Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ứng dụng marketing xuất khẩu trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường và mặt hàng dệt may xuất khẩu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2.1. Tình hình các thị trường chính của dệt may Việt Nam

Một số lợi ích khi đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may ra thị trường thế giới

Dệt may là mặt hàng trọng điểm và đang dẫn đầu về tỷ trọng đóng góp cho nền kinh tế quốc dân. Do đó đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may là chiến lược quan trọng trong ngành công nghiệp nhẹ của Việt Nam. Hoạt động này cũng mang lại cho ngành rất nhiều thuận lợi.

Thứ nhất, sự tăng số lượng và giá trị hàng dệt may vào các thị trường lớn như Mỹn Nhật Bản giúp cho Việt Nam thu được lợi nhuận trong kinh doanh và gia tăng thị phần ở các thị trường đó. Hiện Việt Nam là một trong những nước đứng đầu trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ.

Thứ hai, xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho nhập khẩu nhiều hàng hoá hơn để Việt Nam có thể hiện đại hoá nền kinh tế, nhập khẩu những hàng hoá mà không có hay đắt hơn ở trong nước và người tiêu dùng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn hàng hoá.

Thứ ba, thúc đẩy xuất khẩu dệt may sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành liên quan như: trồng bông, sản xuất vải, nhuộm, v.v…

Thứ tư, đẩy mạnh xuất khẩu dệt may vừa tận dụng được nguồn lao động dồi dào, giá rẻ cũng như nguồn nguyên liệu rẻ ở Việt Nam vừa tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Thứ năm, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may giúp cho các doanh nghiệp tăng thêm khả năng đầu tư vào đổi mới công nghệ, tiếp thu những thành tựu mới của khoa học – công nghệ

Thứ sáu, nó còn giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam học hỏi được kinh nghiệm buôn bán quốc tế ở thị trường có mức độ cạnh tranh cao.

Thứ bảy, nó giúp tăng cường mối quan hệ giưa hai nước không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn cả các lĩnh vực khác cũng như mở rộng quan hệ với các nước khác trên thế giới.

Hiện nay, Việt Nam đã đứng trong tốp 10 nước sản xuất và xuất khẩu nhiều nhất mặt hàng này, và đang phấn đấu để hoàn toàn có thể lọt vào nhóm 5 nước sản xuất và xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới từ nay đến 2015. Việc xác định những thị trường lớn và tiềm năng của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam là một trong những bước quan trọng của hoạt động đánh giá thực trạng ngành và đề ra những hướng phát triển hiệu quả nhất cho ngành.

Bên cạnh những thị trường lớn như EU hiện đang chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam, Nhật Bản chiếm 10%, thì Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm 53%, và các nước khác, như hình sau:

Hình 4 : Thị phần hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam

Bước sang năm 2010, ngành dệt may hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt từ 10-10,5 tỷ USD, tiếp tục là ngành xuất khẩu mũi nhọn của cả nước và phấn đấu lọt vào top 5 của những nước xuất khẩu dệt may lớn nhất trên thế giới trong năm năm tới.

Suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực vào sản xuất công nghiệp, trong đó có ngành dệt may Việt Nam. Người tiêu dùng tại các nước phải thắt chặt chi tiêu. Nhu cầu tiêu dùng tại các nước vốn là thị trường chủ lực của ngành dệt may Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,… đã sụt giảm nghiêm trọng. Hầu hết các nhà bán lẻ lớn như Limited, JC Penny, Macy, Ann Taylors… đã đóng bớt hệ thống cửa hàng của họ và giảm lượng đặt hàng tại các nước sản xuất, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta, thời gian qua một số doanh nghiệp không có đơn hàng, nhiều doanh nghiệp đầu tư của Hàn Quốc và Ðài Loan đã đóng cửa hoặc giảm đáng kể sản xuất. Một bộ phận khá lớn lao động của các doanh nghiệp trong ngành đã bị mất việc làm hoặc bị giảm thu nhập do giảm giờ làm. Người lao động lo lắng cho cuộc sống của họ, còn người sử dụng lao động cũng đau đầu với việc duy trì hoạt động của doanh nghiệp.

Mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu, xuất khẩu của ngành dệt may năm 2023 tương đối khả quan, là ngành duy nhất giữ vững được kim ngạch xuất khẩu như năm 2022, ước đạt 9,1-9,2 tỷ USD, trong đó, thị trường Mỹ giảm 5%, EU giảm 3,5%, nhưng thị trường Nhật Bản tăng 15% và nhiều thị trường mới tăng như Trung Ðông: tăng 13%, Hàn Quốc tăng 67%, ASEAN tăng 29%, Ấn Ðộ tăng 60%…. Trong khi đó, do chủ động về nguồn nguyên phụ liệu sản xuất trong nước nên kim ngạch nhập khẩu của ngành về vải giảm 6,9%; về sợi dệt giảm 0,3%; về bông giảm 15,3%. Ước tính năm 2023, tổng kim ngạch nhập khẩu phục vụ hàng dệt may xuất khẩu là khoảng hơn 5 tỷ USD. Như vậy trong năm 2023, ngành dệt may Việt Nam đã “xuất siêu” ước tính 4 tỷ USD, đóng góp một phần không nhỏ trong việc giảm “nhập siêu” của Việt Nam; tăng tỷ lệ nội địa hóa của hàng dệt may Việt Nam lên 44% so với mức 38% của năm 2022. Ðạt được kết quả trên là một nỗ lực lớn của các doanh nghiệp trong ngành, của hàng triệu lao động trong điều kiện các thị trường tiêu dùng và nhập khẩu chính đều suy giảm mạnh, và hầu hết các nước xuất khẩu đều bị giảm kim ngạch xuất khẩu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.2.1.1. Thị trường EU Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Thị trường chung Châu Âu vốn là một trung tâm – kinh tế – xã hội lớn của thế giới, chiếm 20% tổng giá trị buôn bán của thế giới. EU có dân số hơn 500 triệu người, đời sống cao, mức tiêu thụ hàng dệt may lớn ( 20kg/người/năm) nhưng đồng thời cũng là thị trường có yêu cầu hàng dệt may có chất lượng rất cao. Nhu cầu tiêu dùng để bảo vệ thân thể chỉ chiếm 10 – 15%, con 85 – 90% là theo mốt, nên chất xám chiếm tỷ trọng cao trong chất lượng sản phẩm. Tổng thể 27 nước thành viên hình thành những thị trường có những đặc điểm riêng. Cũng vì thế, EU là thị trường có nhu cầu hết sức đa dạng.

Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam với các nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU) đã có từ lâu, mối quan hệ ấy đặc biệt phát triển nhanh, mạnh kể từ khi Việt Nam và EU thành lập quan hệ ngoại giao năm 1990. Liên Minh châu Âu đã và đang trở thành một đối tác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả năng tiêu thụ nhiều loại sản phẩm của Việt Nam như giầy dép, dệt may, nông sản, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ dân dụng, sản phẩm nhựa, đồ điện tử, thuỷ sản… Đồng thời EU cũng là một khu vực có nền kinh tế phát triển cao, có thể đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu thiết bị công nghệ nguồn và nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đức là nước nhập khẩu nhiều mặt hàng dệt may nhất của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Đức chiếm tới 27% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp đến là Vương quốc Anh, chiếm 17% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang các nước thành viên trong khối EU tăng trưởng khá. Mức độ sụt giảm ở từng nước là khá thấp, riêng chỉ có xuất sang Italia là giảm mạnh nhất, giảm tới 42%. Đây là điểm khá thuận lợi cho hàng dệt may Việt Nam trong thời gian tới. Điều này chứng tỏ lòng tin người tiêu dùng EU đang tăng lên đối với hàng dệt may của Việt Nam.

Đối với thị trường EU, phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,2 tỷ USD năm 2010, nâng tỷ lệ xuất khẩu lên 1,4% kim ngạch nhập khẩu của khu vực. Năm 2022, EU đã bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc, do vậy, Bộ Công Thương cho rằng cần nghiên cứu tác động của thị trường EU khi Trung Quốc được bãi bỏ hạn ngạch để giúp các doanh nghiệp định hướng mặt hàng và nước xuất khẩu để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh.

2.2.1.2. Mỹ

Với dân số trên 300 triệu người, thu nhập bình quân đầu người khoảng 50.000 USD, tốc độ tăng trưởng năm hàng năm là trên 5%, Mỹ được coi là thị trường tiêu dùng khổng lồ. Kim ngạch nhập khẩu dệt may khoảng 60 tỷ USD mỗi năm, Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới bằng cả EU và Nhật Bản cộng lại.

Mức sống của người dân Mỹ cũng rất đa dạng nên tiêu dùng hàng dệt may cũng có nhiều loại khác nhau từ hàng chất lượng cao với những hãng nổi tiếng đến hàng bình dân. Sức tiêu dùng hàng dệt may của dân Mỹ cũng dẫn đầu thế giới và gấp 1,5 lần EU – thị trường tiêu dùng hàng dệt may lớn thứ hai thế giới. Theo điều tra cho thấy, một người phụ nữ Mỹ hàng năm mua trung bình 54 bộ quần áo. Do đó, thị trường Mỹ mở ra cơ hội cho tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt may.

Mặt khác, trong ngành dệt may của Mỹ thì chủ yếu tập trung vào sản xuất các mặt hàng cao cấp với công nghệ hiện đại, trình độ lao động cao đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng có mức thu nhập cao nên một đoạn thị trường rộng lớn là hàng dệt may bình dân bị bỏ ngỏ. Khoảng trống của đoạn thị trường này được bù đắp bởi hàng gia công, sản xuất từ các nước đang phát triển nhập khẩu vào Mỹ.

Chính vì sức hút mạnh mẽ của nhu cầu tiêu dùng lớn về hàng dệt may nên Mỹ là thị trường màu mỡ cho hàng dệt may của các nước đổ vào.

2.2.1.3. Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Nhật Bản là một thị trường lớn với dân số 130 triệu người, GDP đứng thứ hai trên thế giới. Nhật Bản vốn là một cường quốc về dệt may, ngành công nghiệp dệt may là ngành hiện đại lớn nhất ở Nhật Bản, trong thập kỷ 60 là ngành sản xuất chủ chốt, là động lực cho sự phát triển kinh tế của Nhật Bản. Do giá nhân công đắt lên, đồng yên tăng giá nên ngành dệt may Nhật Bản mất dần khả năng cạnh tranh. Nhật Bản chuyển sang nhập khẩu phần lớn sản phẩm dệt may để phục vụ nhu cầu nội địa.

Nhật Bản là thị trường lớn thứ hai trên thế giới về tiêu thụ hàng dệt may, trong đó thị trường thời trang hàng ngày cho tầng lớp phụ nữ trẻ chiếm khoảng 60% trong tổng thể thị trường quần áo và có trị giá khoảng 28 tỷ USD.

Mặc dù đang chịu tác động suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng nhu cầu tiêu hàng dệt may của người Nhật không hề giảm sút mà chỉ chuyển hướng từ hàng cao cấp sang bình dân. Do vậy, thị trường nhập khẩu hàng dệt may Nhật Bản vẫn rộng mở chào đón các nhà xuất khẩu nước ngoài. Tuy có vị trí tương đối khiêm tốn trong danh sách những nhà xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Nhật Bản, nhưng thị trường này được nhìn nhận là rất tiềm năng đối với các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu Việt Nam. Trong vòng 5 năm từ 2004 đến 2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Nhật Bản tăng trên 1,5 lần. Trong 17 nhóm hàng mà Nhật Bản nhập khẩu từ Việt Nam thì có đến 11 nhóm hàng đang trong xu hướng tăng, trong đó có nhóm áo thun tăng đến trên 161%, tiếp đến là nhóm váy tăng trên 58%, áo kimono tăng 43% và áo sơ mi tăng 36,5%. Việc gia tăng nhập khẩu hàng dệt may từ Việt Nam của Nhật Bản cho thấy, hàng dệt may Việt Nam đã từng bước chinh phục được giới tiêu dùng khó tính của nước này.

Theo ông Lê Quốc Ân -Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinatex trong chuyến đi khảo sát thị trường Nhật Bản mới đây, nhận định: do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà người dân Nhật Bản có xu hướng tiêu dùng hàng dệt may giá rẻ nhằm cắt giảm tiêu dùng. Trước xu thế ấy, Nhật Bản đã điều chỉnh chính sách nhập khẩu chủ yếu từ nguồn cung cấp của Trung Quốc trong nhiều năm qua sang các nhà cung cấp hàng giá rẻ khác từ châu Á như Ấn độ, Banladesh, Việt Nam…

