúc tiến thương mại của Việt Nam. Việt Nam vẫn hay phó thác việc này cho các tham tán thương mại tại đại sứ quán của mình ở nước ngoài nhưng họ mới chỉ chú trọng về các vấn đề thương mại song phương ở cấp Chính phủ hoặc chỉ đơn thuần đưa ra những giải pháp chung chung. Mặt khác chính bản thân các doanh nghiệp cũng thường ít chịu bỏ chi phí hoặc không có khả năng chi cho những chuyến đi nghiên cứu, thăm dò thị trường hay tổ chức các cuộc hội thảo ở nước ngoài để khuyếch trương sản phẩm của mình. Một thói quen của các doanh nghiệp Việt Nam là ngồi chờ khách hàng tới hỏi và mua hàng. Nhưng tại Nhật và rất nhiều quốc gia khác hiện không có thị trường bảo đảm chắc chắn cho hàng hoá Việt Nam. Ngoài Việt Nam, luôn có rất nhiều các đối thủ cạnh tranh cũng muốn cung cấp hàng hoá dịch vụ cho thị trường Nhật
Bản. Do đó, muốn thành công, các doanh nghiệp Việt Nam phải năng động và tích cực hơn.
Môi trường kinh doanh Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập
Việc duy trì tính bền vững và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam sẽ không dễ dàng. Mặc dù kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển khá nhanh trong thời gian qua, song để duy trì tốc độ tăng trưởng đó quả là một việc khó khăn khi mà sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn. Việc tìm kiếm các đối sách phù hợp cho phát triển kinh tế đang là thách thức to lớn đối với Việt Nam hiện nay và sắp tới. Trong quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước nói chung và với Nhật Bản nói riêng cũng đang tồn tại nhiều vấn đề làm nản lòng các nhà kinh doanh và đầu tư: thuế, luật pháp, tệ tham nhũng, nạn quan liêu giấy tờ… Đây sẽ là những nhân tố cản trở việc tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam – Nhật Bản.
3.2. THỰC TRẠNG ĐÀM PHÁN KÝ KẾT HỢP ĐỒNG VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
3.2.1. Những kết quả đã đạt được
Bằng những nỗ lực của mình các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua đã đạt được những thành công nhất định trong hoạt động đàm phán ký kết hợp đồng ngoại thương với doanh nghiệp Nhật Bản. Kim ngạch thương mại của hai nước đang ngày càng tăng lên, năm 2005 đạt 8,510 tỷ USD thì đến năm 2007 đã đạt khoảng 12,5 tỷ USD. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 8,5 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2007. Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Nhật Bản là thủy sản: 550 triệu USD/năm, hàng dệt may: 820 triệu USD (năm 2008). Đặc biệt kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ tăng mạnh trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà còn có cả các doanh nghiệp tư nhân đứng ra xuất khẩu mặt hàng này.
Cho đến nay đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp Việt Nam làm ăn hiệu quả thông qua việc thực hiện đàm phán kinh doanh thành công với các đối tác Nhật Bản. Những doanh nghiệp này ngày càng phát đạt, đóng góp vào sự tăng cường giao lưu kinh tế, phát triển mối quan hệ thương mại với các nước nói chung và với Nhật Bản nói riêng. Nền tảng của sự thành công đó có một phần lớn là do họ đã xác định được tầm quan trọng của đối tác Nhật Bản và tầm quan trọng của việc tìm hiểu văn hoá trong đàm phán kí kết hợp đồng ngoại thương với các doanh nghiệp Nhật Bản. Do vậy những doanh nghiệp này đã quyết định đầu tư một phần vốn cần thiết để tìm hiểu kỹ đối tác, nghiên cứu thị trường, tự trau dồi kiến thức, kỹ thuật và nghệ thuật đàm phán quốc tế… Chắc chắn trong hoạt động kinh doanh, nhạy bén trước biến động của thị trường thế giới phức tạp và nhanh chóng thích nghi được với những biến động này, vì thế họ có thể tránh được nhiều rủi ro và cạm bẫy trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong quá trình đàm phán nói riêng.
Để có được những kết quả như vậy là cả một quá trình tích luỹ kinh nghiệm đúc rút từ thực tế nhiều năm kinh doanh cùng doanh nghiệp Nhật Bản, trải qua những khó khăn vô cùng lớn tưởng chừng không thể vượt qua. Việt Nam thực hiện đổi mới kinh tế bắt đầu từ năm 1986, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mở cửa thị trường tiếp nhận đầu tư nước ngoài, phát triển thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhưng trong giai đoạn này ngoại thương vẫn chưa có điều kiện phát triển. Trên thực tế quan hệ giữa Việt Nam và các nước mới chỉ thực sự phát triển kể từ những năm 90 trở lại đây. Đặc biệt, với các đối tác Nhật Bản – một bạn hàng quan trọng của Việt Nam thì ngay từ thời kỳ đầu đã được Nhà nước và các doanh nghiệp chú ý quan tâm nhưng do hạn chế về nhiều mặt nên việc đàm phán kí kết hợp đồng ngoại thương trong thời gian này gặp nhiều khó khăn, trở ngại, nhất là về thông tin thị trường cũng như kiến thức về nghiệp vụ ngoại thương. Tuy nhiên trải qua nhiều năm, các doanh nghiệp Việt Nam đã dần khắc phục được những hạn chế đó bằng cách rút ra những bài học từ những thất bại ban đầu, để từng bước đứng vững và khẳng định mình trên thị trường thế giới, mà trước tiên là thị trường Nhật Bản. Hiện nay với những kinh nghiệm quý báu trong đàm phán thương mại với các doanh nghiệp Nhật Bản, các doanh nghiệp Việt Nam có thể dễ dàng hơn trong quan hệ với các đối tác nước ngoài khác, từ đó có thể mở rộng thị trường và tự tin tham gia vào thị trường khu vực và thế giới.
