Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Việt Nam- APEC: cơ hội và thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp trong nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu sang các nền kinh tế trong và ngoài khu vực

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương là nơi hội tụ của nền kinh tế thành viên trải rộng trên khắp bốn châu lục, chiếm khoảng 46% diện tích và 41,2% dân số thế giới, chứa đựng những đặc điểm kinh tế – xã hội đa dạng khiến nhu cầu về hàng hóa dịch vụ đến từ thị trường này đặc biệt phong phú. Thêm vào đó, 7 trong 14 nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP trên 500 tỷ Đôla (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc, Italia, Canada, Tây Ban Nha, Mexico, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, Hà Lan) đều là thành viên của APEC, trong đó có 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ và Nhật Bản [36]. Có thể nói, APEC là một thị trường thật sự rộng lớn và tiềm năng để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và khai thác. Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Ngay từ những ngày đầu gia nhập Diễn đàn, các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ APEC của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã gắn chặt với định hướng đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường khu vực; thông qua việc tham gia có chọn lọc vào các chương trình hành động nhằm giảm bớt và gỡ bỏ các rào cản thương mại. Xu hướng thúc đẩy tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại trong APEC đã đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam khả năng tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Đến năm 2004, mức thuế suất trung bình của các nền kinh tế APEC đã giảm xuống còn 6,4%; tất cả các thành viên phát triển của APEC hiện tại đều có mức thuế suất trung bình thấp hơn 5% [18]; một số thành viên như Singapore và Chile đã cam kết áp dụng thuế suất 0% với tất cả các mặt hàng nhập khẩu [29]; Hàn Quốc áp dụng thuế suất 0% với 70% mặt hàng nhập khẩu theo mô hình khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (ASEAN – Korea Free Trade Agreements – AKFTA) từ 2007 ; Trung Quốc cam kết miễn bỏ thuế nhập khẩu đối với 300 loại hàng nông sản từ 4 nước: Việt Nam, Lào, Myanma, Campuchia (tháng 1/2004) [34]; Indonesia, Malaysia, Thái Lan áp dụng thuế suất ưu đãi dưới 5% cho lần lượt 50, 170 và 19 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam theo Chương trình ưu đãi hội nhập ASEAN (Asian Integration System of Preferences – AISP) năm 2004; 92% hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản sẽ được miễn thuế [29]… APEC cũng liên tục đề xuất các chương trình hành động đòi hỏi sự phối hợp của các thành viên nhằm xử lý các rào cản phi thuế; cắt giảm 5% chi phí giao dịch; đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan; xây dựng những thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực như thiết bị viễn thông, thiết bị điện và điện tử, thực phẩm, đồ chơi.. tạo điều kiện cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường dễ dàng hơn, thủ tục xuất khẩu đơn giản hơn, với mức giá cạnh tranh hơn – từ đó đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường khu vực.

Ngoài ra, không thể không kể đến tác động tích cực của Chương trình thẻ đi lại của doanh nhân APEC, chương trình hỗ trợ năng lực ứng dụng thương mại điện tử cho các doanh nghiệp APEC đối với việc mở rộng thị trường và tăng cường xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Thông qua các hoạt động này, doanh nhân Việt Nam có nhu cầu đi lại thường xuyên, ngắn hạn để thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh trong phạm vi APEC có thể liên hệ với Cục quản lí xuất – nhập cảnh, trực thuộc Bộ Công An để được cấp thẻ đi lại trong lãnh thổ 17 nền kinh tế thành viên APEC mà không cần visa. Mặt khác, các doanh nghiệp trong nước cũng có thể tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, tiếp cận, đàm phán và ký kết hợp đồng trực tuyến với các đối tác thuộc các nền kinh tế APEC nhằm giảm bớt chi phí giao dịch phát sinh, tận dụng thời cơ và nâng cao hiệu quả kinh doanh, không ngừng mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên thị trường khu vực.

Một nhân tố khác không kém phần quan trọng góp phần gia tăng cơ hội tiếp cận thị trường APEC cho các doanh nghiệp Việt Nam là việc phổ biến rộng rãi các thông tin doanh nghiệp cần biết khi tiến hành hoạt động giao thương với các nền kinh tế thành viên của Diễn đàn. Tiêu biểu là trong ấn phẩm Sổ tay hải quan và thuận lợi hóa thương mại APEC, hay trên chính website chính thức của Diễn đàn tại địa chỉ http://www.apec.org/, các doanh nghiệp Việt Nam có thể dễ dàng tìm thấy những thông tin hữu ích về cơ chế, chính sách, thủ tục… khi tiếp cận từng thị trường thành viên APEC, trên cơ sở đó xây dựng cho mình một định hướng kinh doanh đúng đắn. Thêm vào đó, sự kiện APEC – Việt Nam 2006 thực sự là cơ hội lớn để các doanh nghiệp trong nước trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với các nhà lãnh đạo kinh tế cao cấp của Diễn đàn, hòa mình vào hàng trăm gian hàng lớn nhỏ trong Hội chợ triển lãm thương mại APEC, gặp gỡ hàng nghìn đối tác đến từ các nền kinh tế khu vực, học hỏi kinh nghiệm và thiết lập rộng rãi quan hệ với các đối tác tiềm năng…

Thống kê thực tế những năm qua đã cho thấy cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã và đang tân dụng tương đối hiệu quả cơ hội tiếp cận và khai thác thị trường Châu Á – Thái Bình Dương mang lại từ hợp tác APEC, thể hiện bằng việc kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp sang thị trường này không ngừng tăng lên.

Về kim ngạch xuất khẩu qua các năm: theo số liệu của Tổng cục

Thống kê Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu năm 2004 đạt khoảng 19,28 tỷ Đôla; năm 2006 đã tăng lên khoảng 52,2% (tương đương 29,34 tỷ Đôla); và đến năm 2008 là 33,5 tỷ Đôla.

