Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU – Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG NHỮNG NĂM TỚI
1. Định hướng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU đến năm 2010
Trong tình hình quốc tế hiện nay, phát triển quan hệ thương mại với EU cần đặt ra trong tổng thể chiến lược phát triển đối ngoại của ta nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Định hướng chung là mở rộng quan hệ kinh tế-thương mại trên cơ sở hai bên cùng có lợi và cùng phát triển, làm nền tảng của sự hợp tác bền vững và lâu dài giữa Việt Nam và EU theo hướng:
- Coi EU là một trong những thị trường quan trọng hàng đầu của Việt Nam, tích cực, chủ động xúc tiến thương mại, tìm đối tác để không ngừng nâng cao kim ngạch buôn bán hai chiều.
- Tranh thủ EU duy trì cơ chế GSP đối với Việt Nam với tư cách là một nước đang phát triển có thu nhập thấp, thừa nhận nền kinh tế Việt Nam là “nền kinh tế thị trường”.
- Trước mắt tập trung xuất khẩu vào thị trường EU các mặt hàng nông sản, khoáng sản và hàng tiêu dùng sử dụng nhiều lao động (hàng may mặc, giày dép, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, cà phê, đồ gỗ…) với chất lượng, mẫu mã và tiêu chuẩn vệ sinh phù hợp với đòi hỏi cao của người tiêu dùng Châu Âu; đồng thời gia tăng tỷ trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, kể cả thông qua liên doanh, gia công cho các doanh nghiệp Châu Âu và từng bước xây dựng thương hiệu Việt Nam cho các sản phẩm xuất khẩu sang EU.
- Chú trọng nhập khẩu từ EU công nghệ tiên tiến gắn với việc chuyển giao công nghệ, bí quyết kỹ thuật nhất là về công nghệ thông tin và công nghệ tin học.
- Thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết song phương với EU và các cam kết trong WTO về mở cửa thị trường dịch vụ, thông qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng hàng hóa dịch vụ.
- Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp từ các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty đa quốc gia hàng đầu của các nước thành viên EU vào các ngành công nghiệp chế tạo, công nghệ cao như tin học, viễn thông, sinh học, năng lượng, xây dựng kết cấu hạ tầng, du lịch, dịch vụ…
2. Mục tiêu xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU đến năm 2010
Phấn đấu đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU tăng đến 8 tỷ USD, nhập khẩu tăng lên 5 tỷ USD. Về mặt hàng, căn cứ thành tích xuất khẩu của những năm qua và những điều kiện thuận lợi hiện có, dự báo xuất khẩu các mặt hàng dệt may, thủy sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, túi xách, thủ công mỹ nghệ, điện tử vi tính, sản phẩm nhựa vào thị trường EU có khả năng tiếp tục tăng trưởng khá. Từ nay đến năm 2010 dự kiến tăng trung bình nhóm hàng nông thủy sản khoảng 20-25%/năm nhờ sự đầu tư máy móc thiết bị sản xuất, đổi mới công nghệ chế biến nhằm tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm, đưa tỷ lệ hàng có tỷ lệ chế biến sâu tới 60-70%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ tăng khoảng 15-20% nhờ tăng cường và mở rộng quan hệ trực tiếp với các đối tác nhập khẩu tại các nước thành viên mới, giảm xuất khẩu qua khâu trung gian, mở rộng kênh tiêu thụ sản phẩm. Nhóm hàng linh kiện điện tử và vi tính, thiết bị điện tử dự kiến tăng 30% vì đây là nhóm hàng Việt Nam đang phát triển nhanh và có sức cạnh tranh trên thị trường Châu Âu về chất lượng. Dự kiến đây sẽ là nhóm hàng chủ lực xuất khẩu sang EU trong tương lai gần.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
II. GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ TRƯỜNG EU Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
1. Kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ngoài khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường EU
1.1. Kinh nghiệm xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc
Trung Quốc là nhà cung cấp hàng may mặc lớn nhất trên thị trường EU, hàng may mặc Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất so với nhiều đối thủ khác trên thị trường này với nhiều lợi thế về số lượng hàng xuất khẩu lớn, chất lượng tốt, đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Hiện nay, Trung Quốc đang có ý định đẩy mạnh sản xuất với khối lượng lớn hàng may mặc nhưng cũng không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với các sản phẩm khác trên thị trường EU. Một số biện pháp mà Trung Quốc đã áp dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may nước mình trước các đối thủ khác trên thị trường EU là:
Nâng cao chất lượng sản phẩm
Trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp Trung Quốc đã đổi mới đồng loạt máy móc thiết bị hiện đại sản xuất hàng may mặc, những máy may, là hấp, cắt, thêu được nhập khẩu từ Nhật Bản, Châu Âu. Bên cạnh đó Trung Quốc đã tự sản xuất được nhiều thiết bị hiện đại phục vụ cho ngành may. Do được đổi mới đầu tư đồng bộ máy móc đã làm cho hàng may mặc của Trung Quốc ngày càng có chất lượng cao hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm có chất lượng của khách hàng EU. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Giá bán sản phẩm thấp
Nói chung, giá hàng may mặc của Trung Quốc thấp hơn các đối thủ cạnh tranh do chi phí sản xuất hàng may mặc ở Trung Quốc thấp như các nguyên phụ liệu được sản xuất trong nước, làm cho hàng may mặc có giá bán thấp hơn. Hàng may mặc của Trung Quốc bán với giá thấp còn do lợi thế của sản xuất theo quy mô lớn, giúp cho Trung Quốc bán với giá mà không đối thủ cạnh tranh nào trên thị trường EU có thể bán được với giá như vậy.
Đa dạng hóa mẫu mã, mầu sắc và nhu cầu sử dụng Trung Quốc đã xây dựng mô hình “các liên kết công nghiệp” đó là sự liên kết giữa các vùng, miền sản xuất các loại sản phẩm, các nguyên phụ liệu cho sản xuất hàng may mặc, tạo thành các chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm may mặc nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Trung Quốc có lợi thế về đội ngũ thiết kế kiểu dáng công nghiệp rất phát triển, có những trung tâm thiết kế thời trang ở Thẩm Quyến, Bắc Kinh, Thượng Hải, Hàng Châu. Trung Quốc lại có ngành công nghiệp phụ trợ phát triển, tạo nhiều chất liệu mới cho sản xuất hàng may mặc thêm phong phú.
Hệ thống kênh phân phối rộng khắp thị trường EU
Do mở cửa thị trường từ năm 1978, sớm thiết lập quan hệ thương mại với các quốc gia của EU, nên Trung Quốc đã nhanh chóng đưa hàng may mặc vào thị trường EU thông qua các nhà phân phối trung gian thương mại tại thị trường này. Với quy mô sản xuất lớn, đảm bảo chất lượng và thời gian giao hàng, các doanh nghiệp may mặc Trung Quốc ký được các hợp đồng sản xuất trực tiếp với các tổ hợp thương mại lớn của EU, các doanh nghiệp này trực tiếp là người cung cấp hàng cho các tổ hợp thương mại, vì thế họ đã nhanh chóng thiết lập mạng lưới tiêu thụ hàng may mặc rộng khắp thị trường EU.
Nhanh chóng đáp ứng những yêu cầu sản phẩm “xanh, sạch”
Trung Quốc đã có thời gian chuẩn bị rất lâu việc đưa ra thị trường EU những sản phẩm đạt tiêu chuẩn về môi trường. Những quy định và kiểm soát ngặt nghèo của Chính phủ về quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn môi trường (Eco Friendly) như đổi mới công nghệ, sử dụng nguyên phụ liệu chất lượng tốt, thực hiện đúng các quy trình sản xuất bao gồm cả hệ thống xử lý nước thải, xử lý khí thải độc hại.
Sớm đầu tư vào các sản phẩm may mặc cao cấp
Các doanh nghiệp Trung Quốc mạnh dạn đầu tư vào sản xuất những sản phẩm cao cấp như váy dạ hội, các bộ veston, comple xuất khẩu hàng loạt sang thị trường EU, nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tạo thế chủ động sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc cao cấp, chủ động chiếm mảng thị trường hàng may mặc cao cấp mà ít doanh nghiệp xuất khẩu ở các quốc gia là đối thủ cạnh tranh dám đầu tư [19].
