Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU – Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
II. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG EU
1. Những cơ hội
1.1. Tiềm năng thương mại của EU
EU là nhà xuất khẩu lớn nhất và nhập khẩu lớn thứ hai trên thế giới. Thực tế này phản ánh vai trò của thương mại EU, cũng như vai trò của thị trường EU với thị trường thế giới. EU cũng đóng góp nhiều vào tiến trình tự do hóa thương mại và phát triển của thế giới, có vai trò rất to lớn trong việc hình thành và điều chỉnh quá trình toàn cầu hóa và các quy định đa phương theo hướng phát triển bền vững. Với 27 thành viên, EU hiện là trụ cột kinh tế lớn nhất trên thế giới, với GDP năm 2007 đạt xấp xỉ 15 nghìn tỷ đô la Mỹ (tương đương 20% GDP thế giới); tổng kim ngạch ngoại thương đạt gần 2000 tỷ USD (chiếm gần 20% thương mại toàn cầu). Nếu tính cả mậu dịch nội khối thì tổng kim ngạch mậu dịch là 3.092 tỷ USD (chiếm 41,4% thị phần thế giới). EU đứng đầu thế giới về xuất khẩu dịch vụ, chiếm 43,8% thị phần thế giới (gấp 2,5 lần Mỹ); đầu tư ra nước ngoài chiếm 47% FDI toàn cầu (Theo Eurostat). Hoạt động thương mại và dịch vụ của EU chiếm tới 25% của cả thế giới. Trong giai đoạn 2006-2020, kinh tế EU được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức 2,1%/năm. Với những thế mạnh nhất định, kể cả những lợi ích kỳ vọng từ tăng cường tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế, EU đặt mục tiêu trở thành nền kinh tế năng động và cạnh tranh nhất vào năm 2010 [28]. Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Sự lớn mạnh kinh tế qua quá trình nhất thể hóa và những bước tiến tới một liên minh chính trị đã và đang đem lại cho EU một sức mạnh kinh tế và chính trị to lớn trên thế giới. EU ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu. Vai trò của EU trên trường quốc tế thể hiện rõ ở lĩnh vực thương mại quốc tế: Thương mại tự do là một trong những mục tiêu chủ yếu của EU. EU đã đóng góp không nhỏ đối với việc phát triển thương mại thế giới. Khối lượng thương mại ngày càng tăng lên đáng kể so với 50 năm qua nhờ vào việc tiếp tục loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Để thấy rõ hơn vai trò kinh tế, thương mại của EU trên trường quốc tế, chúng tay hãy thử so sánh hai thực thể kinh tế lớn nhất hiện nay trên thế giới là EU và Hoa Kỳ. Hiện nay, hai thực thể kinh tế này có ảnh hưởng rất lớn đến trật tự kinh tế quốc tế và chi phối xu hướng phát triển thương mại toàn cầu. Tính gộp lại, hiện nay EU và Hoa Kỳ đang chiếm hơn một nửa kim ngạch thương mại và GDP toàn cầu. Hai thực thể kinh tế lớn nhất thế giới này đã thiết lập phần lớn các luật lệ thương mại và tài chính quốc tế thông qua một loạt các thể chế quốc tế như G8, WTO, IMF và WB, nơi mà cả EU và Hoa Kỳ góp phần lớn vốn.
Là đối tác thương mại lớn nhất trên thế giới, việc EU duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế của mình đồng thời thúc đẩy thương mại quốc tế thông qua tự do hóa các quy định thương mại quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các nước đang phát triển. Hiện chiếm 40% tổng xuất khẩu của các nước đang phát triển, EU tiếp tục có vai trò then chốt trong việc khởi xướng, đàm phán và thực thi chương trình Nghị sự Đô-ha (DDA). Thị trường EU cũng được coi là mở nhất cho các nước nghèo. Trong năm 2003, khoảng 4/5 xuất khẩu của các nước đang phát triển vào EU được miễn hoặc giảm thuế, EU cũng là nhà nhập khẩu chính đối với các sản phẩm nông nghiệp đến từ các nền kinh tế đang phát triển, với tỷ trọng lớn hơn cả Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canađa cộng lại.
Là một thị trường thống nhất lớn nhất trên thế giới, với sức mua cao của gần 500 triệu dân. Thị trường EU đã chuyển từ một thị trường của người bán sang thị trường của người mua. Đây là một thị trường đa dạng, năng động, cạnh tranh và hấp dẫn đối với các nhà xuất khẩu bởi quy mô lớn và nhu cầu cao. Các mặt hàng EU nhập khẩu chủ yếu là dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ…Đây cũng chính là những mặt hàng đầy triển vọng đối với xuất khẩu của Việt Nam vào EU.
Nhu cầu nhập khẩu hàng năm của EU lên tới gần 2000 tỷ USD (Theo Eurostat), trong khi đó năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU chỉ đạt có hơn 8 tỷ USD. Con số này quả thực quá nhỏ bé so với khả năng nhập khẩu của EU [5].
Như vậy, EU đã trở thành một thị trường thống nhất lớn nhất thế giới cả trong lĩnh vực tiêu thụ và xuất khẩu hàng hóa cũng như là dịch vụ. EU là một thực thể kinh tế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại quốc tế và có vai trò nổi bật trong Tổ chức thương mại Thế giới. Chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu và với vai trò nổi bật trong Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), EU là thị trường tiềm năng đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1.2. Quan hệ thương mại, chính trị và ngoại giao giữa Việt Nam và EU ngày càng phát triển tốt đẹp Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (22/10/1990) đến nay đã hơn 15 năm, với đà phát triển nhanh chóng, EU và Việt Nam đã trở thành một trong những đối tác quan trọng của nhau. Có được điều này một phần là nhờ sự gắn bó lịch sử lâu đời giữa Việt Nam với EU nói chung và các nước thành viên nói riêng. Hiện nay, quan hệ Việt Nam và EU không chỉ bó hẹp trong hợp tác phát triển mà đã trở nên toàn diện hơn trên nhiều lĩnh vực. Việt Nam không còn là nước chỉ nhận viện trợ mà đã vươn lên trở thành một đối tác và bạn hàng của EU. Việc kí kết Hiệp định khung năm 1995 và Hiệp định hợp tác Việt Nam-EU giai đoạn 1996-2000 đã mở ra một triển vọng tốt đẹp cho mối quan hệ toàn diện và vững chắc giữa EU và Việt Nam. Hiệp định là đỉnh cao trong mối quan hệ hợp tác Việt Nam EU từ trước đến nay. Đây cũng là Hiệp định khung đầu tiên được EU kí kết với một quốc gia Đông Nam Á. Hiệp định đã khẳng định cả Việt Nam và EU cùng thỏa thuận sẽ dành cho nhau quy chế tối huệ quốc (MFN), đặc biệt là quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)- điều này có ý nghĩa lớn vì trong khi Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO mà vẫn được hưởng quy chế ưu đãi này.
