Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong xu thế hội nhập dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SPNH TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1. Tình hình phát triển SPNH tại NH ĐT&PT VN
1.1. Sản phẩm dịch vụ NH ĐT&PT VN cung cấp
Sản phẩm tiền gửi:
- Tài khoản thanh toán (VNĐ, ngoại tệ): Là sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn dành cho đối tượng cá nhân và tổ chức. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch với ngân hàng qua tài khoản này vào bất cứ lúc nào, tại bất kỳ điểm giao dịch nào của BIDV. Lãi suất tiền gửi thanh toán được thống nhất trên toàn hệ thống BIDV. Tiền lãi được cộng dồn hàng ngày và trả vào cuối tháng.
- Tiền gửi có kỳ hạn (VNĐ, ngoại tệ): Là sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn dành cho cá nhân và tổ chức, theo đó mức lãi suất được xác định căn cứ kỳ hạn gửi tiền tại thời điểm gửi tiền. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn (VNĐ, ngoại tệ): Là sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn dành cho cá nhân. Lãi suất tiền gửi thanh toán được thống nhất trên toàn hệ thống BIDV. Tiền lãi được cộng dồn hàng ngày và trả vào cuối tháng.
- Tiền gửi tiết kiệm bậc thang (VNĐ): Là sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn dành cho cá nhân với mức lãi suất gia tăng lũy tiến theo số dư tiền gửi.
- Tiết kiệm dự thưởng: Là sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn dành cho cá nhân có kèm theo cơ hội được tham gia dự thưởng đối với khách hàng gửi tiền.
- Tiết kiệm “ổ trứng vàng”: Là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn với mức lãi suất gia tăng lũy tiến theo số dư dành cho đối tượng cá nhân được thực hiện thông qua việc điều chuyển tiền tự động từ tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc gửi tiền mặt trực tiếp vào tài khoản.
- Kỳ phiếu (VNĐ, ngoại tệ): Là loại giấy tờ có giá được BIDV phát hành cho đối tượng là cá nhân và tổ chức, có thời hạn dưới 12 tháng trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định cùng các điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết giữa BIDV và khách hàng.
- Trái phiếu coupon (VNĐ, ngoại tệ): Là loại giấy tờ có giá được BIDV phát hành cho đối tượng là cá nhân và tổ chức, có thời hạn dài trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định cùng các điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết giữa BIDV và khách hàng.
- Trái phiếu này được đính kèm coupon để thanh toán lãi suất thanh toán định kỳ (thường là một năm).
- Chứng chỉ tiền gửi dài hạn (VNĐ, ngoại tệ): Là loại giấy tờ có giá được BIDV phát hành cho đối tượng là cá nhân và tổ chức, có thời hạn từ một năm trở lên trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định cùng các điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết giữa BIDV và khách hàng.
Bảng 3: Nguồn vốn huy động phân theo khách hàng
Nguồn vốn của BIDV tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Tổng tiền gửi của khách hàng năm 2005 đạt 87,026 tỷ đồng trong khi chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006, tổng tiền gửi của khách hàng đã đạt 96,908 tỷ đồng. Tổng tiền gửi của khách hàng năm 2005 tăng 29,3% so với năm 2004.
Trong cơ cấu nguồn vốn của BIDV, huy động vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng rất lớn. Năm 2003 là 68,7% thì năm 2005 là 70,26%. Trong đó, tỷ trọng huy động từ các tổ chức kinh tế tăng dần từ 39,5% năm 2003 lên 49,52% năm 2005 và 50,43% sáu tháng đầu năm 2006. Điều này thể hiện rằng doanh nghiệp đã chọn BIDV làm nơi gửi tiền, vay tiền và nhiều giao dịch khác, cũng thể hiện sự cố gắng của BIDV đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Sản phẩm tín dụng:
Đây là nhóm tài sản thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng và cũng là nghiệp vụ sinh lời, mang lại thu nhập lớn nhất (chiếm tới 60 -70% tổng thu nhập cho ngân hàng). Tuy nhiên, đây cũng là khoản mục tài sản tiềm ẩn rủi ro lớn nhất trong các loại tài sản của ngân hàng. Với nhận thức như vậy, trong những năm qua, BIDV luôn cố gắng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng dư nợ một cách an toàn và hiệu quả.
