Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Việt Nam- APEC: cơ hội và thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp trong nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. KHÁI QUÁT THAM GIA DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) CỦA VIỆT NAM
1. Những nhân tố thúc đẩy Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)
Một trong những động lực quan trọng nhất để Việt Nam gia nhập APEC là nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường, thiết lập rộng rãi các mối quan hệ đối tác kinh doanh và tăng cường xuất khẩu. Là tập hợp của những nền kinh tế năng động nhất thế giới với các đặc điểm đa dạng, thị trường APEC thực sự rộng lớn với hơn 2,5 tỷ dân cùng sức mua phong phú dồi dào. Bên cạnh đó, Diễn đàn cũng có sự góp mặt của các nền kinh tế gần gũi về vị trí địa lý với Việt Nam (khối ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông…) vốn là bạn hàng truyền thống của các doanh nghiệp trong nước. Bởi vậy, có thể nói APEC là thị trường có tiềm năng xuất khẩu rất lớn mà các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm cách tiếp cận. Hợp tác trong khuôn khổ APEC sẽ tạo ra các điều kiện cần thiết để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiểu biết về tình hình kinh tế, thương mại thế giới và khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ kinh doanh với các đối tác tầm cỡ đến từ các nền kinh tế trong và ngoài Diễn đàn.
Nhân tố thứ hai thúc đẩy việc gia nhập APEC của Việt Nam là để tận dụng sự ủng hộ của các nền kinh tế thành viên trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Một số lượng lớn các thành viên APEC là những cường quốc kinh tế có vị thế và tiếng nói quan trọng trong WTO, như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, Trung Quốc, Australia… ; không kể đến việc các hoạt động của Diễn đàn đều tuân thủ nguyên tắc và kết quả của các vòng đàm phán trong khuôn khổ Tổ chức này. Tham gia hợp tác trong APEC, Việt Nam muốn tranh thủ sự đồng thuận từ phía các thành viên để đẩy nhanh tiến trình đàm phán song phương về nội dung gia nhập WTO với chính các nền kinh tế đó. Những hoạt động tích cực của Việt Nam trong APEC cũng sẽ góp phần hiệu quả trong việc tạo dựng hình ảnh và uy tín của Việt Nam trước bè bạn khu vực và quốc tế, thuận lợi hóa quá trình đàm phán đa phương và rút ngắn chặng đường bước vào Tổ chức thương mại thế giới. Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
Bên cạnh đó, việc tăng cường cơ hội tập dượt, cọ sát của các cán bộ làm công tác hoạch định chính sách, cán bộ đàm phán quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp trong nước trước khi chính thức bước vào sân chơi quốc tế cũng là một động lực cho việc Việt Nam gia nhập Diễn đàn. APEC hướng đến mục tiêu thúc đẩy tự do hóa và hợp tác trên rất nhiều lĩnh vực đa dạng, từ kinh tế – thương mại – đầu tư đến các lĩnh vực phi kinh tế, bởi vậy đội ngũ cán bộ và doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hội nghị, chương trình trong APEC sẽ có cơ hội trau dồi khả năng đàm phán, trình bày, học hỏi kĩ năng và kinh nghiệm phong phú từ các đại diện của các nền kinh tế thành viên. Cơ chế hoạt động trên cơ sở đồng thuận và tự nguyện của APEC cũng không tạo ra nhiều sức ép đối với một thành viên non trẻ như Việt Nam; là bước đệm quan trọng và cần thiết trước khi Việt Nam sẵn sàng đón nhận những cam kết và nghĩa vụ ràng buộc chặt chẽ hơn trong WTO.
Một nhân tố khác không thể thiếu đó là tham gia APEC còn giúp Việt Nam tận dụng được các nguồn lực từ các nền kinh tế thành viên để phục vụ cho công tác đào tạo nhân lực, xây dựng năng lực trong nước. Là một thành viên đang phát triển, Việt Nam sẽ được hưởng nhiều ưu đãi từ Chương trình hợp tác kinh tế – kỹ thuật (ECOTECH) của Diễn đàn. Chương trình này bao trùm nhiều lĩnh vực hợp tác với hàng trăm dự án được triển khai; ngân sách hàng năm lên tới 7 triệu Đôla; xoay quanh các vấn đề trọng yếu như phát triển nguồn nhân lực, cải tạo cơ sở hạ tầng, tăng cường các kênh thông tin, hợp tác chuyển giao công nghệ…; trong đó, các dự án từ một thành viên non trẻ và kém phát triển nhất trong APEC như Việt Nam đề xuất hứa hẹn sẽ giành được nhiều quan tâm và ưu tiên hơn cả.