Ngay sau khi ký Hiệp định khung với Việt Nam, vào cuối năm 1995, EU đã cử ngay một số quan chức nghiên cứu giúp Việt Nam đẩy nhanh chương trình chuyển sang nền kinh tế thị trường. Từ tháng 9/1995, đại diện của Việt Nam đã bắt đầu tham gia các hoạt động của ủy ban ASEAN ở Brussels trong khuôn khổ quan hệ giữa các nước ASEAN và EU. Như vậy, quan hệ thương mại Việt Nam-EU còn tạo thêm điều kiện cho Việt Nam mở rộng hơn nữa các quan hệ nằm trong khuôn khổ hợp tác ASEAN-EU. Ngày 17/1/1996, EU đã cử Đại sứ thường trực của mình tới Việt Nam, sau đó Ủy ban hợp tác Việt Nam-EU cũng được thành lập. Ủy ban này có nhiệm vụ thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế- thương mại theo sự cam kết của Hiệp định khung. Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Về hợp tác phát triển, EU đã trở thành một trong những nhà tài trợ lớn nhất về hỗ trợ phát triển. Trong 10 năm (1999-2000), EU đã dành cho Việt Nam khoản viện trợ hơn 2 tỷ USD, trong đó phần lớn là viện trợ không hoàn lại để thực hiện nhiều dự án quan trọng về y tế, công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cải cách hành chính, xóa đói giảm nghèo, văn hóa, giáo dục…Từ khi nối lại quan hệ hợp tác phát triển với Việt Nam năm 1995, mức viện trợ phát triển chính thức (ODA) của EU dành cho Việt Nam đã tăng đáng kể. Tháng 5/2002, Ủy ban Châu Âu (EC) đã thông qua chiến lược hợp tác với Việt Nam giai đoạn 2002-2006 trong các lĩnh vực: y tế; giáo dục, phát triển nông thôn; cải cách thể chế, phát triển kinh tế tư nhân và hỗ trợ Việt Nam khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO với tổng số tài trợ khoảng 200 triệu Euro, trong đó 162 triệu Euro dành cho chương trình chiến lược quốc gia song phương. Hai bên đã thống nhất các lĩnh vực ưu tiên trong giai đoạn 2005-2006 là tín dụng xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ ngân sách cho ngành giáo dục. Việt Nam và EU đều cho rằng, việc triển khai thực hiện các chương trình hợp tác phát triển là có hiệu quả. Tuy vậy, do vướng mắc về thủ tục, nên kết quả vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng sự mong đợi của cả hai bên. Tại hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 11/2003, EU đã tuyên bố tài trợ cho Việt Nam trên 400 triệu Euro, trở thành một trong những nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam. Đến thời điểm trước tháng 5/2004, bên cạnh quan hệ hợp tác đa phương Việt Nam-EU, đã có 12 trong số 15 nước thành viên EU xác lập quan hệ hợp tác phát triển song phương với Việt Nam. Các nước tài trợ lớn nhất cho Việt Nam là Pháp, Đức, Thụy Điển và Đan Mạch. Theo số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết năm 2003, có 11 trong 15 nước thành viên EU cũ có dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số 372 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư là 6.030,6 triệu USD. Có 4 trong số 10 nước thành viên mới của EU có dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn là 72,3 triệu USD. Các nhà đầu tư EU có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp và xây dựng với tổng vốn đầu tư là 4,18 tỷ USD, tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ với tổng số vốn 2,43 tỷ USD, còn lại là nông lâm nghiệp với tổng vốn đầu tư là 457,6 triệu USD. Rất nhiều tập đoàn lớn hàng đầu của EU như: Shell (Hà Lan), BP (Anh), Total (Pháp), Siemens (Đức), Nokia (Phần Lan), Metro (Đức)…đã có mặt và kinh doanh khá thành công tại Việt Nam [18].
Hiện EU là nhà tài trợ lớn nhất về hợp tác phát triển cho Việt nam tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, bảo vệ môi trường, chuyển đổi nền kinh tế, cải cách hành chính, xóa đói giảm nghèo…Dự kiến trong thời gian tới, nguồn vốn ODA của EU viện trợ cho Việt Nam cũng sẽ tiếp tục tăng.
Năm 2006 đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động đầu tư của EU vào Việt Nam. Tổng số vốn đăng ký mới của EU đạt trên 1,6 tỷ USD, đứng vị trí thứ 2 sau Hàn Quốc 2,4 tỷ USD và cao hơn Hồng Kông 1,14 tỷ USD, Nhật Bản 938 triệu USD và Hoa Kỳ 638,5 triệu USD. Tính đến hết năm 2007, 15/27 nước EU có trên 664 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với số vốn đăng ký khoảng trên 12,1 tỷ USD tăng 40.7% (5,1 tỷ USD) so với năm 2006.
Trong quan hệ thương mại: hiện nay toàn bộ 27 nước thành viên EU đều có quan hệ buôn bán với Việt Nam, trong đó Pháp, Đức, Anh là những bạn hàng lớn nhất. EU đang chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu và gần 10% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Từ năm 1995 đến nay, kim ngạch buôn bán hai chiều của Việt Nam-EU tăng liên tục và ổn định. Việt Nam xuất khẩu sang EU hầu hết là các sản phẩm giày dép, quần áo, thủ công mỹ nghệ, hàng nông sản… và nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị y tế, sắt thép các loại, nguyên phụ liệu dệt may da, hóa chất và các sản phẩm hóa chất, phương tiện vận tải…từ hầu hết các nước thành viên EU trong đó nhiều nhất là Đức, Pháp, Anh, Italy, Hà Lan…[5]
Các nước thành viên EU có những chính sách khác nhau với Việt Nam nhưng nhìn chung là thuận lợi. Đây là một điều kiện tốt cho quan hệ kinh tế, thương mại phát triển lên một tầm cao mới. Mấy năm qua, liên tục có các cuộc viếng thăm của lãnh đạo Nhà nước ta cũng như của các nước thành viên EU. Trong tất cả các cuộc gặp gỡ cấp chính phủ hoặc cấp Bộ Ngành với Ủy ban Châu Âu hoặc với các nước thành viên, hai bên đều tỏ rõ mối quan tâm thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế giữa Việt Nam với EU.
Việc đổi mới chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách thương mại của EU cũng tạo nhiều thuận lợi cho việc phát triển quan hệ hợp tác, đầu tư, giao thương thương mại với Việt Nam. “Sáng kiến Thương mại xuyên khu vực EU-ASEAN” sẽ là tiền đề rất có ý nghĩa cho một khu vực mậu dịch tự do EU-ASEAN trong tương lai mà cả hai bên đều mong muốn hướng tới.
1.3. EU là một thị trường thống nhất với 27 quốc gia thành viên Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
EU là một thị trường thống nhất lớn trên thế giới với sức mua của gần triệu dân. Lượng người tiêu dùng lớn hơn, sẽ có nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn, nhu cầu tiêu dùng phong phú hơn. 8/10 nước thành viên mới của EU mở rộng vốn là bạn hàng truyền thống của Việt Nam. Như vậy, quan hệ đối tác và bạn hàng trước đây của Việt Nam với khu vực này sẽ có điều kiện khôi phục và phát triển trở lại. Việt Nam có thể sử dụng những thị trường này như là một khu vực thị trường kết nối để tiếp cận và mở rộng sang thị trường khổng lồ EU. Hơn nữa, lực lượng người Việt Nam đang lập nghiệp tại các nước này cũng sẽ góp phần không nhỏ vào việc tăng cường hợp tác, quảng bá và tiếp thị cho hàng hóa Việt Nam.