Hiện nay, BIDV đã và đang cung cấp các sản phẩm cho vay như sau:
Cho vay ngắn hạn theo món:
Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay ngắn hạn theo hạn mức tín dụng:
Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Cho vay theo dự án đầu tư:
Ngân hàng hỗ trợ về vốn và tư vấn miễn phí cho khách hàng trong đầu tư và các dự án trung và dài hạn.
Cho vay hợp vốn:
Bên cạnh việc trực tiếp cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng còn kết hợp với tổ chức tín dụng khác để đáp ứng các nhu cầu vốn lớn của khách hàng.
Cho vay tiêu dùng:
Ngân hàng thực hiện cho vay để hỗ trợ vốn cho các nhu cầu tiêu dùng của dân cư như: mua nhà, mua xe máy, mua ô tô, mua đồ dùng gia đình, …
Cho vay trả góp:
Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận trước số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc chia ra để trả theo các kỳ hạn trong thời gian vay.
Hình thức cho vay này thường áp dụng cho những khách hàng có nguồn thu ổn định, thời hạn cho vay trung và dài hạn.
Cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, kỳ phiếu hoặc giấy tờ có giá do BIDV hoặc các TCTD khác phát hành đối với những khách hàng là chủ sở hữu hợp pháp các loại giấy tờ có giá đó.
Bảng 4: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn
Tính đến 31/12/2005, tổng dư nợ của ngân hàng đạt 85.434.376 triệu đồng, tăng 17,95% so với năm 2004. Bên cạnh tổng dư nợ liên tục tăng qua các năm, cơ cấu tín dụng được điều chỉnh một cách hợp lý. Tỷ trọng cho vay ngắn hạn tăng từ 54,3% năm 2004 lên 58% năm 2005 và 59,87% sáu tháng đầu năm 2006.
Bảng 5: Danh mục cho vay theo loại hình
Trong cơ cấu cho vay theo loại hình doanh nghiệp có sự chuyển đổi theo hướng giảm tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp quốc doanh, tăng tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Dư nợ cho vay ngoài quốc doanh tăng từ 32% năm 2004 lên 45% năm 2005 và 51,5% sáu tháng đầu năm 2006. Cho vay doanh nghiệp quốc doanh chỉ còn 45,5% tổng dư nợ, cho vay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng thấp nhất là 3,02%.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng đã tiếp cận và cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có thương hiệu và uy tín trên thị trường như: Công ty xăng dầu, Hàng không Việt Nam, Tập đoàn Hòa Phát, Tập đoàn Việt Á, Công ty cổ phần phát triển công nghệ FPT…
Ngân hàng luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu và phát triển các sản phẩm tín dụng mới như: cho vay mua nhà, ô tô, cho vay hạn mức thấu chi, cho vay kinh doanh chứng khoán,… góp phần nâng cao hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
Sản phẩm và dịch vụ kinh doanh tiền tệ:
Hiện nay BIDV đã cung cấp cho khách hàng các sản phẩm mua bán ngoại tệ bao gồm:
- Giao dịch giao ngay: Là giao dịch mà ở đó một đồng tiền này được trao đổi với một đồng tiền khác theo tỷ giá xác định vào ngày giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong vòng 02 ngày làm việc tiếp theo của Ngân hàng.
- Giao dịch kỳ hạn tiền tệ: Là giao dịch mua ( hoặc bán) giữa hai đồng tiền với tỷ giá xác định ngay trong ngày giao dịch, ngày giá trị sẽ là một ngày trong tương lai do Ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.
- Giao dịch quyền chọn tiền tệ: Là giao dịch ở đó khách hàng có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) mua hoặc bán một số lượng tiền tệ theo một tỷ giá đã xác định trong khoảng thời gian hoặc một ngày cố định trong tương lai.
- Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ: Là giao dịch ở đó BIDV đồng thời thực hiện mua và bán (hoặc bán và mua) cùng một lượng tiền tệ với khách hàng, thời hạn của hai giao dịch này là khác nhau và tỷ giá được xác định ngay tại thời điểm ký hợp đồng.