3.2.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Thực tế cho thấy, do mới tham gia vào thị trường thế giới nên các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm và chưa được cọ xát nhiều trong các cuộc đàm phán với đối tác nước ngoài nói chung và với đối tác Nhật Bản nói riêng trên thương trường quốc tế. Chính vì vậy mà còn nhiều hạn chế trong quá trình đàm phán chưa được khắc phục khiến các doanh nghiệp Việt Nam chưa dành được thế chủ động để có thể ký kết được hợp đồng với những điều khoản có lợi về phía mình
3.2.2.1 Hạn chế về mặt tìm hiểu đối tác
Tuy có chiều hướng đa nguồn nhưng thông tin mà các doanh nghiệp Việt Nam có được nhiều khi không chính xác và không mang tính hiệu quả cao. Họ mới chỉ dựa vào chính lời giới thiệu của bản thân đối tác Nhật Bản hoặc làm quen với đối tác thông qua những mối quan hệ dài và phức tạp dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị lừa do các doanh nghiệp đối tác là những doanh nghiệp đang bị phá sản hoặc không còn đủ năng lực kinh doanh. Nhìn chung doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu một nguồn thông tin đối tác chung vừa có tính tổng hợp lại vừa mang tính chi tiết cụ thể. Có tình trạng như vậy là do doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về vốn kinh doanh, mà chi phí giao dịch và điều tra hiện trường lại cao nên không có điều kiện điều tra kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, do bản thân các doanh nghiệp Việt Nam nhằm đảm bảo yếu tố cạnh tranh thị trường nên không thông báo cho nhau các thông tin về đối tác để rút kinh nghiệm trong giao dịch với họ. Mặc dù việc tìm hiểu thị trường và đối tác Nhật Bản có phần dễ dàng hơn so với tìm hiểu các đối tác nước ngoài khác do thị trường Nhật Bản là thị trường có quy củ, có luật pháp chặt chẽ và phong cách kinh doanh của người Nhật là luôn trọng chữ tín, hơn nữa nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đã đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam, thế nhưng khi tìm hiểu đối tác Nhật Bản hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ dừng ở bước tìm hiểu năng lực tài chính, kinh doanh, kiến thức sản phẩm, khả năng cung ứng hàng chứ chưa đi sâu nghiên cứu các yếu tố khác mà nhiều khi cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả đàm phán. Ví dụ như trong các doanh nghiệp Nhật Bản thường tổ chức các bộ phận thương mại, nếu doanh nghiệp Việt Nam không quan hệ tốt với bộ phận này thì khi hỏi hàng, họ sẽ từ chối, cũng có nghĩa là mọi việc làm ăn sẽ chấm dứt, dù cấp trên có muốn bao nhiêu đi nữa mà người phụ trách của bộ phận này không đồng ý thì cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì.
3.2.2.2. Hạn chế về nguồn thông tin chuẩn bị cho đàm phán
Nguồn thông tin chuẩn bị cho đàm phán nói chung còn nghèo nàn và việc đầu tư mua thông tin thương mại còn chưa được chú trọng thích đáng. Các thông tin thương mại sẵn có chưa được khai thác một cách triệt để, có hệ thống và hiệu quả. Đặc biệt các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu các thông tin thương mại có giá trị, phản ánh một cách nhạy bén và liên tục tình hình của thị trường, thông tin về quá trình hoạt động của đối tác. Các thông tin của doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ là những thông tin được đăng trên báo và tạp chí hàng ngày mà độ chính xác không cao. Các thông tin này chưa mang tính phân tích và tổng hợp tình hình, vì vậy mà khả năng phân tích cũng như khả năng tổng hợp của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế. Ví dụ như thông tin liên quan đến mặt hàng phân bón hoá học nhập khẩu thì ngoài kinh nghiệm cá nhân của người đàm phán thông qua việc theo dõi và dự đoán diễn biến thị trường quốc tế, họ chỉ có thể tham khảo chủ yếu các bản tin chung ra hàng tháng của tổ chức Nông lương khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phát hành. Trong khi đó, thông tin của các doanh nghiệp Nhật Bản là các thông tin fax và telex vào thứ sáu hàng tuần của hãng Reuter với các thông tin chi tiết của các thương vụ trong khu vực hay trên thế giới nói chung và trên thị trường Việt Nam nói riêng. Nhưng thông tin này ngay cả các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa biết để cập nhật.
3.2.2.3. Hạn chế trong khâu chuẩn bị đàm phán Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Trong giai đoạn chuẩn bị đàm phán, nhìn chung các doanh nghiệp chưa chuẩn bị chu đáo, cẩn thận, mà mới chỉ nhấn mạnh đến mục tiêu cụ thể của cuộc đàm phán chứ chưa xác định được một chiến lược chung có hiệu quả và chưa phân tích được tâm lý đàm phán của đối tác. Các kỹ năng, kỹ thuật đàm phán còn bị xem nhẹ, bỏ qua hoặc chỉ được coi là kinh nghiệm của từng cá nhân nên không có người chỉ dẫn và truyền đạt kinh nghiệm trong vấn đề này. Kinh nghiệm giao dịch, vị trí cấp bậc và thành phần công tác vẫn được coi là những vấn đề thiết yếu nhất trong việc lựa chọn và cử đoàn đàm phán. Ngoài ra, việc giao quyền chủ động sản xuất kinh doanh vào một mình giám đốc nhiều khi cũng dẫn đến việc mọi vấn đề giao dịch bị tập trung hết trong tay của giám đốc, khiến lực lượng đàm phán của phía Việt Nam bị suy yếu hoặc không phát huy được hết khả năng của từng thành viên. Sự thành công hay thất bại của cuộc đàm phán phụ thuộc rất nhiều vào phương hướng lãnh đạo và khả năng của giám đốc. Không những vậy, việc lựa chọn đoàn đàm phán mới chỉ căn cứ vào nghiệp vụ chứ chưa xét đến năng lực hay khả năng ứng đối toàn diện của người được chọn.
