Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chiến lược dài hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam xuất khẩu hàng nông sản ra nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MỘT SỐ THUỶ SẢN CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM

Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về xuất khẩu thuỷ sản và được coi là nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản nhanh nhất. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam thời kỳ 1992 – 2019 có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 9,97%/năm, đến năm 2017 – 2022 là 10,5%/năm [26]. Chất lượng các mặt hàng không ngừng được nâng lên và ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới.

2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủy sản chủ yếu

Thời gian qua, thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Nếu xét về kim ngạch xuất khẩu, thủy sản chỉ đứng sau dầu thô, dệt may, nông sản, da giày. Trên thị trường thế giới, Việt nam đang dần trở thành một trong những nước xuất khẩu thủy sản quan trọng với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm, từ năm 2017 đến năm 2023. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Bảng 8. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2017-2023

Theo bảng 8, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong 6 năm từ 2017 – 2023 liên tục tăng, năm 2017, kim ngạch xuất khẩu đạt 1.816,4 triệu USD thì đến năm 2022 kim ngạch xuất khẩu đã vượt ngưỡng 3 tỷ USD, đến năm 2023 là gần 3,8 tỷ USD, và ước đạt trong năm 2008 là 4,5 tỷ USD, tăng khoảng 14,4% so với năm 2023. Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của thủy sản Việt Nam đạt kết quả rất tích cực so với các ngành kinh tế khác và so với các nước trong khu vực. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu trong năm 2008 có ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế các nước trên thế giới và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác có sút giảm thì kim ngạch xuất khẩu thủy sản vẫn tăng.

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn sau khi gia nhập so với trước khi Việt Nam gia nhập WTO nhìn chung tăng lên theo xu hướng tốt, chỉ có năm 2023 tốc độ tăng trưởng trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản giảm xuống. Trong giai đoạn trước khi gia nhập WTO: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giảm xuống còn có 9,5%, là do hậu quả của các vụ kiện bán phá giá, điều kiện sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng chậm năm 2020 có chậm lại so với những năm khác. Nhưng sau đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản đã nhanh chóng đạt lại tỷ lệ tăng trưởng 13,5% vào năm 2021 và giữ vững đà tăng trưởng trong các năm gần đây.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.2.2. Cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Với nguồn lợi thủy sản phong phú, Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều loại thủy sản có tính kinh tế cao. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu có nhiều thay đổi trong thời gian hơn hai thập kỷ qua. Tôm và cá là hai mặt hàng xuất khẩu chính. Tỷ trọng trong tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu mặt hàng tôm vẫn duy trì được vị trí hàng đầu song đã giảm dần do các mặt hàng khác tăng nhanh hơn, đặc biệt là cá.

Bảng 9. Cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu giai đoạn 2017 – 2023

Theo bảng 9, tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có kim ngạch xuất khẩu chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, sau đó là mặt hàng cá với tỷ trọng có khuynh hướng ngày càng tăng, đặc biệt đối với mặt hàng cá tra, cá basa. Tuy nhiên, nhìn chung, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt nam trong thời gian qua chủ yếu là các mặt hàng sơ chế hoặc nguyên liệu. Các mặt hàng chế biến có giá trị gia tăng cao vẫn còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Điều này ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản của nước ta. Các nhóm sản phẩm chính bao gồm:

  • Nhóm sản phẩm tôm: tôm là mặt hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam, trong đó mặt hàng tôm đông lạnh đang chiếm vị trí cao trong tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản. Thị trường tiêu thụ chính là Mỹ và Nhật Bản, hai thị trường lớn này tiêu thụ tới 70 – 80% khối lượng tôm xuất khẩu của Việt Nam [21]
  • Nhóm sản phẩm cá: xuất khẩu các sản phẩm cá của Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây.
  • Mặt hàng cá tra – basa: là một trong những đối tượng nuôi trồng thủy sản đang được phát triển với tốc độ nhanh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (tập trung chủ yếu ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp) và là một trong những loài cá có giá trị xuất khẩu cao. Cá Basa Việt Nam được nhiều thị trường ưa chuộng vì mầu sắc cơ thịt trắng, thịt cá thơm ngon hơn so với các loài cá catfish khác. Cá tra – basa xuất khẩu sang hơn 40 thị trường, trong đó các thị trường châu Âu có sự tăng trưởng vượt bậc. Ước tính cả cá Basa và cá Tra xuất khẩu khoảng 30-35.000 tấn/năm, giá trị trên 80-100 triệu USD/năm. Sản phẩm xuất khẩu dưới dạng nguyên con, philê đông lạnh, các mặt hàng chế biến và hàng giá trị gia tăng [21].
  • Cá ngừ: có giá trị kinh tế cao nhất ở biển Việt Nam, bắt đầu được tập trung khai thác từ những năm 1990. Nghề khai thác cá ngừ phục vụ xuất khẩu
  • Việt Nam ngày càng được quan tâm nhiều hơn, thị trường tiêu thụ cũng dần được mở rộng, thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, Nhật Bản, châu Âu và một số nước châu á. Sản phẩm dưới dạng ăn tươi, phơi khô, đóng hộp, hun khói.
  • Cá rô phi: hiện nay cá rô phi được định hướng là một trong những mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu triển vọng của Việt Nam. Dự kiến, đến năm 2010, Việt Nam có thể sản xuất được 200.000 tấn cá rô phi thương phẩm, trong đó khoảng 50% sản lượng dành cho xuất khẩu [21].

Nhuyễn thể chân đầu:

Mực, bạch tuộc: xuất khẩu mực, bạch tuộc của Việt Nam tăng trưởng ổn định gần như tương ứng với nhịp độ tăng trưởng của tổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, Nhật Bản vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm nhuyễn thể chân đầu lớn nhất. Sản phẩm chế biến phần lớn dưới dạng đông lạnh Block , IQF, semi-IQF, đông lạnh khay hoặc đóng gói hút chân không. Các sản phẩm chế biến như phi lê, cắt miếng, tỉa hoa, chế biến sẵn để nấu hoặc dưới dạng sản phẩm sushi, sashimi để ăn gỏi, các sản phẩm phối chế khác.