Nhiều chuyên gia cũng dự đoán rằng, với những tuyên bố gần đây của Nhật Bản, quần áo xuất khẩu từ Trung Quốc đến đây có thể giảm 27% tới mức 50%, từ mức trên 70% hiện nay. Các nhà nhập khẩu Nhật Bản đang rất quan tâm đến các thị trường cung cấp hàng giá rẻ như Ấn độ, Bangladesh và Việt Nam. Trong cuộc cạnh tranh này thì Việt Nam đang có những lợi thế nhất định vì quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam đã xác định là quan hệ đối tác chiến lược, tạo ra một môi trường hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong đó có hợp tác trong ngành dệt may và lợi thế từ Hiệp định đối tác kinh tế Việt – Nhật (VJEPA) đối với hàng dệt, may có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam và ASEAN vào Nhật Bản đựơc hưởng thuế suất ưu đãi bằng 0 từ đầu năm nay. Thêm nữa các nhà nhập khẩu Nhật Bản đánh giá cao tính ổn định, trình độ tay nghề của công nhân, cũng như chất lượng, mẫu mã phong phú, đa dạng của hàng dệt may Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp dệt may đã xây dựng mối quan hệ lâu dài và làm ăn khá thành công với thị trường Nhật Bản như Dệt kim Đông Xuân, Dệt May Nam Định, Dệt kim Đông Phương… Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Riêng dệt kim Đông Xuân đã quan hệ hợp tác với Nhật Bản từ 20 năm nay, trong năm 2023, Dệt kim Đông Xuân đã ký được hợp đồng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản tăng gấp 2 lần so với năm trước và vừa qua đã ký kết thêm 10 năm nữa.

Đối với thị trường Nhật Bản, từ năm 2023, hàng dệt may của ta xuất khẩu sang Nhật được hưởng mức thuế 0% theo Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) được ký kết tháng 4 năm 2022, các doanh nghiệp Việt Nam có thể phải sử dụng nguồn nguyên phụ liệu nội địa hoặc được nhập khẩu từ Nhật Bản hoặc các nước ASEAN để được hưởng mức thuế này, do vậy kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này có thể phấn đấu đạt khoảng 1,1 tỷ USD vào năm 2010, nâng tỷ lệ xuất khẩu lên 3% kim ngạch nhập khẩu của nước này

Trong khi xuất khẩu dệt may qua các thị trường Mỹ, EU có dấu hiệu chững lại hoặc giảm sút, thì thị trường Nhật vẫn hút hàng may mặc Việt Nam, với mức tăng dự kiến đạt 20% trong 6 tháng đầu năm.

2.2.1.4. Asean

Hiệp hội các nước Đông Nam Á, viết tắt là ASEAN, được thành lập từ năm 1967, và đến nay đã bao gồm 11 nước thành viên. Trong gần hai thập kỷ trở lại đây, khu vực ASEAN là một khu vực kinh tế năng động nhất thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của các nước ASEAN cũng đứng vào hàng đầu thế giới. GDP của các nước này tăng trung bình 5 – 11%/ năm. Tất cả các thành viên của tổ chức này đều có ngành công nghiệp dệt may chiếm tỉ lệ khá lớn trong toàn bộ ngành công nghiệp ( khoảng từ 13 – 25%) và giữ vai trò nòng cốt trong nền kinh tế quốc dân, là ngành thu ngoại tệ chính, tạo ra nhiều việc làm cho khu vực đông dân này.

Từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN, quan hệ thương mại và đầu tư vơi các nước thuộc khối này gia tăng đáng kể. Hiện nay các nước ASEAN đang tiêu thụ khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu của nước ta. Mặc dù các nước ASEAN đều có ngành công nghiệp dệt may phát triển nhưng vẫn có nhu cầu nhập khẩu sản phẩm này. Nhu cầu ngày càng tăng vì một vài năm trở lại đây, do tốc độ phát triển kinh tế cao, mức sống của một số nước đang tăng lên, cùng với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng mãnh liệt làm cho tốc độ phát triển ngành dệt may ở các nước này bắt đầu có dấu hiệu chậm lại do thiếu lao động, thiếu kỹ thuật và công nghệ, mẫu mốt đơn điệu và nguyên liệu phụ thuộc vào nhập ngoại. Do vậy, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta vào các nước ASEAN tăng rất nhanh so với các nước, đang dần chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.

Thị trường hàng dệt may của các nước ASEAN vẫn đang là thị trường cạnh tranh mãnh liệt với chúng ta vì các nước này có tốc độ phát triển cao nhưng công nghiệp dệt may vẫn còn giữ một tỷ lệ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tuy vậy, Việt Nam không nên bỏ lỡ thị trường này vì với tư cách là một thành viên của ASEAN, đang tham gia vào AFTA, chúng ta có nhiều thuận lợi trong hoạt động xuất khẩu mặt hàng này.

2.2.2. Thực trạng ứng dụng chiến lược sản phẩm trong xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Chất lượng sản phẩm là nhân tố mang tính quyết định tới sức cạnh tranh của mọi hàng hóa nói chung và sản phẩm dệt may nói riêng, đặc biệt là ở những thị trường khó tính, đòi hỏi cao về chất lượng, mẫu mốt của sản phẩm dệt may. Cho đến nay, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể sản xuất tất cả các loại sản phẩm may mặc theo yêu cầu của các thị trường. Hầu hết các sản phẩm đều có chất lượng khá, đáp ứng được khả năng cạnh tranh về chất lượng ở nhiều mức độ đẳng cấp khác nhau, trong đó có một tỷ lệ tương đối đáp ứng được yêu cầu đẳng cấp ở mức khá và cao, được các nhà nhập khẩu đánh giá tốt như : Sản phẩm Veston của công ty may Nhà bè, công ty may Việt Tiến, công ty May 10, công ty may Bình Minh, công ty may Đức Giang, công ty Argtex, công ty Legamex, sản phẩm sơ mi dệt kim của công ty may Phương Đông, may Thành Công, công ty dệt may Hà Nội, công ty Chutex…sản phẩm đồ lót của công ty dệt kim Đông Xuân, công ty Scavi, công ty Triump…

Trong những năm gần đây, sản phẩm dệt may Việt Nam đã dần được đa dạng hóa và từng bước thay thế hàng nhập khẩu ở khâu sản phẩm sợi, tỷ trọng các mặt hàng polyeste pha bông với nhiều tỷ lệ khác nhau… các loại sợi 100% polyeste cũng bắt đầu được sản xuất và đưa ra thị trường quốc tế. Tại khâu dệt vải nhiều mặt hàng dệt thoi mới, chất lượng cao đã bắt đầu sản xuất tốt và đưa ra thị trường phục vụ cho hoạt động xuất khẩu như hàng sợi pha, hàng kasee đơn màu, kaki. Đối với hàng 100% sợi tổng hợp, nhờ được trang bị thêm các hệ thống xe săn sợi với độ săn cao, thiết bị Cofit, thiết bị giảm trọng lượng đã tạo ra nhiều mặt hàng giả tơ tằm, giả len…thích hợp với khí hậu nhiệt đới, bước đầu giành được uy tín với thị trường trong và ngoài nước.