BIỂU ĐỒ 1: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG CÁC THỊ TRƯỜNG APEC 2003 – 2008

Về thị trường xuất khẩu: số liệu về thị trường xuất khẩu từ năm 2004 – 2008 của Tổng cục Thống kê Việt Nam cho thấy 5 thị trường có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất từ Việt Nam theo thứ tự gồm có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia và Singapore đều là các thành viên APEC với tốc độ tăng kim ngạch khá ổn định qua các năm. Năm 2008, chỉ tính riêng 5 thị trường này đã chiếm tới 95,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nền kinh tế APEC và 50,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới (tương đương 31,84 tỷ Đôla).

BẢNG 2: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG APEC (2004 – 2008)

Đặc biệt, một số đối tác quan trọng của Việt Nam trong APEC lại là những nhà xuất khẩu trung gian lớn, thực hiện tái xuất hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam sang các nền kinh tế phát triển. Điển hình trong số đó là các đối tác như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc… Nhờ vậy, hàng hóa Việt Nam ngày càng có cơ hội tiếp cận các thị trường ngoài khu vực và đến tay người tiêu dùng trên toàn thế giới. Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Về cơ cấu hàng xuất khẩu: năm 2006, những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường APEC được chia thành hai nhóm: nhóm hàng thô và sơ chế chiếm tỷ trọng khoảng 48,3% (trongđó: nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và nguyên vật liệu liên quan chiếm 24,4%; lương thực, thực phẩm và động vật sống chiếm 18,9%; nguyên vật liệu dạng thô trừ nhiên liệu chiếm 4,6%); nhóm hàng chế biến hay đã tinh chế chiếm tỷ trọng 51,7% (trong đó: máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng chiếm 10,5%; hàng chế biến khác chiếm 31,8%) [41].

BIỂU ĐỒ 2: CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG APEC NĂM 2006

Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chỉ tập trung xuất khẩu sang thị trường khu vực những sản phẩm có hàm lượng chế biến thấp, giá trị gia tăng của sản phẩm không nhiều, chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu của nhóm hàng đã qua chế biến sang thị trường APEC cũng được duy trì ở mức ổn định qua các năm (năm 2004: 52,6%; năm 2005: 50,4% và năm 2006: 51,7%) [41].

Ngoài ra, những thị trường có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất đối với 8 trong 11 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2008 (dầu thô; than đá; hàng dệt may; gạo; cao su; gỗ và sản phẩm gỗ; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; dây điện và dây cáp điện) đều là thành viên APEC. 3 mặt hàng thế mạnh còn lại gồm giày dép, thủy sản và cà phê cũng được xuất rất mạnh sang thị trường khu vực. Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai đối với hai mặt hàng giày dép và cà phê của Việt Nam, với kim ngạch nhập khẩu giày dép là 1,08 tỷ Đôla (chỉ xếp sau EU), và lượng nhập khẩu cà phê là nghìn tấn (chỉ xếp sau Đức). Nhập khẩu đến 18,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2008, Nhật Bản cũng là thị trường đối tác lớn thứ hai đối với các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu trong ngành này (sau EU) [31].

Song song với cơ hội mở rộng phạm vi ảnh hưởng lên các thị trường châu Á – Thái Bình Dương, hợp tác APEC còn giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và khai thác sâu rộng hơn các thị trường ngoài khu vực. Đàm phán thành công gia nhập Tổ chức thương mại thế giới là một trong những thành tựu quan trọng hàng đầu của Việt Nam sau hơn 10 năm gia nhập APEC; theo đó, các doanh nghiệp Việt Nam được chính thức góp mặt vào sân chơi chung của thế giới, tiếp cận với những đối tác đến từ các nền kinh tế xa xôi, hưởng những quy chế ưu đãi tối đa về thương mại và đầu tư, và khai thác hàng nghìn cơ hội “vàng” về xuất khẩu. Thực tế đã cho thấy, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nền kinh tế ngoài APEC từ năm 2006 đến nay đã tăng đáng kể, thể hiện nhất quán đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa trong thương mại quốc tế của Việt Nam.

BIỂU ĐỒ 3: TỶ TRỌNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG CÁC THỊ TRƯỜNG TRONG VÀ NGOÀI APEC (2000 – 2008)

Tóm lại, quá trình hợp tác hiệu quả trong khuôn khổ APEC đã và đang đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam cơ hội lớn trong việc tiếp cận và thâm nhập các thị trường nước ngoài, mở rộng phạm vi ảnh hưởng, cũng như đẩy mạnh xuất khẩu với những con số ấn tượng. Trong thời gian tới, nếu tiếp tục khai thác hiệu quả những thành tựu tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại của tiến trình APEC, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu Việt Nam còn có thể trở thành đối tác thường xuyên và uy tín của nhiều nền kinh tế lớn trong và ngoài khu vực; đóng góp nhiều hơn vào tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước; đồng thời khẳng định vị thế quan trọng và bình đẳng của mình trên thị trường quốc tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Tiếp cận được nguồn cung vật liệu và hàng hóa rẻ, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Không chỉ là thị trường xuất khẩu chủ lực của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, các thành viên APEC còn là những đối tác thương mại quan trọng cung cấp cho Việt Nam những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa hiệu quả; cung cấp những nguyên vật liệu, phụ tùng, máy móc… cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Kim ngạch nhập khẩu từ các thành viên APEC luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam và tăng đều qua các năm. Trong giai đoạn 2004 – 2006, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu từ các thành viên APEC của Việt Nam vào khoảng 22%/ năm. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ APEC so với tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam giữ ổn định ở mức trên dưới 80% [39].