Là một thị trường thống nhất nên tất cả các nước trong EU đều có luật lệ chung và một biểu thế nhập khẩu thống nhất, do đó các doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động trong việc hoạch định các kế hoạch sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu hàng hóa sang các quốc gia EU. Đồng thời, với đồng tiền thống nhất, với phương thức thanh toán thống nhất trong toàn khu vực sẽ là một điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện dễ dàng hơn các hợp đồng ngoại thương. Theo kết quả khảo sát của Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương, 43,5% Doanh nghiệp có phân tích rủi ro về biến động tỷ giá khi sử dụng ngoại tệ trong giao dịch và có 27,42% doanh nghiệp sử dụng đồng Euro trong giao dịch xuất với EU theo yêu cầu của đối tác. Các doanh nghiệp sử dụng đồng Euro cũng thống nhất đánh giá những tiên lợi của việc sử dụng đồng Euro trong giao dịch xuất khẩu như: phương thức thanh toán thuận lợi, thống nhất giữa các nước EU; giảm thời gian giao dịch; giảm sự phụ thuộc vào đồng USD; giảm chi phí giao dịch; giảm chi phí chuyển đổi tiền tệ và không lo xảy ra tình trạng khan hiếm Euro trong giao dịch….Với cơ sở kinh tế vững mạnh của đồng Euro, với những tiện lợi là đồng nội tệ của EU và để bảo hiểm rủi ro do biến động tỷ giá hối đoái trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội để đa dạng hóa các phương tiện thanh toán của mình bằng cách tăng sử dụng đồng Euro trong hợp đồng xuất khẩu với EU nói riêng và xuất khẩu nói chung [10]. Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Mấy năm qua, thị trường EU rộng lớn, rộng mở với gần 500 triệu người tiêu thụ, có sức mua cao, đa dạng, thị trường này có sức hút to lớn đối với nhiều nước, đặc biệt là đối với nước ta, vốn có quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại truyền thống đối với tất cả các nước thành viên EU cũ lẫn mới. Thị trường rộng lớn của EU sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam gia tăng lượng hàng xuất khẩu sang Châu Âu, đặc biệt nhờ vào biểu thuế chung của EU thấp hơn so với biểu thuế trước kia của nhiều thành viên mới từng là đối tác song phương của Việt Nam. Điều này được thấy rất rõ qua các sản phẩm chế biến từ chè, cà phê và một số sản phẩm nông sản khác. Các mặt hàng này chịu mức thuế nhập khẩu 15% khi xuất sang các nước Trung và Đông Âu trước kia, nhưng nay sẽ không bị đánh thuế trong khuôn khổ EU mở rộng, báo hiệu một khả năng tăng trưởng mới cho cơ hội giao thương Việt Nam- EU.
Hơn nữa khi hàng hóa đã được thông quan ở bất kỳ một quốc gia nào thành viên của EU thì sẽ được tự do di chuyển khắp các thành viên khác của EU mà không phải thực hiện thông quan lần nữa, đây sẽ là một điều kiện tốt =để doanh nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm được chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được các thủ tục thông quan rườm rà khi phải di chuyển sang nhiều quốc gia khác nhau.
Cộng đồng người Việt Nam đang làm ăn và sinh sống tại Trung và Đông Âu, đặc biệt là ở ba nước thành viên mới gia nhập năm 2004 của EU đó là Ba Lan, Hungari và Séc rất đông đảo và đã thiết lập được mạng lưới kinh doanh, buôn bán mạnh mẽ từ nhiều năm nay. Trong những năm qua, dù giao thương Việt Nam- EU tăng mạnh nhưng theo Ủy ban Châu Âu (EC), vẫn còn đến 45% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang 15 nước EU cũ thông qua trung gian. Khi các nước Đông và Trung Âu gia nhập EU, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam sang các thị trường này sẽ đóng vai trò khá quan trọng, vì các mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường này sẽ là hàng xuất khẩu trực tiếp. Như vậy, mặc dù khối lượng xuất khẩu và tỷ trọng chưa tăng ngay nhưng tỷ lệ lợi nhuận thu được lại cao. Hơn nữa, do EU là thị trường thống nhất nên hàng Việt Nam đã thâm nhập được vào thị trường các nước này thì cũng sẽ thâm nhập được vào thị trường các nước thành viên khác của EU [8].
Đây là những lợi thế nhất định của Việt Nam mà không phải quốc gia nào cũng có được. Do vậy, chúng ta cần phải tận dụng những ưu thế này để giành lấy thị phần trên thị trường EU.
1.4. EU chuyển hướng chiến lược sang Châu Á Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Trong chiến lược Châu Á của EU, khu vực Đông Nam Á được xác định là trọng tâm, trong đó EU coi Đông Nam Á, trước hết là Việt Nam là mũi đột phá để từ đó thâm nhập sang các thị trường khác ở Đông Nam Á. Việt Nam hiện nay ngày càng có vị trí chiến lược của mình Đông Nam Á. Trong quan hệ thương mại, EU coi Việt Nam là một thị trường lớn với hơn 82 triệu dân có nhiều tiềm năng. Hiện nay, tất cả 27 nước thành viên EU đều có quan hệ mua bán với Việt Nam, trong đó Pháp, Đức, Anh và Hà Lan là những bạn hàng lớn nhất. Từ năm 1995 đến nay, kim ngạch buôn bán hai chiều của Việt Nam- EU đã tăng liên tục và tăng khá ổn định.
Trong chuyến thăm Việt Nam trong hai ngày 21-22/04/2006, Cao ủy Ferrero-Waldner đã phát biểu: “Đối với Liên minh Châu Âu, Việt Nam là một đối tác quan trọng ở Đông Nam Á. Hợp tác phát triển và thương mại vẫn tiếp tục là những nền tảng quan trọng trong quan hệ Việt Nam- EU, tuy nhiên chúng ta cần tiếp tục tăng cường và tích cực tham gia đối thoại về các vấn đề khu vực và toàn cầu mà hai bên cùng quan tâm. Đề xuất về Đề án tổng thể cho quan hệ trong tương lai là một dấu hiệu mạnh mẽ thể hiện sự quan tâm và tầm quan trọng ngày một tăng mà Việt Nam dành cho mối quan hệ với Liên minh Châu Âu. Chúng ta sẽ nỗ lực hết sức để biến những mục tiêu của đề án thành hiện thực và tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ chứng kiến sự lớn mạnh cả về bề rộng lẫn chiều sâu trong quan hệ song phương trong tương lai”.
Nhờ có sự chuyển hướng chiến lược này mà Việt Nam ngày càng có vị thế quan trọng trong chiến lược mới này của EU. Hiện nay, EU đang từng bước đẩy mạnh quan hệ hợp tác phát triển đối với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế. EU dành nhiều ưu đãi hơn cho Việt Nam trong hợp tác phát triển kinh tế. Sự điều chỉnh chính sách thương mại của EU đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt nam khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU. Tháng 5/2000, EU đã công nhận Việt Nam áp dụng cơ chế kinh tế thị trường, cho phép đưa hàng Việt Nam lên ngang hàng các nước kinh tế thị trường trong việc điều tra và thi hành các biện pháp chống bán phá giá. Điều này giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam được đối xử công bằng hơn trên thị trường EU [2].