Nhân tố cuối cùng quyết định việc gia nhập APEC của Việt Nam là để củng cố và tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo dựng các mối quan hệ kinh tế – thương mại bền vững giữa Việt Nam với các nền kinh tế khu vực và thế giới. Là thành viên chính thức của APEC, Việt Nam sẽ có được vị thế bình đẳng với các thành viên có vai trò kinh tế – chính trị quan trọng trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc…, cùng đóng góp tiếng nói cho sự phát triển chung của khu vực. Ngoài ra, những nỗ lực hợp tác trong APEC sẽ góp phần tạo nên vị thế cạnh tranh lớn mạnh cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương, củng cố vị trí đối trọng của khu vực này so với các trung tâm kinh tế lớn như Bắc Mỹ, EU (European Union)… ; mở ra những cơ hội thúc đẩy quan hệ song phương và đa phương giữa Việt Nam và các đối tác khu vực và thế giới.
Xuất phát từ những nhân tố trên, tháng 6 năm 1996 Việt Nam đã chính thức nộp đơn xin gia nhập APEC; và đến tháng 11 năm 1997, Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 5 tại Vancouver, Canada đã thống nhất kết nạp Việt Nam (cùng hai thành viên khác là Peru và Nga) trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn vào tháng 11 năm 1998. Kết quả này là minh chứng sống động cho những nỗ lực của Việt Nam hội nhập sâu rộng và toàn diện vào cộng đồng quốc tế; đồng thời là một bước phát triển logic và tất yếu trong quá trình đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ hợp tác của Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Những hoạt động chủ yếu của Việt Nam trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
Mục tiêu cơ bản của Việt Nam khi gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương đã được xác định là: “Mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt Nam xâm nhập thị trường các nước, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam, bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững” [43]. Đây cũng chính là động lực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam nói chung và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nói riêng tích cực tham gia vào các chương trình hoạt động của APEC về tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế – kỹ thuật… trong hơn 10 năm qua.
2.1 Dưới góc độ một nền kinh tế thành viên
Là một trong những nền kinh tế có trình độ phát triển thấp nhất trong APEC song Việt Nam đã và đang thể hiện những nỗ lực tích cực, chủ động không kém gì các thành viên khác nhằm tham gia rộng rãi vào các hoạt động hợp tác của Diễn đàn. Những chương trình hoạt động quan trọng của APEC có sự tham gia của Việt Nam phải kể đến là:
2.1.1 Kế hoạch hành động quốc gia (IAP) Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
Xuất phát từ chính mục tiêu của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ủng hộ và thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương, đồng thời căn cứ vào tình hình kinh tế – chính trị – xã hội thực tế của quốc gia mình, hàng năm chính phủ Việt Nam giao cho Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với các ban ngành hữu quan rà soát và bổ sung IAP trên cơ sở 14 lĩnh vực được hướng dẫn chung của APEC. Với ý nghĩa là một cam kết tự nguyện, IAP của Việt Nam vẫn bao quát toàn diện ở cả 14 lĩnh vực; trong đó những lĩnh vực hợp tác chủ yếu có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp, đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam bao gồm:
- Thuế quan: hàng rào thuế quan của Việt Nam được điều chỉnh theo hướng minh bạch và công khai hóa, giảm dần và tiến tới gỡ bỏ hoàn toàn nhằm đạt đến mục tiêu thương mại và đầu tư tự do nội khối vào năm 2010 như đã đặt ra trong tuyên bố Bogor. Bước đầu tiên của quá trình này phải kể đến việc phân chia thuế suất thành ba mức: thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt (năm 1999). Tiếp đó, Luật thuế xuất – nhập khẩu mới của Việt Nam được ban hành năm 2005 áp dụng phương pháp xác định trị giá Hải quan của GATT (1994). Đến ngày 1/1/2006, Việt Nam đã hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế CEPT (Common Effective Preferential Tariff), trong đó 96% số dòng thuế trong biểu thuế có mức thuế suất từ 0% – 5% [30]. Ngoài ra, các Hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần cũng được Việt Nam ký kết với các thành viên APEC [42]. Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục điều chỉnh chính sách thuế theo các cam kết khi gia nhập WTO; biểu thuế nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam đã được Bộ Tài chính ban hành với 10689 dòng thuế chi tiết, mức thuế suất cuối cùng theo cam kết giảm trung bình 23% so với mức thuế suất ưu đãi hiện hành [10].