Như chúng ta đã biết, sở thích, thị hiếu của đa số người tiêu dùng ở các nước phát triển thường thiên về các sản phẩm dệt kim. Nắm bắt được thị hiếu này, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã đặt ra mục tiêu sản xuất quần áo dệt kim cotton OE 100% nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước phát triển. Các doanh nghiệp như dệt kim Đông Xuân, dệt kim Đông Phương, dệt kim Thăng Long, dệt Thành Công…đã đầu tư chiều sâu bằng cách nhập thêm một số máy dệt kim có khổ rộng theo cỡ người, khâu hoàn tất có máy chống co cơ học campactor của Mỹ, bổ sung vào dây chuyền thiết bị sẵn có hoặc đầu tư nhà máy mới. Ban đầu, Việt Nam vẫn phải nhập sợi OE nhưng sau đó thường căn cứ vào nhu cầu tăng trưởng để mở rộng thêm nhà máy chuyên kéo sợi OE cho dệt kim.

Có thể nói, trong những năm qua, ngành dệt may Việt Nam đã không ngừng nâng cao chất lượng hàng dệt may xuất khẩu của mình nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chất liệu quốc tế. Do vậy, các sản phẩm như sơ mi nam nữ, áo khoác, quần âu…đã đáp ứng được nhu cầu của những khách hàng khó tính. Tuy nhiên, so với sản phẩm chất lượng cao của nhiều hãng lớn, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn phải phấn đấu hơn nữa.

Hàng dệt may vốn dĩ thường có vòng đời sản phẩm ngắn. Đặc biệt đối với thị trường các nước phát triển luôn luôn chạy theo mốt cho nên vòng đời sản phẩm còn ngắn hơn nữa. Hàng năm, các nước đều có định hưỡng phát triển mẫu mốt cho từng thị trường của năm đó và dự báo những năm tiếp theo. Trên thực tế, tỷ trọng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên các thị trường Bắc Mỹ, EU, và Nhật Bản còn quá nhỏ và phần lớn không thuộc diện hàng cấp cao nên mẫu mã, kiểu dáng vẫn theo « form » sẵn. Trình độ thiết kế thời trang của Việt Nam còn rất non kém, lực lượng các nhà thiết kế mặc dù dã được đào tạo nhưng vẫn chưa nắm bắt được nhu cầu và đáp ứng tốt được thị hiếu của người tiêu dùng quốc tế. Những sản phẩm may mặc của Việt Nam chưa tạo được dấu ấn riêng của các nhà thiết kế, trong khi đó với các khách hàng khó tính ở Hoa Kỳ, Nhật Bản hay EU thì kiểu dáng và mẫu mã của hàng dệt may quyết định rất lớn đến việc mua hay không mua hàng của họ. Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có ý thức xây dựng hình ảnh thương hiệu của mình và bước đầu đã gặt hái được thành công như : công ty dệt Thái Tuấn, công ty may Việt Tiến, may Nhà Bè, công ty Hanoisimex… với uy tín doanh nghiệp của mình lúc nào cũng nhận được đơn hàng cố định với giá cao từ các nhà nhập khẩu có đẳng cấp trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên nếu so với nhiều đối thủ khác cùng bán sản phẩm dệt may trên thị trường thế giới, thì mức ấn tượng về hình ảnh thương hiệu của Việt Nam còn rất mờ nhạt trong con mắt người tiêu dùng nước ngoài.

Nguyên nhân là do, đại bộ phận các doanh nghiệp dệt may của ta vẫn còn tồn tại yếu kém trong nhận thức về quảng bá thương hiệu, thậm chí có doanh nghiệp cho rằng không cần có thương hiệu mà cốt sao chỉ cần bán được hàng.

Công nhân Việt Nam được đánh giá cao về đào tạo, có kỷ luật, cần cù và khéo léo. Đây cũng là một thế mạnh của dệt may Việt Nam. Tình trạng xuất khẩu dệt may núp bóng dưới các nhãn hiệu nổi tiếng vẫn còn, nhưng nhìn chung, thương hiệu Việt của sản phẩm dệt may cũng đang dần chứng tỏ được uy tín và chất lượng trên trường quốc tế. Hàng dệt may Việt Nam được xem là có lợi thế cạnh tranh trên các thị trường “trung bình khá”. Sản phẩm xuất khẩu ngày càng đa dạng về chủng loại, thêm các mặt hàng mới có tiềm năng như áo len, áo nỉ, bít tất… Mẫu mã, hình thức, màu sắc phong phú hơn. Việt Nam đã có sự đầu tư hơn về chất xám và sự sáng tạo trong sản phẩm. Lực lượng tham gia xuất khẩu ngày càng được mở rộng. Số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tăng với những chiến lược tăng quy mô sản xuất và mở rộng thị trường hơn nữa.

Trong xu thế hội nhập cạnh tranh gay gắt khi đưa hàng ra các thị trường lớn, dệt may Việt Nam cũng đang gặp phải không ít khó khăn trước những rào cản thương mại, những tiêu chuẩn mà đối tác đặt ra. Trong số hàng loạt các tiêu chuẩn bắt buộc đặt ra đối với hàng dệt may, các nhà nhập khẩu hiện quan tâm nhiều đến tiêu chuẩn xanh, sạch đối với sản phẩm ngay từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm…

Song nhìn một cách tổng thể, phần lớn ngành nhuộm-in hoa-xử lý hoàn tất của các sản phẩm dệt may Việt Nam vẫn còn đang áp dụng các công nghệ và máy móc thiết bị cũ, lạc hậu, theo lối thủ công -“truyền thống”. Do đó, năng suất chưa cao, chất lượng chưa thật tốt và sử dụng nhiều hóa chất, thuốc nhuộm, tốn nhiều nước và năng lượng, giá thành cao đã làm giảm tính cạnh tranh trên thương trường. Đồng thời, còn để lại hậu quả là lượng nước thải nhiều và bị ô nhiễm nặng nề đến môi trường, gây rất tốn kém về tiền của khi phải xử lý nước thải. Để phát triển bền vững, tăng trưởng mạnh, tạo sức mạnh cạnh tranh với các nước xuất khẩu hàng dệt may trên thị trường rộng lớn và “khó tính” như: Mỹ, EU, Nhật Bản…, đã đến lúc ngành dệt may Việt Nam cần chuyển mạnh từ các công nghệ và thiết bị truyền thống sang loại hình sản xuất “thân thiện với môi trường”, sản xuất sạch hơn, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao các hóa chất – chất phụ trợ, thuốc nhuộm, hơi, điện, nước với các máy móc thiết bị phù hợp, nhất là các loại mới tiên tiến, hiện đại…

Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ về chất lượng cũng như mẫu mã sản phẩm trên thị trường các nước, song so với những sản phẩm của nhiều nhà cung cấp tiếng tăm khác, thời gian tới đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn cần phải có nhiều cố gắng hơn nữa để cải thiện sản phẩm nếu muốn trụ vững trên thị trường quốc tế.