1.5. Lợi thế của việc gia nhập WTO
Trở thành thành viên thứ 150 của WTO ngày 07/11/2006, Việt Nam được kỳ vọng là sẽ thành công- như Trung Quốc sau khi gia nhập WTO- trong việc thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu và tăng cường vị thế của mình trên trường quốc tế. Với nhu cầu nhập khẩu lớn của EU và một số quốc gia khác như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nền kinh tế Châu Á trong những năm gần đây, Việt Nam có nhiều khả năng tăng mạnh xuất khẩu, gia nhập WTO cũng cho phép Việt Nam cải thiện khả năng cạnh tranh nhờ giảm thuế nhập khẩu và rào cản phi thuế quan ở các nước nhập khẩu. Quan trọng hơn, Việt Nam có khả năng đàm phán và có quyền hợp pháp sử dụng các công cụ giải quyết tranh chấp của WTO để bảo vệ doanh nghiệp của mình. Như vậy, xuất khẩu của Việt Nam sẽ được bảo vệ tốt hơn chống lại các biện pháp bảo hộ như kiện chống bán phá giá… nhưng tất nhiên điều này phải tính đến việc Việt Nam phải được công nhận là quốc qia có nền kinh tế thị trường.
Gia nhập vào WTO, Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường cho phép các doanh nghiệp nước ngoài vào cạnh tranh trực tiếp và bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước. Theo đó, cạnh tranh sẽ rất là khốc liệt. Áp lực cạnh tranh đến từ các doanh nghiệp nước ngoài và việc cắt giảm trợ cấp sẽ buộc Việt Nam phải tái cơ cấu kinh tế, thực hiện “Việc phá hoại một cách sáng tạo” (đây là một thuật ngữ được Schumpeter đưa ra vào năm 1942 để mô tả quá trình industrial chuyển đổi công nghiệp nhằm khuyến khích đổi mới triệt để. Trong quan điểm của Schumpeter, gia nhập thị trường sáng tạo với những ý tưởng mới của doanh nhân và/hoặc công ty mới có vai trò quan trọng với bảo đảm tăng trưởng kinh tế dài hạn, kể cả khi phải xóa bỏ các doanh nghiệp đã được thiết lập trước đó với sức mạnh độc quyền), hay nói cách khác đó là quá trình đào thải, những doanh nghiệp nào không đủ sức cạnh tranh trên thị trường sẽ bị phá sản, chỉ còn chỗ đứng cho những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh. Điều này sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tự thay đổi mình, có chiến lược kinh doanh phù hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng sẽ tìm được chỗ đứng trên thị trường và hoạt động có hiệu quả hơn [6].
2. Những thách thức Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
2.1. Các rào cản thương mại
EU bảo hộ nền sản xuất nội địa chặt chẽ và ngày càng đặt ra nhiều biện pháp nghiêm ngặt nhằm hạn chế các mặt hàng nhập khẩu. Các vụ kiện bán phá giá và hàng rào phi thuế quan của EU gây không ít khó khăn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Các hàng rào thuế quan ngày càng giảm dần theo xu thế hội nhập của thế giới cũng như là điều kiện do WTO đặt ra, nhưng các rào cản phi thuế quan do EU đặt ra lại ngày càng tăng và thậm chí là ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn. Hàng xuất khẩu của Việt Nam muốn thâm nhập được vào EU thì phải đáp ứng được các rào cản đó.
Chúng ta chắc hẳn không quên vào cuối năm 2004, trên mười nghìn con cá da trơn, cá rô phi và cá trê xuất khẩu của các doanh nghiệp ở An Giang, Đồng Tháp…bị EU trả về do phát hiện nhiễm chất độc Malachite Green- hóa chất có thể gây ra bệnh ung thư. Hai năm trước đó là một loạt các lô hàng tôm nhiễm chất Chloramphenicol bị trả về. Thực tế vào tháng 12/2003, Nafiquaved (Cục quản lý chất lượng vệ sinh và thú y thủy sản) đã khuyến cáo các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản về loại hóa chất Malachite Green này, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam đã quá dửng dưng và thực tế còn rõ ràng hơn nữa đó là nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản chưa có thiết bị kiểm tra chất lượng Malachite Green. Ví dụ này đã cho chúng ta thấy sự thiếu sót trong khâu đảm bảo vệ sinh thực phẩm của Việt Nam cũng như khâu quản lý chất lượng sản phẩm xuất khẩu.
Là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội giao thương với các nước trên thế giới trên cơ sở hàng rào thuế quan và phi thuế quan thấp. Tuy nhiên, mở rộng thương mại trong những năm gần đây đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp ở những ngành xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam đã liên tục phải đương đầu với các vụ kiện chống bán phá giá. Nếu từ giữa năm 1994 đến năm 2000 có đến 4 vụ kiện thì từ năm 2000 đến nay đã có 20 vụ. Các vụ kiện quan trọng đều liên quan đến Liên minh Châu Âu (EU) và Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp Việt Nam đa phần bị kết luận bán phá giá với mức thuế chống bán phá giá cao. Vụ kiện với Hoa Kỳ về cá tra, cá basa và tôm đã làm hàng nghìn hộ nông dân nuôi trồng bị mắc nợ và nhiều hộ bị tái nghèo. Vụ kiện giày mũi da với EU khiến cho hàng trăm lao động mất việc làm và tác động đến đời sống của gần một triệu lao động cho ngành giày da, mà 80% trong số họ là phụ nữ.
Theo thống kê của Ủy ban Châu Âu (EU), năm 2005, số lượng giầy da xuất khẩu của Trung Quốc nằm trong diện bị điều tra bán phá giá là 206 triệu đôi, chiếm 16,5% so với tổng số giầy của Trung Quốc xuất khẩu vào thị trường EU, còn lượng giầy da của Việt nam nhằm trong diện bị điều tra chống bán phá giá là 119 triệu đôi chiếm tới 45% tổng số giầy xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này. Điều này cho thấy sự khác biệt rất lớn về số lượng hàng giầy da nhập khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam sang thị trường EU. Giầy da xuất khẩu từ Việt Nam về số lượng ít hơn của Trung Quốc tới 4,8 lần nhưng tỷ lệ giầy bị điều tra chống bán phá giá nhiều hơn gấp hai lần.
Lý do dẫn đến những phán quyết không công bằng cho Việt Nam là do Việt Nam bị EU, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác áp đặt quy chế nền kinh tế thị trường. Theo đàm phán song phương với Hoa Kỳ, Việt Nam đã phải chấp nhận là nền kinh tế phi thị trường tối đa là 12 năm sau khi gia nhập WTO. Sự áp đặt này là hết sức phi lý vì nó không dựa trên sự phân tích những thành tựu cải cách của Việt Nam mà chỉ là một sự “mặc cả chính trị”, Hoa Kỳ lo ngại hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ gia tăng đáng kể ở thị trường của họ giống như hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Quy chế nền kinh tế phi thị trường tạo thuận lợi để các doanh nghiệp của họ dễ dàng thắng các vụ kiện về bán phá giá và áp đặt thuế chống bán phá giá cao đối với các doanh nghiệp Việt Nam bởi lẽ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (DSM) sẽ không tạo ra một cơ hội cho Việt Nam để bác lại các phán quyết chống bán phá giá mang tính phân biệt đối xử cho đến khi Việt Nam không còn bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Chừng nào quy chế nền kinh tế phi thị trường chưa được dỡ bỏ, Việt Nam sẽ vẫn phải chịu những cáo buộc tùy tiện về chống bán phá giá.