1.2. Kinh nghiệm thâm nhập thị trường EU của Nhật Bản Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Như chúng ta đã biết, EU là một thị trường khó tính với hệ thống phân phối phức tạp. Không phải dễ dàng gì có thể thâm nhập được vào hệ thống phân phối hàng hóa trên thị trường EU khi mà hàng hóa của chúng ta chưa được người tiêu dùng Châu Âu biết đến. Bản thân hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay cũng đều phải xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU qua trung gian là chủ yếu. Để khắc phục tình trạng này, chúng ta hãy xem xét kinh nghiệm thâm nhập thị trường EU của Nhật Bản.
Những năm 60 khi ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu của Nhật Bản phát triển mạnh, để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU các nhà sản xuất Nhật Bản đã phải mua nhãn hiệu của các nhà sản xuất nổi tiếng Châu Âu với giá cao để gắn vào sản phẩm của mình tung ra thị trường này. Sau một thời gian, người tiêu dùng Châu Âu quen dần với những sản phẩm này và nhu cầu tiêu dùng tăng. Các nhà sản xuất Nhật Bản tiến hành bước tiếp theo là gắn nhãn hiệu của mình bên cạnh nhãn hiệu của những nhà sản xuất nổi tiếng Châu Âu trên những sản phẩm đó. Sau một thời gian đủ để người tiêu dùng nhận thấy chất lượng sản phẩm tốt và giá cả hợp lý, nhu cầu tiêu dùng của họ đối với loại sản phẩm có gắn nhãn hiệu bắt đầu tăng nhanh. Các nhà sản xuất Nhật Bản tiến hành bước cuối cùng là bóc nhãn hiệu của nhà sản xuất nổi tiếng Châu Âu. Lúc này trên sản phẩm chỉ còn lại một nhãn hiệu duy nhất của nhà sản xuất Nhật Bản. Với một nhãn hiệu nhưng vẫn là sản phẩm quen thuộc, nên người tiêu dùng vẫn cảm thấy được sự thân quen. Bằng phương pháp này các nhà sản xuất Nhật Bản đó thâm nhập thị trường EU rất thành công. Phương thức này được áp dụng phổ biến với các mặt hàng công nghiệp như radio, xe máy, tủ lạnh, ti vi….
Với cách này Nhật Bản đã đẩy mạnh xuất khẩu sang EU. Đầu thập niên 70, hàng Nhật Bản đã chiếm phần lớn và đánh bại hàng của EU. Để hạn chế sự chiếm lĩnh thị trường của hàng Nhật Bản và bảo hộ sản xuất hàng trong nước, EU đã đặt ra hàng rào thuế quan và phi thuế quan chặt chẽ. Không chịu lùi bước, các nhà sản xuất Nhật Bản đã tìm ra một phương pháp mới để vượt hai rào cản của EU là đầu tư vốn sang khu vực này để sản xuất và xuất khẩu tại chỗ. Như vậy, họ không những giữ được thị phần mà còn có triển vọng phát triển.
Kinh nghiệm thâm nhập thị trường EU của Nhật Bản thực sự là một bài học bổ ích cho các nhà sản xuất hàng xuất khẩu Việt nam, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà hàng hóa của Việt Nam vẫn chưa tìm được chỗ đứng trên thị trường EU, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang EU được nhiều người tiêu dùng Châu Âu đón nhận nhưng lại dưới cái tên của một nước khác.
Kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ là một giải pháp hữu hiệu cho việc thâm nhập thị trường EU của Việt Nam trong thời gian tới [8].
2. Giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
2.1. Tích cực nghiên cứu thị trường EU, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu và thói quen tiêu dùng, tìm hiểu hệ thống luật pháp và các rào cản mà EU đặt ra đối với hàng hóa xuất khẩu
Để hàng hóa xuất khẩu được người tiêu dùng EU chấp nhận thì một trong những nhiệm vụ rất quan trọng là phải tiến hành nghiên cứu thị trường. Trước hết, tuy EU là một thị trường chung thống nhất nhưng với mỗi quốc gia khác nhau thì vẫn có những văn hóa và đặc điểm thị trường tiêu dùng hàng hóa khác nhau và những quy định tập quán khác nhau. Do đó trước khi thâm nhập vào thị trường thành viên EU nào, doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu kỹ đặc điểm về thị trường để có thể đáp ứng tối đa các yêu cầu của thị trường, phải có những biện pháp thâm nhập thị trường một cách có hiệu quả, tránh được những thiệt hại đáng tiếc xảy ra. Ví dụ về thị trường Anh, tuy là nước có nền kinh tế mở, ủng hộ thương mại tự do toàn cầu nhưng xuất khẩu vào nước này cần chú ý một số điểm. Chẳng hạn, hàng hóa tại nước này phải chịu sự cạnh tranh rất lớn về quy cách, mẫu mã, giá cả…từ các nước trong khu vực Châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc, nước có kim ngạch xuất khẩu hàng đầu vào Anh. Bênh cạnh đó, người Anh hiểu biết về con người và hàng hóa Việt Nam vẫn còn hạn chế, trong khi điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại rất khó khăn. Ngoài ra, yêu cầu của khách hàng Anh về quy cách và kỹ thuật rất cao, thời gian giao hàng cũng quản lý chặt chẽ. Với hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn, khác hàng Anh thường yêu cầu phải có xác nhận của ngân hàng thứ 3…
Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có thể bán được hàng tại thị trường EU nếu mặt hàng đó đáp ứng được các tiêu chuẩn mà EU đặt ra, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và thói quen tiêu dùng của thị trường EU. Không chỉ dừng ở việc nghiên cứu để tìm ra nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng mà quan trọng hơn, các doanh nghiệp Việt Nam phải tính tới tính đa dạng của thị trường như mùa vụ, lứa tuổi, khu vực… Sản xuất phải gắn liền với thị trường, phải có phản ứng nhanh nhạy với khuynh hướng thay đổi của thị hiếu người tiêu dùng. Chủ động loại bỏ những mặt hàng đã lỗi thời, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, dự đoán thay đổi sẽ diễn ra trong xu hướng để chủ động sản xuất các mặt hàng mà thị trường sắp có nhu cầu. Đa dạng chủng loại hàng hóa, thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng để người tiêu dùng có nhiều lựa chọn. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Bên cạnh những đặc điểm, tập quán mua hàng của thị trường, doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu về các quy định, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu do EU quy định để có thể tránh được những tổn thất không đáng có do sự thiết hiểu biết của mình gây nên. Ví dụ tìm hiểu những quy định về các rào cản kỹ thuật thương mại, hệ thống pháp luật của EU quy định về thuế quan (thuế xuất nhập khẩu, thuế chống bán phá giá..), hạn ngạch, hải quan, các luật chống bán phá giá….
EU là một thị trường tiêu dùng khắt khe nhất trên thế giới với những hàng rào kỹ thuật mà hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển rất khó vượt qua.Trên thị trường EU, chất lượng là yếu tố hàng đầu đối với phần lớn các mặt hàng được tiêu thụ. Muốn tạo ra nguồn hàng thích hợp với thị trường EU, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tăng cường đầu tư và hoàn thiện quản lý vì đây là hai yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, có tính chất quyết định đối với việc cho ra đời một sản phẩm như thế nào. Nếu một doanh nghiệp đã chú trọng vào đầu tư vốn và công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất, lại áp dụng hệ thống quản lý chất lượng thích hợp sẽ tạo ra sản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và vượt qua được những rào cản kỹ thuật khắt khe nhất của thị trường EU thì bắt buộc phải tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý hiện hành của EU đó là: ISO14000, HACCP….
Đối với tiêu chuẩn chất lượng: áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 giúp cho các đơn vị sản xuất cải tiến hệ thống quản lý nhằm đạt được các mục tiêu tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, giảm tỷ lệ phế phẩm để duy trì sản phẩm luôn có chất lượng đồng nhất.
Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: EU yêu cầu hàng hóa phải đáp ứng các tiêu chuẩn liên quan đến môi trường như tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Pratice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels); tiêu chuẩn SA 8000 (Social Accountability 8000); Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000.
Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm: các công ty chế biến thực phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ. Việc áp dụng hệ thống HACCP: (hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu trong quá trình chế biến thực phẩm) là yêu cầu bắt buộc. HACCP được thiết kế riêng cho công nghiệp thực phẩm và các ngành có liên quan đến thực phẩm. Hệ thống HACCP có tính bắt buộc đối với các công ty chế biến thực phẩm tại EU.
Đối với tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: Ký mã hiệu trở nên quan trọng số 1 trong việc lưu thông hàng hóa trên thị trường EU. Các sản phẩm có liên quan tới sức khỏe người tiêu dùng phải có ký mã hiệu theo quy định của EU. Ví dụ: ký mã hiệu CE là bắt buộc đối với đồ chơi, thiết bị điện áp thấp, thiết bị y tế, nguyên vật liệu xây dựng…
Đối với tiêu chuẩn về lao động: Ủy ban Châu Âu (EC) đình chỉ hoạt động của các xí nghiệp sản xuất nội địa ngay khi phát hiện ra những xí nghiệp này sử dụng lao động cưỡng bức, và cấm nhập khẩu hàng hóa mà quá trình sản xuất sử dụng bất kỳ hình thức lao động cưỡng bức nào được xác định trong Hiệp ước Geneva ngày 25/09/1926, ngày 7/9/1956 và các Hiệp ước Lao động Quốc tế số 29 và 105.
Để tránh tình trạng xấu nhất có thể xảy ra đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU sau này (hàng Việt Nam sẽ không được hưởng GSP nữa) thì áp dụng ISO 9000, ISO 14000 và HACCP là biện pháp tốt nhất để doanh nghiệp Việt Nam có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường EU.
Chúng ta đã có những bài học đắt giá về những trường hợp hàng xuất khẩu của chúng ta không đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật do EU đặt ra đã bị trả hàng về. Do đó, việc tìm hiểu những thông tin này là rất cần thiết, qua đó chúng ta có thể thay đổi việc tổ chức sản xuất của mình sao cho phù hợp, đáp ứng với những tiêu chuẩn của EU đặt ra. Điều này sẽ góp phần giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tránh được những tổn thất về mặt tài chính không đáng có và đồng thời cũng góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa của Việt Nam, tạo được lòng tin đối với thị trường này [17].
2.2. Xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường và đẩy mạnh công tác Marketing xúc tiến xuất khẩu trên thị trường EU Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Cho đến nay, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường EU mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU vẫn tăng mạnh trong những năm vừa qua. EU là một thị trường khó tính, kênh phân phối rất phức tạp nên không dễ dàng cho các doanh nghiệp Việt Nam vốn non nớt về kinh nghiệm có thể thâm nhập thị trường này. Vì vậy, nghiên cứu và xây dựng một chiến lược thâm nhập vào thị trường EU là hết sức cần thiết.
Để thâm nhập vào thị trường EU, các doanh nghiệp Việt Nam có thể lựa chọn một số phương thức sau:
- Xuất khẩu qua trung gian: được sử dụng ở thời kỳ đầu mới khai phá thị trường EU khi đó còn là một thị trường khá mới mẻ với các doanh nghiệp, hơn nữa lại thiếu kinh nghiệm về thương trường nên không thiết lập được quan hệ bạn hàng trực tiếp với các đối tác EU. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu sang EU qua các bạn hàng trung gian chủ yếu là từ Châu Á.
- Xuất khẩu trực tiếp: là con đường chính của các doanh nghiệp Việt Nam để thâm nhập thị trường EU, tuy nhiên hình thức này chỉ thích hợp với thời kỳ đầu khi quy mô xuất khẩu còn bé, các mặt hàng xuất khẩu còn phân tán, dễ tạo ra thế bị động cho các nhà xuất khẩu do khó nắm bắt thông tin về thị trường.
- Liên doanh: có thể dưới hình thức sử dụng giấy phép, nhãn hiệu hàng hóa. Hình thức này rất phù hợp vì người tiêu dùng EU có thói quen sử dụng hàng hóa có nhãn hiệu nổi tiếng và được biết đến từ lâu, chất lượng là yếu tố quyết định thành công trên thị trường này chứ không phải là giá cả. Hiện tại, hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa có danh tiếng trên thị trường EU, mặt khác năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, vì vậy liên doanh dưới hình thức sử dụng giấy phép, nhãn hiệu hàng hóa, tên thương phẩm có thể là biện pháp tốt nhất để các nhà xuất khẩu Việt Nam thâm nhập dễ hơn vào thị trường EU.
- Đầu tư trực tiếp: đây cũng là một giải pháp cần xem xét đến trong tương lai tuy nhiên hiện tại đây chưa phải là một giải pháp thích hợp để thâm nhập vào thị trường EU.
Trong thời gian tới, các doanh nghiệp Việt Nam phải vừa duy trì xuất khẩu qua trung gian và xuất khẩu trực tiếp để thâm nhập thị trường EU, vừa phải nghiên cứu để lựa chọn cách thâm nhập bằng hình thức liên doanh và đầu tư trực tiếp. Dù lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường nào trong số những phương thức nêu trên thì chúng ta cũng cần phải nghiên cứu kỹ các yếu tố như dung lượng thị trường, thị hiếu tiêu dùng, kênh phân phối, đối thủ cạnh tranh, giá cả… và cần phải nắm vững các nguyên tắc khi thâm nhập thị trường này. Sự hạn chế thông tin về các đối thủ cạnh tranh thường dẫn đến những hạn chế và làm cho ưu thế cạnh tranh trở nên không bền vững. Hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh sẽ giúp tránh cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ mạnh hơn và tìm ra các thị trường riêng của mình, điều này hoàn toàn đúng ở cả hai cấp độ quốc gia và công ty. Vì vậy, để thâm nhập thị trường EU cần phải xây dựng một chiến lược lâu dài và thích hợp với điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam thì hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam mới có chỗ đứng ổn định và vững chắc trên thị trường EU. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần nâng cao năng lực tiếp thị, tích cực thực hiện các hoạt động xúc tiến xuất khẩu sang thị trường EU bằng cách chủ động tìm kiếm đối tác, chào hàng thông qua các hội chợ, triển lãm, hội thảo chuyên đề tổ chức tại Việt Nam hay EU. Tìm hiểu, nghiên cứu thị trường thông qua Phòng thương mại EU tại Việt Nam, cục xúc tiến thương mại- Bộ Thương mại, Tham tán thương mại ở các nước thành viên EU, Trung tâm thông tin thương mại- Bộ Công Thương và qua các tài liệu chuyên ngành để nắm được thông tin về chính sách kinh tế và thương mại, quy chế nhập khẩu của EU, nhu cầu và thị hiếu về hàng hóa và những mặt hàng xuất khẩu nào của Việt Nam sang thị trường này sẽ mang lại hiệu quả cao ở từng thời điểm.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần trực tiếp tìm kiếm bạn hàng, trưng bày và giới thiệu sản phẩm, tìm hiểu và nghiên cứu thị trường EU ngay tại các nước thành viên EU. Việc làm này sẽ giúp cho các doanh nghiệp có được thông tin chính sách và kịp thời về thị trường và bạn hàng, do đó có thể sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà thị trường này cần, đáp ứng tốt nhất nhu cầu về thị hiếu của thị trường EU tại từng thời điểm trong năm.
Các doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu và ứng dụng các nghiệp vụ Marketing để tìm ra những mặt hàng mới có khả năng tiêu thụ tại thị trường EU, thực hiện hoạt động quảng cáo, khuếch trương sản phẩm để sản phẩm có được chỗ đứng, duy trì và phát triển trên thị trường. Tổ chức các dịch vụ hậu mãi để duy trì và củng cố sản phẩm Việt Nam đối với người tiêu dùng EU [2].