BIỂU ĐỒ 4: TỶ TRỌNG KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ CÁC THỊ TRƯỜNG TRONG VÀ NGOÀI APEC (1995 – 2008)

Năm 2007, cả 11 đối tác lớn mà Việt Nam nhập khẩu trên 1 tỷ Đôla đều là thành viên APEC: Trung Quốc (12,5 tỷ Đôla), Singapore (7,61 tỷ Đôla), Đài Loan (6,92 tỷ Đôla), Nhật Bản (6,18 tỷ Đôla), Hàn Quốc (5,33 tỷ Đôla), Thái Lan (3,74 tỷ Đôla), Malaysia (2.29 tỷ Đôla), Hồng Kông (1,94 tỷ Đôla), Hoa Kỳ (1,9 tỷ Đôla), Indonesia (1,35 tỷ Đôla) và Australia (1,06 tỷ Đôla). Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam năm 2006 từ các thị trường thành viên APEC gồm khoảng 25,6% là hàng thô, sơ chế; 70,2% là hàng đã qua chế biến hay tinh chế – trong đó máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng chiếm 24,1%, hàng chế biến chủ yếu chiếm 27,1%, hóa chất và sản phẩm liên quan chiếm 14,1%, hàng chế biến khác chiếm 4,9% [39].

BẢNG 3: KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG APEC (2004 – 2008)

BIỂU ĐỒ 5: CƠ CẤU HÀNG NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ THỊ TRƯỜNG APEC NĂM 2006

Phần lớn các ngành công nghiệp xuất khẩu quan trọng của nước ta như dệt may, da giày, đồ gỗ… đều đòi hỏi tỷ trọng nguyên vật liệu nhập khẩu lên tới 60 – 80%; trong đó các thị trường chủ yếu cung cấp nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp Việt Nam đều tập trung trong khối APEC. Theo số liệu của Tổng cục hải quan, trong năm 2008 ngành dệt may và da giày đã nhập khẩu trên 2,3 tỷ Đôla nguyên phụ liệu từ 36 thị trường quốc tế; trong đó có 14 thị trường là thành viên APEC, với tổng trị giá nguyên phụ liệu cung cấp đạt 1,96 tỷ Đôla (chiếm 85,2%). Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Như vậy, có thể thấy rằng các thành viên APEC luôn là những đối tác quan trọng của các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu về nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng… và đặc biệt là máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và phụ tùng nhằm phục vụ tích cực cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng gia tăng trong nước. Bởi vậy, những thành tựu quan trọng về tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại trong khuôn khổ APEC trở nên đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam; nó tạo ra những tác động tích cực và trực tiếp lên hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp với các đối tác chủ yếu là thành viên của Diễn đàn. Giờ đây, các công đoạn nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất hay hàng hóa từ các thị trường châu Á láng giềng hoặc ngay cả các thị trường bên kia bờ đại dương đều trở nên thuận tiện và dễ dàng đối với các doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp có thể tiết kiệm được tới 5% chi phí giao dịch khi tiến hành các hoạt động nhập khẩu với các nền kinh tế thành viên APEC, cũng như rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Quan trọng hơn, các doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi đáng kể về thuế quan; từ đó hạ giá thành và từng bước cải thiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Cho đến nay, xuất phát từ những thành tựu của tiến trình thúc đẩy tự do hóa thương mại trong khuôn khổ APEC – mở rộng ra phạm vi quốc tế, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều thỏa thuận song phương và đa phương về các ưu đãi thuế quan dành cho hàng nhập khẩu từ các nền kinh tế trong và ngoài khu vực. Có thể kể đến việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc theo quyết định 26/2007/QĐ-BTC, trong đó quy định mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN và Trung Quốc vào Việt Nam là 0 – 25%. Theo tinh thần của Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung trong ASEAN, giai đoạn 2008 – 2013, thuế suất nhập khẩu giấy từ các nước này giảm xuống còn 3%, thuế suất nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô là 5% (thấp hơn các nước ngoài khối 5 – 10%), thuế nhập khẩu clinker là 5% (các nước ngoài khối là 10%)… Bên cạnh đó, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản cũng cho phép 92% hàng hóa từ thị trường Nhật Bản vào Việt Nam được miễn thuế trong vòng 10 năm; các mặt hàng công nghiệp, gồm cả phụ tùng ô tô và sản phẩm điện tử của nước này khi vào Việt Nam sẽ được miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu. Ngoài ra, một trong những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO là giảm mức thuế suất nhập khẩu bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện trong vòng 5 – 7 năm. Việc cắt giảm thuế như vậy có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu Việt Nam; bởi nó làm tăng đáng kể tính hấp dẫn của thị trường nội địa, lôi kéo được sự quan tâm và tín nhiệm của các đối tác nước ngoài, nhờ đó các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận và khai thác những nguồn cung rẻ, phong phú và ổn định.

Trên cơ sở những thỏa thuận ưu đãi về thuế quan đã đạt được kể trên, hoạt động nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng và nguyên vật liệu từ các nền kinh tế APEC ngày càng được các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh khai thác để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất kinh doanh hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu. Thống kê tình hình nhập khẩu năm 2008 cho thấy Trung Quốc và Nhật Bản là những đối tác quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nước ta, khi hai thị trường này cung cấp lần lượt 3,77 tỷ Đôla và 2,48 tỷ Đôla trị giá hàng nhập khẩu là máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng cho Việt Nam (chiếm gần 27% và 17,3% tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước). Đặc biệt, Trung Quốc cũng là thị trường dẫn đầu trong việc cung cấp nhóm hàng nguyên liệu, phụ liệu phục vụ cho hai ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là dệt may và da giày (2,03 tỷ Đôla); bên cạnh các đối tác khác như Đài Loan (1,62 tỷ Đôla), Hàn Quốc (1,38 tỷ Đôla), Hồng Kông (732 triệu Đôla), Nhật Bản (482 triệu Đôla). Với 77% tổng kim ngạch nguyên liệu, phụ liệu nhập khẩu từ 5 thị trường APEC này, ngành dệt may Việt Nam năm 2008 đã xuất khẩu được 9,12 tỷ Đôla – tăng 17,7% so với năm 2007; kim ngạch xuất khẩu ngành da giày đạt hơn 4,77 tỷ Đôla – tăng 19,4% so với năm trước và hoàn thành vượt 6% mức kế hoạch năm [38]. Hưởng lợi đáng kể từ những ưu đãi về thuế quan theo tinh thần của Hiệp định ASEAN – Hàn Quốc, hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2008 từ thị trường Hàn Quốc cũng đạt trên 3,1 tỷ Đôla (tăng 60% so với cùng kỳ năm trước); gồm một số mặt hàng như xăng dầu (0,56 tỷ Đôla), máy móc thiết bị (0,4 tỷ Đôla), sắt thép (0,3 tỷ Đôla), ô tô nguyên chiếc (0,2 tỷ Đôla), linh kiện ô tô (0,11 tỷ Đôla), phân bón (0,05 tỷ Đôla), hóa chất (0,07 tỷ Đôla)… [31]. Hàn Quốc cùng Mexico cũng là 2 trong số 5 thị trường cung cấp lượng thép nhập khẩu lớn nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam, sau khi Trung Quốc có sự điều chỉnh chính sách hạn chế xuất khẩu thép vào đầu năm 2008.