Mặc dù đi ngược lại với quy định của WTO “đối xử không phân biệt vô điều kiện và ngay lập tức” cho tất cả các thành viên của WTO và vi phạm quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN) của WTO đối với ngành dệt may Việt Nam, chính quyền Bush đã đề xuất việc thiết lập một chương trình giám sát chống bán phá giá hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào Hoa Kỳ để có được sự ủng hộ của hai Thượng nghị sỹ Elizabeth Dole và Lindsey Graham cho việc ban quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam. Chính quyền Bush nêu rõ ràng cơ chế giám sát này sẽ sử dụng phương pháp đánh giá áp dụng cho nền kinh tế phi thị trường. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến việc chính quyền Bush, thay mặt cho hai ngành sản xuất này, khởi kiện và áp thuế chống bán phá giá đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam bất cứ lúc nào họ muốn.
WTO buộc các nước phải cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan chính vì vậy các biện pháp bảo hộ như thuế chống bán phá giá trở nên thường xuyên được áp dụng. Trước năm 1995 khi WTO chính thức thành lập, số vụ kiện chống bán phá giá chỉ khoảng 100 nhưng từ năm 1996 số vụ khởi kiện hàng năm lên tới 300 vụ một năm. Sự bất bình đẳng này sâu sắc hơn nhiều đối với các nền kinh tế chuyển đổi, bị ép buộc vào quy chế kinh tế phi thị trường. Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và EU không sử dụng chi phí sản xuất và giá trong nước của nền kinh tế phi thị trường để tính giá bán của sản phẩm tại thị trường nước này mà sử dụng giá và chi phí của một nền kinh tế thị trường được lựa chọn làm thay thế. Kết quả là giá bán các sản phẩm tại thị trường trong nước của các nền kinh tế phi thị trường thường bị đánh giá cáo hơn nhiều so với giá thực tế và do đó dẫn tới kết luận bán phá giá và thuế chống bán phá giá cao. Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Những nền kinh tế thị trường được chọn làm thay thế thường có nền kinh tế phát triển cao hơn so với các nước chuyển đổi. Ví dụ, năm 2004, GNI trên đầu người của Việt Nam tính theo ngang bằng sức mua (PPP) là 2.700 USD nhưng của Mexico, nước thay thế cho Việt Nam trong vụ kiện bán phá giá xe đạp là 9.640 USD và của Brazil, trong vụ giày dép ở thị trường Châu Âu là 7.940 USD.
Đa số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay cạnh tranh chủ yếu trên cơ sở chi phí nhân công rẻ. Khi chọn một nước kinh tế phát triển cao hơn, chắc chắn chi phí nhân công của họ sẽ cao hơn nhiều so với các nhà sản xuất của Việt Nam, EU cho rằng Việt Nam là một nền kinh tế phi thị trường nên không có một thị trường lao động tự do và vì thế không coi chi phí nhân công thấp đúng là lợi thế so sánh của Việt Nam. Chính vì vậy khi chọn nước thay thế, EU không hề để ý đến sự khác biệt về chi phí lao động. Điều đáng nói là khi đánh giá nền kinh tế Việt Nam, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) nhận định Việt Nam đã có thị trường lao động tự do tương đối phát triển.
Phi lý ở một cách khác, DOC còn áp đặt chi phí lao động cho Việt Nam bằng giá trị hồi quy mức lương và thu nhập quốc dân của nhiều nền kinh tế thị trường, trong đó bao gồm cả những nền kinh tế hàng đầu thế giới như Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Anh và Canada. Bằng việc áp đặt mức lương 0,63 USD/giờ cho những người nông dân nuôi trồng cá tra và ba sa và 0,70 USD/giờ cho nuôi trồng tôm trong khi thù lao thực tế của họ hàng tháng chỉ khoảng 500.000 đồng/tháng (32,3 USD) đã đẩy chi phí sản xuất cho hàng xuất khẩu của Việt Nam lên mức cao hơn nhiều so với thực tế.
Sự chênh lệch về trình độ kinh tế luôn đi kèm với sự chênh lệch về trình độ công nghệ sản xuất và khả năng tự túc về nguyên liệu dẫn đến sự cạnh tranh trên những phân đoạn thị trường xuất khẩu có giá trị khác nhau.
Trong vụ kiện giày da xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh trên phân đoạn giá trung bình và thấp đã bị so sánh với giày da xuất khẩu của Brazil và giày sản xuất nội địa của EU cạnh tranh trên phân đoạn giá xa xỉ và giá cao. Thậm chí ngay cả khi hai nước có nền kinh tế khá tương đồng xét trên khía cạnh GNI trên đầu người (PPP) thì sự khác biệt về phương thức và điều kiện sản xuất cũng dẫn đến sự chênh lệch về chi phí sản xuất. Bangladesh, nước được chọn thay thế cho Việt Nam trong vụ cá sa, batra và tôm, không có điều kiện tự nhiên thuận lợi như đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam và nghề nuôi trồng và chế biến thủy hải sản phát triển như của Việt Nam nên chi phí sản xuất cao hơn.
Phương pháp nền kinh tế phi thị trường lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1967 đối với việc gia nhập GATT của Ba Lan. Những luật lệ về chống bán phá giá của khá nhiều quốc gia trong đó có Hoa Kỳ và EU có quy định riêng cách thức áp dụng phương pháp này và các tiêu chuẩn để đánh giá nền kinh tế hoặc ngành hoặc công ty vận hành theo thị trường. Tuy nhiên, ngay cả những nền kinh tế thị trường được coi là phát triển nhất cũng không thể đáp ứng được những tiêu chuẩn của EU và Hoa Kỳ do vẫn duy trì thương mại nhà nước, kiểm soát giá đối với các mặt hàng trọng yếu, hoặc đồng nội tệ không hoàn toàn có khả năng chuyển đổi hoặc không hoàn toàn có sự tự do tuyển dụng và sa thải nhân công.
Quyết định về nền kinh tế phi thị trường mang nhiều tính chính trị hơn là dựa trên những đánh giá kinh tế. Hoa Kỳ và EU giữ quyền thay đổi quyết định của họ khi họ cảm thấy cần thiết. Họ không cần quan tâm đến sự thực là khi các nền kinh tế chuyển đổi này gia nhập WTO, họ đã phải chứng minh được với các thành viên WTO về thành tựu cải cách theo hướng thị trường của mình. Giống như Trung Quốc, là thành viên của WTO, Việt Nam vẫn tiếp tục bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm kể từ ngày gia nhập WTO.
Như vậy DSM của WTO không thể thay đổi phán quyết không công bằng cho Việt Nam trong các vụ bán phá giá do quy chế nền kinh tế phi thị trường gây ra. Đây sẽ là một khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thâm nhập vào thị trường thế giới nói chung và thị trường EU nói riêng.
2.2. Áp lực cạnh tranh trên thị trường EU
EU đang là một thị trường xuất khẩu tiềm năng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Gia nhập vào thị trường EU là gia nhập vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt về mẫu mã, chất lượng, giá cả các sản phẩm xuất khẩu. Đặc biệt là có một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ đang tiếp tục phát triển mạnh và tạo ra sức ép cạnh tranh cho hàng xuất khẩu trên các thị trường chủ yếu trong đó có EU.