Nhuyễn thể hai mảnh vỏ: ở Việt Nam, nhuyễn thể hai mảnh vỏ là sản phẩm xuất khẩu phát triển mạnh từ năm 1999. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu chưa cao do sản lượng còn nhỏ bé, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên, thị trường xuất khẩu còn hạn chế, việc chế biến sản phẩm giá trị gia tăng chưa được quan tâm đúng mức.

2.2.3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Tính đến nay, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở khoảng 140 thị trường trên thế giới, đồng thời đã hình thành thế chủ động cân đối về thị trường tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm duy trì tăng trưởng bền vững. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản thay đổi rõ nét kể từ năm 2000 đến nay. Mỹ, Nhật Bản và EU là những thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam. Các thị trường châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc có vị trí khá ổn định.

Các thị trường chính:

Thị trường Nhật Bản: là thị trường đem lại hiệu quả cao cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong nhiều năm qua, nhưng hiện nay, xu hướng này đang giảm dần, do lượng nhập khẩu các mặt hàng tôm của ta sang thị trường này ngày cang giảm đi, do nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm của Nhật Bản thay đổi về thị hiếu tiêu dùng, tăng cường nhập các loại tôm cỡ lớn, tôm chế biến giá trị gia tăng và tôm chân trắng. Tôm, mực, bạch tuộc, cá ngừ đông lạnh là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Năm 2023, Nhật Bản nhập khoảng trên 119 nghìn tấn thủy sản, trị giá gần 746 triệu USD. Tính đến tháng 10.2008, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt mức 693 triệu USD, chiếm 18,1% tổng xuất khẩu thủy sản, đứng vị trí thứ hai trong các thị trường nhập khẩu thủy sản của Việt Nam [20]. (Người Nhật rất ưa thích các loại nhuyễn thể, đặc biệt là các nhuyễn thể chân đầu (chủ yếu là mực ống, mực nang). Các sản phẩm này được chế biến theo nhiều dạng, từ dạng tươi như sushi, đến các dạng rán, xông khói, nướng, tẩm gia vị, thậm chí cả dưới dạng sơ chế nguyên con, phi lê, cắt mỏng, thái miếng, cắt khoanh và các món ăn với các sản phẩm khô, ướp lạnh, ướp đông.

Tuy nhiên, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mực, bạch tuộc, cá, hàng khô vào thị trường Nhật Bản ngày càng giảm. Một trong những nguyên nhân là do các doanh nghiệp ngày càng nỗ lực đa dạng hóa sản phẩm, đầu tư và các sản phẩm giá trị gia tăng. Vấn đề về dư lượng kháng sinh cũng gây ảnh hưởng khá lớn đối với mặt hàng này khi nhập vào thị trường Nhật Bản.

Thị trường Mỹ: là một trong những thị trường nhập khẩu thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam. Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ ngày một đa dạng, nhất là tôm đông lạnh, các sản phẩm tươi sống như cá ngừ, cá thu và cua. Cá tra, basa phi lê đông lạnh là mặt hàng độc đáo của Việt Nam tại thị trường Mỹ. Năm 2023, Mỹ đã tiêu thụ gần 100.000 tấn thuỷ sản của ta, trị giá trên 720,5 triệu USD, chiếm 20,4% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ. Trong 10 tháng đầu năm 2008, xuất khẩu thủy sản sang Mỹ đạt 624 triệu USD [20].

Mặt hàng xuất sang Mỹ tính theo giá trị nhiều nhất vẫn là tôm đông lạnh, năm 2023 đạt 466 triệu USD, chiếm 71,2% kim ngạch xuất khẩu. Việt nam hiện đứng thứ 9 trong số các nước xuất khẩu tôm vào Mỹ. Ngoài mặt hàng tôm, cá đông lạnh cũng đang được xuất khẩu sang thị trường Mỹ với số lượng ngày càng tăng, đạt 15,3% kim ngạch xuất khẩu. Các sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao là cá tra, cá ba sa, cá ngừ, mực đông lạnh, mực khô và các mặt hàng giá trị gia tăng.

Nhìn chung, thị trường Mỹ có sức tiêu thụ lớn và các kênh phân phối mang tính chuyên nghiệp và hiệu quả cao, có thể giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam xuất khẩu với khối lượng hàng hóa có giá trị lớn.

Thị trường EU: là thị trường có nhu cầu lớn và ổn định về hàng thuỷ sản, nhưng lại là thị trường được coi là có yêu cầu cao nhất đối với sản phẩm nhập khẩu, với các quy định khắt khe về chất lượng và an toàn vệ sinh. Xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường EU đã có sự tăng trưởng liên tục và có những biến đổi về chất lượng kể từ năm 2020 đến nay.

Kim ngạch xuất khẩu trên thị trường này có khuynh hướng tăng qua các năm. Từ kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 74,7 triệu vào năm 1997 đã tăng lên đến 908 triệu USD vào năm 2023, vươn lên vị trí dẫn đầu, là thị trường tiêu thụ thủy sản xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong 10 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này đạt mức 970 triệu USD, chiếm 25,3 tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước. Trong các nước EU, Bỉ, Ý, Đức, Hà Lan, Pháp, Ba Lan là những thị trường chủ yếu tiêu thụ thủy sản Việt Nam.

Nếu như tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Nhật và Mỹ thì ở EU, ngoài tôm là mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất, cá, bạch tuộc và mực cũng được tiêu thụ khá mạnh. Trong những năm qua, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường EU các sản phẩm nhuyễn thể chân đầu (bạch tuộc các cỡ, mực ống, mực nang đông lạnh…), cá đông lạnh (đặc biệt là cá ngừ), tôm đông lạnh và một số hải sản khác.