Dưới đây là doanh số thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
Bảng 8: Doanh số kinh doanh ngoại tệ
NH ĐT&PT VN thực hiện giao dịch với trên 15 ngoại tệ mạnh khác nhau, trong đó bao gồm những đồng tiền chủ đạo như USD, EUR, GBP, AUD… Hoạt động mua bán ngoại tệ được quản lý tập trung tại Hội sở chính theo đó các giao dịch bán buôn trên liên ngân hàng chỉ được thực hiện tại Hội sở chính. Hoạt động mua bán ngoại tệ bán lẻ phục vụ doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân được thực hiện tại tất cả các chi nhánh trên phạm vi toàn quốc với các giao dịch như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Trong năm 2005, BIDV đã giới thiệu tới khách hàng các sản phẩm phái sinh như quyền chọn tiền tệ (currency option), quyền chọn lãi suất (interest rate option), hoán đổi lãi suất (interest rate swap), quản lý tài sản (asset management).
Sản phẩm tài trợ thương mại:
Cho đến nay BIDV cung cấp các sản phẩm tài trợ thương mại gồm:
Bảo lãnh:
BIDV cung cấp các loại hình dịch vụ bảo lãnh khác nhau, bao gồm bảo lãnh trong thi công xây lắp, cam kết thanh toán L/C, bảo lãnh thanh toán trái phiếu… Năm 2005, số dư bảo lãnh của BIDV đạt 22.433 tỷ đồng tăng 33,39% so với năm 2004, phí bảo hiểm đạt 111,53 tỷ VND. Doanh số bảo lãnh qua các năm tăng một cách chậm chạp, năm 2003 là 26.367 tỷ đồng, năm 2004 là 31.545 tỷ đồng, năm 2005 là 33.913 tỷ đồng.
Năm 2005, trong cơ cấu các loại hình bảo lãnh thì chủ yếu là bảo lãnh trong nghiệp vụ L/C và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Trong đó bảo lãnh nghiệp vụ L/C trả ngay chiếm tỷ trọng 41,4%, nghiệp vụ L/C trả chậm chiếm 3%, bảo lãnh thực hiện hợp đồng chiếm 24,2%.
Phí bảo lãnh của BIDV qua các năm đều tăng. Năm 2003, phí thu bảo lãnh là 60,4 tỷ đồng thì đến năm 2005 phí thu bảo lãnh đã tăng lên 106 tỷ đồng, chiếm 36,42% trong tổng thu dịch vụ ngoài lãi.
Tỷ trọng thu phí bảo lãnh so với tổng thu dịch vụ tăng dần qua các năm: năm 2003 là 23 %, năm 2005 đã đạt 36,4 %. Hoạt động này đã làm tăng tỷ trọng thu dịch vụ.
Bảng 9: Thu nhập từ hoạt động bảo lãnh
Qua các số liệu trên cho thấy sự phát triển khá nhanh cả về hình thức và doanh số của nghiệp vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của doanh số bảo lãnh còn chậm.
Các loại hình bảo lãnh có sự phát triển đa dạng, bên cạnh bảo lãnh trong thi công xây lắp, cam kết thanh toán L/C…BIDV bắt đầu chú trọng đến các hình thức bảo lãnh phát hành, bảo lãnh thanh toán trái phiếu… Năm 2005, NH ĐT&PT VN đã triển khai ký kết nhiều hợp đồng bảo lãnh có giá trị lớn, đặc biệt là hợp tác chặt chẽ với các ngân hàng đại lý để mở rộng dịch vụ bảo lãnh đối ứng, xác nhận L/C.
Chiết khấu:
BIDV đã thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá từ lâu. Tuy nhiên chủ yếu chỉ thực hiện chiết khấu bộ chứng từ và một số giấy tờ có giá trong thanh toán quốc tế. Phạm vi thực hiện chỉ là chiết khấu bộ chứng từ L/C xuất và còn lẫn với hình thức cho vay ứng trước bộ chứng từ và cho vay cầm cố bộ chứng từ. Việc thực hiện cũng chỉ dừng lại ở một số khách hàng có quan hệ tín dụng và phương thức chiết khấu chủ yếu là chiết khấu truy đòi. Tính đến 31/12/2005, dịch vụ chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá cho các tổ chức kinh tế và cá nhân đạt 694 tỷ đồng.