Sang năm 2008, hàng dệt may của Trung Quốc được EU dỡ bỏ hạn ngạch, nên hàng dệt may của Việt Nam sẽ càng gặp khó khăn hơn nữa khi xuất khẩu vào EU. Nếu như thị trường Mỹ đạt kim ngạch 4,4 tỷ USD, chiếm đến 56% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam thì EU là thị trường lớn thứ hai, với kim ngạch năm 2007 đạt 1,5 tỷ USD tăng 15% so với năm 2006. Dự báo năm 2008, xuất khẩu dệt may của nước ta vào EU sẽ gặp nhiều trở ngại cho EU bãi bỏ hạn ngạch với Trung Quốc.
Theo nhận định của Hiệp hội dệt may Việt Nam, việc EU bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Trung Quốc, đồng thời áp dụng một hệ thống giám sát “kiểm tra kép” để theo dõi việc cấp phép xuất khẩu hàng dệt may tại Trung Quốc và việc nhập khẩu mặt hàng này vào EU, sẽ tác động đáng kể đến hàng dệt may của Việt Nam xuất sang EU, bởi Trung Quốc có năng lực cạnh tranh rất lớn do họ chủ động được nguồn nguyên liệu và có khả năng đáp ứng nhiều loại phẩm cấp hàng hóa. Theo đại diện một số doanh nghiệp Việt Nam cho biết, không chỉ riêng các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam, mà các doanh nghiệp của nhiều quốc gia xuất khẩu dệt may khác như Ấn Độ,
Bangladesh cũng lo ngại trước sức cạnh tranh của hàng dệt may Trung Quốc tại thị trường EU năm nay. Mục tiêu mà ngành dệt may nước ta đặt ra trong năm nay là xuất khẩu đạt 9,5 tỷ USD, tăng 30% so với năm 2007, trong khi đó thị trường EU phấn đấu đạt 1,8 tỷ USD. Đây là nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực cao ngay từ đầu. Dù tình hình có khó khăn hơn, phải cạnh tranh quyết liệt hơn, nhưng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều cơ hội giữ vững và duy trì được mức tăng trưởng nếu tìm được hướng đi thích hợp cho mình. Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Về mặt hàng giày dép, việc Trung Quốc ký Hiệp định thương mại với EU và là một thành viên của WTO sẽ là yếu tố không thuận lợi trong các cố gắng cạnh tranh thị phần của Việt Nam. Trên thị trường EU, giày dép Việt Nam phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ phía Trung Quốc. Theo thống kê của Ủy ban Châu Âu, năm 2005, nhu cầu nhập khẩu giầy của thị trường EU là 2,5 tỷ đôi, trong đó giầy da chiếm 35%. Lượng giầy da được nhập khẩu từ Trung Quốc là 1,25 tỷ đôi, chiếm 50% tổng nhu cầu nhập khẩu của thị trường EU. Lượng giầy da nhập khẩu từ Việt Nam là 269 triệu đôi, chỉ chiếm 11%. Từ năm 2004-2005, số lượng giầy da của Trung Quốc xuất khẩu sang thị trường EU tăng 450%, còn nếu tính từ năm 2001-2005 tăng tới 1000%. Cũng thời gian từ 2004-2005, lượng giầy da xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU không tăng do sự cạnh tranh mạnh mẽ của giầy da Trung Quốc. Nếu tính từ giai đoạn 2001-2005 lượng xuất khẩu giầy da của Việt Nam vào thị trường EU chỉ tăng 100%. Như vậy, sự gia tăng xuất khẩu giầy dép của Việt Nam không đáng kể so với Trung Quốc và theo nhiều nhà kinh tế đánh giá là không đáng ngại đối với các nhà sản xuất giầy của EU. Về yếu tố giá cả, từ năm 2001 đến năm 2005, giá của giầy da Trung Quốc, xuất khẩu vào thị trường EU giảm tới 31% còn giá giầy da của Việt Nam chỉ giảm 20%. Mặc dù, mức tính bình quân giá bán giầy da giảm nhưng nếu xem xét từng mặt hàng thì hầu hết giá bán hàng giầy da của Việt Nam đều cao hơn so với Trung Quốc. Ví dụ, nhóm mã hàng 640219, giá bán của Việt Nam là 8,4 Euro/đôi trong khi của Trung Quốc bán 3,29 Euro/đôi thấp hơn hàng của Việt Nam 2,6 lần, hoặc nhóm hàng 640299, giá bán của Việt Nam là 5,45 Euro cao hơn giá bán của Trung Quốc là 2,82 lần.
Một khó khăn nữa mà ngành sản xuất giày dép Việt Nam đang gặp phải cho đến nay đó là hầu hết thiết bị sản xuất giày dép được nhập khẩu từ Đài Loan và Hàn Quốc, chủ yếu là công nghệ của thập kỷ 70, 80 nên tuổi thọ ngắn trong khi phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ nên khả năng cạnh tranh và hiệu quả không cao. Sắp tới mặt hàng giày dép của Việt Nam có nguy cơ bị loại khỏi danh mục được hưởng GSP của EU nên cạnh tranh trên thị trường này đối với giày dép Việt Nam lại càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản của Việt Nam có nhu cầu xuất khẩu lớn đang vấp phải hàng rào thuế quan rất cao của EU: như gạo ở mức hơn 100%, đường gần 200%. Hai mặt hàng này tuy được hưởng ưu đãi GSP nhưng mức thuế phải nộp vẫn còn rất cao, trong khi một số lượng lớn hàng của nhiều quốc gia khác lại được giảm nhiều hơn hoặc là miễn thuế. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng một số nông sản và thực phẩm Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu chặt chẽ khi xuất khẩu sang EU. Hạn chế nữa là các doanh nghiệp Việt Nam chưa làm tốt công tác Marketing và thiếu vốn để mua nguyên phụ liệu cần thiết, do đó chưa lập được quan hệ đối tác trực tiếp với nhà nhập khẩu mà phải xuất khẩu vào EU qua trung gian.
Từ đầu tháng 4/2005, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU phải gặp áp lực cạnh tranh nhiều hơn nữa sau khi EU quyết định nới rộng việc áp dụng một hệ thống giảm thuế dành cho hàng nhập khẩu từ Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia và Sri Lanka. Theo quyết định trên, các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những nước bị sóng thần tàn phá sẽ được hưởng quy chế JFP 2005-2008 sớm hơn 3 tháng so với kế hoạch ban đầu. Quy chế này được áp dụng từ năm 1971, với mục đích giúp các nước đang phát triển mở mang thị trường Châu Âu qua việc miễn và giảm thuế nhập khẩu. Theo kế hoạch JFP, tôm và giày dép của Thái Lan, hàng dệt may của Ấn Độ và giày dép của Inđônêxia xuất khẩu sang EU sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi. Cụ thể là từ 1/8/2005, thuế suất đối với mặt hàng tôm Thái Lan nhập khẩu vào EU được giảm từ 20% xuống còn 4,5% đã tạo thêm sức ép cạnh tranh đối với ngành thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. Thời gian qua, hàng tôm Việt Nam vẫn chưa có khả năng cạnh tranh với tôm Thái Lan tại Châu Âu, việc giảm thuế lần này cho Thái Lan sẽ càng khiến các doanh nghiệp Việt Nam khó đưa sản phẩm vào thị trường này. Bên cạnh đó EU còn cho phép 90% các mặt hàng nhập khẩu từ Sri Lanka kể cả hàng dệt may sẽ được miễn thuế.