2.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa thông qua việc áp dụng khoa học công nghệ trong khâu sản xuất hàng xuất khẩu
EU là thị trường tiêu dùng khắt khe có nhiều rào cản kỹ thuật. Trên thị trường, giá cả có thể quan trọng nhưng chất lượng là yếu tố được quan tâm hàng đầu đối với phần lớn mặt hàng được tiêu thụ tại đây. Người tiêu dùng EU không chỉ quan tâm tới chất lượng sản phẩm mà còn gồm cả dịch vụ sau bán hàng. Nét độc đáo của sản phẩm so với các loại sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh sẽ có sức hút lớn đối với họ. Do đó, cần đầu tư cho các khâu quảng cáo, tiếp thị, cải tiến công nghệ để tạo ra sự hấp dẫn hơn giữa các sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh. Trên 80% tiêu chuẩn hàng hóa của EU là theo tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy, các doanh nghiệp muốn hướng vào thị trường EU thì phải áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn ISO9000, HACCP, ISO 14000, SA8000…
Để hàng hóa xuất khẩu ra có chất lượng cao thì một trong những yếu tố quan trọng là công nghệ. Tuy nhiên, công nghệ hiện đại đòi hòi chi phí cao, trong khi các doanh nghiệp Việt nam thường có năng lực tài chính thấp, để hạ giá thành công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng hiện đại hóa công nghệ theo các hướng sau:
- Nhập thiết bị công nghệ của nước ngoài, học tập nguyên tắc tự thiết kế, tự thiết kế lại, cải tiến cho phù hợp với điều kiện sản xuất và chế tạo ở Việt Nam những chi tiết mà Việt Nam chưa đủ sức chế tạo thì nhập khẩu của nước ngoài.
- Mua thiết bị có hàm lượng công nghệ hiện đại, nhưng mức tự động hóa thấp, sau đó tự nâng cấp trình độ tự động hóa bằng thiết kế của người Việt Nam, sử dụng linh kiện cả trong và ngoài nước sản xuất.
- Đối với các công nghệ hoặc thiết bị khó nhập khẩu hoặc nhập khẩu quá đắt, các doanh nghiệp cần hợp tác với các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật của Nhà nước cùng đầu tư nghiên cứu thiết kế chế tạo.
- Các doanh nghiệp cần khai thác các thông tin qua mạng để đi theo các hướng công nghệ mới và tìm kiếm sự trợ giúp kỹ thuật từ bên ngoài doanh nghiệp.
- Tận dụng khả năng đóng góp của các chuyên gia kỹ thuật, công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài.
- Dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu để hiện đại hóa công nghệ của mình.
- Tìm kiếm cơ hội liên doanh với các đối tác EU có khả năng công nghệ hiện đại.
- Doanh nghiệp cần coi việc hiện đại hóa công nghệ là một quá trình phát triển tích tụ từ thấp đến cao, trong đó xác định mức công nghệ mà doanh nghiệp cần có để tạo ra sản phẩm có ưu thế cạnh tranh tổng hợp [8].
2.4. Phối hợp với các hiệp hội, ngành hàng thực hiện các biện pháp để phòng tránh bị kiện chống bán phá giá Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Như chúng ta đã biết, thời gian qua trên thế giới có rất nhiều vụ kiện chống bán phá giá (CBPG) và số lượng các vụ kiện ngày càng tăng nhanh. Trong đó, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia bị kiện nhiều nhất; riêng năm 2004 đã có tới 6 vụ (trong tổng số 20 vụ kiện CBPG từ trước đến nay). Nhìn lại 20 vụ kiện CBPG đối với hàng Việt Nam, thì vụ kiện về cá da trơn (cá basa) và tôm là 2 vụ có quy mô và phức tạp nhất. Khởi kiện nhiều nhất là EU (9 vụ), tiếp đến là Hoa Kỳ (2 vụ), Canađa (2 vụ) còn lại là Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Peru [20].
Để tránh được những vụ kiện chống bán phá giá lên hàng hóa xuất khẩu của mình từ các nước khác nói chung và từ EU nói riêng, các doanh nghiệp nên thực hiện một số biện pháp sau:
Thứ nhất, các doanh nghiệp cần chuẩn bị và hoàn thiện tài liệu, sổ sách liên quan đến công tác kế toán, kiểm toán quá trình sản xuất và kinh donah nhằm minh bạch hóa và là những bằng chứng thuyết phục chống lại việc áp đặt thuế chống bán phá giá. Đây là những cơ sở quan trọng nhất xác định có hay không hàng xuất khẩu của Việt Nam bán phá giá. Thông thường, Ủy ban Châu Âu muốn ra phán quyết áp thuế chống bán phá giá phải dựa trên những điều tra, xác minh tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, toàn bộ những chi phí đầu vào và chi phí đầu ra của doanh nghiệp sẽ được phản ánh trên sổ sách kế toán và do công ty kiểm toán chứng nhận. Nếu như, những chi phí này tương ứng với cùng các quốc gia trong khu vực có cùng trình độ phát triển và rõ ràng, minh bạch thì Ủy ban Châu Âu sẽ khó khăn khi đưa ra một chứng cứ để áp thuế chống bán phá giá. Cho nên, để dễ dàng trả lời các câu hỏi của Ủy ban này thì nhất thiết các doanh nghiệp Việt Nam phải có hệ thống sổ sách kế toán thật minh bạch, đầy đủ và rõ ràng.
Thứ hai, tập trung vào sản xuất những mặt hàng có giá bán cao. Biện pháp này xuất phát từ lý do sau:
- Những mặt hàng có giá bán thấp thường là những mặt hàng dễ làm, dễ bán nhưng lại gặp phải sự cạnh tranh rất gay gắt của nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường EU như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Thái Lan…và nhiều quốc gia xuất khẩu khác có cùng trình độ sản xuất và cũng là nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của các quốc gia này thì việc cạnh tranh mạnh mẽ sẽ xẩy ra là tất yếu. Nếu cạnh tranh về giá cả thì một số mặt hàng xuất khẩu của ta không thể cạnh tranh được với mặt hàng của Trung Quốc kể cả về số lượng. Bên cạnh đó, giá cả của nhiều nhóm hàng của các quốc gia khác cũng có giá tương tự như giá của Việt Nam. Rõ ràng là, nếu các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung vào sản xuất những mặt hàng có mức giá rẻ sẽ gặp phải nhiều bất lợi về cạnh tranh. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
- Hơn nữa, các mặt hàng giá rẻ của Việt Nam cũng thường xuyên là tâm điểm của các vụ kiện chống bán phá giá của EU. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam nên thay đổi lại cơ cấu sản xuất và kinh doanh, nhắm tới các mặt hàng có giá cao hơn, vừa tránh được rào cản chống bán phá giá, đồng thời vừa tiếp cận với nhóm khách hàng có thu nhập cao, vừa nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường EU.
Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh thực hiện mô hình nhượng quyền kinh doanh. Đây là mô hình rất phổ biến trên thế giới nhưng lại chưa quen thuộc với các doanh nghiệp Việt Nam. Mô hình nhượng quyền kinh doanh có hai loại điển hình là nhượng quyền phân phối sản phẩm và nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh. Với hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam có thể mua giấy phép (licensing) sử dụng thương hiệu của mặt hàng của các quốc gia có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường EU, tự điều hành hoạt động kinh doanh một cách độc lập trong một khoảng thời gian nhất định mà ít bị ràng buộc bởi những quy định từ các doanh nghiệp nhượng quyền. Điều này giúp cho doanh nghiệp Việt Nam tránh được những vụ kiện chống bán phá giá, uy tín của doanh nghiệp Việt Nam tăng lên và khả năng cạnh tranh sẽ được nâng lên. Biện pháp này còn là một yếu tố giúp các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng và phát triển thương hiệu trong tương lai. Với hình thức nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh thì các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt nam còn được chuyển giao thêm các kỹ thuật kinh doanh và cách thức điều hành quản lý. Đây là hình thức kinh doanh hiệu quả nhất bởi doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải thực hiện những quy định, quy trình nghiêm ngặt trong kinh doanh theo tiêu chí đặt ra của các doanh nghiệp có thương hiệu nổi tiếng và quen thuộc với các khác hàng EU. Trong hình thức này, mối liên hệ giữa bên cho thuê và bên đi thuê thương hiệu rất chặt chẽ để đảm bảo uy tín và giá trị thương hiệu luôn được giữ vững. Với hình thức này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp thu được kinh nghiệm quản lý, cách thức điều hành sản xuất kinh doanh phù hợp với những nhóm khách hàng có thu nhập cao và yêu cầu khắt khe về sản phẩm, những nhóm khách hàng quen sử dụng hàng có thương hiệu nổi tiếng.