- Phi thuế quan: hướng điều chỉnh các rào cản phi thuế của Việt Nam tương tự như đối với hàng rào thuế quan; các quy định về hạn ngạch, giấy phép kinh doanh, hạn chế quyền thương mại… trong công tác xuất – nhập khẩu dần được gỡ bỏ và thay thế bằng các quy định thiết lập quyền thương mại bình đẳng giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với các mặt hàng nông sản, giảm số mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu từ 7 mặt hàng (năm 2003) xuống còn 4 mặt hàng (năm 2006), bỏ quy định giá tối thiểu… [11]. Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
- Dịch vụ: trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam chủ trương giảm dần những hạn chế về thâm nhập thị trường; tăng dần các ưu đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia mở rộng các cam kết theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade and Services – GATS). Đặc biệt, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, Việt Nam đã chủ động đưa ra các cam kết cho phép hiện diện thương mại của các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; trong lĩnh vực viễn thông, Việt Nam đã tham gia thỏa thuận công nhận lẫn nhau về chứng nhận thiết bị viễn thông, hợp tác trong các hoạt động chống tội phạm mạng, các dự án về an toàn thông tin, chính phủ điện tử… ; chưa kể đến việc sửa đổi và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thư-ơng mại dịch vụ như Luật công cụ chuyển nhượng, Pháp lệnh ngoại hối, Luật hàng không dân dụng… nhằm tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch và bình đẳng, khuyến khích các hoạt động liên doanh, liên kết, đầu tư của các nhà cung cấp dịch vụ trong khu vực với Việt Nam.
- Đầu tư: Việt Nam khẳng định bãi bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư theo Hiệp định TRIMS (Trade-Related Investment Measures) trong khuôn khổ WTO. Bên cạnh đó, Việt Nam còn ban hành Luật đầu tư năm 2005 (thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước) gồm những quy định tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng quy chế đãi ngộ quốc gia; bổ sung khuyến khích các dự án đầu tư được hưởng ưu đãi đặc biệt; thuận lợi hóa thủ tục quản lí và cấp giấy phép đầu tư…
- Tiêu chuẩn và chứng nhận hợp chuẩn: trên tinh thần của Tuyên bố về khuôn khổ tiêu chuẩn và chứng nhận hợp chuẩn APEC, Hiệp định về hàng rào kĩ thuật đối với thương mại (Technical Barriers to Trade – TBT) và Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và vệ sinh thực vật (Sanitary and Phytosanitary Measures – SPS). Việt Nam đã ban hành Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam, hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) gồm 6200 tiêu chuẩn, trong đó 2077 tiêu chuẩn hoàn toàn hài hòa với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế như IEC, ISO, Codex, ASTM, BS… dưới sự quản lí của 141 ủy ban và tiểu ban chuyên trách [45]. Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng trong hoạt động xây dựng, dự thảo Luật chất lượng hàng hóa cũng đã được hoàn tất nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho lĩnh vực này. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức dịch tễ thế giới (Office International Des Epizooties – OIE) và Tổ chức bảo vệ thực vật châu Á – Thái Bình Dương (Asia and Pacific Plant Protection Commission – APPPC); đồng thời hệ thống tiêu chuẩn hiện nay của Việt Nam về kiểm dịch động thực vật cũng được giới chuyên gia đánh giá là khá phù hợp với các quy định của WTO về mặt nội dung và tính minh bạch.