2.2.3. Thực trạng ứng dụng chiến lược giá trong xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Dưới đây là biểu giá hàng dệt may Việt Nam so với một số nước trên thế giới:

Bảng 4 : So sánh biểu giá giữa các nước trong khu vực

Qua biểu giá trên có thể thấy, giá hàng dệt kim Việt Nam tương đối có sức cạnh tranh do hàng Việt Nam chủ động được từ sản xuất sợi cho đến may thành phẩm, nhưng giá hàng dệt thoi của Việt Nam được đánh giá là khá đắt. Nguyên nhân của vấn đề nay một mặt là do từ nguồn cung cấp nguyên phụ liệu đến công nghệ, thiết bị hầu hết phải nhập khẩu, một mặt do Việt Nam chỉ làm những cắt, ráp, đóng gói có giá trị gia tăng thấp.

Chi phí đầu vào để sản xuất sản phẩm dệt may xuất khẩu là một trở ngại lớn khi các doanh nghiệp muốn áp dụng chiến lược giá để xuất khẩu sản phẩm. Mặc dù đơn hàng và doanh số đều tăng nhưng không ít doanh nghiệp dệt may đang gặp khó khăn do chi phí đầu vào tăng mạnh. Từ đầu năm đến nay, giá nguyên liệu đầu vào, giá xăng, giá điện, tỷ giá USD, lãi suất vay ngân hàng… đồng loạt tăng, tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh. Trong khi chi phí đầu vào tăng mạnh thì cơ sở hạ tầng như: Ðường giao thông, cảng biển… chưa được cải thiện nhiều khiến doanh khó giảm chi phí và giảm khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.

Một yếu tố chi phối không nhỏ trong cơ cấu giá và năng lực cạnh tranh là chi phí nhân công. Việt Nam vẫn coi nhân công là thế mạnh của ngành dệt may, có thể thấy rõ qua biểu so sánh tiền công của công nhân của Việt Nam với một số nước sau:

Bảng 5: Giá nhân công ngành dệt may của Việt Nam và một số nước

Qua đây chúng ta có thể thấy được ưu thế về tiền công trong giá thành sản xuất hàng dệt may của Việt Nam. Dù trong điều kiện hiện nay, chi phí sản xuất hàng may còn cao do chi phí điện tăng, song nếu xét lợi thế về tiền công lao động như trên thì giá thành sản xuất hàng dệt may Việt Nam vẫn được đánh giá là có tính cạnh tranh. Tuy vậy thời gian qua nhiều lao động trong ngành đã nghỉ việc khiến các doanh nghiệp mặc dù nhận nhiều đơn hàng nhưng không đủ lao động để thực hiện. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do có sự chuyển dịch lao động từ ngành dệt may sang các ngành công nghệ cao, có thu nhập cao hơn và sự cạnh tranh thu hút lao động giữa các doanh nghiệp trong ngành tại các địa phương. Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Tận dụng tình hình suy thoái và giảm sản xuất dệt may của một số nước châu Âu, nhiều doanh nghiệp như: Dệt Nam Ðịnh, Việt Thắng, Phước Long, Phong Phú, Hòa Thọ, Sợi Phú Bài, May 10, Nhà Bè,Việt Tiến, Ðồng Nai… đã tranh thủ mua thiết bị, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất của các công ty nước ngoài bị phá sản với giá cả hết sức cạnh tranh để tăng cường năng lực sản xuất của mình. Tăng cường hợp tác với ngành dệt may các nước trong khối ASEAN, đặc biệt trong việc xây dựng và phát triển các chuỗi cung ứng toàn diện dệt may, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.

Giá thành xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác như chi phí vận tải, bảo hiểm, thuế, chi phí Marketing… Với lợi thế ổn định chính trị – xã hội và nguồn lao động, Ngành Dệt May Việt Nam có nhiều lợi thế so sánh để cạnh tranh xuất khẩu và phát triển trên toàn thế giới. Tận dụng lợi thế này, ngay trong giai đọan suy thoái nhất của kinh tế thế giới, toàn ngành mà trong đó hạt nhân là các doanh nghiệp của Vinatex đã triển khai nhiều giải pháp để tận dụng thời cơ, tích cực đầu tư và chuẩn bị các điều kiện phát triển cũng như cạnh tranh xuất khẩu ngay sau khi kinh tế thế giới có tín hiệu chớm hồi phục.

2.2.4. Thực trạng ứng dụng chiến lược phân phối trong xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam

Hiện nay các doanh nghiệp dệt – may Việt Nam chủ yếu là thực hiện các hợp đồng gia công cho nước ngoài , xuất khẩu trực tiếp chỉ chiếm gần 20% nên việc triển khai các hoạt động phân phối chưa tỏ ra có hiệu quả. Việc phân phối thường diễn ra ở trong nước thông qua các đại lý, cửa hàng bán lẻ. Mạng lưới phân phối sản phẩm dệt – may ở nước ngoài đều do các nhà nhập khẩu đảm nhận, sau khi đã xác định thị trường sản phẩm, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng dệt – may Việt Nam đã tự lựa chọn cho mình một kênh marketing thích hợp. Các kênh marketing là những con đường mà qua đó doanh nghiệp có thể nhận được các đơn đặt hàng và hàng hoá của doanh nghiệp có thể tới được khách hàng. Tuy nhiên việc lựa chọn các kênh phân phối sao cho phù hợp và đạt hiệu quả nhất vẫn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ cho các nhà doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng dệt – may Việt Nam bởi vì các hoạt động thu thập thông tin tìm kiếm đối tác của các doanh nghiệp hoạt động chưa mấy hiệu quả. Vả lại việc phân phối qua các nhà nhập khẩu đã đẩy các doanh nghiệp Việt Nam lâm vào tình trạng không tự chủ về thị trường, và không có sự hiểu biết thị trường để thâm nhập sản phẩm sâu hơn.

2.2.5. Thực trạng ứng dụng chiến lược xúc tiến trong xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Do các chính sách kích cầu của Chính phủ, nguồn vốn xúc tiến thương mại cho ngành dệt may đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, trong đó có các đề án quan trọng như xây dựng hình ảnh ngành dệt may Việt nam, tham gia hội chợ Las Vegas Hoa kỳ, tổ chức gặp gỡ các khách hàng nhập khẩu lớn, hội nghị khách hàng thời trang…Mặc dù việc phê duyệt các chương trình khá chậm trễ, và gặp nhiều khó khăn do việc điều chỉnh 1 số quy định về xúc tiến thương mại nhưng nhờ sự nỗ lực của các đơn vị, các chương trình đã được triển khai, đóng góp vào thành tích chung của ngành trong việc duy trì và phát triển của ngành trong thời gian qua.