Thứ tư, thực hiện tốt quan hệ công chúng. Đó là thiết lập những mối quan hệ với các hiệp hội, đại diện nhóm khách hàng, nhóm bảo vệ môi trường, hiệp hội công đoàn trên thị trường EU…có liên quan đến mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Trong thương mại quốc tế, việc sử dụng biện pháp quan hệ công chúng rất phổ biến nhằm tạo ra những làn sóng phản đối từ phía người tiêu dùng EU, hay những sức ép từ các hiệp hội, ngành nghề về những quyết định chưa đúng đắn của chính phủ các quốc gia trong EU. Những yếu tố này dễ dàng thay đổi các quyết định của chính phủ hay Ủy ban Châu Âu. Điều quan trọng là các doanh nghiệp cần tạo ra những mối quan hệ tốt, những điều thiện cảm đối với những nhóm công chúng này như tích cực bảo vệ môi trường, thực hiện tốt Luật Lao động, nhằm bảo đảm quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp. Đây cũng là biện pháp mà các doanh nghiệp Việt nam chưa khai thác tốt bởi thiếu tính tập hợp, tập trung, liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU.
Thứ năm, nâng cao vai trò của hiệp hội ngành nghề của Việt Nam trong liên kết hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu. Việt Nam gia nhập vào WTO chưa lâu, các doanh nghiệp phần nào còn bỡ ngỡ do vậy sự hỗ trợ của các hiệp hội ngành nghề là rất cần thiết, các hiệp hội sẽ là cầu nối giữa các doanh nghiệp Việt Nam với thị trường EU, giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các Hiệp hội của EU, cùng với các doanh nghiệp Việt Nam tìm ra cách thức để giải quyết khi vấp phải những rào cản thương mại và phi thương mại.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng nên kêu gọi sự hỗ trợ từ phía Nhà nước trong việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với hàng hóa có nguy cơ bị kiện chống bán phá giá để góp phần hạn chế được những thiệt hại do các vụ kiện chống bán phá giá gây ra cho các doanh nghiệp Việt Nam [15].
2.5. Xây dựng thương hiệu cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường EU
Tuy hàng Việt Nam xuất khẩu vào EU qua các năm có tăng song vẫn chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với nhu cầu của EU hàng năm. Các nước khu vực Châu Á như Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông… đã nhập khẩu hàng của Việt Nam sau đó tái chế và tái xuất sang thị trường EU. Do vậy hàng Việt Nam vẫn chưa thâm nhập trực tiếp được nhiều vào thị trường EU. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là các doanh nghiệp Việt Nam chưa chú trọng xây dựng thương hiệu riêng cho hàng hóa của mình.
Trong thời đại ngày nay, mỗi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và phát triển, muốn đứng vững trên thị trường thì cần phải có những sản phẩm đóng vai trò chủ đạo và có thương hiệu riêng. Thương hiệu là hình ảnh của sản phẩm, hình ảnh của doanh nghiệp, thể hiện uy tín của doanh nghiệp và thay mặt doanh nghiệp cam kết với khách hàng về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm, nên đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có trách nhiệm hơn với tên tuổi của mình. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Với ý nghĩa như vậy, việc xây dựng, củng cố và phát triển thương hiệu là công việc vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài của mỗi doanh nghiệp Việt Nam. Để làm tốt việc này, các doanh nghiệp cần thực hiện những điều sau:
- Cần coi thương hiệu là tài sản quý giá mà mọi doanh nghiệp cần có.
- Xây dựng chiến lược phát triển và quảng bá thương hiệu ngay từ khi mới thành lập doanh nghiệp
- Khi đã có thương hiệu thì cần tiến hành đăng kí thương hiệu tại thị trường EU
- Có đội ngũ chuyên gia xây dựng thương hiệu có tầm nhìn xa, nắm vững chiến lược Marketing doanh nghiệp, hiểu biết sâu sắc về sản phẩm, có khả năng sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, màu sắc, hình ảnh để diễn đạt ý tưởng.
Xây dựng được thương hiệu thì việc bảo vệ thương hiệu cũng là vấn đề vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường EU trong điều kiện hội nhập hiện nay. Thương hiệu là tài sản vô hình nhưng có giá trị rất lớn. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, đăng ký thương hiệu tại thị trường nước ngoài và EU nói riêng mang ý nghĩa sống còn. Doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ thuật sở hữu của EU. Sản phẩm của mình thuộc hệ thống sở hữu trí tuệ nào để doanh nghiệp có thể tham gia đăng ký theo hệ thống đó. Việt Nam chỉ bảo hộ thương hiệu là nhãn mác, bao bì…của sản phẩm, nhưng EU cho phép đăng ký cả mùi vị, màu sắc, khẩu hiệu, nhạc hiệu…của sản phẩm mà doanh nghiệp đăng ký.
Hiện nay, các nước thành viên EU đang áp dụng hệ thống CTM (Community Trade Mark). Nếu doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu vào EU thì có thể đăng ký qua hệ thống CTM. CTM không yêu cầu nước xuất xứ của doanh nghiệp có nhu cầu đăng ký thương hiệu phải gia nhập vào hệ thống này. Doanh nghiệp chỉ cần đăng ký một lần qua hệ thống này thì thương hiệu sẽ được bảo hộ tại toàn bộ các thành viên EU và cả Thụy Sĩ. Chi phí một lần đăng ký là khoảng 4000USD, đơn sẽ nộp ở văn phòng tại Thụy Sĩ, không cần qua Cục sở hữu Công nghiệp. CTM không yêu cầu doanh nghiệp phải có sản phẩm tại tất cả các nước mà chỉ cần có ở một nước trong khu vực được bảo hộ, đồng thời doanh nghiệp cũng không cần phải đăng ký thương hiệu tại Việt Nam trước khi đăng ký vào EU. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc đăng ký thương hiệu vào từng nước chiếm chi phí khá lớn trong khi doanh nghiệp xuất khẩu với số lượng nhỏ. Do đó, đăng ký qua hệ thống CTM này sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được thị trường, đồng thời bảo vệ được thị phần của mình trong toàn cộng đồng Châu Âu [16].
2.6. Áp dụng thương mại điện tử trong kinh doanh hàng xuất khẩu Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Các doanh nghiệp Việt Nam nên đẩy mạnh việc áp dụng thương mại điện tử vì thương mại điện tử đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích to lớn như cung cấp thông tin nhanh chóng và cập nhật về thị trường EU, sự biến động cung cầu, giá cả, thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng EU..(qua một số website như www.europa.eu.int) giảm chi phí cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp chủ động tìm kiếm đối tác. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng xây dựng website cho mình để cung cấp thông tin về doanh nghiệp nói chung, thông tin về uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, các mặt hàng xuất khẩu, thông tin về các chính sách Marketing, xúc tiến bán hàng, chính sách khách hàng..để đối tác EU nắm bắt và quyết định đặt quan hệ hợp tác. Website của doanh nghiệp được ví như một văn phòng ảo, bởi nó góp phần xây dựng uy tín, hình ảnh cho doanh nghiệp. Văn phòng này hoạt động 24h mỗi ngày, 7 ngày trong tuần, trong khi đó để duy trì một văn phòng đại diện ở EU đòi hỏi chi phí cao và đôi khi không hiệu quả [3].
2.7. Tìm nguồn tín dụng hỗ trợ nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay tham gia sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn kinh doanh ít, lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong thương trường của một nền kinh tế thị trường, nên gặp rất nhiều hạn chế trong việc xúc tiến thương mại cũng như việc đề ra chiến lược lâu dài vươn ra thị trường nước ngoài. Để hạn chế bớt những khó khăn về vốn, các doanh nghiệp cần tiếp cận các nguồn vốn của các ngân hàng hay của các quỹ tín dụng trong khi nhà nước chưa có ngân hàng chuyên doanh hoặc quỹ bảo lãnh tín dụng.
Các doanh nghiệp cần khai thác tác dụng tích cực của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, các tổ chức quốc tế hay các hiệp hội ngành hàng để tham gia triển lãm, hội chợ, hội thảo ở trong nước hoặc ở nước ngoài, tìm kiếm sự hỗ trợ ở trong và ngoài nước để lập văn phòng, phòng trưng bày, lập kho ngoại quan hay chi nhánh công ty tại nước ngoài để thực hiện công tác khuếch trương cho sản phẩm hay dịch vụ của mình [8].