- Thủ tục hải quan: ngày 1 tháng 7 năm 1993, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hội đồng hợp tác hải quan (Customs Cooperation Council – CCC) nay là Tổ chức hải quan thế giới; tham gia Công ước Kyoto về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan (1997) và Công ước quốc tế về hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá (Công ước HS – 1998). Gia nhập APEC, hải quan Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ các nội dung cam kết tại Tiểu ban thủ tục hải quan APEC (Sub-Committee on Customs Procedures – SCCP); đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan các nước ASEAN xây dựng chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung, đàm phán xây dựng danh mục biểu thuế hài hoà ASEAN, phối hợp thực hiện chương trình hành động Hà Nội về các vấn đề có liên quan đến hải quan. Từ năm 2003, Việt Nam bắt đầu áp dụng phương pháp xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT của Tổ chức thương mại thế giới. Hiện nay, hải quan Việt Nam vẫn tiếp tục đẩy mạnh các thoả thuận hợp tác song phương, mở rộng triển khai quy trình hải quan điện tử… nhằm đạt đến mục tiêu chuyển đổi các hoạt động nghiệp vụ hải quan theo chuẩn mực của một tổ chức hải quan hiện đại vào năm 2010.
- Quyền sở hữu trí tuệ: những nỗ lực quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực này bao gồm việc tuân thủ chặt chẽ và phối hợp thực hiện Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (Trade-related Aspects of Intellectual Property Rights – TRIPS); ban hành một số nghị định chi tiết về các đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ như: thông tin bí mật, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng, tên thương mại…; tham gia Công ước Bern về quyền tác giả (2004); và thông qua Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ 1/7/2006.
- Chính sách cạnh tranh: luật cạnh tranh của Việt Nam được ban hành và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 7 năm 2005 dưới sự quản lý của Bộ công thương, nhằm loại bỏ tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch và hiệu quả trong bối cảnh kinh tế mở cửa.
2.1.2 Kế hoạch hành động tập thể (CAP) Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
Bên cạnh việc triển khai IAP, Việt Nam còn có nhiều đóng góp tích cực vào các Kế hoạch hành động tập thể (CAP) trong khuôn khổ APEC nhằm thực hiện các mục tiêu về thuận lợi hoá thương mại và đầu tư; tập trung ở hai lĩnh vực là thủ tục hải quan và tiêu chuẩn và chứng nhận hợp chuẩn. Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động giao thương giữa cộng đồng doanh nhân trong nước và khu vực, Việt Nam đã tham gia Chương trình thẻ đi lại của doanh nhân trong APEC, thực hiện Kế hoạch hành động thuận lợi hoá thương mại 1 và 2 (TFAP 1 và 2) nhằm cắt giảm 5% chi phí giao dịch trong giai đoạn 2002 – 2006 và tiếp tục giảm 5% trong giai đoạn 2007 – 2010.
2.1.3 Hợp tác kinh tế – kỹ thuật (ECOTECH)
Với mục đích tăng cường khả năng hợp tác sâu rộng và dài hạn trong khuôn khổ Diễn đàn, đồng thời rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế – xã hội với các nền kinh tế thành viên, Việt Nam cũng đã giành nhiều nỗ lực thúc đẩy các hoạt động hợp tác kinh tế – kỹ thuật của APEC; tham gia thường xuyên và tích cực vào các chương trình phát triển nguồn nhân lực, đào tạo chuyên gia, đào tạo cán bộ quản lí, xây dựng và củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học – công nghệ hiện đại… xoay quanh cột trụ này.
2.2 Dưới góc độ một cộng đồng doanh nghiệp
Trên lộ trình theo đuổi các mục tiêu thương mại và đầu tư tự do trong phạm vi khu vực châu Á – Thái Bình Dương, các thành viên APEC nói chung và Việt Nam nói riêng đều nhận thức rõ rệt rằng quá trình hợp tác APEC chỉ xoay quanh các nền kinh tế là chưa đủ; bên cạnh đó cần thiết phải lôi kéo được sự tham gia trực tiếp của cộng đồng kinh doanh khu vực – lực lượng có vai trò, tác động to lớn đối với sự tăng trưởng, phát triển đồng đều và bền vững của các thành viên Diễn đàn. Bởi vậy, trên nền tảng ba lĩnh vực hoạt động trụ cột, APEC đã chủ động xây dựng nhiều hình thức hợp tác khu vực đòi hỏi sự tham gia của giới doanh nghiệp; bản thân các nền kinh tế trong đó có Việt Nam cũng đã không ngừng củng cố và nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp mình về những cơ hội “vàng” có được từ việc tham gia hợp tác APEC; nhằm thúc đẩy sự góp mặt của lực lượng đông đảo này vào tiến trình đạt tới các mục tiêu Bogor.