Nhu cầu trên thị trường EU đa dạng, sức mua lớn, giá cả lại hấp dẫn… nên triển vọng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này rất lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải đảm bảo chất lượng sản phẩm và các biện pháp kiểm soát chất lượng để đáp ứng những quy định rất nghiêm ngặt và các chế tài nghiêm khắc khi thâm nhập vào thị trường này. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Thị trường Trung Quốc và Hồng Kông: là những thị trường nhập khẩu thuỷ sản trung bình trên thế giới. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường này chủ yếu vẫn là mua bán qua biên giới, quy mô của các đơn vị nhập khẩu rất nhỏ nên chỉ phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là thị trường lớn, có tiềm năng song cạnh tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm có xu hướng giảm và khả năng tăng hiệu quả là khó khăn. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của khu vực châu á, với đặc điểm tiêu thụ của thị trường này là vừa tiêu thụ cho dân cư bản địa, vừa là thị trường tái chế và tái xuất.

Giai đoạn 2017-2020 là thời kỳ sa sút nghiêm trọng về nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam, chủ yếu do Chính phủ Trung Quốc thay đổi phương thức thanh toán và quản lý ngoại hối và áp dụng một số quy định về kiểm dịch và quản lý chất lượng. Từ năm 2021 đến nay, nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam của khối này đã có bước phục hồi nhưng chậm, tăng dần nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Hồng Kông. Năm 2023, Trung Quốc- Hồng Kông đã nhập 45,8 nghìn tấn thuỷ sản, trị giá 152,7 triệu USD, chiếm 4,3% tổng giá trị xuất khẩu [20]. (Hồng Kông nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng tôm, cá, mực đông lạnh có giá trị cao, còn thị trường Trung Quốc chủ yếu nhập khẩu mực khô, cá khô, cá muối và gần đây là các loại cua biển tươi sống.

Hiện nay, hoạt động xuất khẩu thủy sản sang thị trường Trung quốc cũng đã phát sinh những khó khăn vướng mắc, ví dụ như phương thức giao hàng và thanh toán còn nhiều rủi ro, vận chuyển khó khăn, chi phí vận chuyển bằng đường bộ cao, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng tốt yêu cầu bảo quản hàng hóa, các yêu cầu về ghi nhãn, bao gói và chứng nhận kiểm dịch cũng gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Thị trường ASEAN

Các nước ASEAN chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và tỷ trọng này có khuynh hướng giảm dần, từ 8,2% vào năm 1998 xuống còn 3,2% năm 2019 và 4,2% vào năm 2023 (theo bảng 10). Thị trường ASEAN không có những biến động lớn do các nước trong khu vực cũng có khả năng khai thác nuôi trồng thủy sản để đáp ứng nhu cầu trong nước. Thủy sản nhập khẩu chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành chế biến trong nước. Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 163 triệu USD, với khối lượng 61.000 tấn. Sản lượng tăng lên chủ yếu nhờ vào việc xuất khẩu cá đông lạnh và hàng khô.

Trong khối ASEAN, Thái lan và Singapore là hai nước nhập khẩu nhiều thủy sản Việt Nam nhất, tập trung là tôm, cá, mực đông lạnh với kim ngạch khoảng từ 25-30 triệu USD/năm [20].

Các thị trường khác: các thị trường khác thuộc châu á được quan tâm ngày một nhiều hơn, nhất là Hàn Quốc. Thị trường này có sự tăng trưởng ổn định, giữ ở mức cao trên 20%/tháng , có ý nghĩa quan trọng về đầu ra đối với thuỷ sản Việt Nam bởi khả năng đáp ứng các mặt hàng có phẩm cấp, khối lượng vừa phải và đa dạng của doanh nghiệp Việt Nam. Chủ yếu nhập khẩu cá biển, mực, bạch tuộc. Thị trường chưa có rào cản nào đáng kể.

Úc, Đài Loan: xuất khẩu sang các thị trường này vẫn có sự tăng trưởng tuy nhịp độ không đều.

Thị trường Đông Âu: mặc dù kim ngạch xuất khẩu còn chưa cao nhưng đây cũng là một thị trường xuất khẩu thuỷ sản tiềm năng. Nga cũng đã có những bước tiến rất dài trong nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam.

Tóm lại, trong thời gian qua, xuất khẩu thủy sản Việt nam đã đạt bước phát triển đáng kể, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên, các mặt hàng xuất khẩu thủy sản chuyển từ quy mô sản xuất nhỏ sang quy mô sản xuất lớn. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng hơn, hàm lượng chế biến cao hơn. Các doanh nghiệp thủy sản đã cố gắng sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất với điều kiện đặc thù của ngành, tối đa hóa hiệu quả đầu tư thông qua việc khai thác công nghệ mới trong chuỗi các hoạt động liên quan đến xuất khẩu thủy sản.

Tuy nhiên, sự phát triển của các hoạt động xuất khẩu thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng, bộc lộ những dấu hiệu phát triển chưa bền vững và chưa hiệu quả, do đó, cần phải có nhiều giải pháp để nâng cao tính cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới.

2.3. NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

2.3.1. Thành tựu

Nhìn chung, xuất khẩu nông thủy sản Việt Nam ra thị trường thế giới đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, giá trị kim ngạch xuất khẩu nông thuỷ sản ngày càng cao, đưa ngành nông thủy sản trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm trong chiến lược phát triển quốc gia.

Áp lực cạnh tranh giúp cho các sản phẩm nông thủy sản của ta có cơ hội cọ sát với những thách thức để rút ra nhiều bài học kinh nghiệm trong hoạt động thương mại quốc tế, vượt qua các rào cản về thương mại quốc tế để sản phẩm nông thủy sản ngày càng có thể đứng vững trên thị trường thế giới.