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
1. Tiếp tục coi EU là thị trường trọng điểm, xây dựng chiến lược phát triển thị trường EU thông qua việc đàm phán, kí kết các hiệp định thỏa thuận song phương và đa phương
Nhà nước nên căn cứ vào việc chuyển hướng cơ cấu kinh tế của EU và vai trò của khối này trên trường quốc tế để định hướng thị trường và đưa ra các chính sách thương mại thích hợp. Nghĩa là cần có một chính sách coi thị trường EU là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng nhất.
Với kim ngạch và cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay sang thị trường EU ta thấy EU là một thị trường chiến lược đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như giày dép, dệt may, thủy hải sản, nông sản, đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ…sẽ còn tiếp tục gia tăng lượng kim ngạch xuất khẩu vào EU. Bên cạnh đó xu hướng chuyển dịch sang xuất khẩu các hàng có hàm lượng chất xám cao như đồ điện tử, vi tính..đang dần tăng lên và nhu cầu về thị trường các loại hàng hóa này sẽ trở nên ngày càng bức thiết hơn bao giờ hết.
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước theo con đường công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu thì bằng mọi cách phải thâm nhập được vào thị trường các nước phát triển để tạo hiệu quả cao, không chỉ về doanh thu mà cả về công nghệ, phân công lao động quốc tế, lợi thế so sánh trên thị trường thế giới. Việt Nam cần khai thác những mặt mạnh của EU trong kỹ thuật cơ khí tiên tiến, chế biến nông, thủy sản, lắp ráp ô tô, điện tử, kinh nghiệm quản lý kinh tế và sản xuất công nghiệp. Muốn nắm bắt được lợi thế này, một chính sách công nghiệp và chiến lược thị trường cụ thể đối với EU là không thể thiếu.
Là thị trường rộng lớn, có nhu cầu rất đa dạng và phức tạp về hàng hóa, EU là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam hiện nay. Trong khi thị trường Châu Á tạm thời bị thu hẹp, thị trường Mỹ bắt đầu hé mở thì EU là sự lựa chọn lý tưởng cho chúng ta để thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế “hướng về xuất khẩu” và chiến lược “đẩy mạnh xuất khẩu”. Tuy nhiên, EU hiện đang được coi là thị trường có mức bảo hộ cao nhất. Sự bảo hộ được thể hiện dưới hình thức thuế quan và phi thuế quan. Hàng rào thuế quan đã giảm dần song hàng rào phi thuế quan ngày càng trở nên ngặt nghèo hơn. Do đó, Nhà nước nên chủ động đề nghị EC mở rộng quy mô mậu dịch và tạo điều kiện thuận lợi cho hàng của ta vào thị trường này, nhất là hàng nông sản, thủy hải sản, rau quả, thịt gia súc, gia cầm, đồ gỗ, đồ gia dụng… Những mặt hàng cần có sự đàm phán ở cấp Chính phủ phải lên kế hoạch đàm phán cụ thể để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp. Mục tiêu đàm phán sẽ là mở cửa thị trường, thống nhất hóa các tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn kỹ thuật và đàm phán để nới lỏng các hàng rào phi thuế quan của EU.
Chính phủ cần tích cực và chủ động đàm phán với EU nhằm sớm ký kết Hiệp định thương mại tự do song phương Việt Nam- EU. Cho đến nay, quan hệ thương mại Việt Nam- EU mới chỉ được điều chỉnh bởi hai hiệp định là Hiệp định về hàng dệt may và Hiệp định khung về hợp tác Việt Nam-EU mà chưa có một hiệp định thương mại chính thức. Việc sớm kí kết Hiệp định thương mại song phương sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi hơn từ phía EU, chủ động tìm đối tác và thâm nhập thị trường EU. Với lợi thế là một nước đang phát triển trong quan hệ thương mại với EU- một trong ba cường quốc kinh tế trên thế giới, EU qua Hiệp định thương mại sẽ dành nhiều ưu đãi hơn cho Việt Nam về chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia, mở cửa nhiều thị trường hơn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt nam thâm nhập dễ dàng vào thị trường EU [2].
2. Hoàn thiện hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Để tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cạnh tranh của các tổ chức, cá nhân kinh doanh, tránh những hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của doanh nghiệp, góp phần khuyến khích sản xuất và xuất khẩu. Nhà nước cần phân định rõ việc quản lý vĩ mô của Nhà nước với việc quản lý kinh doanh của các đơn vị kinh tế, xây dựng cơ chế điều tiết vĩ mô có hiệu quả. Nhà nước thực hiện việc hướng dẫn, giám sát, uốn nắn những lệch lạc và bổ khuyết những nhược điểm của kinh tế thị trường, nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của nó.
Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; Thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho khối doanh nghiệp này thực sự bước vào kinh tế thị trường. Hình thành các loại hình doanh nghiệp mới như thí điểm mô hình công ty mẹ-con..và tạo điều kiện dễ dàng chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, do trong quá trình hoạt động có sự biến động về tổ chức, nhân thân chủ doanh nghiệp và môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp thường có nhu cầu chuyển đổi từ loại hình này sang loại hình khác trong khi vẫn giữ hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường. Các giải pháp hợp nhất, chia tách doanh nghiệp cũng là các giải pháp thường xuyên đòi hỏi các thủ tục pháp lý tương ứng..Đáp ứng được những yêu cầu đó sẽ kích thích sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhà nước cần sớm ban hành Luật khuyến khích cạnh tranh và chống độc quyền, mở rộng quyền kinh doanh cho các loại hình doanh nghiệp…Đồng thời từng bước xóa bỏ chính sách bảo hộ về thuế và thực hiện các quy định đối xử quốc gia phù hợp với tiến trình hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế.
Nhà nước cần tạo môi trường kinh tế-xã hội ổn định bằng cách xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất, quan trọng nhất là giao thông vận tải, thông tin liên lạc; kết cấu hạ tầng xã hội và các dịch vụ công cộng khác như bảo đảm an ninh, dịch vụ tài chính, tín dụng….Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội tốt sẽ khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh cao, khuyến khích được xuất khẩu. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Trên cơ sở môi trường kinh doanh và chính sách cạnh tranh bình đẳng trong nước được hoàn thiện nhằm xây dựng một cơ chế thị trường tương đối hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn của EU về cơ chế thị trường, có vậy EU mới công nhận Việt Nam theo cơ chế thị trường, và Việt Nam mới có cơ sở pháp lý trong đàm phán với EU và EU mới đối xử công bằng với tất cả các doanh nghiệp Việt Nam có quan hệ thương mại với các đối tác EU.
Hệ thống quy phạm pháp luật của EU rất đồ sộ và chặt chẽ. Những quy phạm pháp luật của EU liên quan đến thương mại hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư liên quan đến thương mại phần lớn đều thống nhất với những quy định của WTO. Khi các nước khu vực CEEC (10 quốc gia mới gia nhập vào EU năm 2004, bạn hàng truyền thống của Việt Nam) là thành viên của EU thì những nước này phải điều chỉnh hệ thống pháp quy của họ, kể cả những cam kết quốc tế song và đa biên cho đồng nhất với những quy định của EU. Vì vậy, để tiếp tục và tăng cường phát triển quan hệ kinh tế, thương mại với EU, Việt Nam cần rà soát lại hệ thống pháp quy để điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc chưa minh bạch.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng xóa bỏ các thủ tục phiền hà, nhất là thủ tục xuất nhập khẩu, ổn định môi trường pháp lý để tạo sự tin tưởng cho các doanh nghiệp, khuyến khích họ yên tâm đầu tư lâu dài vào sản xuất kinh doanh. Sớm hoàn thiện chính sách thuế, đặc biệt là chính sách thuế xuất nhập khẩu có định hướng nhất quán trong một khoảng thời gian dài để không gây băn khoăn cho doanh nghiệp trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh. Tính toán hợp lý thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo thêm sức cạnh tranh cho hàng hóa ở thị trường trong cũng như ngoài nước. Tiến dần đến luật hóa các quy định trong sản xuất kinh doanh. Tăng cường tính đồng bộ của cơ chế chính sách; áp dụng thí điểm mô hình liên kết trong xây dựng các đề án phát triển sản xuất và xuất khẩu như doanh nghiệp liên kết với các trường, viện nghiên cứu, các tổ chức tài chính hoặc trong hiệp hội doanh nghiệp [2].
3. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường EU Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
EU là một thị trường lớn với 27 quốc gia thành viên với dân số gần nửa tỷ người nên nhu cầu nhập khẩu hàng hóa hàng năm rất lớn. Các mặt hàng nhập khẩu của EU phần lớn là những mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU vẫn chưa đạt được như đúng tiềm năng, nguyên nhân một phần do hoạt động xúc tiến thương mại còn yếu, doanh nghiệp chưa tiếp cận được với thị trường một cách có hiệu quả.
Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xúc tiến và tiếp cận thị trường. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm đối tác EU, nhất là những đối tác đáng tin cậy. Do vậy cần phải nâng cao vai trò của các thương vụ Việt Nam trong việc xúc tiến thương mại, tìm kiếm đối tác, ngân hàng tin cậy cho các doanh nghiệp trong nước. Thương vụ sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm những thông tin về thị trường EU như: những thay đổi về hệ thống pháp luật, quy chế nhập khẩu, thuế quan, tỷ giá hối đoái, lạm phát, xu hướng thương mại, tình hình tăng trưởng kinh tế của EU, diễn biến đối với từng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như dự báo cung cầu, giá cả, vấn đề cạnh tranh, thị hiếu, kênh phân phối…
Các thương vụ Việt Nam tại các nước EU nên hỗ trợ tích cực khi các doanh nghiệp đi thực tế nghiên cứu, khảo sát thị trường EU để công việc triển khai có hiệu quả, tránh tốn kém chi phí cho doanh nghiệp, chi phí đi lại và nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu những mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu nên được Chính phủ hỗ trợ một phần.
Nhà nước nên bổ sung ngân sách cho hoạt động xúc tiến thương mại bao gồm cả ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp và ngân sách tăng cường cho hoạt động chuyên môn của Thương vụ. Ngân sách này nên có tỷ lệ tương thích với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và trong khuôn khổ cho phép của WTO. Thiết lập sự cạnh tranh về ngân sách giữa các tổ chức xúc tiến thương mại và hỗ trợ kinh doanh. Ngân sách xúc tiến thương mại nên được phân bổ cho các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu khác nhau.
Nhà nước và các hiệp hội ngành hàng cũng nên hỗ trợ doanh nghiệp để thành lập văn phòng xúc tiến thương mại đầu tư tại EU. Điều này sẽ góp phần tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp Việt Nam. Văn phòng tập trung vào các hoạt động tư vấn và giới thiệu bạn hàng tiềm năng, các thị trường và các dạng thức hợp tác để mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam; góp phần đề xuất và thực hiện việc cải tiến công nghệ, mẫu mã, mạng lưới phân phối…nhằm cải thiện và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Đây sẽ là đầu mối hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu thị trường, tham gia triển lãm, hội chợ quốc tế, giới thiệu môi trường đầu tư ở Việt Nam và các dự án liên doanh. Ngoài ra văn phòng cũng thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin ưu đãi thuế quan và hạn ngạch, phối hợp với các luật sư để giải quyết những tranh chấp liên quan…
Ngoài hình thức tham gia hội chợ, triển lãm, kho ngoại quan là hình thức tốt nhất để thường xuyên giới thiệu sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam cho người tiêu dùng EU. Việc xây dựng kho ngoại quan sẽ làm cho hàng hóa Việt Nam có mặt thường xuyên tại thị trường Châu Âu với văn phòng hoặc đại diện liên lạc, đại lý hàng hóa, đại diện xúc tiến thương mại lo việc cung cấp thông tin cơ bản, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm và nhà sản xuất.
Ngoài ra, còn tăng tính cơ động trong việc chào hàng với việc cho phép ký gửi hàng mẫu ở các đại lý, mạng lưới kho hàng, các đối tác, các hiệp hội ngành nghề. Hàng Việt Nam cũng có thể tham gia các tuần lễ giới thiệu sản phẩm Châu Á hoặc riêng Việt Nam hoặc theo từng lĩnh vực hoặc ngành nghề.
Kho ngoại quan có thể phục vụ hậu cần cho các hội chợ quốc tế và hội chợ địa phương (nhất là việc chuẩn bị trước hội chợ và chăm sóc khách hàng tiềm năng sau hội chợ), cũng có thể tiết kiệm, giảm chi phí gửi người lo gian hàng. Kho ngoại quan cũng góp phần tăng tính chủ động xúc tiến thương mại khi mở các hội chợ tại chỗ, các hội thảo, tổ chức các hoạt động PR tại Châu Âu.
Ngoài ra hệ thống kho này còn cung ứng cho các kênh phân phối mới với các phân khúc thị trường theo chùm khách hàng, theo chuỗi giá trị, các phân khúc thị trường. Có thể cung ứng nhanh để nắm bắt các cơ hội, cung ứng với giá tốt hơn khi cầu vượt cung. Kho ngoại quan sẽ giúp hàng Việt Nam vượt rào cản chất lượng và kiểm tra hàng hóa để tiện buôn bán và giao hàng chắc chắn hơn, tăng độ tin cậy ở các bạn hàng nhập khẩu. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Kho ngoại quan cũng là cửa ngõ để có thể đưa hàng Việt Nam đi vào các thị trường khác, nhất là 27 nước thành viên EU, thị trường Bắc Phi và các nước trao đổi hàng với Châu Âu.
Thông qua văn phòng xúc tiến thương mại, phòng trưng bày và kho ngoại quan, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận thêm các khách hàng tiềm năng phong phú. Ví dụ như các hệ thống siêu thị. Hiện phần lớn các tập đoàn siêu thị đều mua qua các tổng đại lý từng vùng châu lục. Một tổng công ty thương mại có kho ngoại quan hàng Việt Nam tại Châu Âu có nhiều cơ hội bán hàng cho hệ thống siêu thị tại đây theo phương thức B2B (từ doanh nghiệp đến doanh nghiệp) cộng với đảm bảo chất lượng khi giao hàng và có thể cung ứng các lô hàng bán thử.
Bên cạnh việc xây dựng kho ngoại quan, cần sớm tận dụng thị trường của các nước thành viên mới làm thị trường trung chuyển hàng hóa. Hiện nay số lượng Việt Kiều kinh doanh tại khu vực Trung và Đông Âu rất đông. Do lực lượng Việt Kiều này đã thông thạo ngôn ngữ, thông thạo môi trường kinh doanh, nếu có sự hỗ trợ của chính phủ, kết hợp với sự năng động sáng tạo của các doanh nghiệp trong nước, thực sự họ trở thành lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng tại đây một thị trường trung chuyển hàng hóa và dịch vụ sang khu vực thị trường thống nhất rộng lớn của EU [18].
4. Thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ, gắn nhập khẩu công nghệ từ EU với xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU
Cho tới nay có một vấn đề mà hàng xuất khẩu Việt Nam gặp phải đó là tuy giá thành rẻ nhưng chất lượng hàng hóa lại không cao. Trong khi thị trường EU ngày càng một khó tính hơn thì việc chất lượng sản phẩm không cao đã làm giảm đi sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường; Việc đầu tư đổi mới công nghệ là yêu cầu cấp thiết cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường đặc biệt khó tính này. Để đảm bảo công nghệ mới là phù hợp với tiêu chuẩn của EU, chúng ta nên nhập khẩu công nghệ từ EU và gắn việc nhập khẩu công nghệ này vào với việc xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU. Bằng cách này, hàng hóa được sản xuất ra sẽ có cơ hội được thâm nhập và vượt qua được các rào cản kỹ thuật do EU đặt ra đồng thời chúng ta còn nhập khẩu được công nghệ hiện đại phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu, thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu nói chung sang thị trường EU nói riêng, do đó mở rộng được thị trường xuất khẩu. Đây là một phương pháp hữu hiệu hỗ trợ và đẩy mạnh xuất khẩu sang EU.