2.2.1 Các hình thức tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) của cộng đồng doanh nghiệp khu vực
Thực tế đã cho thấy APEC không chỉ là một Diễn đàn Hợp tác Kinh tế hoạt động theo nguyên tắc mở, bình đẳng và đồng thuận với sự tham gia của 21 nền kinh tế thành viên, các hoạt động của Diễn đàn còn thu hút được sự quan tâm rất lớn từ phía cộng đồng doanh nghiệp khu vực. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự khác biệt giữa APEC và các hình thức liên kết kinh tế khu vực khác trên thế giới. Đến với APEC, cộng đồng doanh nghiệp từ khắp các nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương có cơ hội được tham gia trực tiếp vào các hoạt động của Diễn đàn thông qua nhiều hình thức đa dạng: Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
- Tham gia vào Diễn đàn kinh doanh Thái Bình Dương (Pacific Business Forum – PBF): Diễn đàn kinh doanh Thái Bình Dương được thành lập tại Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ nhất (tháng 11 năm 1993) tại Blake Island, Hoa Kỳ. PBF tập hợp từ một đến hai đại diện là doanh nhân từ mỗi nền kinh tế thành viên, hàng năm đệ trình một báo cáo dựa trên những ý kiến đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp khu vực về các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh lên Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC (AELM). Những báo cáo của PBF bao gồm Kế hoạch hành động kinh doanh cho APEC: chiến lược cho sự tăng trưởng và thịnh vượng chung (1994) và Kế hoạch hành động Osaka: lộ trình thực hiện tầm nhìn APEC (1995) hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi màu sắc chính trị và đã góp phần không nhỏ trong việc chỉ ra những thách thức Diễn đàn phải đối mặt cũng như tham vấn cho những định hướng của APEC trong tương lai.
- Tham gia vào Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC (APEC Business Advisory Council – ABAC): Hội nghị liên bộ trưởng ngoại giao – kinh tế APEC lần thứ 7 tại Osaka, Nhật Bản tháng 11 năm 1995 đánh dấu sự ra đời của ABAC với tư cách là cơ chế đại diện chính thức và thường trực của cộng đồng doanh nghiệp khu vực thay thế cho Diễn đàn kinh doanh Thái Bình Dương. Mỗi nền kinh tế chỉ định tối đa ba đại diện từ cộng đồng doanh nghiệp tham gia vào ABAC, thực hiện hai chức năng chủ yếu là tư vấn cho quá trình thực hiện Kế hoạch hành động Osaka 1995, đồng thời cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh và quan điểm của cộng đồng doanh nghiệp khu vực về các lĩnh vực hợp tác trong APEC. Quan điểm này được thể hiện phần lớn qua các báo cáo thường niên của ABAC đệ trình lên các nhà lãnh đạo kinh tế APEC; trong đó đi sâu phân tích diễn biến kinh tế, thương mại và đầu tư trên thế giới và trong khu vực, đánh giá kết quả hoạt động của APEC và ABAC, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm đạt đến mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, ABAC còn đảm trách việc lôi kéo sự tham gia hợp tác của các tổ chức dành cho doanh nghiệp khác trong khu vực, như Hội đồng kinh tế lòng chảo Thái Bình Dương (Pacific Basin Economic Council – PBEC), Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (Pacific Economic Cooperation Council – PECC) và Mạng lưới kinh doanh châu Á – Thái Bình Dương (Asia Pacific Business Network – APB-Net). Hiện nay, ABAC được xem là đại diện đầy đủ và hiệu quả nhất cho lợi ích và tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp khu vực trong Diễn đàn.