Sản phẩm thanh toán:
- Sản phẩm thanh toán trong nước:
- Chuyển tiền đi: BIDV chuyển tiền cho người thụ hưởng trong nước theo lệnh của khách hàng. Với mạng lưới hơn 200 đơn vị thanh toán, BIDV sẽ thực hiện các yêu cầu chuyển tièn tới tất cả các địa phương trong cả nước.
- Chuyển tiền đến: Khi nhận được yêu cầu thanh toán, chi nhánh BIDV phục vụ người thụ hưởng sẽ thực hiện thanh toán bằng cách ghi Có vào tài khoản hoặc chi trả tiền mặt cho người hưởng.
- Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó BIDV ứng cho người thụ hưởng một khoản tiền để nhận quyền đòi tiền.
- Các sản phẩm thanh toán khác như: chi trả kiều hối, thanh toán séc du lịch, thanh toán biên mậu, thanh toán CAD (Cash against Document), phát hành séc thanh toán ngân hàng (Bank draft)…
Năm 2005 là năm BIDV hoàn thành triển khai dự án Hiện đại hóa đến tất cả các chi nhánh trên toàn hệ thống. Đây là nền tảng quan trọng để hoạt động thanh toán trong nước khởi sắc, đẩy nhanh tốc độ xử lý giao dịch, tạo khả năng phát triển các sản phẩm mới trong lĩnh vực thanh toán trên nền tảng công nghệ SIBS, BIDV đã xây dựng các chương trình, ứng dụng mới để đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng như: BIDV-homebanking, BIDV- Smart@ccount, chương trình thanh toán kết quả bù trừ chứng khoán, thực hiện kết nối giữa một số chi nhánh của NH ĐT&PT VN với các ngân hàng để phục vụ khách hàng nhằm tăng thu dịch vụ, giảm chi phí cho toàn ngành. Doanh số thanh toán trong nước đạt 223.709 tỷ VND và 3.833 triệu USD, các ngoại tệ khác tương đương 134 triệu USD quy đổi.
Sản phẩm thanh toán quốc tế:
- Nhóm sản phẩm phục vụ thanh toán nhập khẩu:
- Phát hành thư tín dụng (L/C): BIDV phát hành cam kết theo đó sẽ thanh toán cho ngân hàng của nhà xuất khẩu một khoản tiền nhất định dựa trên bộ chứng từ thanh toán hoàn hảo.
- Sửa đổi L/C: BIDV sử đổi các nội dung của L/C như số tiền, thời hạn hiệu lực, …
- Ký hậu vận đơn hoặc phát hành bảo lãnh ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
- Nhờ thu đến: Khi nhận được bộ chứng từ nhờ thu trong phương thức nhờ thu từ ngân hàng nước ngoài thì BIDV sẽ thông báo cho khách hàng; nếu khách hàng chấp nhận sẽ gửi công văn đến ngân hàng để lấy bộ chứng từ gốc.
- Chuyển tiền đi: Thực hiện thanh toán các hợp đồng xuất khẩu có quy định điều khoản thanh toán theo hình thức chuyển tiền hoặc chuyển các khoản tiền ngoại tệ ra ngoài theo lệnh của khách hàng với mục đích chuyển tiền trả nợ nước ngoài.
Nhóm các sản phẩm phục vụ xuất khẩu:
- Thông báo L/C và các sửa đổi (nếu có)
- Tư vấn nội dung L/C
- Gửi bộ chứng từ hàng xuất để thanh toán
Đến nay hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV đã thực sự có những bước tiến đáng kể. Trung tâm tài trợ thương mại hoạt động với quy mô lớn hơn, các sản phẩm thanh toán quốc tế đã được thay đổi và bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng của khách hàng đồng thời đảm bảo tốc độ xử lý giao dịch nhanh, an toàn hơn trước. Doanh số thanh toán quốc tế năm 2005 đạt 6,45 tỷ USD, tăng 53,6% so với 2004, trong đó doanh số thanh toán xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD, thanh toán nhập khẩu đạt 2,6 tỷ USD.