Ngoài việc đẩy mạnh bán hàng, xúc tiến bán hàng còn góp phần xây dựng đạo đức cho lực lượng bán hàng. Một số doanh nghiệp đã sử dụng hoạt động xúc tiến bán hàng đồng thời với các chương trình khuyến mại khác để phát huy tác dụng một cách đồng bộ. Các doanh nghiệp thường triển khai dưới ba dạng: Xúc tiến bán hàng để giới thiệu sản phẩm mới; xúc tiến bán hàng để gia tăng sức tiêu thụ sản phẩm; xúc tiến bán hàng để trực tiếp thu hút khách hàng ở các cơ sở bán hàng. Tuỳ thuộc vào mục đích xúc tiến và thị trường mà doanh nghiệp sử dụng các phương tiện khác nhau như phát không mẫu hàng, chiết khấu giá, tem thương mại…

Với thị trường nước ngoài các doanh nghiệp đã chú trọng nhiều tới quảng cáo các sản phẩm dệt – may của mình, đặc biệt là đã không bỏ lỡ các cơ hội tham gia hội chợ triển lãm hàng may mặc quốc tế để quảng bá sản phẩm của mình. Ngoài ra còn tổ chức tài trợ cho các chương trình thời trang tại nước ngoài để giới thiệu sản phẩm và tìm kiếm bạn hàng quốc tế. Các doanh nghiệp dệt – may đã bắt đầu chú trọng xây dựng hệ thống những cửa hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm của mình tại nước ngoài để khách hàng của mình có thể tận mắt đánh giá nhận xét các sản phẩm. Một lượng thông tin phản hồi thu được từ hệ thống này tỏ ra rất hữu ích cho việc cải tiến mẫu mã sản phẩm để phù hợp với mọi đối tượng khách hàng. Các giải pháp xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp đã tập trung vào thị trường mới nhằm bớt phụ thuộc vào thị trường truyền thống. Ngành dệt may đã thực hiện phương châm “năng nhặt chặt bị”, xuất ra nhiều thị trường thì số lượng sẽ lớn.

Nhìn chung, hàng dệt – may Việt Nam đã phần nào khẳng định được vị trí của mình trên thị trường quốc tế. Đã có nhiều Công ty đa quốc gia đặt hàng với các doanh nghiệp Việt Nam gia công khối lượng lớn sản phẩm dệt – may sau đó gắn nhãn hiệu, logo của họ để bán trên các thị trường quốc tế. Điều này chứng tỏ về chất lượng, mẫu mã hàng dệt – may Việt Nam đã phần nào được cải thiện, đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng quốc tế. Tuy tiếng tăm hàng dệt – may Việt Nam chưa thu hút được nhiều khách hàng đến với các thương hiệu, nhãn hiệu “ Made in Việt Nam “ và tạo ấn tượng tốt với khách hàng quốc tế nhưng trong tương lai không xa các doanh nghiệp kinh doanh hàng dệt – may Việt Nam có thể tạo được thị trường và tự hào rằng sản phẩm của mình được mọi khách hàng quốc tế chấp nhận.

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ VÀ TỒN TẠI TRONG ỨNG DỤNG MARKETING XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

2.3.1. Một số thành quả nổi bật

Ngành dệt may là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định trong nhiều năm qua, đóng vai trò quan trong trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Trong cạnh tranh quốc tế, đây cũng là ngành mà Việt Nam có thế mạnh – là một trong số 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu hàng dêt may lớn nhất thế giới.

Những thành tựu này là nhờ doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm, gây dựng và củng cố quan hệ bạn hàng với nhiều nhà nhập khẩu lớn trên thế giới, đồng thời tận dụng hiệu quả nguồn lao động dồi dào, khéo tay, có chi phí thấp. Triển vọng của ngành dệt may đang sáng dần, nhất là khi nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu khởi sắc sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Và Marketing xuất khẩu đã góp phần không nhỏ trong thành công này.

Ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Mẫu mã sản phẩm đa dạng, phong phú hơn nhiều. Trang thiết bị của ngành may mặc đã được đổi mới và hiện đại hoá đến 90%. Các sản phẩm đã có chất lượng ngày một tốt hơn, và được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản chấp nhận.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều nhà nhập khẩu, nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới. Bản thân việc Việt Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng mở rộng tiếp cận thị trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng.

Đại diện Hội hiệp may Việt Nam cho Hội viên tham gia các hoạt động với các tổ chức Hiệp hội ngành nghề dệt may quốc tế và khu vực để đưa ngành dệt may Việt Nam hội nhập như Liên đoàn các nhà sản xuất dệt may Đông Nam Á (AFTEX), Liên đoàn dệt may các nước châu Á, v.v. Qua đó trao đổi, học hỏi kinh nghiệm áp dụng kỹ thuật, quản lý và tăng năng suất lao động trong sản xuất, áp dụng kỹ thuật tiên tiến, xúc tiến trao đổi thương mại trong nội bộ khu vực cũng như đẩy mạnh xuất khẩu, thống nhất lộ trình (road map) chung cho phát triển ngành dệt may ở tầm khu vực; Xây dựng chuỗi cung ứng dệt may ASEAN (SAFSA) để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam nói riêng và hàng dệt may của khu vực ASEAN nói chung. Gần đây nhất, Việt Nam mới gia nhập Liên đoàn Thời trang Châu Á (AFF) giúp các nhà thiết kế thời trang, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội trao đổi, học hỏi và góp phần tạo ra những bộ sưu tập riêng của Việt Nam, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm dệt may xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh của Dệt May Việt Nam.

Hiệp hội không chỉ tập hợp các Doanh nghiệp dệt may Việt Nam mà còn kết nạp thêm các doanh nghiệp hội viên liên kết (Amcharm, Kotra, hiệp hội dệt may Đài Loan…) để có tiếng nói chung của các doanh nghiệp trong ngành nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu phát triển ngành, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh. Đây là một cách quảng bá hữu hiệu ngành dệt may nước nhà.

Hiệp hội Dệt May Việt Nam cũng đã tích cực khuyến khích doanh nghiệp tham gia các hội chợ trong và ngoài nước, là đơn vị tổ chức thực hiện các chương trình xúc tiến trong điểm quốc gia (QĐ 279), giúp các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam khuếch trương sản phẩm và thương hiệu. Chính nhờ các hội chợ này mà các doanh nghiệp đã tiếp cận tốt hơn với các khách hàng tiềm năng, đồng thời tìm kiếm được các đối tác trong ngành để hợp tác hiệu quả.

2.3.2. Những tồn tại nổi bật cần khắc phục Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Các sản phẩm may mặc của Việt Nam được đánh giá chung là có chất lượng chưa cao, không đồng đều, đến hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu là làm gia công, có nghĩa là làm theo mẫu mã và theo yêu cầu chất lượng của bên nước ngoài. Còn trong số xuất khẩu trực tiếp thì hầu hết là đáp ứng cho phân đoạn thị trường có nhu cầu bình dân, yêu cầu về chất lượng thấp, giá rẻ, chỉ một số ít sản phẩm đủ tiêu chuẩn đáp ứng cho những phân đoạn thị trường có nhu cầu chất lượng cao. Nếu đánh giá theo chỉ số chất lượng thì hàng may mặc xuất khẩu nước ta có chất lượng thấp so với các nước trong khu vực và thế giới.

Phát triển công nghiệp phụ trợ đang là vấn đề của công nghiệp Việt Nam, ngành dệt may cũng vậy. Ở các nước có ngành dệt may phát triển, số lượng doanh nghiệp phụ trợ lên tới hàng chục nghìn, trong khi đó đến cuối năm 2019, Việt Nam chỉ có khoảng 855 doanh nghiệp phụ trợ và bán phụ trợ. Vì vậy, đến cuối năm 2020, hơn 75% nguyên vật liệu đầu vào phải nhập khẩu. Theo đó, ngành dệt may Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn; chi phí nguyên liệu cao dẫn đến giá thành sản xuất cao, tất yếu giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm, không chủ động trong kế hoạch kinh doanh, các doanh nghiệp sản xuất chịu sức ép từ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu.

Trong khâu thương mại hoá, ngành dệt may Việt Nam mới chỉ thực sự mạnh về khâu thương mại hoá trong nước, thương mại hoá ở các thị trường xuất khẩu còn yếu. Mặc dù đã bước đầu có xuất khẩu dạng FOB, song tỷ lệ rất thấp, trong các doanh nghiệp may, chủ yếu vẫn là xuất khẩu dạng CIF.

Có rất nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang yếu năng lực marketing – công cụ nền tảng của việc tạo dựng hệ thống phân phối hiệu quả. Với thị trường xuất khẩu, khâu phân phối hoàn toàn dựa vào đối tác (ngay cả với xuất khẩu dạng FOB). Tại thị trường châu Âu, các nhà phân phối thường chính là nhà thiết kế, vì hơn ai hết, chính họ là người tường tận nhất nhu cầu và điều kiện để thoả mãn nhu cầu khách hàng. Các chuyên gia trong ngành dệt may ước tính, tới 70% lợi nhuận (tính trên một sản phẩm may mặc từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chuỗi giá trị) thuộc về các nhà phân phối lẻ này. Do vậy, để tăng giá trị gia tăng cho toàn Ngành, việc chú trọng vào khâu thương mại hoá nhằm gia tăng giá trị cảm nhận của sản phẩm, tăng khối lượng tiêu thụ, kích thích tiêu dùng thực sự cần chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá.

Việc thiết kế kiểu dáng diễn ra ở New York, London… Vải được sản xuất ở Trung Quốc, các phụ liệu đầu vào khác được sản xuất tại ấn Độ và sản xuất sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở những nước có chi phí nhân công thấp như Việt Nam,… Trong chuỗi giá trị này, Việt Nam mới chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng, khâu được đánh giá là tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất trong toàn chuỗi giá trị. Khoảng 60% doanh nghiệp Dệt May của Việt Nam tham gia vào khâu này của chuỗi giá trị dưới hình thức gia công.

Trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành Dệt May, các công ty của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn sản xuất theo tiêu chuẩn khách hàng (OEM- Original Equiment Manufacture). Tuy nhiên, trở thành nhà cung ứng đạt chuẩn OEM vẫn đang còn nhiều vấn đề lớn mà các doanh nghiệp Việt Nam cần cố gắng hơn nữa so với các nước Đông Á.

Mặt khác, muốn thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thì các doanh nghiệp Việt Nam cần phải sản xuất dưới dạng sản xuất thiết kế gốc (ODM – Original Design Manufacture) hay là sản xuất nhãn hiệu gốc (OBM – Own Brand Manufacture).

2.3.3. Nguyên nhân chính Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Dù có những thành công lớn như những năm vừa qua, nhưng có một điều không thể phủ nhận, đó là kỹ năng marketing xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn còn yếu. Do đó, khả năng đẩy mạnh hơn nữa tổng giá trị xuất khẩu ngành dệt may theo đúng tiềm năng của ngành vẫn còn hạn chế. Vậy nguyên nhân xuất phát từ đâu?

Về chiến lược sản phẩm: Đầu tiên, đó là do ngành công nghiệp dệt và phụ trợ còn yếu, dẫn đến 70% nguyên phụ liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài, giá trị gia tăng không cao, thiếu linh hoạt và hạn chế khả năng đáp ứng nhanh. May xuất khẩu phần nhiều vẫn theo phương thức gia công, thiết kế mẫu mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB còn thấp, hiệu quả sản xuất thấp. Hầu hết các doanh nghiệp là vừa và nhỏ, khả năng huy đọng vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chưa phát huy hết khả năng và sức sáng tạo trong việc đa dạng hóa sản phẩm, chưa có nhiều sự đổi mới sao cho phù hợp với thị trường và năng lực của doanh nghiệp. Cụ thể đối với đoạn thị trường có thu nhập cao, số những doanh nghiệp được khách hàng quốc tế biết đến như một thương hiệu cao cấp nổi tiếng, có tính mỹ thuật cao, hình thức sang trọng, sành điệu hầu như không có. Đối với đoạn thị trường có thu nhập trung bình, đây là đoạn thị trường lớn hơn đoạn thị trường có thu nhập cao, đặc điểm của đoạn thị trường này là khách hàng không yêu cầu khắt khe lắm về tính độc đáo của sản phẩm, nhưng đòi hỏi chất lượng của sản phẩm phải tốt, đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Hạn chế còn mắc phải của các doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp chưa có nhiều biện pháp thể hiện sự quan tâm đến công tác bảo đảm chất lượng, bảo đảm độ bền và độ hữu dụng của sản phẩm. Đối với đoạn thị trường có thu nhập thấp, là đoạn thị trường tương đối lớn, nhưng sự cạnh tranh cũng tương đối cao. Các sản phẩm dệt may của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm giá rẻ Trung Quốc.

Về chiến lược giá: Những năm qua, tình hình giá cả thị trường biến động ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động, áp lực lạm phát cao, lãi vay ngân hàng tăng, tỷ giá ngoại tệ tăng…đã trở thành những nguy cơ tác động không nhỏ đến sản xuất kinh doanh, khiến cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mất đi nhiều lợi thế cạnh tranh về giá so với các nhà cung cấp khác. Năng lực cạnh tranh quốc gia ( đường xá, cảng khẩu…)chưa được cải thiện nhiều nên chưa giúp được các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí cho các sản phẩm dệt may của mình. Ngoài ra sự lệ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu cũng là một lý do quan trọng khiến cho việc áp dụng chiến lược giá cả xuất khẩu trở lên khó khăn. Mới đây, chủ trương đầu tư đẩy mạnh sản xuất nguyên phụ liệu đang gặp nhiều trở ngại do các địa phương không dành quỹ đất cho dệt may hoặc yêu cầu phải có hệ thống xử lý nước thải rất tốn kém.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chưa đưa ra được mức giá hợp lý cho từng phân đoạn thị trường. Không phải cứ rẻ là có thể lôi kéo được khách hàng mà điều quan trọng hơn là nhu cầu của từng đoạn thị trường khác nhau. Ví dụ như ở phân đoạn thị trường cao, nếu mặt hàng của doanh nghiệp có tính độc đáo, sang trọng… thì một mức giá cao phù hợp với chất lượng sản phẩm sẽ không là vấn đề. Cần chú là đối với một số thị trường xuất khẩu trọng điểm như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ… các doanh nghiệp nên chú trọng nhiều hơn đến việc đánh giá giá trị thị trường của sản phẩm chứ không nên quan tâm nhiều đến giá thành sản phẩm. Điều đặc biệt là để tránh tình trạng bị khách hàng ép giá, các doanh nghiệp tập trung hình thành và xây dựng các năng lực đặc biệt, tạo ra những nét khác biệt để nâng cao năng lực cạnh tranh. Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

Về chính sách kênh phân phối: ở một số thị trường xuất khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam như Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU thì các trung tâm trưng bày, giới thiệu sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt là vấn đề phát triển thương hiệu, đây là một điểm rất yếu của các doanh nghiệp Việt Nam do các doanh nghiệp có khả năng tài chính rất hạn chế, nguồn nhân lực chưa đủ, chưa có kinh nghiệm trong xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu ở nước ngoài… Vì vậy, ngoài nỗ lực của các doanh nghiệp, Nhà nước, các cơ quan xúc tiến thương mại cần hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc trưng bày sản phẩm và phát triển hệ thống đăng ký thương hiệu sản phẩm. Các kênh phân phối được các doanh nghiệp sử dụng còn chưa đạt hiệu quả tối đa, chưa thực hiện được nhiều những đợt giới thiệu sản phẩm có quy mô trên thị trường quốc tế. Mỗi kênh phân phối đều có thị phần riêng của mình và những kênh phân phối này ở mỗi quốc gia là khác nhau, do vậy các DN cần định vị các kênh phân phối phù hợp với năng lực của mình và đem lại hiệu quả cao.

Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị. Chính quy mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung ứng cho một thị trường nhất định. Do đó, khi thị trường gặp vấn đề, các doanh nghiệp dệt may sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh phương thức thâm nhập thị trường và/hoặc chuyển đổi sang thị trường khác.

Về chính sách xúc tiến: Do hạn chế về tài chính và quy mô, nên hầu như các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chưa trực tiếp bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng mà phải thông qua các doanh nghiệp, thương nhân nước ngoài…nên công tác xúc tiến quảng bá sản phẩm càng phải được coi trong. Kỹ năng quản lý sản xuất trong các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu còn kém, năng lực quảng cáo tiếp thị hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu, các sản phẩm xuất khẩu phải sử dụng nhãn mác nước ngoài, chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn cho doanh nghiệp. Việc tăng cường quảng bá, giới thiệu sản phẩm trên các báo, tạp chí, các website nổi tiếng; tăng cường tham gia các hội chợ thương mại quốc tế, nhất là những hội chợ quốc tế chuyên ngành hàng dệt may; tăng cường công tác trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại các trung tâm thương mại nước ngoài vẫn còn ít, và chưa được rộng rãi. Một vấn đề cần nói thêm, mặc dù thời gian qua Nhà nước cũng đã hỗ trợ cho doanh nghiệp rất nhiều như tăng cường công tác xúc tiến thương mại ở nước ngoài, tổ chức các đoàn doanh nghiệp khảo sát, nghiên cứu thị trường nước ngoài, tổ chức doanh nghiệp tham gia hội chợ quốc tế và hỗ trợ cho doanh nghiệp một phần kinh phí, đây là một số tiền không hề nhỏ đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may. Mặt khác, kỹ năng quản lý sản xuất và kỹ thuật còn kém, đào tạo chưa bài bản, năng suất thấp, mặt hàng còn phổ thông, chưa đa dạng. Năng lực tiếp thị còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp dệt may chưa xây dựng được thương hiệu của mình, chưa xây dựng được chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp

Trong marketing hiện đại, không chỉ các doanh nghiệp cần nỗ lực làm marketing, mà các ngành và Nhà nước cũng cần đổi mới tư duy và làm marketing chuyên nghiệp. Kinh tế học hiện đại cho chúng ta nhận thức về chuỗi giá trị tạo nền tảng cho quá trình làm marketing trong bối cảnh toàn cầu hoá. Thực tiễn cho thấy, nhiều doanh nghiệp và chính phủ Việt Nam đang nỗ lực hướng tới việc nâng cao vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Vấn đề là phải xác định thật rõ chuỗi giá trị từ công nghệ đến sản phẩm, từ giá trị sản phẩm đến giá cả và thị trường tiêu thụ. Đó là một hệ thống các hoạt động trao đổi được tổ chức chặt chẽ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, nhằm mục đích tạo ra giá trị và tính cạnh tranh cao hơn. Đặc điểm chính của chuỗi giá trị là tạo ra liên kết doanh nghiệp thông qua việc những bên tham gia vào chuỗi giá trị làm việc cùng nhau, trên cơ sở liên kết công nghiệp – thương mại.

Sự xâm nhập và làm chủ lẫn nhau giữa các quốc gia trong “luật chơi toàn cầu hóa” sẽ thúc đẩy các quốc gia, đặc biệt là nước đang phát triển như Việt Nam phải biết tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh tĩnh, biến lợi thế cạnh tranh tĩnh thành lợi thế cạnh tranh động và khai thác triệt để nó. Do vậy, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nhận thức rõ lợi thế cạnh tranh về lao động để không còn tự đặt mình vào vị trí đáy của chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may trong tương lai không xa. Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển marketing xuất khẩu tại VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng ứng dụng marketing trong xuất khẩu VN

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát marketing xuất khẩu trong DN Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464