- Tham gia vào Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo doanh nghiệp APEC (APEC CEO Summit): hình thành từ năm 1997, APEC CEO Summit là hình thức hợp tác độc đáo giữa khu vực công và khu vực tư bởi nó thu hút được sự tham gia của cả các nhà lãnh đạo kinh tế APEC, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề và đại diện của các cộng đồng xã hội. Đến với hội nghị này, các doanh nghiệp có cơ hội gặp gỡ và trao đổi với các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách trong APEC về những vấn đề kinh tế đang phải đối mặt; đồng thời tìm kiếm, tạo dựng những mối quan hệ kinh doanh, thiết lập mạng lưới đối tác, bạn hàng với hàng trăm doanh nghiệp đến từ các nền kinh tế thành viên APEC. Chính vì lẽ đó, APEC CEO Summit được coi là sự kiện quan trọng bậc nhất đối với các nhà lãnh đạo của cộng đồng doanh nghiệp khu vực.
- Tham gia vào các đối thoại ngành: đối thoại ngành được tổ chức trong khuôn khổ APEC nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành đ-ược đề cập, bao gồm: ô tô, hóa chất (thuộc Chương trình tự do hóa sớm tự nguyện theo ngành EVSL 1997) và kim loại màu. Các quan chức chính phủ, các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực có liên quan sẽ gặp gỡ và trao đổi với các đại diện của cộng đồng doanh nghiệp khu vực, nhằm tìm ra cách thức nâng cao sức cạnh tranh của ngành, điều chỉnh các chính sách một cách phù hợp, hướng đến sự phát triển bền vững của từng ngành.
Như vậy, với bốn hình thức hợp tác đa dạng kể trên, có thể nói các chương trình hoạt động của APEC luôn rộng mở chào đón sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp khu vực. Và chính những nỗ lực nhằm duy trì mối quan hệ hợp tác bền vững giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp cũng được xem là chìa khóa cho sự thành công lâu dài của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương.
2.2.2 Những hoạt động chủ yếu của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
Ngay từ thời điểm Việt Nam trở thành thành viên chính thức của APEC (tháng 11 năm 1998), cộng đồng doanh nghiệp trong nước đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn. Trải qua hơn 10 năm hoạt động, quá trình hợp tác trong APEC của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam có thể chia thành hai giai đoạn:
- Từ năm 1998 đến năm 2005: bước khởi đầu cho các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này là việc đề cử 3 đại diện tham gia vào Diễn đàn Kinh doanh Thái Bình Dương (ABAC) năm 1998. Tuy nhiên, trong những năm sau đó các hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp cũng chỉ xoay quanh việc thay thế ba đại diện để tham gia vào các cuộc họp định kỳ và các hoạt động không thường kỳ của ABAC. Hầu như các doanh nghiệp Việt Nam không chủ động tham gia vào các hình thức hợp tác khác trong APEC, hoặc tham gia một cách phân tán, nhỏ lẻ, rời rạc; do nhận thức của phần lớn doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc tham gia hợp tác trong APEC còn nhiều hạn chế.
- Từ năm 2006 đến nay: thành công của năm APEC – Việt Nam 2006 thực sự là một dấu mốc quan trọng góp phần nâng tầm hội nhập của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong khuôn khổ Diễn đàn. Gần 500 đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp trong nước đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo doanh nghiệp APEC (APEC CEO Summit) 2006 trong tổng số khoảng 1100 đại biểu đến từ các nền kinh tế thành viên. Bên cạnh đó, các Hội nghị của ABAC, Hội nghị các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hội nghị vườn ươm Doanh nghiệp, Diễn đàn xúc tiến thương mại đầu tư với Việt Nam (Doing business with Vietnam Forum), Đối thoại hải quan – doanh nghiệp (APEC Customs – Business Dialogue – ACBD) trong khuôn khổ Hội nghị các quan chức cấp cao APEC lần thứ 3… cũng thu hút được sự góp mặt của đông đảo các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Kể từ năm APEC – Việt Nam 2006, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam từng bước tiến tới sự nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác trong Diễn đàn; trên cơ sở đó chủ động, tích cực và trực tiếp tham gia hầu hết các hoạt động hợp tác trong APEC có liên quan đến cộng đồng doanh nghiệp khu vực.