Công nghệ của EU tiên tiến, hiện đại song giá thành lại quá cao do đó muốn nhập khẩu được cần có sự hỗ trợ từ phía chính phủ. Tuy nhiên, ngân sách nhà nước ta còn hạn hẹp, nước ta vẫn còn là một nước nghèo không thể đáp ứng được yêu cầu này, do vậy, thu hút các nhà đầu tư EU tham gia vào quá trình sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam là giải pháp thay thế tối ưu để Việt Nam được nhập khẩu các công nghệ của EU và sử dụng công nghệ này vào việc phục vụ cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này. Sẽ dễ dàng hơn nhiều bởi thị trường EU sẽ không chê một sản phẩm được sản xuất theo đúng công nghệ của chính mình.
Để thực hiện được biện pháp này, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi dành cho các nhà đầu tư EU ngoài những ưu đãi và quyền lợi mà họ được hưởng theo Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam, chẳng hạn những ưu đãi về thuế nhập khẩu công nghệ từ EU, thuế suất lợi tức, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài…[3]
5. Tiếp tục phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực và các mặt hàng xuất khẩu mới mà thị trường EU đang có nhu cầu lớn Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Nhà nước cần có chính sách cụ thể để phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường EU. Thông qua sự hỗ trợ về vốn, ưu đãi về thuế và tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển được nền sản xuất nội địa.
Đối với hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU là giày dép và dệt may, do đặc thù riêng trong sản xuất và xuất khẩu là ta chủ yếu làm gia công cho nước ngoài nên hiệu quả thực tế thu được từ xuất nhập khẩu là thấp, hơn nữa là gia công theo đơn đặt hàng và sản xuất theo kỹ thuật nước ngoài nên chúng ta hoàn toàn bị động về mẫu mã, sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, Nhà nước cần có chính sách cụ thể để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất chứ không đơn thuần chỉ làm gia công để tăng hiệu quả xuất khẩu. Đối với những doanh nghiệp đã trực tiếp sản xuất và xuất khẩu hai mặt hàng này, Nhà nước nên có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp này tiếp tục đầu tư vốn và đổi mới công nghệ trong quá trình sản xuất để cải tiến sản phẩm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng EU, nâng cao chất lượng, tăng cường xuất khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn (mua nguyên liệu bán thành phẩm), giảm dần phương thức gia công xuất khẩu đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa cao, tiến tới xuất khẩu sản phẩm 100% nguyên liệu trong nước nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu hai mặt hàng này.
Đối với mặt hàng đang được ưu chuộng trên thị trường EU như hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ gia dụng… Nhà nước cần có chính sách cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vốn và công nghệ hiện đại để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa và nâng cao trình độ tiếp thị sản phẩm nhằm mục đích tăng khối lượng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu những mặt hàng này sang EU.
Đối với mặt hàng nông sản có khả năng xuất khẩu sang thị trường EU như cà phê, chè, rau quả…Nhà nước cần xây dựng quy hoạch, chọn lựa và có chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư vốn tạo ra các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sau thu hoạch để bảo đảm sản phẩm làm ra có năng suất và chất lượng cao, đồng đều, khối lượng lớn và giá thành hạ. Việc tạo ra vùng sản xuất chuyên canh cho xuất khẩu giúp cho công tác thâm canh, chăm sóc và lựa chọn, đảm bảo chất lượng hàng hóa tốt khi đem xuất khẩu.
Nhà nước cũng cần có chính sách cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp chế biến và chế tạo đầu tư theo chiều sâu để nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, tính độc đáo và tính khác biệt của sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng nhằm tăng nhanh khối lượng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu sang thị trường EU. Đối với các doanh nghiệp lớn của Nhà nước thuộc ngành điện tử-tin học, viễn thông. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về vốn và khuyến khích họ tập trung nghiên cứu cơ bản để tạo ra các sản phẩm công nghệ cao [11].
6. Có chính sách phát triển nguồn nhân lực để nâng cao khả năng xuất khẩu vào thị trường EU Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Hiện nay, nước ta rất thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, bởi vậy dẫn tới hàng hóa sản xuất ra chất lượng còn thấp, không đồng đều, kiểu dáng đơn điệu, thiếu tính sáng tạo, giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường. Nhà nước cần tổ chức nhiều chương trình đào tạo chuyên sâu cho các cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật thuộc các ngành chế biến, chế tạo, đồng thời cũng cần đào tạo một đội ngũ cán bộ thương mại giỏi thì mới có thể đưa những sản phẩm có chất lượng tốt đến tay người tiêu dùng EU được. Hiện nay có sự hẫng hụt, chênh lệch lớn về những kiến thức quản lý kinh tế nói chung, quản lý thương mại nói riêng giữa nước ta so với ngay các nước trong khu vực, chính vì vậy, đã đẩy Việt Nam vào tình trạng bất lợi trong các cuộc đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương với các đối tác giàu kinh nghiệm như các đối tác đến từ EU.
Nhà nước cần chú trọng tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về ngoại thương cho các cán bộ lãnh đạo và chuyên viên của các công ty xuất khẩu. Xây dựng chính sách về chế độ bồi dưỡng, đào tạo và tào tạo lại, tuyển chọn cán bộ ngoại thương một cách chặt chẽ và nghiêm túc cả về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và trình độ ngoại ngữ.
Hàng năm, Nhà nước nên cử các cán bộ sang học tập, nghiên cứu tại EU. Mặc dù hiện nay tiếng Anh được sử dụng phổ biến song chúng ta cũng cần các cán bộ ngoại thương giỏi tiếng Pháp, Đức, Tây Ban Nha…và am hiểu về văn hóa mỗi quốc gia thành viên. Như vậy sẽ tạo thuận lợi cho phía Việt Nam trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu, hợp tác kinh doanh, liên doanh với đối tác EU nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang EU.
Nhà nước cũng cần tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo nhằm nâng cao kiến thức kinh doanh và trình độ quản lý cho đội ngũ các nhà quản lý và chỉ đạo kinh doanh của các doanh nghiệp chuyên xuất khẩu hàng hóa sang EU. Mở các lớp thuyết trình giới thiệu các thông tin mới nhất về chế độ, chính sách, thể lệ liên quan đến kinh doanh thương mại cũng như các hướng dẫn về nghiệp vụ như Marketing, vận tải, bao bì hàng hóa, bảo hiểm xuất khẩu, kỹ thuật đàm phán. Tổ chức các hội nghị, hội thảo với EU để trao đổi, học tập kinh nghiệm từ giới kinh doanh EU. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
Đặc biệt Nhà nước nên tích đầu tư hơn nữa vào việc đào tạo các luật sư có năng lực, trình độ, có bằng cấp quốc tế, thông thạo luật Việt Nam cũng như là luật quốc tế để có thể góp phần giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam trong những tranh chấp thương mại quốc tế [8].
Trên đây là một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn rào cản mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải trong quá trình xuất khẩu hàng hoá vào thị trường EU từ đó đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này. Việt Nam cũng như Liên minh Châu Âu (EU) đang có những nỗ lực để xích lại gần nhau hơn. Sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau sẽ tạo đà cho việc phát triển hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam chiếm lĩnh được thị trường và Việt Nam sẽ vươn lên là đối tác thương mại quan trọng của EU trong tương lai.
KẾT LUẬN
Cho đến nay, Liên minh Châu Âu được xem là một thể chế kinh tế chính trị lớn mạnh hàng đầu thế giới. Càng ngày liên minh Châu Âu càng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị và an ninh trên toàn thế giới.
Việt Nam đang nỗ lực hết mình để phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu ra khắp các thị trường trên toàn thế giới, trong đó trọng tâm là thị trường EU. Với tất cả những kết quả mà xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được tại thị trường EU, chúng ta có cơ sở để tin vào sự lớn mạnh hơn nữa về quan hệ hợp tác thương mại của Việt Nam và EU. EU cũng tạo điều kiện cho Việt Nam để hàng hóa xuất khẩu Việt Nam được thâm nhập vào thị trường khó tính này. Chính sự hợp tác, nỗ lực của hai bên đã góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai bên ngày càng phát triển.
Từ việc tìm ra những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang EU, khóa luận đã cung cấp một cái nhìn tổng quan nhất đối với tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU hiện nay, qua đó cũng đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh quan hệ thương mại hợp tác giữa hai bên. Em hy vọng bài khóa luận của em sẽ cung cấp cho thầy cô và các bạn những thông tin hữu ích và phần nào hiểu rõ hơn về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường trên thế giới nói chung và sang thị trường EU nói riêng. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU