Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động mua lại và sáp nhập trong ngành ngân hàng. Xu hướng trên thế giới và bài học cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Xu hướng hoạt động M&A trong ngành ngân hàng trên thế giới
1. Lược sử hình thành hoạt động mua lại và sáp nhập trên thế giới
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đánh dấu thời kỳ đỉnh cao trong quá trình tập trung tư bản của nền kinh tế thế giới cùng với sự phát triển với tốc độ chóng mặt mà ngày nay chúng ta gọi là nóng của các cường quốc mới nổi như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản. Đây là thời kỳ vẫn được coi là chuyển giao từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự hình thành của các tập đoàn công nghiệp khổng lồ (trust, consortium). Ngày nay, nhìn dưới góc độ quản trị công ty đó chính là làn sóng M&A đầu tiên được nhận biết một cách rõ nét. Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
Cuộc đại sáp nhập này (1895-1905) bắt nguồn từ tình trạng khủng hoảng thừa năm 1893 khi lượng cầu suy yếu kéo theo giá tiêu dùng giảm mạnh. Đứng trước nguy cơ này, hàng loạt công ty Mỹ đã thực hiện sáp nhập ngang nhằm tạo ra những dây chuyền sản xuất khổng lồ với lượng thâm dụng tư bản cao, tối đa hóa hiệu suất lao động, khai thác lợi thế kinh tế nhờ quy mô nhằm giảm thiểu chi phí trên đơn vị sản phẩm. Với quy mô sản xuất và quyền lực thị trường mới sau sáp nhập, họ hy vọng sẽ kìm hãm được tốc độ giảm giá, duy trì lợi nhuận trên nền tảng chi phí tối thiểu (tuy vậy cho đến năm 1929 rất nhiều công ty đã bị tách lại theo luật Sherman và Clayton. Hơn nữa, đa phần các công ty không chịu cắt giảm sản lượng của mình, do đó nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục không thể tránh khỏi tình trạng khủng hoảng thừa trong các thập niên đầu thế kỷ XX). Để hình dung tầm cỡ của cuộc đại sáp nhập này, chúng ta cần biết rằng tổng giá trị các công ty sáp nhập năm 1990 bằng 20% GDP của Mỹ tại cùng thời điểm, trong khi tỷ lệ của làn sóng gần đây nhất chỉ là 3% (1990) và vào thời kỳ bùng nổ các công ty công nghệ cao năm 2000 tình hình được cải thiện nhưng cũng chỉ mức 10-11%. Ngoải ra Hoa Kỳ còn tiếp tục chứng kiến bốn làn sóng sáp nhập nữa vào năm 1929; nửa sau thập niên 60; nửa đầu thập niên 80 và nửa sau thập niên 90. Hầu hết các chu kỳ sáp nhập đều rơi vào các giai đoạn kinh tế phát triển thịnh vượng và hoạt động kinh doanh tăng trưởng mạnh nhất là thị trường chứng khoán. Trong bối cảnh đó, ban quản trị điều hành các công ty luôn chịu sức ép không những tối đa hóa lợi nhuận mà còn phải tạo ra sức sống và vị thế mới cho công ty trước đối thủ cạnh tranh, trong đó chủ động thực hiện M&A là một trong những lựa chọn mà họ đưa ra. Thực ra, sức nóng cạnh tranh của thị trường đã buộc họ đứng trước sự lựa chọn gay gắt “phát triển hoặc bị thôn tính”. Mặt khác, chu kỳ dương của nền kinh tế giúp lượng tiền đổ vào thị trường tài chính một cách dồi dào, đủ để cho phép các công ty có thể thực hiện được những cuộc M&A của mình mà ở các thời kỳ khác họ không dám nghĩ tới. Cho đến nay, Mỹ vẫn là thị trường sáp nhập mua lại phát triển mạnh nhất thế giới. Cùng với chu trình toàn cầu hóa, M&A đã trở thành hiện tượng toàn cầu.
2. Đặc điểm của hoạt động M&A ngân hàng trên thế giới
Trong xu hướng toàn cầu hóa, việc sáp nhập giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên phổ biến trong mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực ngân hàng. Khắp nới trên thế giới các ngân hàng đang ngày càng cố gắng phát triển về quy mô, tự lớn mạnh bằng cách thay đổi cơ cấu, hoặc có thể bằng cách sáp nhập và mua lại trong khuôn khổ luật pháp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tăng thị phần. Ví dụ các ngân hàng Trung Quốc bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Ở Nhật cứ 3 siêu ngân hàng lớn mới đã thôn tính 11 ngân hàng cũ. Tại Trung Âu, có tới 80% các ngân hàng hàng đầu trong khu vực này được các ngân hàng nước ngoài mua hoặc thành lập kể từ khi chủ nghĩa cộng sản tan vỡ1. Người viết sẽ phân tích một số nét cơ bản về xu hướng sáp nhập các ngân hàng ở Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3. Xu hướng hoạt động M&A ngân hàng trên thế giới Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
3.1. Xu hướng sáp nhập ngân hàng tại Mỹ
3.1.1. Khung pháp luật điều chỉnh
Hoa Kỳ là một trong những nước đi đầu trong xem xét hoạt động M&A, trong đó có M&A ngân hàng. Luật chống độc quyền Sherman đuợc ban hành năm 1890 (nội dung chủ yếu là cấm thỏa thuận cạnh tranh). Mặc dù vậy, việc dẫn luật của Quốc hội lại phụ thuộc rất lớn vào xu hướng và quan điểm của Tòa án trong từng thời kỳ khác nhau. Năm 1904, tòa án tối cao đã đưa ra phán quyết cấm tất cả những vụ sáp nhập giữa hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên cùng một thị trường (sáp nhập ngang). Đến năm 1914, Thượng nghị viện tiếp tục ban hành đạo luật Clayton (bổ sung luật Sherman thêm bốn hành vi: cấm phân biệt đối xử về giá; cấm ký kết hợp đồng mang tính độc quyền hoặc có nội dung ràng buộc; cấm việc chiếm vốn giữa các công ty; cấm kiêm nhiệm chức vụ) nhằm cữu vãn văn luật Sherman vốn bị giảm hiệu lực, theo đó luật đưa ra những vụ sáp nhập bằng cổ phiếu vào đối tượng bị cấm. Mặc dù vậy, các công ty Mỹ lại dễ dàng lách luật bằng cách thực hiện sáp nhập mua lại tài sản. Đáng chú ý có sự phát triển khá rõ nét trong quan điểm của Tòa án Mỹ về cách thức xác định và đánh giá mức độ nguy cơ đối với tính cạnh tranh của một vụ sáp nhập. Cho đến thập niên 60, Tòa án vẫn dựa vào những số liệu thống kê thị phần, doanh thu, và mức độ tập trung cạnh tranh như một công cụ chủ yếu để rà soát các vụ sáp nhập. Tuy nhiên đến năm 1974, họ đã rời bỏ cách tiếp cận này với quan điểm mới rằng “các vụ sáp nhập phải được nghiên cứu sâu sắc trên tất cả bình diện: cơ cấu, lịch sử, triển vọng” để có thể phán quyết vụ sáp nhập đó có phá vỡ tính cạnh tranh của thị trường hay không. Phương pháp luận này được dùng phổ biến đến ngày nay.
Về quản lý M&A, Đạo luật ủy ban Thương mại liên bang (FTC) năm 1975 đã quy định “ngăn cấm mọi hành vi không lành mạnh đe dọa tính cạnh tranh của thị trường”, và trao cho cơ quan hành pháp này chức năng độc lập thực thi các luật chống độc quyền của liên bang. Đến năm 1976, Luật chống độc quyền Hart-Scott-Rodino (HSR) 2 bắt buộc các bên liên quan phải thông báo và nộp đơn thẩm tra lên FTC và Bộ Tư Pháp trước khi hoàn tất vụ sáp nhập. Quy định này được áp dụng đối với tất cả những vụ sáp nhập mà một trong hai bên có doanh thu trên 100 triệu USD và bên còn lại trên 10 triệu USD, với giá chuyển nhượng vượt quá 15 triệu USD. Nếu các công ty thuộc đối tượng như trên thực hiện sáp nhập mà không qua thẩm tra của FTC và Bộ Tư Pháp sẽ bị hủy thỏa thuận chuyển nhượng và có thể bị phạt lên đến 10000 USD/ngày. Cũng theo luật HRS, thời hạn thẩm tra là 15 ngày đối với một vụ sáp nhập qua chào thầu bằng tiền mặt và 30 ngày đối với các vụ khác. Cơ quan quản lý nhà nước có thể yêu cầu các bên bổ sung thông tin một lần thứ hai và gia hạn tối đa là 10 ngày đối với sáp nhập chào thầu và 20 ngày đối với các vụ sáp nhập theo hình thức khác. Qua thời hạn trên, các bên mới có thể kết thức thủ tục cho vụ sáp nhập và đi vào hoạt động chung. Sau thời gian này, cơ quan liên bang không có cơ hội để có thể kiện ra tòa đòi hủy bỏ vụ sáp nhập. Mặc dù vậy, các bên liên quan vẫn có thể bị kiện bởi chính quyền bang và một cá nhân khác.
3.1.2. Thực trạng hoạt động M&A ngân hàng ở Hoa Kỳ Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
Mỹ, mười NHTM lớn nhất nắm giữ 49% tổng tài sản trong lĩnh vực ngân hàng của cả nước (con số này cách đây một thập niên chỉ là 29%). Bốn thay đổi cơ cấu lớn đã khiến mô hình NHTM trước đây ở Mỹ không còn phù hợp nữa. Bốn thay đổi đó là:
- Thứ nhất, thị trường vốn phát triển mạnh trong suốt thập niên 80.
- Thứ hai, sự ra đời và phát triển hùng mạnh của công nghệ thông tin.
- Thứ ba, sự nới lỏng và loại bỏ các quy định đối với hệ thống ngân hàng giữa các bang theo quy định của luật Riegle-Neal năm 1994.
Đạo luật HSR qui định các cá nhân và công ty mua cổ phần trị giá trên 50 triệu USD của công ty khác phải thông báo với cơ quan chống độc quyền
Thứ tư, xóa bỏ rào cản giữa các ngân hàng với các công ty bảo hiểm và các công ty chứng khoán theo quy định trong luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999. Đạo luật này cho phép thành lập các tập đoàn tài chính đa năng, các ngân hàng có thể đăng ký thành lập các tập đoàn tài chính – ngân hàng thông qua việc cung cấp thêm hoạt động môi giới bảo hiểm. Trái lại, các công ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm cũng có thể chuyển đổi thành các tập đoàn tài chính – ngân hàng nếu họ đáp ứng đuợc một số điều kiện nhất định. Những thay đổi này đã tạo ra làn sóng sáp nhập giữa các ngân hàng Mỹ từ giữa thập niên 90 trở đi kéo theo mô hình ngân hàng cũng thay đổi. Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
ROAA (Return on average assets): chỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản trung bình, một thước đo tương đối thường được sử dụng trong phân tích các ngân hàng và công ty tài chính.
ROAE (Return on average equity): chí số lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu trung bình, vốn chủ sở hữu trung bình thường được tính băng tổng giá trị vốn cổ phần đầu và cuối năm chia đôi.
Cùng với sự phát triển về quy mô, các ngân hàng Mỹ cũng tìm cách đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh và nguồn thu. Thị trường vốn phát triển mạnh đã thu hút các doanh nghiệp lớn chuyển từ vay ngân hàng sang huy động vốn từ thị trường vốn.
Các ngân hàng đã đa dạng hóa và phát triển các dịch vụ phải trả phí nhằm giảm bới sự lệ thuộc vào nguồn thu từ lãi suất. Ngân hàng càng lớn nguồn thu từ lệ phí càng cao. Tuy nhiên, trong một vài năm tới, xu hướng sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng ở Mỹ sé lắng xuống do hiệu quả kinh tế nhờ quy mô không còn mạnh như trước. Mặt khác, các ngân hàng cũng cần có thời gian để hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống công nghệ thông tin của mình, hợp lý hóa và nâng cao trình độ tiếp thu và làm chủ công nghệ của đội ngũ quản lý và nhân viên, đồng thời tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra các loại sản phẩm và dịch vụ có thể cùng lúc phục vụ các đối tượng khách hàng mới. Xu hướng mới trước mắt có thể là các ngân hàng lớn của Mỹ sẽ tiếp tục mua các ngân hàng nhỏ và trung bình, mở rộng chi nhánh và thu hút nhiều hơn nữa đối tượng khách hàng cá nhân.
Vào cuối năm 2007 cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ đã làm giảm đáng kể hoạt động M&A trong ngành ngân hàng. Theo biểu đồ 2.1 số vụ M&A ngân hàng trong quý thứ hai của năm 2009 là 35 giao dịch được báo cáo. Kết hợp với giao dịch được báo cáo trong quý đầu tiên, đây là khối lượng thấp nhất cho bất kỳ nửa đầu năm kể từ năm 2007. Số liệu báo cáo của năm 2009 thấp hơn so với cùng kỳ năm 2008 và hầu như chưa bằng một nửa so với số liệu cùng kỳ năm 2007. Tuy nhiên hoạt động sáp nhập có vẻ như có xu hướng gia tăng sau đó vì các ngân hang đang tăng vốn và số lượng của các ngân hàng đang tìm kiếm cho mình hướng phát triển mới ngày càng nhiều hơn.
Nhìn vào biểu đồ 2.2 có thể thấy bộ chỉ số giá P/B và P/E quý 2/2009 đã cao hơn từ mức thấp kỷ lục của quý đầu tiên trong năm. 48% các ngân hàng bán (ngân hàng bị sáp nhập) trong quý 2/2009 có hệ số nợ khó đòi trên tổng tài sản dưới 1%, so với chỉ 25% trong quý đầu tiên. Tương tự, 34% ngân hàng bán có báo cáo về tỷ lệ ROAA dương trong năm, trong khi tỷ lệ này của quý đầu tiên là 16%.
3.2. Xu hướng sáp nhập ngân hàng tại Nhật Bản Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
3.2.1. Khung pháp luật điều chỉnh
Tại Châu Á cách đây không lâu, việc mua quyền kiểm soát công ty Nhật Bản còn hiếm, nhưng hiện giờ các hoạt động này đang diễn ra nhộn nhịp nhờ vào những quy chế mới về kế toán, xóa bỏ dần tình trạng cổ phần chéo truyền thống có thời từng là một rào cản lớn đối với các hoạt động sáp nhập mua lại
- P/B (Price/Book): hệ số giá cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cố phiếu đó
- P/E (Price/Earnings): hệ số giá cổ phiếu so với thu nhập của cố phiếu đó đang được từng bước dỡ bỏ khi Luật Giao dịch và Chứng khoán được sửa đổi năm 1990.
3.2.2. Thực trạng hoạt động M&A ngân hàng ở Nhật Bản
Nhật Bản cuối những năm 80 của thế kỉ trước, hoạt động M&A chưa thật sự được các công ty ở Nhật Bản xem là chiến lược quản lý. Tuy nhiên, sau 20 năm, thị trường M&A ở Nhật Bản đã tăng trưởng ấn tượng, và nhiều công ty đã lựa chọn M&A là một chiến lược phát triển kinh doanh. Với một khung pháp luật có nhiều ưu đãi, nhiều ngân hàng Nhật Bản đã đi theo con đường M&A để mở rộng phạm vi kinh doanh của mình. Điển hình là vào ngày 3/10/2005, ngân hàng lớn nhất thế giới đã chính thức được thành lập và đi vào hoạt động. Đó là tập đoàn ngân hàng Mitsubishi UFJ, kết quả của vụ sáp nhập 2 ngân hàng Nhật Bản là Mitsubishi Tokyo và UFJ Holdings. Mitsubishi UFJ giờ đã trở thành một trong những tập đoàn tài chính mạnh nhất thế giới có số vốn lên tới 1770 tỷ USD với 40 triệu khách hàng, vượt qua ngân hàng Citigroup của Mỹ về trị giá tài sản. Các nhà phân tích cho rằng việc sáp nhập này thể hiện sự phục hồi của ngành ngân hàng Nhật Bản sau thời gian nợ nần chống chất. Mặc dù hai tập đoàn này đã sáp nhập các công ty cung cấp vốn, song các cơ sở NHTM vẫn hoạt động độc lập cho đến ngày 1/1/2006. Mitsubishi UFJ có kế hoạch kiếm lợi bằng việc kết hợp mạng lưới chi nhánh ở nước ngoài của Mitsubishi Tokyo và sức mạnh của UFJ trong việc phục vụ khách hàng cá nhân, đặc biệt là ở miền Tây Nhật Bản.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ bắt đầu vào cuối năm 2007 đã làm giảm nhiệt hoạt động M&A trong năm 2008, tốc độ diễn ra các thỏa thuận chậm lại đáng kể. Theo số liệu của M&A được công bố trong Quý I năm 2008 của Thomson Financial, M&A có xu hướng giảm ở Mỹ và tăng nhanh ở Châu Âu và Châu á Thái Bình Dương7. Ta có thể nhận thấy sự giảm nhẹ về tỷ trọng giao dịch trong lĩnh vực M&A ngân hàng của Nhật Bản so với thế giới trong hai biểu đồ sau:
3.3. Xu hướng sáp nhập ngân hàng tại Châu Âu Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
Tại Châu Âu, trong vòng 10 – 15 năm qua, các ngân hàng ở Châu Âu cũng đã và đang phát triển về quy mô, thậm chí còn mạnh hơn cả ở Mỹ. Trong khi Citi Group, tập đoàn ngân hàng lớn nhất của Mỹ có số vốn tương đương 1% GDP của Mỹ thì ING, ngân hàng lớn nhất của Hà Lan có số vốn tương đương 6,5% GDP của Hà Lan; USB và Credit Suisse, hai ngân hàng lớn nhất Thụy Sỹ, mỗi ngân hàng có số vốn tương đương 13% GDP của Thụy Sỹ. Thực tế, các ngân hàng lớn ở Châu Âu đã trở nên quá lớn đến mức chính phủ không thể để các ngân hàng này phá sản được. Tuy nhiên, trong những năm trước đây, mặc dù các đạo luật và quy tắc được ban hành từ giữa những năm 80 đã biến Liên minh Châu Âu thành một thị trường chung về hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả lĩnh vực ngân hàng và tài chính, các ngân hàng Châu Âu vẫn chủ yếu sáp nhập với các ngân hàng trong nước do chính phủ các quốc gia Châu Âu nhưng trong những năm gần đây đã diễn ra nhiều vụ sáp nhập vượt qua biên giới trong mọi lĩnh vực. Dealogic, một hãng chuyên về số liệu cho biết “trị giá tất cả các vụ sáp nhập ở Châu Âu trong năm 2006 đã lên tới 1,59 nghìn tỷ đô la Mỹ, vượt qua cả con số 1,54 nghìn tỷ đô la ở Mỹ”. Trong số 10 vụ sáp nhập lớn nhất thế giới năm 2006 thì có 5 vụ là ở Châu Âu, hai trong số đó là sáp nhập với nước ngoài.
Làn sóng sáp nhập này còn tiếp tục trong những năm gần đây, bao trùm tất cả các lĩnh vực, trong đó có cả ngân hàng. Hiện nay đã có dấu hiệu cho thấy các ngân hàng Châu Âu bắt đầu hướng tới các ngân hàng nước ngoài. Ví dụ như ABN Amro của Hà Lan mua lại Banca Antonveneta của ý, BNP Paribas của Pháp mua lại Banco Nazionale del Lavoro cũng của ý, hay Banco Santader của Tây Ban Ngân hàng mua lại Abbey National của Anh. Như vậy xu hướng mua lại và sáp nhập các ngân hàng nước ngoài đã, đang và sẽ là xu hướng rõ nét ở Châu Âu. Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
Từ 1990-2005, giá trị của các thương vụ M&A trong ngành ngân hàng ở châu Âu đạt đến một khối lượng gần 794 tỷ USD như có thể thấy trong biểu đồ 2.5. Tỷ trọng M&A xuyên quốc gia đã tăng từ khoảng 25% vào đầu những năm 1990 đến hơn 40% trong năm 2004 và 2005. Tổng khối lượng M&A qua biên giới đạt 203 tỷ USD trong thời kỳ 1990-2005. Khoảng 4,1% (tương đương 32 tỷ USD) của toàn bộ khối lượng giao dịch giữa năm 1990 và 2005 có liên quan tới M&A tại các nước Đông Âu. Khoảng một phần ba số lượng các vụ M&A ngân hàng tại châu Âu trong 10 năm qua liên quan đến việc các ngân hàng ở Tây Âu mua lại tất cả hay một phần của các ngân hàng trong khu vực Trung và Đông Âu.
Sự sáp nhập xuyên quốc gia trong ngành ngân hàng tại châu Âu đã diễn ra với 274 giao dịch (tương đương 158 tỷ EUR) trong thời gian 10 năm 1995-2005. Giá trị của M&A ngân hàng qua biên giới đã tăng trong ba năm qua trong khi giá trị của M&A ngân hàng nội địa giảm từ năm 1999.
Trong hai năm 2004 và 2005 bốn ngân hàng châu Âu ABN AMRO, BNP Paribas, BSCH và UniCredit đã thực hiện những thương vụ mua lại lớn tại châu Âu. Các giao dịch này có thể là những tín hiệu khởi đầu cho làn sóng M&A lớn nhất trong ngành. Có một số lý do khiến cho hoạt động M&A ngân hàng xuyên biên giới ở châu Âu phát triển trong những năm tới. Đó là:
- Các ngân hàng lớn ở một số vùng đã không thể mở rộng hơn được nữa nếu chỉ thông qua M&A nội địa bởi mức độ tập trung ở những nơi này đã tăng cao. Mức độ tập trung (tính theo điều kiện tỷ lệ phần trăm của tổng tài sản ngân hàng của năm ngân hàng lớn nhất trong từng quốc gia) ở khu vực Tây Âu là khoảng từ 22% tại Đức đến 88% tại Hà Lan.
- Các nhà phân tích về ngân hàng cho rằng các ngân hàng châu Âu sẽ tạo ra đáng kể vốn dư thừa trong những năm tới. Ít nhất sẽ có một phần vốn được dùng cho việc phát triển qua các hoạt động M&A.
- Ủy ban châu Âu (EC) đã tập trung vào việc loại bỏ những rào cản trong hoạt động hợp nhất ngân hàng xuyên quốc gia. Về vấn đề này, các chính sách của EC về dịch vụ tài chính từ năm 2005 – 2010 có bao gồm những mục tiêu quan trọng trong thời kỳ này là: hướng tới một thị trường tài chính chung châu Âu năng động, hội nhập, rộng mở, tích hợp và mang tính cạnh tranh; loại bỏ những rào cản kinh tế quan trọng còn lại để cho nguồn vốn có thể lưu hành và dịch vụ tài chính được cung cấp trong toàn liên minh châu Âu (EU).
4. Một số thương vụ M&A ngân hàng tiêu biểu trên thế giới Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
4.1. Thương vụ sáp nhập ngân hàng ABN AMRO
Ngày 23/4/2007, Barclays đã công bố thỏa thuận mua lại ABN AMRO trong một thương vụ 67 tỷ Euro. Theo John Varley thuộc Barclays, đây là “thương vụ sáp nhập lớn nhất trong lĩnh vực dịch vụ tài chính toàn cẩu, và giao dịch xuyên quốc gia tầm cỡ nhất”.
ABN AMBRO đuợc thành lập 1824, là một trong những ngân hàng lớn nhất châu Âu và hoạt động trên toàn thế giới. Ngân hàng này được hình thành từ vụ sáp nhập hai ngân hàng Algemene Bank Nederland (ABN) và Amsterdamsche-Rotterdamsche Bank (AMRO).
Công ty ABN AMRO Holding N.V. là công ty mẹ, được niêm yết trên sàn Euronext Amsterdam và NYSE. Công ty con chính của ABN AMRO Holding N.V. là ngân hàng ABN AMRO N.V.
ABN AMRO xếp thứ 8 tại châu Âu và xếp thứ 13 trên thế giới về tổng tài sản, với 4.500 chi nhánh trên 53 quốc gia, với khoảng 110.000 nhân công và tổng tài sản 999 tỉ Euro.
ABN AMRO đã đối mặt với nhu cầu chuyển mình mang tính bước ngoặt từ đầu năm 2007. Ngân hàng này vẫn chưa tiến gần tới mục tiêu tự đặt ra năm 2000 là nằm trong top 5 trong số những tập đoàn cùng quy mô, lấy tiêu chuẩn là ROE. Đây là mục tiêu mà Rijkman Groenink, giám đốc điều hành vừa được bổ nhiệm thời điểm đó, đặt ra. Từ năm 2000 tới 2006, giá cổ phiếu ABN AMRO có phần trì trệ.
Kết quả tài chính của năm tài chính 2006 đã làm dấy lên mối quan ngại về tương lai của ngân hàng. Chi phí hoạt động tăng với tốc độ nhanh hơn doanh thu hoạt động, cho thấy càng mở rộng quy mô sẽ càng làm giảm hiệu quả. Hiệu suất đã đã giảm sút đến mức 69,9%. Tỉ lệ tăng các khoản nợ khó đòi hàng năm là 192%. Lợi nhuận ròng chỉ được đẩy lên khi liên tục bán tài sản. Sau một loạt những kêu gọi mua lại sáp nhập hoặc giải thể, với mối lo ngại rằng giá cổ phiếu của ABN AMRO không phản ánh giá trị thực tế của tài sản cơ sở, cuối cùng vào ngày 23/4/2007, Barclays đã công bố thỏa thuận mua lại ABN AMRO trong một thương vụ trị giá 67 tỷ Euro. Giám đốc điều hành hiện nay của Ngân hàng Barclays – ông John Varley sẽ đảm nhiệm chức vụ Giám đốc điều hành của ngân hàng mới. Bob Diamond, trưởng bộ phận đầu tư tại Barclays, sẽ đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch. Theo John Varley nhận định đây là “thương vụ sáp nhập lớn nhất trong lĩnh vực dịch vụ tài chính toàn cầu và giao dịch xuyên quốc gia tầm cỡ nhất”. Lãnh đạo hai ngân hàng cho biết, vụ sáp nhập sẽ giúp ngân hàng mới tăng trưởng lợi nhuận ở mức gấp đôi GDP hiện tại của thế giới, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh mạnh, phục vụ khách hàng tốt hơn và mang lại lợi nhuận cao hơn cho các cổ đông của mỗi bên. Ngân hàng mới sẽ có trụ sở ở Thủ đô Amsterdam của Hà Lan, tiếp tục phục vụ khoảng hơn 47 triệu khách hàng trên toàn thế giới. Tập đoàn Ngân hàng mới này đặt mục tiêu sẽ tiết kiệm được 3,5 tỷ Euro (4,8 tỷ USD) chi phí hàng năm vào năm 2010. Xếp hạng thương vụ này sẽ được làm rõ trong bảng sau. Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
Bảng 2.3. Bảng xếp hạng thương vụ mua bán ngân hàng lớn nhất thế giới
Cả hai mức giá bỏ thầu cho ABN AMRO của các bên tham gia đấu thầu ở mức cao nhất trong các thương vụ mua bán, Mức giá cao nhất cho tới giờ vẫn thuộc về vụ sáp nhập Mitsubishi Tokyo Financial với UFJ Holdings, với giá trị lên tới 59,1 tỷ USD. Tuy thế, ABN AMRO vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khó khăn. Không dễ dàng rút lui khỏi sân khấu một cách êm đẹp, đặc biệt trong tiếng la ó của khán phòng. ABN AMRO đương nhiên không thể làm được điều đó. Khi ngân hàng của Hà Lan này thông báo việc tiếp quản đã được thỏa thuận với Barclays, ABN AMRO cũng đồng thời tiết lộ việc bán LaSalle, một chi nhánh ngân hàng tại Mỹ của ABN AMRO cho ngân hàng Mỹ. Việc chuyển nhượng này đã làm đổ vỡ kế hoạch phân chia ABN bởi một liên minh bao gồm Ngân hàng Hoàng gia Scotland, Santander và Fortis. Theo đó, động thái này sẽ làm nảy sinh những vấn đề về quá trình tiếp xúc chuyển nhượng của ABN. Khó khăn không chỉ nằm ở việc chuyển nhượng LaSalle mà thôi. Giá mua chi nhánh này lên tới 21 tỷ USD tiền mặt – là một mức giá tốt, chỉ ở mức trên 20 lần doanh thu dự báo. Mặc dù LaSalle có ý nghĩa rất lớn với ABN, nhưng luật pháp Hà Lan không thể áp đặt ABN phải được sự chấp thuận của các cổ đông để bán chi nhánh này. Và cũng không có vấn đề gì đối với Barclays, nhưng ngược lại, liên minh ngân hàng Vương quốc Anh dường như mất đi lợi thế sau quyết định này.
Thực ra, vấn đề nằm ở chỗ việc chuyển nhượng có ý nghĩa thế nào đối với số phận của tập đoàn. Ở đây có một mạng lưới chằng chịt các mối liên quan phức tập cần cân nhắc. Việc bán LaSalle làm cho ABN trở nên kém hấp dẫn và không đuợc liên minh ngân hàng trả giá cao. Theo cách này, ABN đã làm giảm khả năng xảy ra một cuộc đấu giá hấp dẫn. Nhưng luôn luôn có cơ sở để nghi ngờ khả năng của liên minh có thể đưa ra mức giá cuối cùng trước khi Barclays tiến hành đám phán. Và nếu Barclays cứ khăng khăng đòi thực thi điều kiện bán LaSalle trước khi chuyển giao, và nếu ABN từ chối ý tưởng này, thì cũng đồng nghĩa việc từ bỏ hy vọng chuyển nhượng thành công có tiềm năng nhất. Song ABN vẫn chịu nhiều sức ép về việc đã tạo lợi thế cho một bên tham gia đấu thầu. Đây là một trong những khó khăn do chính ngân hàng này đã tạo ra. ABN đã có thể gộp toàn bộ tập đoàn lại, đưa ra đấu giá, thực thi một quy trình minh bạch hơn, công bằng đối với tất cả các bên tham gia đấu thầu và có thể tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông. Ngân hàng Hà Lan này đã có thể thu hút sự quan tâm với hệ thống hợp nhất vốn có, và cũng đã có thể tránh được những tranh cãi xung quanh lợi ích của tập đoàn, ngân hàng này hiện đang cắt giảm nhân sự để thuyết phục các nhà đầu tư rằng nó đang quan tâm tới giá chuyển nhượng tối đa hơn là nghĩ tới hậu quả là có thể làm những nhà quản lý công ty không mấy thoải mái.
4.2. Một số thương vụ M&A của Bank of America Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
Có thể nói trong lịch sử M&A ngân hàng tại Mỹ thì Bank of America tiến hành các thương vụ M&A nhiều nhất, và các thương vụ đều có giá trị lớn. Bank of America là một trong những ngân hàng sử dụng hoạt động M&A hiệu quả nhất để mở rộng thị trường, tăng thị phần và trở thành ngân hàng lớn nhất nước Mỹ. Quá trình hoạt động M&A của Bank of America trong những năm gần đây như sau:
Bank of America là NHTM lớn nhất tại Mỹ tính theo lượng tiền gửi và lượng vốn hóa thị trường. Đây là ngân hàng thành viên thuộc Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC). Bank of America thu tới 90% lợi nhuận từ thị trường nội địa nước Mỹ. Mục tiêu của ngân hàng là luôn đứng đầu tại ngành ngân hàng nội địa Mỹ. Ngân hàng này đã làm được điều đó thông qua hàng loạt các thương vụ thâu tóm.
Trước năm 1998, Bank of America như chúng ta biết đến ngày nay có tên NationsBank. Một vài năm trước đó, ngân hàng có tên là North Carolina National Bank (NCNB).
Năm 1998, NationsBank tiến hành mua lại BankAmerica và đổi tên thành Bank of America. Năm 2001, giám đốc điều hành của Bank of America từ chức, người kế nhiệm Ken Lewis lên thay. Ông Lewis đã tiến hành tập trung vào mục tiêu mà người tiền nhiệm trước đã làm, đó là mở rộng hoạt động tại thị trường nội địa bằng những thương vụ thâu tóm và sáp nhập.
Thâu tóm National Processing Company
Năm 2004, Bank of America mua National Processing Company với giá 1,4 tỷ USD từ National City Corp. Công ty này sau đó đổi tên thành BA Merchant Services với chức năng cung cấp giải pháp tài chính cho các công ty thuộc lĩnh vực du lịch và y tế. BA Merchant Services có trụ sở tại Louisville, Mỹ.
Năm 2004, Bank of America tiến hành thâu tóm FleetBoston Financial với giá 47 tỷ USD. Tổng lượng tiền gửi của Bank of America lúc này đã lên tới 513 tỷ USD. Hai tổ chức tài chính khác có lượng tiền gửi đứng sau Bank of America tại thị trường Mỹ là JPMorgan Chase-Bank One và Wells Fargo & Co. Tính đến ngày 30/6/2003, tổng lượng tiền gửi tại hai ngân hàng này lần lượt là 353 tỷ USD và 228 tỷ USD. Thương vụ này cũng giúp Bank of America củng cố vị trí của mình tại thị trường Đông Bắc Mỹ. Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
Mua lại đại gia thẻ tín dụng MBNA
Ngày 30/6/2005, Bank of America công bố sẽ mua lại đại gia thẻ tín dụng MBNA với giá 35 tỷ USD. FED đã chấp thuận cho Bank of America tiến hành thương vụ này vào ngày 15/12/2006. Thương vụ mua lại MBNA đã giúp Bank of America có vị thế đứng đầu trong lĩnh vực phát hành thẻ tín dụng tại thị trường nội địa và quốc tế. Sau thương vụ đó tổng số tài khoản tín dụng của Bank of America lên tới 40 triệu tài khoản.
Hợp tác với ngân hàng hàng đầu Brazil
Tháng 5/2006, Bank of America và Banco Itaú (NHTM lớn thứ hai tại Brazil) bước vào thương thảo theo đó Itaú sẽ mua lại và quản lý toàn bộ hoạt động của Bank of America tại Chile và Uruguay. Thương vụ này đã hoàn thành vào tháng 8/2006.
Mua lại US Trust
Ngày 20/11/2006, Bank of America công bố mua The United States Trust Company với giá 3,3 tỷ USD từ Charles Schwab Corporation. US Trust có lịch sử 150 năm hoạt động. Thương vụ này kết thúc ngày 01/07/2007.
Ngày 14/09/2007, FED chấp thuận cho Bank of America mua lại ABN AMRO khu vực Bắc Mỹ, tập đoàn ngân hàng và tài chính LaSalle với giá 21 tỷ USD.
Với vụ kết hợp này, Bank of America có tổng tài sản 1,7 nghìn tỷ USD. Thương vụ này hoàn thành ngày 1/10/2007. Thương vụ giúp tăng thị phần của Bank of America tại bang Illinois, Michigan và Indiana lên 411 chi nhánh, 17 nghìn đối tác là các NHTM, và 1.500 máy ATM.
Bank of America trở thành ngân hàng lớn nhất tại thị trường Chicago với 197 văn phòng đại diện và 14% thị phần tiền gửi, chính thức chiến thắng JP Morgan Chase.
Thương vụ mua lại Countrywide Financial
Ngày 11/01/2007, Bank of America công bố mua Countrywide Financial với giá 4,1 tỷ USD. Thương vụ hoàn thành ngày 01/07/2008 đã giúp Bank of America có thị phần lớn trong lĩnh vực thế chấp và sở hữu đội ngũ chuyên môn tinh nhuệ của Countrywide, hệ thống công nghệ hiện đại. Thương vụ này là cứu cánh cho Countrywide khỏi sự sụp đổ đã gần kề khi đó.
Thâu tóm Merrill Lynch
Tham vọng đứng đầu ngành ngân hàng nội địa của Mỹ là động lực khiến Bank of America mua lại Merrill Lynch. Bank of America mua tập đoàn tài chính Merril Lynch với giá 50 tỷ USD. Cuộc sáp nhập này cho ra đời tập đoàn tài chính hùng mạnh nhất thế giới. Quý I/2009, hai bên hoàn tất việc sáp nhập. Sau khi mua được Merrill Lynch, Bank of America sẽ trở thành hãng môi giới lớn nhất thế giới với trên 20.000 cố vấn và 2,5 nghìn tỷ trong tổng tài sản. Ba thành viên điều hành của Merrill Lynch sẽ gia nhập ban lãnh đạo của Bank of America. Đây được coi là thương vụ có tính lịch sử trên thị trường tài chính Mỹ trong bối cảnh kinh tế nước này đang đối mặt với rất nhiều khó khăn. Chủ tịch của Bank of America, ông Ken Lewis nhận định việc có thêm đội ngũ quản lý hàng đầu, mở rộng thị trường vốn và tập hợp được những công ty cố vấn tiếng tăn thuộc tập đoàn Merrill Lynch sẽ đưa lại cơ hội tuyệt vời cho các cổ đông của họ. Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Hoạt động sáp nhập trong ngành ngân hàng