3.2.2.4. Hạn chế trong quá trình đàm phán
Các kỹ năng đàm phán nhằm khai thác thông tin, thuyết phục và tạo ra lợi thế trong đàm phán chưa được các doanh nghiệp Việt Nam chú trọng. Phương thức đàm phán còn đơn giản và chưa linh hoạt vì nhiều lý do khác nhau như do tiết kiệm chi phí giao dịch với nước ngoài, do trách nhiệm của cá nhân đối với công việc của tập thể còn hạn chế, do cơ chế kiểm duyệt thông tin quá chặt chẽ và phiền hà, cơ chế quản lý của Nhà nước còn mang nặng tính quan liêu bao cấp… Chính vì vậy, nó đã gây tác động không nhỏ tới việc trao đổi thông tin, đàm phán và tiến hành kinh doanh. Ngoài ra, khả năng ngoại ngữ của các cán bộ lâu năm cũng gây cản trở lớn tới việc tiếp nhận và truyền đạt thông tin. Trong khi đó, chính sách quản lý kinh doanh và con người của các doanh nghiệp Nhật Bản là dựa trên cơ sở hiệu quả công việc nên bộ máy làm việc hết sức gọn gàng. Người Nhật cho rằng việc giao dịch, báo cáo, thông tin cho nhau và thông tin với bạn hàng một cách kịp thời và chính xác là biện pháp nắm chắc khách hàng và thị trường, tạo điều kiện đẩy mạnh và mở rộng kinh doanh trong tương lai. Vì vậy mà các nhân viên phụ trách mặt hàng có quyền giao dịch trực tiếp với đối tác nước ngoài trên cơ sở tự chịu trách nhiệm bản thân đối với hiệu quả kinh doanh và lợi ích của doanh nghiệp. Đặc biệt trong quá trình đàm phán, khi đàm phán về giá cả thì vấn đề đầu tiên luôn được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm là giá trị thực tế của mặt hàng đó như thế nào còn các yếu tố ảnh hưởng có tác động điều chỉnh đến mức giá đó thì vẫn chưa được quan tâm cân nhắc đến. Chỉ cần rẻ là mua mà không xét tới chế độ bảo dưỡng sản phẩm, bảo hành hàng hoá của các loại mặt hàng như thế nào. Hơn nữa các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa nhanh nhạy trong việc phân tích thành phần giá thực tế của một hệ thống. Ví dụ, doanh nghiệp có thể thành công trong việc yêu cầu giảm giá đối với một thiết bị nào đó trong toàn bộ dây chuyền sản xuất, nhưng lại không đủ thông tin và kỹ năng để có thể phân tích thấy được rằng, đối tác Nhật Bản có thể đã tăng giá ở một thiết bị khác cùng một hệ thống đó, dẫn đến tổng thể giá cả của cả dây chuyền thiết bị không có gì thay đổi.
3.3. GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỂU BIẾT VÀ VẬN DỤNG VĂN HOÁ KINH DOANH TRONG ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VỚI ĐỐI TÁC NHẬT BẢN Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
3.3.1. Các giải pháp đối với Nhà nước
3.3.1.1. Đẩy mạnh giao lưu kinh tế đi đôi với giao lưu văn hoá
Trong thời đại toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, việc mở rộng các loại hình kinh doanh quốc tế và đẩy mạnh giao lưu kinh tế là điều tất yếu. Nhưng giao lưu kinh tế không chỉ đơn thuần là xuất khẩu những hàng hoá nguyên liệu hoặc hàng gia công mang nhãn mác của nước ngoài và nhập khẩu về những hàng hoá thoả mãn nhu cầu xa xỉ của một số người. Việc buôn bán với nước ngoài thông qua trao đổi hàng hoá còn nhằm giới thiệu về văn hoá, phong tục tập quán của mình và tìm hiểu về văn hoá của nước ngoài. Mỗi một sản phẩm đều là kết tinh của trình độ phát triển văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc. Cần phải làm sao cho giao lưu kinh tế sẽ mở đường cho giao lưu văn hoá và giao lưu văn hoá lại thúc đẩy giao lưu kinh tế, mở ra những cơ hội thâm nhập thị trường, học hỏi kỹ năng kinh doanh.