Bên cạnh đó, hàng nông sản, thủy sản Việt Nam với cơ cấu hàng hóa đa dạng, phong phú, nguồn hàng dồi dào và được ưa thích trên thị trường thế giới, Việt nam đã đạt được một số ưu thế trong phát triển các mặt hàng nông thuỷ sản xuất khẩu chủ lực, có khả năng cạnh tranh với các cường quốc xuất khẩu nông thủy sản lớn của thế giới như Trung Quốc, Thái Lan…

Xuất khẩu nông thủy sản đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để đạt hiệu quả sản xuất tăng liên tục, góp phần nâng cao trình độ nền sản xuất hàng hóa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các mặt hàng xuất khẩu nông thủy sản của Việt nam.

2.3.2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được và những thành tích cao, xuất khẩu nông thủy sản Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều những hạn chế.

Nông thuỷ sản Việt Nam vẫn trong tình trạng phát triển thiếu bền vững, với các biểu hiện như liên tục biến động về giá, sản lượng, chất lượng sản phẩm không đồng nhất, môi trường nước xuống cấp vì ô nhiễm.

Chất lượng nông thủy sản xuất khẩu chưa đáp ứng yêu cầu của các thị trường mục tiêu và chưa ổn định, chủ yếu là do sản phẩm xuất khẩu đơn điệu, giá trị gia tăng thấp, hàm lượng chế biến chưa cao, chưa đáp ứng tốt các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Chưa xây dựng hệ thống liên kết dọc và liên kết ngang giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng nông thủy sản xuất khẩu, thiếu một mô hình quản lý vùng nuôi phù hợp, chưa xây dựng chuỗi thu mua nguyên liệu nông thủy sản. Hoạt động phát triển nông thủy sản hướng về xuất khẩu tại các vùng chưa được điều hành một cách linh họat và hiệu quả.

Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa chú trọng nhiều đến công tác xúc tiến thương mại, xây dựng kênh phân phối riêng và trực tiếp đưa đến tận tay người tiêu dùng, chưa chủ động đăng ký, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu riêng. Hoạt động marketing còn rất ít. Chính vì vậy, trên thị trường nước ngoài, nhiều mặt hàng xuất khẩu nông thủy sản của Việt Nam còn bị gắn mác của các nước khác như Thái Lan, người tiêu dùng địa phương ít biết đến sản phẩm của Việt Nam do các mặt hàng này chủ yếu được ký hợp đồng và bán lại cho các nhà phân phối để chia sẻ lợi nhuận.

Nhiều doanh nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ, chủng loại hàng hóa nhiều nhưng mỗi loại lại không đáng bao nhiêu. Do nguồn nguyên liệu không ổn định nên khả năng giao hàng không thật chắc chắn. Điều này khiến cho việc tiếp thị bán hàng gặp khó khăn, ít doanh nghiệp tiếp cận được với các nhà mua hàng cỡ lớn, hàng hóa chưa được đưa trực tiếp vào chuỗi phân phối các nước nhập khẩu.

Công tác dự báo vẫn còn nhiều hạn chế, chưa xác định khả năng các diễn biến có thể xảy ra và dự đoán được trước xu hướng thị trường.

Như vậy, năng lực cạnh tranh của mặt hàng nông thủy sản xuất khẩu của Việt Nam nếu chỉ chủ yếu dựa vào nguồn lợi về điều kiện tự nhiên, chi phí lao động thấp mà không có chiến lược phát triển đúng đắn và những biện pháp mang tính chuyên nghiệp, bền vững như kiểm tra chất lượng ngay từ khâu chọn giống, nuôi trồng, chế biến, xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu… thì sẽ không đủ sức mạnh so với những sản phẩm nông thủy sản xuất khẩu của các nước khác trên thế giới.

2.4. PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG THUỶ SẢN RA NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA MA TRẬN SWTO Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Như đã nêu trong chương 1, vai trò của các DNN&V là rất lớn khi có tới gần 97% các doanh nghiệp ở nước ta là DNN&V. Vì thế, thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNN&V Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nông thủy sản có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu của toàn ngành. Nhưng hiện nay các DNN&V Việt Nam nói chung và các DNN&V xuất khẩu nông thủy sản nói riêng đang phải cạnh tranh trên thị trường hội nhập toàn cầu với rất nhiều những khó khăn thách thức. Tuy nhiên, hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng mạnh mẽ cũng mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Điều đó sẽ được phân tích cụ thể trong mô hình sau về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho những DNN&V Việt Nam.

2.4.1. Điểm mạnh

So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác đang tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế như các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, các công ty đa quốc gia thì DNN&V có các điểm mạnh như sau:

  • Dễ khởi nghiệp, hầu hết các DNN&V đều dễ dàng có thể bắt đầu ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh và một số ít vốn cũng như lao động nhất định. Việc thành lập loại hình doanh nghiệp này gần như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai đoạn đầu. Vì thế, tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả những doanh nhân, những người có ý tưởng và khả năng kinh doanh làm chủ chính doanh nghiệp của họ. Điều này tạo ra sự chọn lọc những DNN&V kinh doanh và cạnh tranh tốt. Rất nhiều doanh nghiệp lớn, các công ty đa quốc gia trên thế giới đi lên từ những DNN&V.
  • Linh hoạt, vì hoạt động với quy mô nhỏ nên hầu hết các DNN&V đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Trong khi đó những sự biến động đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao động đột biến trên thị trường thường tác động mạnh mẽ lên các doanh nghiệp lớn nhiều hơn đối với các DNN&V. Trên giác độ thương mại thì nhờ tính năng động này mà các DNN&V dễ dàng tìm kiếm thị trường nghách và gia nhập thị trường này khi thấy việc kinh doanh trên thị trường chính trở nên khó khăn và kém hiệu quả hơn. Điều này đặc biệt quan trọng với các nền kinh tế đang phát triển hoặc chuyển đổi như nước ta.