Như vậy, hợp tác trong khuôn khổ APEC đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước hưởng lợi nhiều hơn từ các nguồn cung nguyên, phụ liệu và máy móc thiết bị truyền thống do tiết kiệm được đáng kể chi phí cho quá trình giao dịch, thông quan khi nhập khẩu các mặt hàng… Bên cạnh đó, tiến trình hợp tác cũng đem lại cho doanh nghiệp nhiều lựa chọn phong phú về các nguồn cung để tìm ra mức giá hợp lý nhất với chất lượng tốt nhất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu.

3. Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, thúc đẩy hợp tác kinh tế – kỹ thuật là những mục tiêu xuyên suốt các chương trình hành động của Diễn đàn APEC. Bởi vậy, tham gia tích cực vào các chương trình hoạt động của Diễn đàn, Việt Nam đã và đang tự tạo dựng cho mình một nền móng vững chắc để thu hút vốn đầu tư nhanh, mạnh và ổn định; bằng việc xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, xóa bỏ các rào cản đầu tư và dành cho nhà đầu tư nước ngoài được hưởng quy chế đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia. Thực tế cho thấy rằng, những nỗ lực điều chỉnh cơ chế, chính sách đầu tư để phù hợp với luật chơi chung của thế giới đã khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam trong những năm qua không ngừng tăng lên, đem lại lợi ích không nhỏ cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế và đặc biệt là cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Tính từ năm 1988 đến hết 2007, Việt Nam có 8684 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư lên tới hơn 85 tỷ Đôla, vốn thực hiện gần 30 tỷ Đôla. Trong đó, FDI từ các thành viên APEC vào Việt Nam có 4933 dự án (chiếm 56,81%), tổng vốn đầu tư trên 62,84 tỷ Đôla (chiếm 73,89%), vốn thực hiện 20,62 tỷ Đôla (chiếm 70,5%). Như vậy, các thành viên APEC là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam ở cả hai lĩnh vực thương mại và đầu tư [25].

BẢNG 4: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỪ APEC 1988 – 2007 (tính tới ngày 31/12/2007 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Năm 2008 chứng kiến sự gia tăng kỷ lục của dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam với tổng số dự án cấp mới là 1171 bên cạnh 31 dự án tăng vốn; vốn cấp mới đạt 60,27 tỷ Đôla, vốn tăng thêm đạt 3,74 tỷ Đôla; tổng vốn thực hiện 11,5 tỷ Đôla (tăng 43,2% so với cùng kỳ năm 2007). Các nhà đầu tư APEC vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ chốt khi đóng góp tới 25,8% lượng vốn tăng thêm (tương đương 0,97 tỷ Đôla) và 83,12% lượng vốn cấp mới (tương đương 52,1 tỷ Đôla) cho Việt Nam. Cũng trong năm 2008, 9 trong 11 nhà đầu tư lớn nhất (vốn FDI trên 1 tỷ Đôla) của Việt Nam là các thành viên APEC; trong đó Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Canada, Thái Lan theo thứ tự là 7 nền kinh tế có lượng vốn FDI đóng góp cho Việt Nam nhiều nhất so với toàn thế giới [27].

Mặt khác, thông qua các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ APEC, các doanh nghiệp Việt Nam còn có cơ hội tăng cường khả năng thu hút vốn FDI từ các nước nền kinh tế ngoài khu vực, đặc biệt là từ các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations – TNCs). Hiện nay, có một số lượng lớn TNCs hoạt động tại các nền kinh tế thành viên phát triển của Diễn đàn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… Chỉ tính riêng tại thị trường Singapore – trung tâm kinh tế tài chính quan trọng của châu Á – đã có tới 1600 TNCs hoạt động trong các lĩnh vực chủ yếu như công nghệ thông tin, công nghiệp điện tử, tin học, dịch vụ khách sạn – du lịch, bất động sản… đều là những lĩnh vực Việt Nam kêu gọi vốn FDI [32]. Với điều kiện cơ sở hạ tầng phát triển, Singapore có thể đóng vai trò điểm kết nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Thêm vào đó, các TNCs của Nhật Bản đang thực hiện chiến lược chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc sang một số nước khác trong khu vực theo mô hình “Trung Quốc + 1”, tạo cơ hội mới cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư từ các công ty xuyên quốc gia này. Do vậy, tăng cường quan hệ hợp tác với các thành viên phát triển trong APEC sẽ giúp cộng đồng doanh nghiệp trong nước tranh thủ được sự quan tâm đầu tư của các TNCs đến từ nhiều nền kinh tế khác nhau trên thế giới.

Lượng vốn FDI dồi dào đem lại cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước. Cụ thể hơn, tính hiệu quả đây biểu hiện ở một số mặt rõ rệt:

Đóng góp của các doanh nghiệp FDI vào tình hình tăng trưởng kinh tế:

Đóng góp chung:

Kể từ khi tham gia hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương và trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài khu vực, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận sự đóng góp đáng kể từ phía các doanh nghiệp FDI trong việc tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP), tổng giá trị doanh thu (bao gồm giá trị xuất khẩu) và tỷ lệ nộp ngân sách ngày càng gia tăng. So sánh với mức đóng góp trung bình 6,3% GDP trong giai đoạn 1991 – 1995, đến giai đoạn 1996 – 2000 khu vực doanh nghiệp FDI đã đóng góp tới 10,3% GDP của Việt Nam. Trong những năm 2001 – 2005, tỷ lệ này còn đạt trên 14%; và các doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 17% GDP trong 2 năm 2006 – 2007 [28].