Nhật Bản là một đất nước có nền văn hoá độc đáo và luôn coi trọng truyền thống, do đó muốn tạo dựng quan hệ lâu dài với họ, các doanh nghiệp Việt Nam càng phải coi trọng vấn đề này. Phía Việt Nam có thể tổ chức nhiều hơn những cuộc giao lưu văn hoá Việt – Nhật, trong đó tiến hành giới thiệu những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam như nghệ thuật rối nước, sơn mài, khảm trai…, đồng thời đưa ra giới thiệu một số mặt hàng truyền thống của Việt Nam, từ đó sẽ tạo được sự quan tâm đến Việt Nam nói chung và hàng hoá Việt Nam nói riêng. Thông qua đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ hiểu hơn về đất nước, con người và văn hoá Nhật Bản, tạo điều kiện cho việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp về mọi mặt với đất nước này. Ngoài ra, còn có thể tổ chức giao lưu về văn nghệ, thể thao…, tận dụng mọi hình thức để giới thiệu với người Nhật về một đất nước Việt Nam có thiên nhiên tươi đẹp, con người dễ mến, đang trên đà phát triển, nhằm nâng cao hình ảnh của Việt Nam trong mắt họ và tạo nên những cơ hội hợp tác làm ăn lâu dài.
3.3.1.2. Tăng cường thông tin và giáo dục về văn hoá kinh doanh
Trong thời gian qua, văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nhân…là những vấn đề thường xuyên được đề cập đến trên thông tin đại chúng. Nhưng việc thiếu kiến thức về văn hoá kinh doanh trong một số doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn là một vấn đề đáng lo ngại. Một số hội thảo về văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân cũng đã được các viện nghiên cứu như Viện Quản trị doanh nghiệp, Viện Kinh tế thế giới… tổ chức. Tuy nhiên, các cuộc hội thảo này còn mang tính chất toạ đàm chứ chưa đưa ra được những khái niệm chính thức, đặc biệt là chưa có những số liệu cụ thể về vai trò của văn hoá kinh doanh đối với sự thành bại của doanh nghiệp và trong đàm phán với các đối tác nước ngoài. Chính vì vậy, nội dung những cuộc hội thảo đó chưa có tính thuyết phục cao. Trong thời gian tới, công tác tuyên truyền và thông tin này cần được đẩy mạnh hơn, với những nội dung thiết thực, giải thích rõ tầm quan trọng của văn hoá kinh doanh, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết về văn hoá kinh doanh của các đối tác nước ngoài, đặc biệt là về một đối tác quan trọng như Nhật Bản, để doanh nghiệp có thể vận dụng vào công việc của mình. Các cơ quan xúc tiến thương mại như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có thể xuất bản các cuốn sách giới thiệu về vai trò của văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp… trên thế giới. Các cơ quan thương vụ ở nước ngoài có thể đưa ra những cuốn sách hướng dẫn việc kinh doanh tại từng thị trường, bao gồm cả những nội dung về văn hoá kinh doanh của thị trường đó. Đây sẽ là chỉ dẫn bổ ích cho các doanh nghiệp, đồng thời nâng cao vai trò của những cơ quan này trong tiến trình đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng thế giới.
3.3.1.3. Đưa các nội dung về văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp vào giảng dạy tại các trường đại học Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Hiện nay, ngay trong nội dung giảng dạy tại các trường đại học ở Việt Nam, các vấn đề như văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh… đều chưa được coi trọng. Trong khi các vấn đề này từ lâu đã trở thành một nội dung giảng dạy bắt buộc tại các trường đại học ở nhiều nước phát triển trên thế giới, trong đó Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Để có thể xây dựng ý thức về văn hoá kinh doanh cho các doanh nhân trong tương lai, các trường đại học kinh tế cần đưa những vấn đề này vào chương trình giảng dạy như một môn học chính thức, trong đó cung cấp những nội dung thiết thực, những thông tin về các nền văn hoá kinh doanh đặc trưng trên thế giới như Nhật, Anh, Mỹ… Việc đưa văn hoá kinh doanh và các nội dung có liên quan vào chương trình giảng dạy chính thức, có giáo trình cụ thể, với các khái niệm chính xác sẽ góp phần thống nhất cách hiểu về những phạm trù còn tương đối mới mẻ này. Chỉ có như vậy mới có thể hy vọng lớp doanh nhân mới của Việt Nam sẽ quan tâm và hiểu biết hơn về vấn đề này, để từ đó góp phần nâng cao hơn nữa vị thế của Việt Nam trong mắt các đối tác nước ngoài.
3.3.1.4. Thành lập các cơ quan tư vấn về văn hoá kinh doanh và xây dựng văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp là một công cụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, ở Việt Nam, số doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề này còn rất ít ỏi. Thời gian gần đây, nhờ sự tuyên truyền rộng rãi của các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu quan tâm đến văn hoá kinh doanh và xây dựng văn hoá doanh nghiệp, nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu, không biết tìm kiếm thông tin và ứng dụng những thông tin đó như thế nào. Một số trung tâm nắm bắt được nhu cầu này, đã quảng cáo tư vấn về văn hoá kinh doanh và xây dựng văn hoá doanh nghiệp, tuy nhiên chương trình và nội dung lại không thống nhất. Vậy nên chăng các viện nghiên cứu như Viện Quản trị doanh nghiệp có thể kết hợp với các trường đại học, đưa ra một chương trình thống nhất về văn hoá kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp, nhằm tư vấn cho các doanh nghiệp có nhu cầu? Bằng cách này, các doanh nghiệp sẽ có được sự trợ giúp đảm bảo khi tìm hiểu về văn hoá kinh doanh và xây dựng văn hoá doanh nghiệp, còn các viện nghiên cứu và các trường đại học sẽ phát huy tích cực hơn vai trò của mình, sâu sát hơn với tình hình thực tế của các doanh nghiệp. Điều này cũng sẽ rất có lợi cho công cuộc nghiên cứu và giảng dạy của các trường và viện.