Lợi thế so sánh trong cạnh tranh. So với các doanh nghiệp lớn, DNN&V có lợi thế trong cạnh tranh đó là khả năng kết hợp và phát huy các nguồn lực đầu vào như lao động hay tài nguyên hoặc vốn tại chỗ khi khai thác và phát huy các nghành nghề truyền thống của từng địa phương. Rất nhiều DNN&V của Việt Nam và thế giới đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh khi khai thác những nguồn lực sẵn có của địa phương. Việc các DNN&V xuất khẩu nông thủy sản tận dụng nguồn nguyên liệu riêng và nguồn nhân lực sẵn có ở địa phương sẽ giảm chi phí sản xuất cho chính các DNN&V này do không phải trả chi phí vận chuyển và chi phí lao động thấp. Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong giá hàng xuất khẩu cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ còn có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc theo sát nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng do họ thường tập trung chính vào một mặt hàng nhất định để cung cấp cho thị trường, qua đó sang tạo ra nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của người tiêu dùng.

Tạo ra các tác động ngoại lai. Trên giác độ kinh tế thì DNN&V tạo ra các tác động ngoại lai rất mạnh cả về mặt tích cực và tiêu cực. Với lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương đặc biệt các ngành sử dụng nhiều lao động, DNN&V góp phần tạo ra công ăn việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho dân cư địa phương hoặc duy trì và bảo vệ các nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Bên cạnh đó, việc phát triển các DNN&V còn có các lợi ích như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn qua đó góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội và giúp Chính phủ giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội khác [17].

Như vậy, qua phần phân tích trên có thể thấy tầm quan trọng của DNN&V với nền kinh tế của nước ta là rất lớn. Nếu như phát huy tốt những điểm mạnh nổi bật của DNN&V thì sẽ tạo ra những tác động tích cực cho sự phát triển chung của toàn nền kinh tế và sự ổn định xã hội.

2.4.2. Điểm yếu Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Bên cạnh những ưu điểm rất đặc trưng cho loại hình DNN&V được kể ra ở trên, các DNN&V còn có nhiều điểm yếu như:.

Thiếu các nguồn lực để tiến hành các công trình hoặc các dự án đầu tư lớn. Nguồn lực quan trọng nhất mà các DNN&V thường thiếu là vốn. Do quy mô nhỏ nên hầu hết các DNN&V không có đủ vốn để nhận các hợp đồng có giá trị cao.

Trình độ lao động và năng lực quản lý kinh doanh cũng là một yếu tố gây cản trở lớn tới sự phát triển lâu dài của các DNN&V. Họ thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý doanh nghiệp yếu. Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có chiến lược kinh doanh, chưa xây dựng chương trình hội nhập khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Theo số liệu khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 50% số giám đốc các công ty chưa tham gia các lớp đào tạo quản trị kinh doanh, nhiều người trong số họ chưa tốt nghiệp phổ thông, trình độ tiếng Anh, sử dụng công nghệ thông tin kém, khiến tỷ lệ doanh nghiệp bị đóng cửa khá cao, bình quân trên 10%/năm [12].

Bên cạnh đó, do không được đầu tư về vốn để cải tiến kỹ thuật, trình độ lao động hạn chế, hầu hết các doanh nghiệp này thường lạc hậu về khoa học công nghệ. Các DNN&V xuất khẩu hàng nông thủy sản còn gặp khó khăn nhiều hơn khi việc thiếu vốn khiến cho họ không thể ký kết các hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn từ nước ngoài trong khi hầu hết các đơn đặt hàng nông thủy sản có giá trị rất cao. Hơn nữa, do trình độ công nghệ sản xuất chế biến còn lạc hậu mà nhiều lô hàng nông thủy sản xuất khẩu của các DNN&V bị từ chối nhập khẩu hay bị ép giá do chất lượng không đảm bảo.

Các DNN&V không có các lợi thế kinh tế theo quy mô và ở nhiều quốc gia nhất định thì loại hình doanh nghiệp này thường yếu thế hơn trong các quan hệ với ngân hàng, với Chính phủ và giới báo chí cũng như thiếu sự ủng hộ của công chúng. Nhiều DNN&V bị phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển. ở Việt Nam, trong hai năm trở lại đây, vai trò của các DNN&V đã được Chính phủ và các tổ chức kinh tế đánh giá rất cao. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn khi không được hỗ trợ vay vốn từ ngân hàng, hay các hỗ trợ chính thức từ phía chính phủ để tạo điều kiện cho các DNN&V phát triển.

Các DNN&V do dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy càng nhiều DNN&V ra đời thì cũng có nhiều DNN&V bị phá sản. Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhiều nhà kinh tế thì DNN&V có tỷ lệ phá sản khá cao. Và các doanh nghiệp do nam giới quản lý thường có tỷ lệ thất bại cao hơn các doanh nghiệp được điều hành và quản lý bởi các doanh nhân nữ. Bên cạnh các tác động ngoại lai tích cực thì DNN&V cũng gây ra không ít các ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực trong nền kinh tế như do ít vốn, hầu hết các doanh nghiệp này không quan tâm đầy đủ đến việc bảo vệ môi trường hoặc khi nhiều DNN&V bị phá sản do hoạt động không hiệu quả thì gây ra sự thiếu tin tưởng của dân chúng đối với loại hình doanh nghiệp này, gây khó khăn cho người tiêu dùng khi lựa chọn các sản phẩm tiêu dùng cũng như các nhà cung cấp dịch vụ. Điều này đã làm giảm uy tín của loại hình DNN&V đối với công chúng và người lao động [12].