Mức đóng góp của khối doanh nghiệp FDI trong tổng giá trị doanh thu của cả nước cũng tăng theo từng giai đoạn. Nếu trị giá xuất khẩu (không kể dầu thô) của khu vực doanh nghiệp này giai đoạn 1991-1995 mới chỉ đạt 1,2 tỷ Đôla (chiếm 30% tổng doanh thu), thì đến các giai đoạn 1996 – 2000, 2001 – 2005 con số tương ứng là 10,59 tỷ Đôla (chiếm 39%) và 34,6 tỷ Đôla (chiếm 44,7%). Riêng hai năm 2006 – 2007, giá trị xuất khẩu (không kể dầu thô) của các doanh nghiệp FDI lên đến 28,6 tỷ Đôla (chiếm 41 % tổng doanh thu). Nếu tính cả dầu thô, tỷ lệ đóng góp của khối doanh nghiệp FDI vào tổng giá trị xuất khẩu của cả nước năm 2006 là 57% (tương đương 12,6 tỷ Đôla) và năm 2007 là 56,8% (tương đương 27,3 tỷ Đôla). Gần đây nhất, tổng doanh thu của khối năm 2008 lên đến 50,55 tỷ Đôla (tăng 24,4% so với năm 2007), trong đó giá trị xuất khẩu là 24,47 tỷ Đôla, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước [28].

BIỂU ĐỒ 6: ĐÓNG GÓP CỦA KHU VỰC DOANH NGHIỆP FDI VÀO GDP VÀ TỔNG DOANH THU CỦA VIỆT NAM

Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tăng dần theo các năm và bắt đầu vượt ngưỡng 1 tỷ Đôla từ năm 2005. Con số này chỉ vào khoảng 0,12 tỷ Đôla trong các năm 1991 – 1995, nhưng đã tăng hơn 10 lần trong giai đoạn 5 năm kế tiếp (1,49 tỷ Đôla). Giai đoạn 2001 – 2005, khu vực doanh nghiệp FDI nộp vào ngân sách hơn 3,6 tỷ Đôla; năm 2006 đạt 1,4 tỷ Đôla (gần bằng cả giai đoạn 1996 – 2000) và năm 2007 đạt 1,58 tỷ Đôla. Năm 2008, con số này tiếp tục tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước khi khối doanh nghiệp đóng góp tới 1,98 tỷ Đôla vào ngân sách quốc gia [28]. Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Đóng góp theo lĩnh vực: 

Đặc biệt, trong những năm qua cơ cấu đầu tư của các nền kinh tế APEC vào Việt Nam tâp trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tính đến hết tháng 7 năm 2008, tỷ trọng vốn FDI của một số nhà đầu tư hàng đầu trong khu vực dành cho các ngành này đều đạt trên 80%, số còn lại dành cho nông – lâm – ngư nghiệp [26]. Như vậy, có thể nói các doanh nghiệp hoạt động trong 3 ngành được ưu tiên hợp tác đầu tư kể trên là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ dòng vốn FDI dồi dào này.

BẢNG 5: CƠ CẤU ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỘT SỐ THÀNH VIÊN APEC VÀO VIỆT NAM (TÍNH ĐẾN HẾT NĂM 2008)

Tương ứng với tỷ trọng vốn thu hút được, khối doanh nghiệp FDI hoạt động trong ngành công nghiệp cũng có sự đóng góp đáng kể vào tình hình tăng trưởng kinh tế của cả nước trong những năm qua. Các doanh nghiệp FDI ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành; bằng việc tham gia hầu hết các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và chiếm phần lớn sản lượng của nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng (100% sản lượng dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt điều hòa; 60% sản lượng cán thép; 33% hàng điện tử; 76% dụng cụ y tế chính xác; 49% da giày; 25% hàng may mặc…). Giá trị sản xuất của khối doanh nghiệp này trong 5 năm 2000 – 2005 chiếm trung bình 42,4% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước; tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế FDI trong ngành công nghiệp từ 41,3% năm 2000 đến 43,7% năm 2004 và 2005 [33]. Khu vực dịch vụ cũng có sự chuyển biến tích cực, một số ngành dịch vụ có sự góp mặt của các doanh nghiệp FDI như bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, du lịch, bất động sản đều đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, đóng góp ngày càng nhiều vào tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành; đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao và các khu du lịch nghỉ dưỡng đã được xây dựng từ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần gia tăng nhanh chóng giá trị xuất khẩu tại chỗ của toàn ngành.

Trình độ khoa học – công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp FDI:

Trước hết, trình độ khoa học – công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực của khu vực doanh nghiệp FDI cũng như các khu vực kinh tế khác của Việt Nam đều đã và đang được cải thiện bằng việc tham gia chương trình ECOTECH trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương. Một số nội dung hợp tác chủ yếu của chương trình này xoay quanh việc tăng cường tính năng động cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác phát triển khoa học – công nghệ công nghiệp, nâng cao kỹ năng quản lý và chất lượng lao động cho cộng đồng doanh nghiệp khu vực…

Song song với những lợi ích có được từ chương trình ECOTECH, trình độ của các doanh nghiệp trong nước được nâng cao một cách trực tiếp hơn từ việc tham gia vào các dự án FDI. Thông qua các dự án này, quá trình chuyển giao công nghệ giữa các thành viên phát triển APEC và Việt Nam được thúc đẩy không ngừng; nhiều công nghệ mới, hiện đại được đưa vào áp dụng trong các lĩnh vực quan trọng như tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, sản xuất vi mạch điện tử, máy tính, hóa chất, ô tô, thiết kế phần mềm… Theo thống kê của Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến ngày 20/4/2006 có 106 TNCs đầu tư vào Việt Nam; rất nhiều trong số đó là các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ trên thế giới, như Intel, Canon, Panasonic, Ritech… với tiềm lực công nghệ tiên tiến và lớn mạnh bậc nhất. Nhờ được tiếp nhận những hỗ trợ về khoa học – công nghệ từ các nhà đầu tư nước ngoài, trang thiết bị của khu vực doanh nghiệp FDI Việt Nam được đánh giá là cao hơn hoặc ngang bằng với các thiết bị tiên tiến nhất trong nước và tương đương với các nước trong khu vực.

Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp FDI cũng áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu sự giám sát của hệ thống quản lý hiện đại từ công ty mẹ. Việc tiếp cận thường xuyên với những thành tựu khoa học tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại cũng gián tiếp đào tạo cho các doanh nghiệp FDI một đội ngũ cán bộ quản lý và lao động có trình độ tay nghề cao, có kỷ luật nghiêm ngặt và tác phong công nghiệp hiện đại.

Tác động lan tỏa của các doanh nghiệp FDI đối với các thành phần kinh tế khác:

Hiệu quả mà dòng vốn đầu tư nước ngoài đem lại cho các doanh nghiệp FDI Việt Nam còn tạo ra tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế. Thông qua quá trình liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và các khu vực kinh tế còn lại, một lần nữa quá trình chuyển giao công nghệ, kĩ năng quản lý, trình độ lao động lại được diễn ra; theo đó, những doanh nghiệp còn yếu kém về các mặt này sẽ có cơ hội cải thiện và khắc phục điểm yếu của mình. Mặt khác, khu vực doanh nghiệp FDI cũng tạo ra động lực cạnh tranh mạnh mẽ, thôi thúc các doanh nghiệp trong nước phải tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, thay đổi tư duy quản lý để nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ trên thị trường nội địa và quốc tế.

Tóm lại, cùng với việc gia nhập APEC và thực hiện các cam kết vì mục tiêu tự do hóa – thuận lợi hóa đầu tư được nêu cao trong Diễn đàn, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã và đang tự mở rộng cơ hội thu hút các dòng vốn đầu tư trực tiếp dồi dào để cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nâng cao tay nghề của nhân công, tăng cường chuyển giao công nghệ hiện đại… vào trong nước. Chính điều đó cũng đã góp phần tạo ra những tác động tích cực nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nội địa trong thời gian qua.

III. THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC KHI VIỆT NAM THAM GIA DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Từ những phân tích kể trên, có thể nói sự kiện Việt Nam tham gia hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) là một tất yếu khách quan trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay; thể hiện quyết tâm của Việt Nam hội nhập sâu rộng và nền kinh tế thế giới và khu vực để tận dụng mọi cơ hội có thể đem lại. Song bên cạnh những lợi ích và cơ hội quý giá, tiến trình hợp tác trong APEC còn tạo ra một số khó khăn và thách thức buộc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt.

1. Áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ phía các doanh nghiệp trong và ngoài khu vực APEC

Thực hiện các cam kết về tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư trong khuôn khổ APEC đồng nghĩa với việc cánh cửa bước vào nền kinh tế Việt Nam ngày càng rộng mở và áp lực cạnh tranh từ phía các nhà đầu tư, các tập đoàn và doanh nghiệp khu vực sẽ không ngừng tăng lên. Điều này gây ra không ít trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp trong nước, bởi trên thực tế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này còn rất yếu kém, thể hiện ở một số điểm cơ bản như sau:

Phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs): theo nghiên cứu của Tổng cục Thống kê (General Statistics Office – GSO) và Ngân hàng thế giới về tình hình các doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, nếu dựa vào tiêu chí SMEs là những doanh nghiệp có dưới 300 lao động và vốn dưới 10 tỷ Đồng, thì 96,81% số doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Trong đó, xét về quy mô vốn thì các doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ Đồng chiếm 41,8%; từ 1 – 5 tỷ Đồng chiếm 37,03%; và 8,18% số doanh nghiệp có số vốn từ 5 – 10 tỷ. Như vậy, có thể nói phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động đều ở trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, trong khi các chính sách bảo hộ của Nhà nước hầu như không còn được duy trì, và khả năng tiếp cận các nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp còn rất nhiều hạn chế. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Trình độ công nghệ lạc hậu, phương thức quản lý lỗi thời: đi kèm với quy mô nhỏ là trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung còn thấp. Bên cạnh một số doanh nghiệp FDI được chuyển giao công nghệ từ các nước công nghiệp phát triển, hầu hết các doanh nghiệp trong nước vẫn duy trì tốc độ đổi mới công nghệ và trang thiết bị chậm chạp, chưa đồng đều và chưa theo một định hướng phát triển rõ rệt; phần lớn công nghệ sử dụng tại Việt Nam hiện nay tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2 – 3 thế hệ, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang; đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm 0,2 – 0,3% doanh thu (so với mức 5% của Ấn Độ và 10% của Hàn Quốc). Ngoài ra, 59,4% số doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả quản lý (số liệu năm 2005) [21].

Chiến lược kinh doanh kém chủ động: do hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn phải nhập khẩu nguyên phụ liệu từ nước ngoài để phục vụ cho quá trình sản xuất, chịu tác động và phụ thuộc rất lớn vào các thị trường cung cấp (về mặt số lượng, chất lượng, giá cả… ); nên việc xây dựng chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp cũng thiếu đi sự chủ động cần thiết. Quy mô vốn nhỏ cũng hạn chế khả năng xây dựng và mở rộng mạng lưới phân phối của doanh nghiệp, gây khó khăn trong việc kiểm soát quá trình tiêu thụ và nắm bắt thông tin thị trường. Thêm vào đó, các hoạt động xúc tiến kinh doanh, quảng bá thương hiệu và giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam còn đơn giản và kém hiệu quả, do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của vũ khí thương hiệu trong cạnh tranh. Đến năm 2005, đầu tư phát triển thương hiệu của 74% số doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 5% doanh thu; chi phí dành cho quảng cáo trung bình dưới 1% doanh thu, dưới các hình thức đơn điệu như in ấn và phát hành tờ rơi… [21].