Sản phẩm thẻ:
Đến nay, BIDV đã chiếm 10% thị phần thẻ ATM và xếp hạng thứ tư trong số các ngân hàng đã tham gia phát hành thẻ ATM (sau Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thông, và EAB). Tính đến cuối năm 2005, BIDV đã phát hành được khoảng 255.000 thẻ, nâng tổng số thẻ của toàn hệ thống lên 300.000 thẻ. Đồng thời BIDV đã lắp đặt và triển khai thêm hơn 200 máy ATM (năm 2005). Mức phí ròng thu được từ hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV năm 2005 đạt 5,3 tỷ VND, tăng 77,8% so với 2004. Sản phẩm thẻ của BIDV trong năm qua cũng bổ sung nhiều tiện ích như yêu cầu in sao kê, yêu cầu phát hành số séc, yêu cầu gửi tiền và tài khoản tiền gửi kỳ hạn.
Bảng 10: Số lượng phát hành và thanh toán thẻ
Sản phẩm và dịch vụ khác:
- Dịch vụ đầu tư tài chính:
- Đầu tư chứng khoán
Hoạt động đầu tư chứng khoán vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ (dưới 10%) trong tổng tài sản của ngân hàng. Hiện nay, danh mục chứng khoán mà BIDV đầu tư chủ yếu là các chứng khoán nợ như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị… Trong đó, đầu tư vào tín phiếu kho bạc và giấy tờ có giá ngắn hạn chiếm tỷ trọng dưới 6%.
Cùng với sự tăng nhanh về quy mô đầu tư chứng khoán thì thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán của BIDV cũng tăng lên đáng kể. Năm 2005 thu nhập là 523 tỷ đồng tăng 21,34% so với năm 2004, và quý I năm 2006 là 206,056 tỷ đồng. Tỷ suất đầu tư cũng tăng qua các năm: năm 2003 là 3,53% thì đến năm 2005 đạt 8,03%.
Góp vốn liên doanh, mua cổ phần:
BIDV thực hiện liên doanh mua cổ phần với các đối tác như NHTM cổ phần nhà Hà Nội (Habubank), NHTM cổ phần Phương Nam (PNB), Ngân hàng Lào Việt…
Năm 2005, BIDV đã mua góp vốn, mua cổ phiếu qua hình thức đấu giá vào một số công ty (như Công ty Thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh và Công ty thiết bị bưu điện POSTEF) và nhận được cổ tức trên các khoản đầu tư này. Tỷ lệ cổ tức bình quân năm 2005 là 9,8%.
Đầu tháng 1 năm 2006, BIDV đã liên doanh với đối tác uy tín của Hoa Kỳ là Vietnam Partner Holding thành lập công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tư BIDV-VN Partners.
Tháng 8/2006, NH ĐT&PT VN ký hợp đồng hợp tác thành lập ngân hàng liên doanh Việt – Nga, với tỷ lệ góp vốn phía Việt Nam là 51% và phía Nga là 49%.
Tuy nhiên, nhìn chung hoạt động đầu tư góp vốn liên doanh và mua cổ phần chưa đem lại hiệu quả cao, thể hiện qua việc tỷ lệ cổ tức/vốn góp rất thấp so với ROE, thấp hơn tỷ suất đầu tư chứng khoán. Chẳng hạn năm 2005, tỷ lệ cổ tức/vốn góp đạt 3,73% thì ROE = 9,8%, tỷ suất đầu tư chứng khoán đạt 8,03%.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
1.2. Hoàn thiện sản phẩm Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Mặc dù các thuộc tính cơ bản của một SPDV được xác định ngay từ khi hình thành SPDV, nhưng để duy trì phát triển, SPDV cần phải được bổ sung các thuộc tính mới. BIDV đã nhận thức được điều này và đã triển khai hoàn thiện sản phẩm trong suốt thời gian qua.