Nhìn chung, các DNN&V Việt Nam nói chung và các DNN&V xuất khẩu hàng nông thủy sản nói riêng còn yếu kém về nhiều mặt: Vốn, trình độ lao động, trình độ quản lý kinh doanh, tiến bộ công nghệ …Vì thế, Chính phủ cần có những chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp này cải thiện những điểm yếu cản trở sự phát triển của khu vực DNN&V.

2.4.3. Cơ hội Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Theo một nghiên cứu mới đây do ngân hàng Thượng Hải Hồng Kông (HSBC) tiến hành [12], các DNN&V Việt Nam lạc quan nhất về tương lai. Khảo sát được tiến hành trên 2.700 DNN&V tại Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Ấn Độ, Việt Nam, Hàn Quốc, Malaysia và Indonesia. Mặc dù lo ngại về sự suy thoái kinh tế Mỹ, các DNN&V Việt Nam vẫn đứng đầu về sự lạc quan với kỳ vọng về tăng trưởng kinh tế và kế hoạch của họ để tăng chi tiêu vốn trong vòng 6 tháng đầu năm 2008. Hầu hết các doanh nghiệp cho rằng họ có kế hoạch để thuê thêm nhân công và tăng xuất khẩu, chủ yếu tới các nước Châu Á khác. Đó là do các DNN&V Việt Nam lạc quan về những cơ hội mà họ có thể tận dụng được.

Các cơ hội cho DNN&V Việt Nam phát triển chủ yếu là những cơ hội đến từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Các tác động tiêu cực gây ra mối đe dọa cho các phương thức kinh doanh lâu năm và truyền thống nhưng lại được bù đắp nhiều hơn bằng các cơ hội và tác động tích cực mà việc gia nhập WTO đem lại cho các doanh nghiệp. Gia nhập WTO được mong muốn sẽ cùng có lợi cho tất cả các bên, những lợi ích và cơ hội này cũng được mong đợi cho các DNN&V, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu nông thủy sản như sau:

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có hành lang pháp lý đầy đủ và thuận lợi hơn để phát triển. Thật vậy, Việt Nam phải hoàn thiện khung khổ pháp lý phù hợp với cam kết hội nhập và các chuẩn mực kinh tế thị trường khi gia nhập WTO. Việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi tính chuyên nghiệp, minh bạch và khả năng giải trình của bộ máy nhà nước cùng với các nỗ lực cải cách hành chính, cải cách doanh nghiệp trong nước, minh bạch hóa toàn bộ các chính sách liên quan đến thương mại, hoàn thiện các thị trường yếu tố sản xuất (thị trường tài chính, thị trường đất đai, và thị trường lao động…). Những yêu cầu này chính là động lực cải cách nội tại nền kinh tế, hướng tới môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi với hệ thống pháp lý minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế, chính trị xã hội ổn định, những yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế và đặc biệt có ý nghĩa với các DNN&V còn non yếu ở nhiều khía cạnh.

Việc đơn giản hóa 3 thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế và các giấy phép khắc giấu có tác động tích cực đối với các doanh nghiệp mới. Nhiều doanh nghiệp tán thành việc xóa bỏ hoàn toàn việc cấp giấy phép khắc giấu.Việc tiến tới cơ chế một cửa cho đăng ký kinh doanh và giảm thời gian để xử lý 3 thủ tục này từ 30 ngày xuống 15 ngày đối với việc thành lập doanh nghiệp mới và xuống 12 ngày đối với việc thành lập một chi nhánh thực sự rất có ý nghĩa. Số lần phải đến cơ quan hành chính để tiến hành các thủ tục này và thời gian cấp mã số thuế đã giảm đi một nửa. Thủ tục kê khai và nộp thuế cũng đã được hoàn thiện và đơn giản hơn cho người nộp thuế. Việc đơn giản hóa các thủ tục chính thức thành lập một doanh nghiệp giúp đưa ra một cơ sở kinh doanh nhỏ phi chính thức vào khu vực chính thức, khuyến khích việc hoạt động kinh doanh theo pháp luật. Cơ chế “một cửa” ở các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất; hoàn thiện cơ chế đăng ký kinh doanh; hoàn thiện thủ tục hải quan, thủ tục nộp thuế… đã giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm chi phí thời gian và tiền bạc, nhờ đó mà tăng năng lực cạnh tranh.

Thay đổi tích cực khác sẽ trợ giúp cho việc thành lập và quản trị các DNN&V theo khuôn khổ pháp luật (Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2021). Các thủ tục xuất nhập khẩu được đơn giản hóa. Có thêm nhiều cơ hội cho việc tiếp cận thị trường, học hỏi, hợp tác quốc tế, tiếp cận công nghệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tốt hơn, chất lượng và uy tín của các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam được cải thiện. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Việc mở cửa dịch vụ bưu chính viễn thông sẽ có tác động rất tích cực đến các DNN&V Việt Nam, cho phép các doanh nghiệp từ nhỏ cạnh tranh trên toàn cầu nhờ internet và thương mại trực tuyến. Việc tiếp cận internet băng thông rộng đang được thử nghiệm ở nông thôn và vùng xa ở Việt Nam, những nơi bắt đầu có điện thoại cố định từ năm 2020 và mới được kết nối với mạng lưới điện khu vực từ năm 2021 [12].

Mạng liên kết và các hiệp hội rất quan trọng đối với sự phát triển và tăng trưởng của các DNN&V, đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, tiếp cận thông tin và thông tin và thị trường, đồng thời là tiếng nói của các DNN&V tới các cơ quan chức năng. Sự trợ giúp của các hội nghề nghiệp và mối liên hệ với các phòng thương mại nước ngoài ngày càng tăng đang giúp tạo ra một hệ thống trợ giúp cho các DNN&V.