Trái lại, sức cạnh tranh mạnh mẽ của các đối thủ đến từ những nền kinh tế thành viên APEC, vốn có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam là không thể phủ nhận. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc… được xem là những nền kinh tế có trình độ khoa học – công nghệ phát triển hàng đầu thế giới, ứng dụng các hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, triển khai rộng rãi marketing điện tử, khẳng định vị thế đi đầu (đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo) bằng những thương hiệu nổi tiếng toàn cầu. Bên cạnh đó, Canada, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan… cũng là những nền kinh tế công nghiệp hóa với tốc độ tăng trưởng ở mức cao. Bởi vậy, khi Việt Nam thực hiện các cam kết mở cửa thị trường và xóa bỏ dần các quy định bảo hộ đối với cộng đồng doanh nghiệp trong nước, áp lực và khó khăn đè nặng lên các doanh nghiệp nội địa vốn yếu thế hơn về mọi mặt là điều không thể tránh khỏi.

Đặc biệt, trong các lĩnh vực “nhạy cảm” của nền kinh tế như tài chính – ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, công nghiệp điện, vận tải biển… sự xâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh càng đe dọa khả năng tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, cước viễn thông quốc tế của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực từ 50-80%; cước vận tải biển cao hơn 40 – 50% (so với Malaysia và Singapore) [21]; điều này cho thấy các doanh nghiệp viễn thông và vận tải Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đặt họ vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ trong và ngoài khu vực. Đến năm 2008, trong lĩnh vực ngân hàng đã có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam (HSBC, ANZ, Standard Chartered, Shinhan Việt Nam và Hong Leong Bank Việt Nam), được hưởng quy chế đối xử bình đẳng, cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng trong nước bằng tiềm lực vốn vượt trội (Ngân hàng Việt Nam có quy mô vốn lớn nhất là Agribank với 11.000 tỷ Đồng; trong khi đó chỉ riêng Ngân hàng con HSBC đã có vốn điều lệ 3.000 tỷ Đồng, chưa kể tiềm lực tài chính rất mạnh của Ngân hàng mẹ ở nước ngoài)… Như vậy, nếu các ngân hàng trong nước không kịp thời tìm ra cách thức cải thiện hiệu hoạt động và năng lực cạnh tranh của chính mình, thị trường tài chính – ngân hàng rất có thể sẽ bị chiếm lĩnh bởi các đối thủ mạnh hơn đến từ các nền kinh tế khu vực và thế giới.

2. Gian lận thương mại nảy sinh trong hoạt động xuất – nhập khẩu của thị trường nội địa Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào các thể chế liên kết kinh tế khu vực và quốc tế, các hành vi gian lận thương mại càng có điều kiện nảy sinh và gia tăng. Độ mở của nền kinh tế càng lớn thì xuất hiện càng nhiều những “kẽ hở” để gian lận thương mại nảy sinh dưới các hình thức tinh vi, phức tạp hơn.

Tham gia hợp tác trong khuôn khổ APEC, thực hiện những cam kết về ưu đãi xuất – nhập khẩu và đầu tư theo các thỏa thuận song phương và đa phương, Việt Nam hiện đang phải đối mặt với hình thức gian lận thương mại phổ biến về mã số và xuất xứ hàng hóa để hưởng các ưu đãi thuế quan. Thực hiện lộ trình tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế cho 21 nhóm hàng nhập khẩu từ khu vực này. Song một vài doanh nghiệp lợi dụng chính sách này để giả mạo xuất xứ của các mặt hàng nhập khẩu có giá trị cao (hoặc chênh lệch thuế nhiều) từ các nước ngoài ASEAN như hàng điện tử, điện lạnh, sắt thép, thực phẩm… nhằm trốn lậu thuế. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng nhập khẩu từ khu vực này song không đáp ứng đủ điều kiện chứa trên 40% hàm lượng xuất xứ từ ASEAN để sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ ASEAN (Ceritificate of Origin – C/O form D) mà vẫn sử dụng, hoặc thậm chí sử dụng cả C/O giả để hưởng các mức thuế suất ưu đãi. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp cũng lợi dụng sự phức tạp trong cơ cấu hàng hóa để khai báo sai mã số nhằm chịu thuế thấp hơn; hoặc tháo rời các bộ phận của máy móc thiết bị thành dạng chưa đồng bộ để tránh thuế đồng bộ khi nhập khẩu vào thị trường Việt Nam…

Trước tình hình gian lận thương mại ngày càng diễn biến phức tạp, hệ thống pháp luật của Việt Nam điều chỉnh trong lĩnh vực này còn tồn tại rất nhiều thiếu sót, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và cần thêm nhiều thời gian để hoàn thiện. Bởi vậy, số vụ việc vi phạm trong những năm qua vẫn không ngừng gia tăng. Theo báo cáo của Bộ công thương, riêng năm 2007 đã có trên 130 nghìn vụ vi phạm bị phát hiện và xử lý; với tổng giá trị hàng hóa phạm, xử phạt và truy thu thuế lên tới 1,28 tỷ Đồng. Năm 2008, Tổng cục hải quan cho biết tình hình buôn lậu, gian lận thuế vẫn tiếp tục diễn ra; nhiều nhất dưới hình thức khai báo sai mã số và xuất xứ hàng hóa.