Mở rộng nội dung và hình thức hoạt động trong khuôn khổ APEC đồng nghĩa với việc cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam mở rộng cơ hội tiếp cận với các chiến lược phát triển thương mại – đầu tư trong khu vực, trao đổi và đóng góp tiếng nói trong quá trình hoạch định chính sách kinh tế khu vực và toàn cầu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước còn có điều kiện gặp gỡ, học hỏi kinh nghiệm từ các đối tác hàng đầu trên thế giới, tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và đầu tư, thiết lập mối quan hệ uy tín lâu bền với cộng đồng doanh nghiệp khu vực, hướng tới các thương vụ hợp tác trong tương lai.
3. Một số thành tựu và hạn chế từ việc tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) của Việt Nam Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
Những thành tựu nổi bật sau hơn 10 năm Việt Nam gia nhập APEC có thể tóm lược như sau:
- Rào cản thuế quan bình quân trong khu vực APEC đã giảm từ 16,6% năm 1988 xuống 6,4% năm 2004. Hiện nay hầu hết các thành viên phát triển của APEC đều có mức thuế suất trung bình dưới 5% [18]. Phần lớn rào cản phi thuế đã được cắt giảm hoặc chuyển sang dạng thuế suất nhằm tăng cường tính minh bạch và dễ dự đoán cho doanh nghiệp.
- Rào cản đầu tư được cắt giảm một cách đáng kể, áp dụng cơ chế đầu tư một cửa, giảm thiểu các rào cản sau biên giới đối với hoạt động đầu tư.
- Triển khai thành công TFAP 1 giai đoạn 2002 -2006, cắt giảm 5% chi phí giao dịch trong khu vực.
- Bước đầu triển khai quy trình hải quan điện tử, giảm đáng kể thời gian xử lý hồ sơ hải quan (từ 7-8 giờ xuống còn 10-15 phút).
- Chương trình thẻ đi lại của doanh nhân APEC (ABTC) và các chương trình hợp tác về xuất – nhập cảnh tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương của các doanh nhân trong khu vực.
- Mở rộng thị trường xuất – nhập khẩu: hiện nay kim ngạch xuất khẩu sang thị trường APEC chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam [23]; những mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu đều có đối tác là các thành viên APEC; nhiều mặt hàng mang tính chiến lược đã và đang được xuất khẩu rất mạnh sang khu vực.
- Đàm phán thành công gia nhập Tổ chức thương mại thế giới dưới sự hậu thuẫn của các nền kinh tế thành viên. Thúc đẩy tiềm năng phát triển quan hệ hợp tác song phương và đa phương với các thành viên trong và ngoài APEC.
Bên cạnh đó, quá trình hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế nhất định:
- Bối cảnh tham gia APEC của Việt Nam có nhiều bất lợi so với các thành viên khác do Việt Nam là một nước đang phát triển, có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ quản lí tập trung sang cơ chế thị trường; thiếu đội ngũ cán bộ giỏi có chuyên môn và kinh nghiệm trong hợp tác kinh tế và kinh doanh quốc tế. Điều này làm hạn chế đáng kể khả năng phát triển những kết quả đạt được của APEC liên quan đến tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư.
- Nhận thức về vai trò của hợp tác APEC trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của các cán bộ, doanh nghiệp và người dân còn nhiều hạn chế do sự thiếu hiệu quả của công tác tuyên truyền. Một số doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò và lợi ích mà APEC mang lại cho chính bản thân họ. Điều này gây cản trở rất lớn cho Việt Nam trong quá trình hội nhập và hợp tác sâu rộng vào APEC nói riêng và kinh tế quốc tế nói chung.
Mặc dù còn tồn tại những vướng mắc kể trên, song những lợi ích và cơ hội quý giá mà APEC đã và đang đem lại cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua là không thể phủ nhận. Và cũng chính những hạn chế đó đã lý giải nguyên nhân của sự cần thiết phải đi sâu tìm hiểu, phân tích, tuyên truyền và nâng cao nhận thức về những lợi ích và cơ hội đến từ quá trình hợp tác trong khuôn khổ APEC cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước, như một giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết phần lớn những trở ngại trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Khóa luận: Khái quát về cộng đồng doanh nghệp tại VN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng cơ hôi cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp VN