Như vậy cạnh tranh trên thị trường EU là rất khó khăn, các doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại trên thị trường này cần phải cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm để góp phần nâng cao tính cạnh tranh cho hàng hoá của mình [19].
2.3. Hệ thống phân phối và thương hiệu của hàng hóa Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
EU có một hệ thống phân phối khá phức tạp. Có rất nhiều mặt hàng của Việt Nam chưa tiếp cận trực tiếp với các kênh phân phối này. Nhiều khi hàng xuất khẩu của Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU chỉ theo một kênh phân phối hoặc phải đi theo đường vòng, hiện nay hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam qua EU nói riêng và qua các thị trường khác nói chung chủ yếu là qua trung gian (nhất là Singapore và Hồng Kông). Các hệ thống đại lý ở EU bán khá nhiều mặt hàng sản xuất ở Việt Nam, nhưng được người tiêu dùng biết đến thông qua nhãn hiệu của những nước khác. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa thể bán hàng trực tiếp cho các siêu thị ở EU. Điều này đã hạn chế khả năng đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá bán của doanh nghiệp.
Thử lấy ví dụ về kênh phân phối đồ gỗ nội thất ở EU ta có thể thấy hệ thống phân phối đó được chia như sau:
- Các kênh phân phối chuyên biệt: bao gồm các nhà bán lẻ chuyên doanh các sản phẩm nội thất và nguyên phụ liệu. Các kênh phân phối chuyên biệt chiếm gần 80% doanh thu bán lẻ đỗ gỗ nội thất ở các nước tiêu dùng đồ gỗ nội thất hàng đầu EU. Các kênh phân phối này có thể gồm các nhà bán lẻ có tổ chức (chuỗi cửa hàng bán lẻ quy mô lớn, các cửa hàng nhượng quyền hoặc các nhà bán lẻ tư nhân).
- Các kênh phân phối không chuyên: Bao gồm tất cả các kênh phân phối có bán đồ gỗ nội thất: các trung tâm thương mại, cửa hàng bán hàng qua thư. Doanh thu bán lẻ của các nước tiêu dùng đồ gỗ nội thất không chuyên chiếm khoảng 20% tổng doanh thu bán lẻ của các nước tiêu dùng đồ gỗ nội thất hàng đầu EU. Năm 2005, ở các nước tiêu dùng đồ gỗ nội thất hàng đầu của EU có khoảng 86,175 cửa hàng bán lẻ nội thất. Kinh doanh bán lẻ đồ gỗ nội thất rất đa dạng với nhiều loại cửa hàng, từ những cửa hàng chỉ bán một loại sản phẩm nội thất đặc biệt đến những cửa hàng bán nhiều loại sản phẩm với phụ kiện kèm theo.
Đối với các nhà xuất khẩu đồ gỗ nội thất ở các nước đang phát triển, phân phối sản phẩm qua EU khá phức tạp. Do đó cách tốt nhất là có một kho hàng ở một nước EU. Khi xuất khẩu đồ gỗ nội thất lần đầu tiên, kênh phân phối tốt nhất là thông qua các nhà nhập khẩu EU. Họ là những người hiểu rõ thị trường nên có thể đưa ra cách phân phối an toàn nhất và hiệu quả nhất và cung cấp những thông tin, những chỉ dẫn cần thiết như quy trình xuất nhập khẩu và lưu kho hàng hóa. Nếu tạo dựng được mối quan hệ hợp tác tốt với nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu có thể nắm bắt được các yêu cầu về chất lượng, mẫu mã và nguyên liệu. Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Ngoài ra, còn có những kênh phân phối thích hợp với các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển như: phân phối qua các nhà sản xuất bản địa; phân phối qua đại lý mua hàng; phương pháp bán hàng qua đại lý bán hàng; phương pháp bán hàng qua hệ thống cửa hàng, siêu thị; phương pháp mua hàng qua tổ chức người mua; nhà sản xuất thâm nhập trực tiếp.
Đối với sản phẩm giày dép, có đến hơn 60% sản phẩm giày dép Việt Nam là gia công cho phía đối tác nước ngoài dưới hình thức làm theo đơn đặt hàng, với giá nhân công rẻ nên các doanh nghiệp Việt Nam chỉ giao hàng đến các nhà buôn mà không xuất khẩu trực tiếp đến các nhà phân phối chính. Đây là điểm rất yếu của ngành giày dép Việt Nam vì đa phần phụ thuộc vào hệ thống phân phối kinh doanh nước ngoài, điều đó đồng nghĩa với việc bị chi phối về sản xuất. Bên cạnh đó việc tập trung quá lớn vào thị trường EU cũng làm cho ngành giày dép gặp nhiều khó khăn lúng túng khi thị trường này có biến động bất thường do tranh chấp thương mại. Đó là hậu quả của việc không xây dựng được hệ thống phân phối chiến lược. Hiện nay, một số doanh nghiệp Việt Nam đang tìm hướng chuyển đổi thị trường xuất khẩu để tránh phụ thuộc quá nhiều vào EU. Tuy nhiên, trong mấy năm tới, ngành giày dép Việt Nam sẽ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bởi không thể chuyển đổi thị trường nhanh chóng được.
Hệ thống phân phối khó khăn đã dẫn tới việc hàng hóa của Việt Nam không được biết đến trên thị trường EU mặc dù sản phẩm đã được người tiêu dùng EU chấp nhận. Theo thống kê của Eurocham, 95% giầy nhập khẩu vào Đức được sản xuất theo đơn đặt hàng, Việt Nam chỉ đóng vai trò gia công. Ông Nguyễn Duy Thanh, Phó Tổng giám đốc Công ty Biti’s cho biết các sản phẩm giày dép của Việt Nam xuất đi các nước đều có ghi “made in Vietnam” nhưng dòng chữ đó không tạo được ấn tượng với người tiêu dùng, bởi người tiêu dùng chỉ quan tâm đến tính cách nhãn hiệu mà họ yêu thích. Ông Thanh cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến người tiêu dùng EU không biết đến thương hiệu giầy dép Việt Nam là do các doanh nghiệp không chú trọng đến công tác xây dựng thương hiệu và chưa có chiến lược quảng bá mang tính quốc gia tại các thị trường ở nước ngoài. Thời gian qua, một vài doanh nghiệp giầy dép lớn ở Việt Nam đã bắt đầu dành kinh phí để xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, những thương hiệu đó mới chỉ dừng lại ở thị trường trong nước. Trong những năm tới, cạnh tranh trên thị trường giầy dép quốc tế sẽ rất khốc liệt, doanh nghiệp Việt Nam muốn gia nhập sân chơi thương mại lớn phải xây dựng thương hiệu không chỉ ngày một ngày hai mà đó là một quá trình bài bản, lâu dài, tốn nhiều công sức và chi phí. Thậm chí, các doanh nghiệp có thể thuê tư vấn nước ngoài để cùng chia sẻ những thông tin và kinh nghiệm của họ… Ngoài ra với những doanh nghiệp đã bước đầu tạo dựng được thương hiệu tại thị trường nội địa như Biti’s, Bita’s, Thượng Đình, An Lạc…và đã có được những danh tiếng từ thương hiệu của mình, cũng nên tiếp tục có kế hoạch mở rộng uy tín thương hiệu tại thị trường nước ngoài, bởi trong những năm tới, các quốc gia thuộc khu vực Châu Á sẽ là điểm ngắm của các nhà nhập khẩu thế giới. Nếu các doanh nghiệp không nắm được thông tin và tận dụng mọi cơ hội để phát triển về mọi mặt thì một ngày nào đó, nhắc đến các nhà xuất khẩu giày dép với thương hiệu uy tín sẽ không thể thiếu vắng Việt Nam [20].
2.4. Thách thức từ việc gia nhập WTO Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Việt Nam mới gia nhập vào WTO không lâu, các doanh nghiệp chưa quen với các quy định và thông lệ của WTO sẽ khó thích nghi và hoạt động kinh doanh trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết, đã và sẽ được thể hiện qua các quy định pháp lý.
Gia nhập WTO đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục bãi bỏ các loại trợ cấp đối với hàng hóa bị cấm, trừ hàng nông sản, trong vòng 5 năm, theo Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng (Hiệp định này còn gọi là “ Hiệp định Trợ cấp”, cấm các loại trợ cấp để các đơn vị hưởng lợi đạt được mục tiêu xuất khẩu nào đó, hay sử dụng các sản phẩm trong nước thay cho các sản phẩm nhập khẩu, nhằm tạo môi trường bình đẳng cho thương mại quốc tế trong điều kiện không có hỗ trợ không bình đẳng). Thực hiện Hiệp định này cũng đòi hỏi phải ngừng trợ cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước.
Trong giai đoạn hậu gia nhập WTO, Việt Nam phải mở cửa thị trường, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài cạnh tranh trực tiếp và bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước. Theo đó, cạnh tranh sẽ khốc liệt và gây nguy cơ phá sản và đóng cửa cho các doanh nghiệp Việt Nam thiếu sự chuẩn bị chu đáo và có cách tiếp cận cạnh tranh phù hợp. Để có thể nắm bắt cơ hội mở rộng thị trường sau khi gia nhập WTO và phát triển xuất khẩu lâu dài, doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm hơn đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Chất lượng sản phẩm sẽ góp phần quan trọng trong việc cải thiện khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt nam, tạo điều kiện thâm nhập vào các thị trường lớn với quy định chặt chẽ về chất lượng hàng nhập khẩu, cũng như giúp vượt qua các rào cản kỹ thuật hoặc quy chuẩn ngày càng nhiều của các nước nhập khẩu.
Cuối cùng, với chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất khẩu, Việt Nam có thể gặp vấn đề về xác định cơ cấu xuất khẩu cho phù hợp. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam tập trung xuất khẩu các mặt hàng có chất lượng cao, họ sẽ phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ lớn. Chẳng hạn, trong trường hợp mặt hàng giày dép, các sản phẩm chất lượng cao của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ có nhiều kinh nghiệm từ Ý, Pháp, Anh và Tây Ban Nha. Còn nếu các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tập trung vào các mặt hàng giá rẻ, thì việc cạnh tranh với Trung Quốc- một nền kinh tế có nguồn lao động dồi dào, sẵn có đầu vào và có năng suất cao hơn- sẽ là rất khó khăn đối với nhiều ngành hàng xuất khẩu và hỗ trợ xuất khẩu [6].
2.5. Những thách thức xuất phát từ chính bản thân các doanh nghiệp Việt Nam Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
Thị trường EU là một thị trường khá khó tính và khắt khe, muốn thâm nhập vào thị trường này không phải là dễ, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thiếu thông tin về thị trường này.
Theo một cuộc khảo sát do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thực hiện về lý do doanh nghiệp chọn EU là thị trường xuất khẩu thì hầu hết doanh nghiệp được khảo sát đều cho rằng thị trường EU hấp dẫn là do có sức mua lớn, hàng hóa của doanh nghiệp xuất sang EU có lợi thế so sánh với các doanh nghiệp các nước khác và một lý do nữa là doanh nghiệp có được đơn đặt hàng từ các đối tác EU. Như vậy, một câu hỏi được đặt ra là phải chăng các doanh nghiệp chọn thị trường EU để xuất khẩu là do khu vực này có chính sách ưu đãi đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam? Đáng ngạc nhiên là điều này chỉ đúng đối với một số rất ít, khoảng 3,23% tổng số doanh nghiệp khảo sát. Còn lại, đa số các doanh nghiệp không nhận thức được chính sách ưu đãi của EU, ví dụ như Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP). Tương tự như vậy chỉ có chưa đến 20% số doanh nghiệp cho rằng chính sách ngoại thương của EU rất rõ ràng. Thực trạng này cho thấy mức độ tiếp cận thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam về các chính sách của EU đối với các nước xuất khẩu như Việt Nam còn rất hạn chế [7].
Khi tiến hành khảo sát về mức độ thích ứng của doanh nghiệp đối với thị trường EU, khoảng một nửa doanh nghiệp được khảo sát cho rằng họ gặp phải 3 rào cản chính khi xuất khẩu vào thị trường EU, đó là: các quy định pháp lý của EU quá khắt khe; việc nắm bắt tập quán, thói quen và thị hiếu của người tiêu dùng EU không hề đơn giản; và sự khác biệt đáng kể trong các quy định pháp lý của Việt Nam và EU. Đáng lưu ý là một tỷ lệ không nhỏ các doanh nghiệp (24-37%) không thể nhận định về mức độ những rào cản này, phản ánh một thực tế là nhiều doanh nghiệp chưa thực sự nắm được các quy định liên quan của EU.
Hơn nữa, qua quá trình khảo sát các doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đã đưa ra kết luận rằng; có một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp được khảo sát đánh giá thấp tầm quan trọng của liên doanh liên kết để tăng cường tính cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. Điều này cho thấy dường như các doanh nghiệp chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của chuỗi giá trị trong sản xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp cũng còn rất yếu trong việc phân tích điểm mạnh, điểm yếu để xây dựng chiến lược của mình nhằm tận dụng cơ hội xuất khẩu vào thị trường EU. Xét ở tầm vĩ mô, nguồn lực của doanh nghiệp sẽ bị đầu tư dàn trải, dễ bị lãng phí. Điều này dẫn đến ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Do vốn ít, các doanh nghiệp chủ yếu ở dạng quy mô vừa và nhỏ nên hoạt động đầu tư cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu còn hạn chế. Hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu sản phẩm của Việt Nam sang thị trường EU vẫn còn chưa được chú trọng đúng mức, có doanh nghiệp đã quan tâm nhưng hoạt động lại không hiệu quả. Nguồn nhân lực được đào tạo một cách bài bản, có năng lực vẫn còn thiếu. Chính vì vậy, để hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam thâm nhập được vào thị trường này, cần sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nước cũng như sự nỗ lực từ phía các doanh nghiệp.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta đã thấy được những cơ hội mà thị trường EU đã mở ra đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể vấp phải khi thâm nhập vào thị trường này. Để có thể thâm nhập thành công, chúng ta cần biết tận dụng những cơ hội, dần khắc phục và đẩy lùi những rào cản mà EU đặt ra cũng như là những thiếu sót đối với hàng hóa của Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan thách thức xuất khẩu hàng hóa sang EU