BIDV trước hết tập trung vào việc nâng cao chất lượng SPDV bằng việc hiện đại hóa công nghệ tăng cường thiết bị, phương tiện phục vụ khách hàng. Điều này thể hiện trước hết bằng tập trung nâng cấp hệ thống thanh toán.
Năm 2001, BIDV đã xây dựng quy trình thanh toán T5 để nâng cấp về kỹ thuật và quy trình. Mạng lưới thanh toán rộng khắp trong toàn quốc với đơn vị thanh toán. Các đơn vị tài khoản tiền gửi thanh toán tại Trung tâm thanh toán, nguồn vốn của chi nhánh chủ yếu tập trung tại Hội sở chính.
Năm 2002, BIDV đã tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước với 17 đơn vị trong hệ thống tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.
Năm 2003, BIDV đã triển khai phân hệ chuyển tiền thuộc dự án hiện đại hóa ngân hàng và hiện đại hóa hệ thống thanh toán. Các giao dịch chuyển tiền đến từ ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng trong nước được thực hiện online. Các giao dịch chuyển tiền ra ngoài hệ thống BIDV được thực hiện ngay trong ngày.
Năm 2004, BIDV đã nâng cấp chương trình thanh toán song bên cùng Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Năm 2005, để nâng cao tiện ích sử dụng cho khách hàng của sản phẩm thẻ, BIDV đã tiếp tục mở rộng mạng lưới ATM nâng tổng số máy lên hơn 200 máy trên tổng số 26 tỉnh thành phố.
Đến cuối năm 2006, BIDV sẽ lắp đặt thêm 300 máy rút tiền tự động ATM, đồng thời bắt đầu cùng một số ngân hàng liên minh (ICB, Agribank, Đông Á, Cổ phần Sài Gòn…) kết nối mạng Banknet vào tháng 11/2006 để có thể sử dụng được hệ thống máy ATM của nhau.
BIDV sử dụng các kênh phân phối hiện đại như các dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking): internet banking, mobile banking,.. bên cạnh việc mở rộng các chi nhánh truyền thống trong suốt thời gian qua đã giúp cho khách hàng tăng tiện lợi khi sử dụng sản phẩm của ngân hàng. Tháng 3/2006 vừa qua, BIDV đã chính thức trở thành đại lý của tập đoàn cung cấp dịch vụ chuyển tiền hàng đầu thế giới – Western Union. Hơn 200 chi nhánh của BIDV trên toàn quốc sẽ cung cấp dịch vụ chuyển tiền Western Union.
Bên cạnh việc hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khách hàng thì BIDV luôn quan tâm đầu tư để nâng cao uy tín của mình và sự tin cậy của khách hàng. Bằng chứng là trong ba năm gần đây, BIDV đã được các tổ chức như BVQI & Quacert công nhận đạt tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000. Trong năm 2006, BIDV đã chính thức hoàn tất việc đánh giá và xếp hạng tín nhiệm theo tiêu chuẩn quốc tế do tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín toàn cầu Moody’s thực hiện.
Năm 2006, Hiệp hội các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đã trao cúp “Ngọn hải đăng” cho BIDV để tôn vinh ngân hàng đã có đóng góp lớn vào việc phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cũng trong năm này tổng liên đoàn lao động, Hiệp hội các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Liên hiệp các hợp tác xã Việt Nam cũng đã trao cúp “Vì sự phát triển cộng đồng” nhằm tôn vinh sự tham gia đóng góp vào các hoạt động xã hội, các hoạt động nhân đạo vì cộng đồng của BIDV. Cũng trong năm này, BIDV đã được trao giải thưởng Sao Vàng Đất Việt cho sản phẩm: Trái phiếu tăng vốn BIDV.
1.3. Phát triển sản phẩm mới Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
BIDV rất quan tâm đến việc phát triển sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm ứng dụng công nghệ hiện đại như các sản phẩm ngân hàng điện tử.
Sản phẩm thẻ ATM:
BIDV là một trong những ngân hàng đầu tiên thử nghiệm và phát triển sản phẩm thẻ ở Việt Nam.