3.3.2. Các giải pháp đối với doanh nghiệp Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
3.3.2.1. Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của đàm phán và những khác biệt về văn hoá kinh doanh trong đàm phán thương mại quốc tế
Kết quả của đàm phán ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì thế các doanh nghiệp phải coi trọng hơn nữa công tác đàm phán và đầu tư thích đáng. Đối với công ty kinh doanh xuất nhập khẩu thì đàm phán thương mại quốc tế là khâu quyết định hiệu quả, chất lượng kinh doanh. Nhật Bản là một thị trường khó tính, vì thế sẽ rất đáng tiếc nếu như hàng hoá của chúng ta đã đáp ứng được yêu cầu của họ mà vẫn không ký được hợp đồng do những yếu kém trong khâu đàm phán. Có làm tốt công tác đàm phán thì hai bên mới có thể phát triển mối quan hệ làm ăn lâu dài, tin tưởng lẫn nhau.
Nhật Bản và Việt Nam đều có nền văn hoá mang đậm bản sắc văn hoá phương Đông, tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình, văn hoá mỗi nước lại có một đặc trưng riêng. Là một nền kinh tế phát triển, hiện đại, Nhật Bản đã xây dựng cho mình một văn hoá kinh doanh riêng rất dễ nhận ra. Nhưng điều đó không có nghĩa là các doanh nghiệp Việt Nam có thể dễ dàng thích ứng với văn hoá kinh doanh của họ nếu không hiểu biết cặn kẽ và đánh giá đúng vai trò của nó đối với hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay nếu có tìm hiểu trước khi đàm phán cũng mới chỉ dừng lại ở những đánh giá bề ngoài chứ ít khi chịu đi sâu phân tích để có cái nhìn thấu đáo, triệt để hơn nhằm phục vụ tốt cho công tác đàm phán. Có thể một phần là do các hợp đồng của chúng ta không phải bao giờ cũng có giá trị lớn, các doanh nghiệp không muốn phải đầu tư chuẩn bị quá chu đáo vì sợ lãng phí không cần thiết. Thế nhưng đã xác định làm ăn lâu dài với người Nhật thì chúng ta đâu chỉ đàm phán với họ một lần. Việc tìm hiểu văn hoá và văn hóa kinh doanh của họ không phải chỉ trước mỗi lần đàm phán mới cần thiết. Chính sự chủ quan “nước đến chân mới nhảy” của các doanh nghiệp là một nguyên nhân dẫn đến sự bị động, gấp gáp trong công tác thu thập, nghiên cứu thông tin và các công tác chuẩn bị khác. Do vậy các doanh nghiệp cần chủ động hơn nữa trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và chuẩn bị cho công tác đàm phán.
3.3.2.2. Nâng cao trình độ, phẩm chất của cán bộ đàm phán Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Nhân tố con người được coi là một nguồn lực quan trọng. Đàm phán là một hoạt động giao tiếp mà con người là chủ thể. Chính vì thế, phẩm chất, năng lực của nhà đàm phán trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả đàm phán nói riêng và kết quả kinh doanh nói chung. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp do không chú trọng đến vấn đề này nên đã để những người thiếu phẩm chất, năng lực đi đàm phán với đối tác nước ngoài gây ảnh hưởng xấu đến kết quả đàm phán và uy tín của doanh nghiệp. Ví dụ như trường hợp cán bộ của Việt Nam gửi giá trước cho đối tác, đang đàm phán tự dưng bỏ ra ngoài với lý do là “cho đỡ căng thẳng”. Những hiện tượng đó là rất khó chấp nhận, nhất là khi đàm phán với những đối tác kỹ tính như người Nhật. Các doanh nghiệp về lâu dài, phải đào tạo cho mình một đội ngũ cán bộ đàm phán có đầy đủ phẩm chất và trình độ chuyên môn. Cụ thể, một số tiêu chuẩn đối với cán bộ đàm phán là:
Về phẩm chất đạo đức:
- Trung thực: Thể hiện sự nhất quán giữa nói và làm, không dùng các thủ đoạn gian dối để mưu lợi cho bản thân.
- Tôn trọng đối tác: Coi trọng đối tác và văn hoá của họ, đồng thời coi trọng chữ tín trong giao tiếp, quan hệ kinh doanh.
- Có chí tiến thủ: Không ngừng tu dưỡng, học tập và nỗ lực vươn lên. Không ngại khó, ngại khổ và chấp nhận những khó khăn do đòi hỏi của công tác.
- Có trách nhiệm: Phải gắn trách nhiệm của mình với thành công, thất bại của mỗi cuộc đàm phán để luôn cố gắng, nỗ lực vì kết quả tốt hơn cho toàn công ty.
Về năng lực:
- Hiểu biết về thị trường: Bao gồm hiểu biết về thị trường, về đối tác và các đối thủ cạnh tranh.
- Hiểu biết về nghiệp vụ: Hiểu biết tinh thông về nghiệp vụ xuất nhập khẩu, về ngành hàng, về luật pháp, về giao dịch thương mại quốc tế…
- Hiểu biết về văn hoá, con người đối tác Nhật và có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ kinh doanh.
- Linh hoạt, nhạy bén và có đầu óc phán đoán, khôn ngoan.