Các hiệp hội kinh doanh cũng đưa ra các khóa đào tạo, các thông tin cũng như mối liên hệ với thị trường xuất khẩu. Khi yêu cầu về chất lượng, sự ổn định và phân phối có tính phụ thuộc tăng, tiêu chuẩn tổng thể cho sản phẩm và dịch vụ được cải thiện và cuối cùng, các DNN&V còn tồn tại sẽ có xu hướng mạnh hơn, thành công và chuyên nghiệp hơn. Có những DNN&V tăng trưởng nhanh, tạo ra thêm nhiều cơ hội nghề nghiệp và cơ hội cho các DNN&V khác.

Việc Việt Nam giảm thuế và các nghĩa vụ nhập khẩu đối với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, ô tô sẽ tạo điều kiện giúp DNN&V hướng tới nâng cao hiệu quả nhờ được cung cấp nguồn lực tốt hơn. Nhượng quyền thương hiệu cũng giúp các doanh nghiệp nhỏ tăng cường nhờ việc giới thiệu và đào tạo kỹ năng quản lý, marketing, kỹ năng kế toán, tạo việc làm và tiêu chuẩn dịch vụ.

Cùng với tiến trình hội nhập, thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan giảm. Việt Nam được hưởng MFN tại 164 nước trên thế giới nên nhiều ngành hàng, mặt hàng được miễn giảm thuế, xóa bỏ hạn ngạch. Đây chính là nguyên nhân cơ bản tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; sự cạnh tranh trên thị trường tăng, tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ chi phí để nâng cao sức cạnh tranh.

Trở thành thành viên chính thức của WTO, các DNN&V của Việt Nam có lợi hơn trong các tranh chấp thương mại do tiếp cận được hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả của WTO, tránh tình trạng bị các nước lớn gây sức ép trong các tranh chấp thương mại quốc tế. Gia nhập WTO cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam không bị đối xử như các doanh nghiệp đến từ một nền kinh tế phi thị trường (NME) trong các vụ tranh chấp thương mại như trước đây.

Việc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ góp phần kéo theo một làn sóng đầu tư nước ngoài vào nhiều ngành kinh tế dịch vụ, theo đó đem lại những lợi ích lan tỏa cho nền kinh tế mà các doanh nghiệp hoạt động trong đó cũng được hưởng lợi như: tạo động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp, tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động, sáng tạo, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển. Năm 2023, năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh.

Mở cửa thương mại gắn liền với tiến trình toàn cầu hóa bởi nó tạo ra sự gắn kết giữa nền kinh tế trong nước với thị trường toàn cầu cả ở phía đầu vào lẫn đầu ra. Cùng với sự phát triển của cách mạng thông tin và công nghệ cao, giảm bớt các rào cản thương mại và sự ra tăng lưu chuyển vốn trên toàn cầu, các DNN&V sẽ có những cơ hội mà trước đây họ không thể có, đặc biệt là tiếp xúc với các xu hướng tiêu thụ mới và phân công lao động trên diện rộng với chi phí sản xuất thấp và kỹ thuật tiên tiến.

Phần phân tích trên cho thấy các DNN&V, đặc biệt là với những doanh nghiệp xuất khẩu có được rất nhiều cơ hội từ tác động tích cực của việc Việt Nam gia nhập WTO . Bên cạnh đó, các DNN&V nước ta đang ngày càng được Chính phủ quan tâm và tạo điều kiện phát triển. Đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008 đến nay, các DNN&V là đối tượng chính trong giải pháp hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho các doanh nghiệp, nằm trong gói các biện pháp kích cầu của chính phủ.

2.4.4. Thách thức Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Bên cạnh những lợi ích nêu trên, DNN&V thường gặp phải khó khăn nhất định trong quá trình tham gia hội nhập. Đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, Những thách thức với các DNN&V còn lớn hơn rất nhiều.

Chính sách vĩ mô như chính sách tiền tệ, tài khóa bảo đảm một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định (bao gồm giá cả hàng hóa dịch vụ, lãi suất và tỷ giá hối đoái linh hoạt, phản ánh đúng cung cầu thị trường…) là những điều kiện quan trọng giúp các doanh nghiệp phát triển ổn định. Hiện nay các DNN&V đang gặp khó khăn trong tiếp cận vốn từ khu vực tài chính chính thức-theo bộ kế hoạch và đầu tư, chỉ có 32,4% DNN&V đủ điều kiện để vay từ các ngân hàng chính thức [12]. Do vậy họ phải có được tài chính từ các nguồn khác để cạnh tranh. Trong thời điểm khủng hoảng kinh tế trầm trọng như hiện nay, biện pháp hỗ trợ cho vay vốn với lãi suất ưu đãi của Chính phủ được coi là một biện pháp hữu hiệu để cứu trợ các doanh nghiệp trong thời điểm khó khăn hiện nay, mà DNN&V là đối tượng trợ giúp chính. Tuy nhiên, nhiều DNN&V không thể tiếp cận với nguồn vốn này do thời hạn cho vay vốn chỉ kéo dài 8 tháng và nhiều DNN&V không đủ khả năng trả nợ quá hạn khi thời hạn cho vay đã kết thúc. Vì thế, đây lại là một thách thức lớn với các DNN&V trong việc chống chọi với cơn khủng hoảng hiện nay.

Khi Việt Nam tham gia nhiều hơn vào quá trình toàn cầu hóa sau khi trở thành thành viên WTO, nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các biến cố của nền kinh tế thế giới. Theo truyền thống đồng Việt Nam được gắn chặt với đô la Mỹ, nhưng sự tăng giảm của đồng đô la Mỹ khiến chính phủ phải mở rộng sự kiềm tỏa để tạo điều kiện sho sự giao dịch giữa đồng và đô la. Các nhà xuất khẩu Việt Nam đang nhận thấy những áp lực khiến thu nhập thấp hơn do đô la tăng giảm. Nỗi lo sợ về lạm phát cũng đe dọa sự phát triển bền vững của khu vực DNN&V [2].