Thực tế này tạo ra những tác động tiêu cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Hệ quả của các hành vi gian lận thương mại không bị phát hiện, kiểm soát và xử lý nghiêm minh là một môi trường cạnh tranh không lành mạnh sẽ hình thành; tại đó các doanh nghiệp làm ăn chân chính sẽ phải ra sức chống đỡ trước áp lực hàng lậu với mức giá rẻ được bán tràn lan trên thị trường. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ như ở Việt Nam, tiềm lực kinh tế không đủ khiến việc chống chọi càng trở nên khó khăn. Doanh thu, thị phần của các doanh nghiệp đều bị đe dọa nghiêm trọng; và nếu không kịp thời tìm ra được những giải pháp hiệu quả, khả năng dẫn đến phá sản doanh nghiệp là rất cao. Do vậy, áp lực cải thiện chất lượng hàng hóa, dịch vụ và hạ thấp giá thành để nâng cao sức cạnh tranh lại càng đè nặng lên cộng đồng doanh nghiệp trong nước.

3. Thiếu khả năng gắn kết giữa các doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Một trong những hạn chế chủ quan dễ thấy nhất ở các doanh nghiệp Việt Nam là thiếu khả năng gắn kết chủ động và chặt chẽ với nhau. Bản thân các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thực sự tích cực liên kết dưới hình thức các hiệp hội kinh doanh hàng hóa và dịch vụ; để chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, thảo luận các phương án kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành. Trong thời kỳ hội nhập vào các nền kinh tế khu vực và quốc tế, yêu cầu phát huy tối đa vai trò của các hiệp hội ngành nghề ở Việt Nam càng trở nên cấp thiết; để đại diện và tăng cường quyền lợi cho các hội viên trước áp lực cạnh tranh của các đối thủ bên ngoài. Trên thực tế, hàng trăm các hiệp hội ngành nghề đã được thành lập ở Việt Nam; nhưng chỉ một số ít phát huy được hiệu quả, số còn lại còn vấp phải rất nhiều hạn chế về cách thức hoạt động:

  • Nguồn kinh phí hoạt động không ổn định: chủ yếu dựa vào bốn nguồn thu là ngân sách Nhà nước, phí cung cấp dịch vụ, hội phí và các nguồn tài trợ. Tồn tại nhờ những nguồn kinh phí không thường xuyên và bấp bênh như vậy, các hiệp hội ngành nghề ở Việt Nam thật khó có thể xây dựng một kế hoạch hoạt động dài hạn và quy củ để phát huy tối đa vai trò của mình.
  • Thiếu cán bộ chuyên trách có năng lực và trình độ: lãnh đạo các hiệp hội trong nước hiện nay chủ yếu vẫn là các doanh nhân thiếu kinh nghiệm, trình độ và thời gian để gắn bó với các công việc của hội; làm suy giảm đáng kể mức độ chuyên nghiệp của các hiệp hội ngành nghề Việt Nam.
  • Vai trò của hiệp hội chưa được quan tâm đúng mức: các cơ quan Nhà nước được xem là chưa nhận thức đầy đủ và chú trọng đúng mức về sự cần thiết phải thành lập hiệp hội các ngành nghề, do vậy không có những quy định chặt chẽ, minh bạch, công khai và dân chủ để bảo vệ tiếng nói của các hiệp hội.
  • Cách thức hoạt động của hiệp hội vẫn mang danh nghĩa cá nhân hơn là một thể chế: việc lấy ý kiến đóng góp của các thành viên vẫn mang tính chất thủ tục, danh nghĩa; các nỗ lực vận động chính sách vẫn rời rạc, thiếu tập trung. Khả năng liên kết giữa các hiệp hội với nhau cũng rất hạn chế, do vậy không thể hiện được tiếng nói đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Ngược lại, ở một số nền kinh tế thành viên APEC phát triển như Hoa Kỳ, Australia… tồn tại rất nhiều hiệp hội doanh nghiệp hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả với vai trò được chính phủ đặc biệt coi trọng. Các quốc gia này thường xuyên lấy ý kiến đóng góp của các hiệp hội trong những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia. Bởi vậy, thách thức đặt ra đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập trong APEC cũng như các tổ chức kinh tế quốc tế, là phải gắn kết chặt chẽ và hiệu quả với nhau dưới hình thức các hiệp hội ngành nghề tương tự như các nước bạn, để bảo vệ tích cực hơn nữa hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên.

Mặt khác, khả năng thiết lập mối quan hệ kinh doanh bền chặt với các đối tác nước ngoài cũng là một hạn chế đáng kể của các doanh nghiệp trong nước. Việc tìm kiếm, tiếp cận đối tác, bạn hàng của ta chủ yếu vẫn thông qua hình thức tham gia vào các hội chợ thương mại – đầu tư không thường xuyên trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương; song việc tham gia này cũng không được tổ chức bài bản và hầu hết các doanh nghiệp còn thiếu sự chuẩn bị kĩ lưỡng. Vì vậy, cho đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa vượt qua được những khó khăn khách quan xuất phát từ tính bị động của một nền kinh tế đang phát triển, để tích cực và chủ động hòa mình vào sân chơi khu vực và quốc tế. Trái lại, các doanh nghiệp nội địa vẫn có xu hướng phụ thuộc vào các đối tác lớn hơn và do vậy tự hạn chế rất nhiều lợi ích mà tiến trình hợp tác APEC đem lại.

Như vậy, tham gia hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), các doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ nhìn thấy những cơ hội to lớn để phát triển thương mại và đầu tư; mà còn cần nhận thức và lường trước đầy đủ về những thách thức, hiểm họa mà tiến trình này đem lại. Bên cạnh khả năng mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa và hưởng lợi rất nhiều từ các dòng vốn FDI…các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh không ngừng gia tăng, sự lấn át của các đối thủ có tiềm lực kinh tế mạnh hơn rất nhiều lần, và nguy cơ “thua ngay tại sân nhà”. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần có được tầm nhìn bao quát và sự chuẩn bị kĩ càng để phát huy được những ưu thế và hạn chế những thách thức đem lại từ quá trình hội nhập kinh tế trong khu vực. Hơn lúc nào hết, những giải pháp thiết thực và hiệu quả là điều mà các doanh nghiệp đang rất cần để đạt được thành công tối đa trong bối cảnh hợp tác kinh tế này. Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp NCHQ hợp tác doanh nghiệp tại VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464