Ngoài ra, nhà đàm phán nếu không thể nghe nói thành thạo thì ít nhất cũng cần phải tìm hiểu và có hiểu biết về ngôn ngữ của đối tác nước ngoài. Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Các doanh nghiệp cần thành lập bộ phận huấn luyện, đào tạo cho nhân viên mình về đàm phán. Cán bộ đàm phán phải được trang bị những khoá đào tạo ngắn hoặc dài hạn, và chương trình đào tạo này nên diễn ra liên tục, thường xuyên. Doanh nghiệp cũng cần tổ chức các hội thảo về vấn đề đàm phán để các cán bộ đàm phán có cơ hội học hỏi, trao đổi kinh nghiệm. Bên cạnh đó, để động viên tinh thần và thúc đẩy cán bộ đàm phán, doanh nghiệp nên có chế độ khen thưởng đối với những cá nhân xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ bằng các hình thức như tuyên dương, tặng giấy khen, thưởng tiền… Chính những hoạt động này sẽ tác động tích cực đến tâm lý làm việc của các nhà đàm phán, giúp họ không ngừng vươn lên hoàn thiện bản thân, đóng góp tích cực cho doanh nghiệp.
3.3.2.3. Tăng cường các hoạt động tìm hiểu thị trưòng, tìm hiểu đối tác
Trên thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tỏ ra chủ động tìm kiếm bạn hàng, phần nhiều là ngồi chờ các đối tác Nhật tự tìm đến mà chưa chú trọng đến công tác quảng bá về doanh nghiệp thông qua hình thức tham gia hội chợ, triển lãm, xúc tiến thương mại ở nước bạn. Điều này không những hạn chế cơ hội tiếp cận với các đối tác tiềm năng mà còn hạn chế cơ hội cho các doanh nghiệp cọ xát, tìm hiểu về đối tác, thị trường để bổ sung những kiến thức còn thiếu. Nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là các doanh nghiệp còn mang tâm lý bị động của thời bao cấp và còn sợ tốn chi phí hoặc chưa đủ kinh phí cho những hoạt động ấy.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu thông tin. Có hai mảng thông tin mà doanh nghiệp của ta còn lúng túng. Thứ nhất là các doanh nghiệp khó mà nắm bắt kịp những thay đổi của chính sách Nhà nước, nhất là chính sách về thuế. Thứ hai là thiếu những thông tin về chiều sâu thị trường nước ngoài như các thông tin về hàng rào phi thuế, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch, an toàn thực phẩm, đặc biệt là các thông tin về văn hoá kinh doanh của đối tác. Một số doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác nhau thì lại gặp vấn đề về xử lý và nhận định thông tin.
Các doanh nghiệp nếu muốn mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh với đối tác Nhật Bản cần chủ động và tích cực hơn nữa trong công tác này. Vấn đề kinh phí và tiềm lực là rất quan trọng nhưng chúng ta cần phải biết đầu tư để thu được những lợi ích lớn hơn. Các doanh nghiệp cũng có thể xin sự trợ giúp, hỗ trợ của các cơ quan chức năng liên quan, các tổ chức xúc tiến thương mại trong và ngoài nước.
Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của các phương tiện thông tin, các doanh nghiệp có nhiều cách tiếp cận với thông tin và với bạn hàng, không nhất thiết là bao giờ cũng phải gặp trực tiếp nếu chưa đủ điều kiện và quy mô giao dịch không lớn. Chỉ có cách tích cực, năng động và biết tận dụng mọi cơ hội, mọi nguồn thông tin thì các doanh nghiệp mới có thể tự mình vượt qua những khó khăn do hạn chế về mặt tiềm lực tài chính.
3.3.2.4. Xây dựng một thương hiệu vững chắc Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Đây là một trong những vấn đề bức xúc nhất của các doanh nghiệp Việt Nam. Khi xâm nhập vào một thị trường nào đó thì thương hiệu là vấn đề sống còn. Với thị trường Nhật là một thị trường mới đầy tiềm năng thì việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu càng phải được coi trọng. Hiện nay, Việt Nam đang xuất khẩu rất mạnh các mặt hàng giày dép, quần áo, thủ công mỹ nghệ, thuỷ hải sản, hàng nhựa… nhưng 90% vẫn là hàng gia công và mang thương hiệu do đối tác ấn định. Ví dụ như tại Nhật Bản, Trung Nguyên đã phải nhượng bộ cho tập đoàn Sanki để họ đồng ý trả lại quyền sở hữu nhãn hiệu cho Trung Nguyên, đổi lại họ được quyền khai thác độc quyền nhãn hiệu Trung Nguyên trên thị trường Nhật Bản trong vòng 20 năm. Với người tiêu dùng Nhật Bản, một thương hiệu vững chắc cũng đồng nghĩa với việc chất lượng có thể tin tưởng và được ưa chuộng. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của thương hiệu dẫn đến chậm trễ trong việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá trên thị trường nước ngoài. Những bài học kinh nghiệm ở các thị trường Mỹ, Pháp, Anh cũng cho thấy hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam bị đối tác của mình đăng ký nhãn hiệu, sau đó thương thảo để nhượng lại chính nhãn hiệu này với giá cao. Thông thường việc đăng ký một nhãn hiệu mất khoảng 1.200-1.500 USD nhưng việc mua lại thì mất khoảng 10.000 đến 100.000 USD.
3.3.2.5. Xây dựng văn hoá kinh doanh cho riêng mình
Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa xây dựng được cho mình một triết lý kinh doanh, văn hoá kinh doanh riêng. Hiện tượng kinh doanh thiếu văn hoá như làm hàng nhái, hàng giả, trốn thuế… vẫn còn phổ biến. Phần lớn các doanh nghiệp nước ta thuộc loại doanh nghiệp nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng và kiểu dáng chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng và biến động của thị trường.