Do quy mô nhỏ và chưa có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh, các DNN&V thậm chí còn bị nhiều tác động hơn từ những vấn đề như dòng vốn và chính sách tiền tệ. Như đã được đề cập trong báo cáo của Đặng đức anh, thương mại quốc tế đã trở thành một lĩnh vực năng động nhất của nền kinh tế Việt Nam Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Môi trường kinh doanh của Việt Nam đã cải thiện nhiều, nhưng chưa nhanh, chưa thực sự mang tính cách mạng và chưa thực sự phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Theo xếp hạng của “Doing Business – 2023” – một tổ chức có uy tín, Việt Nam xếp hạng 104/175 nước tham gia khảo sát, tụt 6 bậc so với năm 2022; ở hàng năng lực cạnh tranh tụt 3 bậc, đứng thứ 132 trên thế giới. Ngày 15-12-2023, tại Thành phố Hồ Chí Minh, ở hội thảo về “Đánh giá sự tác động của WTO đến nền kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập”, đa số các chuyên gia cho rằng, sự thay đổi cơ chế quản lý chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO, cơ cấu và phương thức phân bổ các nguồn lực chưa hiệu quả. Do đó chưa tác động mạnh nhằm mang lại những thay đổi lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng [24].

Sự phát triển năng động của doanh nghiệp thường phải dựa trên cơ sở gắn kết lợi thế so sánh về chi phí cùng việc nâng cao khả năng cạnh tranh về chất được nhìn nhận trong tổng thể những biến động về môi trường kinh tế vĩ mô, thị trường bạn hàng, đối thủ cạnh tranh và công nghệ. Trên những lĩnh vực này, các DNN&V Việt Nam thường có nhiều yếu kém đặc biệt là do thiếu thông tin. Các DNN&V này chưa nhận diện rõ cơ hội và thách thức do hội nhập kinh tế quốc tế và WTO mang lại, do vậy chưa xây dựng cho mình chiến lược kinh doanh phù hợp. Tăng cường khả năng cập nhập thông tin sẽ tạo điều kiện cho các DNN&V trở nên năng động hơn cho các hoạt động tác nghiệp của mình.

Thiếu hiểu biết về kiến thức kinh tế, pháp luật quốc gia và quốc tế, đặc biệt là các luật giao dịch của thương mại quốc tế trong bối cảnh hội nhập cùng những cơ hội và thách thức đặt ra cũng sẽ làm giảm rất nhiều khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Để làm được việc này cần có sự phối hợp chủ động, đồng bộ của các Bộ ngành và sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp vào tiến trình tuyên truyền, tìm hiểu các kiến thức liên quan.

Việc Việt Nam chưa được thừa nhận có nền kinh tế thị trường. Theo cam kết khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2018. Điều này đã tác động đến khả năng tự vệ, chống bị kiện phá giá của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong hoạt động thương mại quốc tế. Các DNN&V Việt Nam sẽ thường xuyên gặp phải tranh chấp trong thương mại quốc tế và luôn ở thế yếu hơn.

Hệ thống ngân hàng ở các nước Mỹ, EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc đều đang có vấn đề về khả năng thanh khoản, do đó việc cho vay và bảo lãnh tín dụng cho các nhà nhập khẩu bị thu hẹp. Thậm chí, nhiều ngân hàng chưa đến mức khó khăn, nhưng do niềm tin bị suy giảm hoặc vì mục tiêu thu hồi bớt các khoản vay nên cũng hạn chế cho vay, bảo lãnh nhập khẩu.

Thực hiện các cam kết WTO cũng có nghĩa là doanh nghiệp không được nhà nước bao cấp vì phải bỏ những loại trợ cấp, hỗ trợ trái quy định của WTO. Theo cam kết WTO, Việt Nam bỏ tài trợ trực tiếp đối với hoạt động xuất khẩu (tài trợ đèn đỏ). Điều này sẽ ảnh hưởng nhất định đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tham gia xuất khẩu hàng hóa ra thị trường khu vực và thế giới.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, theo cam kết WTO, Việt Nam phải bãi bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa ngay khi gia nhập [7]. Các DNN&V trong lĩnh vực nông nghiệp để gia nhập được thị trường nước ngoài phải đáp ứng các quy định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm chứng chỉ “nông sản an toàn” hay “nông nghiệp tốt” GAP, các quy định về chất lượng: chững chỉ về giống (không thuộc loại giống có biến đổi gen), về chất lượng sản phẩm( hàm lượng protein, vitamin, chống lão hóa…), đồng bộ về kích cỡ, màu sắc…; đảm bảo các yêu cầu số lượng, khả năng giao hàng và các yêu cầu tổ chức lại sản xuất, đồng ruộng theo hướng chuyên môn hóa, liên hiệp, hợp tác để giảm giá thành sản phẩm, đảm bảo có thể cạnh tranh về giá cả.

Trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, hàng hóa cũng phải đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm như: dư lượng chất kháng sinh và những tiêu chuẩn khắt khe khác về chất lượng sản phẩm như: hàm lượng protein, chất đạm, chất bảo quản thực phẩm… Đây rõ ràng là một thách thức lớn đối với các DNN&V hoạt động trong lĩnh vực nông thủy sản, đặc biệt trong bối cảnh nền sản xuất nông nghiệp và thủy sản Việt Nam còn phân tán, năng suất và chất lượng chế biến thấp.

DNN&V nước ta đang đứng trước những bước phát triển mới về hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp, chủ thể của quá trình này, phải chủ động nắm bắt, nhận biết về yêu cầu của quá trình này và phải chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập. Các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, nền kinh tế có khả năng cạnh tranh, quốc gia sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao, tạo thêm việc làm và thu nhập, trình độ khoa học công nghệ được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện. Ngược lại, chậm hoặc mơ hồ với áp lực của hội nhập khiến cho các doanh nghiệp phải chuyển hướng sản xuất, thậm chí giải thể hay phá sản dẫn đến sự rối ren chung cho toàn xã hội. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464