Kinh doanh trên thị trường quốc tế với nhiều đòi hỏi khắt khe và cạnh tranh khốc liệt, việc không có một triết lý kinh doanh đúng đắn sẽ không thể giúp doanh nghiệp trụ vững được. Bán được hàng là một chuyện nhưng được sự tín nhiệm lâu dài của khách hàng lại là một chuyện hoàn toàn khác. Để đạt được điều đó, doanh nghiệp phải có một triết lý kinh doanh, một chiến lược kinh doanh dài hạn và đúng đắn. Tập đoàn Sumimoto của Nhật – một tập đoàn lớn với rất nhiều chi nhánh ở khắp nơi trên thế giới luôn luôn khẳng định rằng: “Việc tồn tại tên công ty Sumimoto gần 400 năm qua là một bằng chứng vững chắc cho triết lý kinh doanh của chúng tôi. Có thể nói một cách tin tưởng rằng chúng tôi là những người tạo ra thị trường toàn cầu. Muốn có vị trí toàn cầu đòi hỏi phải có tầm nhìn toàn cầu và dài hạn, và trên cơ sở đó xây dựng mối quan hệ kinh doanh”. Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Muốn tạo lập, phát huy được các triết lý, văn hoá kinh doanh tích cực thì đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Theo xu thế phát triển hiện nay thì lối kinh doanh chộp giật, thiếu văn hoá sẽ không thể tồn tại được. Doanh nghiệp có thể đạt được lợi nhuận nhất thời nhưng không thể phát triển lâu dài và bền vững. Triết lý phát triển bền vững là một lối ứng xử và phương thức hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các nguyên tắc như:
- Coi con người, mà trực tiếp là cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp là nguồn lực trung tâm và là trọng tâm của các quá trình đầu tư phát triển. Do vậy, trong công tác quản lý doanh nghiệp cần phải tạo ra môi trường và cơ hội thuận lợi cho các cá nhân phát huy năng lực, trình độ để đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của doanh nghiệp.
- Phát triển kinh doanh và nâng cao lợi nhuận nhưng không dẫn đến tình trạng làm huỷ hoại môi trường sinh thái, tài nguyên đất nước và những lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Song song với việc phát triển kinh doanh, nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích chung của xã hội và góp phần duy trì, bảo vệ những lợi ích đó.
Xây dựng văn hoá kinh doanh riêng cho mỗi doanh nghiệp bao gồm các công việc như cải tiến bộ máy quản lý, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng môi trường văn hoá doanh nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy tính sáng tạo của người lao động. Đồng thời để phát triển nội lực và nâng cao lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải biết kinh doanh phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc. Phát huy được bản sắc văn hoá dân tộc sẽ giúp các nhà kinh doanh tạo ra các công nghệ, cách thức sản xuất phù hợp và có hiệu quả cao. Ví dụ, tâm lý người nông dân Việt Nam là ăn chắc mặc bền, nên những sản phẩm có đặc tính này thường bán chạy ở thị trường nông thôn như đồ nhôm Liên Xô, xe Honda Cub 81 Nhật Bản.
Cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế bằng việc nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm là con đường đi tất yếu của doanh nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở đó, tạo uy tín sâu rộng cho hàng hoá của chúng ta trên thị trường thế giới. Hàng hoá Việt Nam có chất lượng cao và có uy tín đối với người tiêu dùng trên thế giới là một yếu tố của văn hoá kinh doanh Việt Nam.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp biết phát huy nhân tố văn hoá trong sản xuất thì có thể làm gia tăng giá trị trong sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, chẳng hạn như sử dụng các hoạ tiết, hoa văn dân tộc trong thiết kế các sản phẩm may mặc hay hình vẽ của tranh Đông Hồ trên đồ gốm sứ… thì sản phẩm của Việt Nam sẽ mang giá trị văn hoá dân tộc sâu sắc và do vậy giá trị sản phẩm cũng được nâng lên. Mặt khác, cần khai thác, phát huy các sản phẩm dịch vụ đó một cách có văn hoá. Tương tự, khi làm ăn với đối tác Nhật Bản cần nghiên cứu văn hoá, thị hiếu tiêu dùng của họ để sản xuất ra những hàng hoá được họ chấp nhận và yêu thích.
Để xây dựng văn hoá kinh doanh cho riêng mình đòi hỏi doanh nghiệp phải có cái nhìn dài hạn, chiến lược và mất rất nhiều thời gian, tiền của cũng như sự nỗ lực chung của tất cả các thành viên.
3.3.2.6. Chú ý thành lập hiệp hội ngành hàng phù hợp Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Các doanh nghiệp cùng ngành cũng nên thành lập các hiệp hội của ngành đó, tạo nên sức mạnh tổng hợp để có thể hỗ trợ nhau trong quá trình kinh doanh. Khi gặp các vấn đề khó khăn, nhiều khi cá nhân từng doanh nghiệp không thể giải quyết được, song nếu như có một tổ chức, hiệp hội đứng ra đại diện tập hợp sức mạnh của rất nhiều doanh nghiệp trong ngành thì sẽ không còn là vấn đề quá khó để có thể giải quyết. Hơn nữa, hiệp hội này sẽ đóng vai trò như là cơ quan đại diện cho chính các doanh nghiệp đó nên các doanh nghiệp này sẽ tạo được độ tin cậy cao hơn với đối tác Nhật Bản. Điều này rất có ý nghĩa khi đàm phán giao dịch với các doanh nghiệp Nhật Bản vì người Nhật là những người rất coi trọng các mối quan hệ và họ thường có xu hướng thích giao dịch với các doanh nghiệp thông qua một tổ chức đáng tin cậy nào đó.
Với một tiền đề vững chắc và những điều kiện thuận lợi, quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản ngày càng có nhiều triển vọng và cơ hội phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội đó, nhiều khó khăn và thách thức nghiêm trọng cũng xuất hiện. Sự cạnh tranh gay gắt trong tiến trình mở cửa đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung bộc lộ rất nhiều yếu điểm, mà một trong những nhược điểm đó là chưa quan tâm đúng mức đến văn hoá kinh doanh và chưa có một nền tảng văn hoá kinh doanh vững chắc. Đã có khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam tiến hành đàm phán thương mại với đối tác Nhật Bản, nhưng văn hoá và văn hoá kinh doanh Nhật Bản thì lại chưa thực sự được các nhà đàm phán Việt Nam quan tâm tìm hiểu trước khi ngồi vào bàn đàm phán, dẫn đến việc không thể khắc phục các rào cản về văn hoá và không dành được thế chủ động để ký kết hợp đồng với những điều khoản có lợi về phía mình. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa xây dựng được một nền văn hoá kinh doanh đặc trưng để có thể tự tin khẳng định mình và dành ưu thế trước các đối tác Nhật Bản. Văn hoá kinh doanh là một phạm trù rộng lớn và phức tạp, nên việc nâng cao hiểu biết nhằm vận dụng hiệu quả văn hoá kinh doanh trong đàm phán thương mại quốc tế và việc xây dựng phát triển văn hoá kinh doanh cần có sự định hướng của Nhà nước, sự tham gia của các viện nghiên cứu, các trường đại học và nhất là sự hưởng ứng của các doanh nghiệp. Phải làm cho vấn đề về văn hoá kinh doanh được đánh giá đúng mức và thực sự phát huy được hết vai trò của nó. Có như vậy mới có thể thúc đẩy quan hệ hợp tác lâu dài trên cơ sở hiểu biết tôn trọng lẫn nhau giữa Việt Nam với Nhật Bản nói riêng và với các nước trên thế giới nói chung, đồng thời có thể xây dựng được một nền văn hoá kinh doanh Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.
KẾT LUẬN
Văn hoá kinh doanh là một khái niệm đã có từ lâu trên thế giới, song vẫn còn là một vấn đề khá mới và mở ở Việt Nam. Trong đàm phán thương mại quốc tế, văn hoá kinh doanh có thể xem là chìa khoá mở ra sự thành công cho các doanh nghiệp. Nhật Bản đã tạo được một nền văn hoá kinh doanh đặc trưng của mình và những giá trị văn hoá đó đã góp phần giúp họ từ một nước Nhật nghèo tài nguyên, bị thất trận, bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh trở thành một cường quốc kinh tế lớn khiến cả thế giới phải kinh ngạc và thán phục. Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
Với đề tài “Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Nhật Bản trong đàm phán thương mại quốc tế với các đối tác Việt Nam”, bài khoá luận đã đi sâu nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đối chiếu và đã đạt được một số kết quả như sau:
Chương I đã đưa ra được cái nhìn tổng quát và có hệ thống về văn hoá kinh doanh và đàm phán thương mại quốc tế, với những khái niệm, đặc điểm, các nhân tố cấu thành…, từ đó chỉ rõ vai trò và ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đối với đàm phán thương mại quốc tế. Đây là cơ sở lý luận cho những tìm hiểu và đánh giá về thực trạng ở những phần sau.
Trong chương II, dựa trên những hiểu biết về đất nước, văn hoá và con người Nhật Bản, người viết đã nghiên cứu chi tiết những đặc trưng của văn hoá kinh doanh Nhật Bản, đồng thời so sánh với một số nét văn hoá kinh doanh Việt Nam, cho thấy văn hoá kinh doanh ảnh hưởng như thế nào đến quá trình đàm phán giữa các doanh nghiệp Nhật Bản với các doanh nghiệp Việt Nam, từ giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn tiếp xúc, thương lượng đến giai đoạn sau đàm phán. Chương này cũng rút ra được những bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam trong đàm phán thương mại quốc tế với các doanh nghiệp Nhật Bản.
Trong chương III, trên cơ sở những nghiên cứu ở chương II và đánh giá thực trạng quan hệ kinh tế cũng như thực trạng đàm phán thương mại Việt Nam – Nhật Bản những năm gần đây, người viết đã chỉ ra những thuận lợi và hạn chế trong việc đàm phán ký kết hợp đồng của các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp Nhật Bản, từ đó đề xuất hai nhóm giải pháp, bao gồm một nhóm giải pháp đối với Nhà nước và một nhóm giải pháp cho các doanh nghiệp, nhằm khắc phục những trở ngại về văn hóa trong đàm phán kinh doanh với các đối tác Nhật Bản, góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại Việt – Nhật trên tinh thần tin cậy và tôn trọng lẫn nhau cùng hợp tác lâu dài.
Hiểu biết càng sâu sắc về văn hoá kinh doanh Nhật Bản, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có càng nhiều cơ hội thành công trong đàm phán thương mại với người Nhật. Và chúng ta cũng có quyền hy vọng rằng, trong tương lai không xa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ xây dựng được nền văn hoá kinh doanh đặc trưng của riêng mình, để có thể tự tin khẳng định mình trước các đối tác Nhật Bản và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.
Về cơ bản, khóa luận đã đáp ứng đúng mục đích đề ra ban đầu. Tuy nhiên do thời gian tìm hiểu và trình độ chuyên môn còn hạn chế, những thiếu sót là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp đỡ và bổ sung từ phía thầy cô giúp em hoàn thiện bài viết của mình. Khóa luận: Giải pháp nâng cao Việt Nam đối tác với Nhật Bản
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