Năm 1999, BIDV bắt đầu thử nghiệm triển khai thực hiện thẻ tại Sở Giao Dịch I với đầu mối là trung tâm công nghệ thông tin phối hợp với Sở Giao Dịch I.
Năm 2000, trên cơ sở thí điểm thành công Sở Giao Dịch I, BIDV đã mở rộng triển khai dịch vụ trên địa bàn Hà Nội. Thời điểm này được phát hành cho các cán bộ nhân viên trong hệ thống BIDV.
Năm 2002, phòng thẻ ra đời chuyên trách về việc nghiên cứu phát triển dịch vụ thẻ trên toàn hệ thống.
Năm 2004, từ đây dịch vụ thẻ BIDV gây khó khăn nhưng đã đạt một số thành tựu sau: Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Phát hành thẻ ghi nợ tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, và thành phố lớn.
Phát hành thẻ ATM với 48 máy trên 7 tỉnh thành phố trọng điểm.
Năm 2005 đánh dấu bước ngoặt của việc phát triển sản phẩm thẻ với sự ra đời của sản phẩm thẻ mới như: Thẻ Vạn dặm, Thẻ Etrans+, Thẻ Power.
Thẻ Vạn Dặm là loại thẻ ghi nợ do BIDV phát hành cho khách hàng cá nhân, khách hàng gửi tiền vào tài khoản thanh toán/ tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn (CA/SA) của mình và rút tiền từ các máy ATM của BIDV trên toàn quốc.
Thẻ Etrans+ là thẻ ghi nợ do BIDV phát hành cho khách hàng cá nhân. Khách hàng có thể rút tiền từ hệ thống máy BIDV ATM trên toàn quốc từ tài khoản CA/SA của mình.
Sản phẩm thẻ mới Vạn Dặm và Etrans+, hai thương hiệu này đã được xây dựng trên cơ sở phân tích thị trường và dành cho những khách hàng chiến lược. Chỉ trong quý I của năm 2005, số lượng phát hành đã tương đương với cả năm 2004. Điều này chứng tỏ sự đánh trúng nhu cầu khách hàng.
Ngày 13/10/2005, BIDV cho ra đời sản phẩm thẻ ATM đặc biệt dành cho giới doanh nhân mang tên “Power”.
Thẻ Power là thẻ ATM với tính năng cho vay do BIDV phát hành cho khách hàng cá nhân; khách hàng nộp tiền vào tài khoản CA/SA và rút tiền tại các máy ATM trên toàn quốc; với tính năng thấu chi, tài khoản của khách hàng sẽ được thấu chi với tiền bằng hạn mức thấu chi.
Thẻ ATM Power được BIDV bổ sung thêm nhiều tính năng mới, theo đó khách hàng có thể tiêu dùng trước, chi trả sau; mức thấu chi tài khoản thẻ có thể lên đến 30 triệu.
Tham gia mở tài khoản với thẻ ATM Power, khách hàng sẽ được hưởng thêm nhiều ưu đãi đặc biệt. Đó là việc được hưởng miễn phí dịch vụ bảo hiểm “An nghiệp” trị giá 20 triệu đồng của Công ty Bảo hiểm Quốc tế Mỹ AIA trong năm đầu tiên phát hành. BIDV cũng sẽ cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng hoàn hảo bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào thông qua đường dây nóng, trang web và mạng tin nhắn 997.
Ngày 12/9/2006, hệ thống máy rút tiền tự động ATM của BIDV đã chính thức kết nối toàn cầu và thực hiện chấp nhận thanh toán các loại thẻ quốc tế mang thương hiệu Visa. Đến nay, sau hơn 3 năm triển khai dịch vụ thẻ, BIDV đã phát hành được 500.000 thẻ các loại, với mạng lưới 400 máy ATM.
Một số dịch vụ mới về ngân hàng điện tử ( E-banking):
Dịch vụ Smart@ccount
Ngày 03/10/2005, BIDV ra mắt dịch vụ BIDV-Smart@ccount, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp quản lý tài chính, thu và quản lý tiền qua hệ thống phân phối của mình.
BIDV-Smart@ccount là một gói dịch vụ mới về tiền gửi, chủ yếu dành cho các đối tượng khách hàng là doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn như bảo hiểm, viễn thông, điện lực, và các công ty có hệ thống phân phối rộng khắp cả nước.
Đây là gói dịch vụ cung cấp tài khoản tiền gửi cho khách hàng với ba tiện ích nổi trội: dịch vụ thu hộ, dịch vụ quản lý vốn tự động và cuối cùng là lãi suất phân tầng theo số dư.
Với gói dịch vụ thu hộ của Smart@ccount, doanh nghiệp sẽ không mất nhiều chi phí trong việc thu tiền và quản lý vốn. Dịch vụ này sẽ đặc biệt thích hợp với các doanh nghiệp có hệ thống đại lý khắp cả nước cần sử dụng tới dịch vụ thu hộ và quản lý vốn tự động.
Phí thu của dịch vụ được tính theo hàng tháng, căn cứ vào mức số dư tiền gửi duy trì tại BIDV, tối đa là 500.000 đồng và tối thiểu là 200.000 đồng/tháng.
Về lãi suất, khách hàng sẽ được hưởng lãi suất phân tầng theo số dư khi vốn được chuyển tự động về tài khoản chính của khách hàng. Với số dư dưới tỷ đồng, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất là 2,4%/năm và nếu tài khoản từ 3 – 10 tỷ đồng, doanh nghiệp sẽ được hưởng mức lãi suất là 2,45%/năm. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Trong khi đó, với tài khoản thông thường, không sử dụng dịch vụ Smart@ccount, tài khoản của khách hàng có 10 tỷ đồng cũng chỉ được hưởng mức lãi suất 2,4%/năm. Như vậy, so sánh giữa tài khoản thông thường và gói dịch vụ mới Smart@ccount, khách hàng đã có thể được lợi thêm 0.05% lãi suất trên mức chênh lệch giữa các tầng theo quy định.
Dịch vụ BIDV-Homebanking
Bắt đầu từ năm 2005, BIDV triển khai dịch vụ BIDV-Homebanking trước mắt áp dụng cho các doanh nghiệp. Đây là dịch vụ giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, mọi lúc mọi nơi. Từ máy tính của mình, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch sau với khách hàng:
Chuyển tải thông tin tới khách hàng kịp thời nhất:
Khách hàng có thể nắm bắt các thông tin về tình hình hoạt động của Ngân hàng cũng như các thông tin về sản phẩm, dịch vụ, các chính sách của khách hàng…
Vấn tin tài khoản tại chỗ:
Từ máy tính của mình, khách hàng có thể dễ dàng vấn tin chi tiết các tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền vay cũng như các trạng thái tài khoản tài trợ thương mại, in sao kê khai tài khoản tại bất cứ thời điểm nào trong ngày.
Chuyển tiền linh hoạt, nhanh chóng, chính xác:
Thủ tục chuyển tiền điện tử cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch chuyển tiền theo 3 bước: Soạn điện, duyệt điện và xác nhận điện. Tùy theo yêu cầu của khách hàng, thủ tục chuyển tiền có thể được rút gọn thành 2 bước: Soạn điện và xác nhận điện.
Kiểm soát các giao dịch hiệu quả nhất:
Chức năng xem báo cáo thống kê điện cung cấp các thông tin về các lệnh chuyển tiền (đang chờ duyệt, chờ xác nhận, chờ BIDV xử lý, đã được BIDV xử lý), các điện trao đổi thông tin với ngân hàng (đã gửi hoặc nhận về), báo cáo đối chiếu. Tất cả nằm trong tầm kiểm soát của khách hàng.
Dịch vụ tư vấn tin tài khoản qua điện thoại di động:
Dịch vụ này áp dụng cho những khách hàng là doanh nghiệp có tài khoản tại BIDV. Khách hàng có thể biết thông tin về tài khoản của mình tại BIDV và các thông tin ngân hàng khác qua hệ thống nhắn tin trên điện thoại di động. Đó là thông tin về tài khoản tiền gửi ngay sau khi được chính thức ghi Nợ hoặc ghi Có; thông tin về tỷ giá hối đoái hàng ngày hoặc hàng tuần; thông tin về lãi suất tiền gửi của BIDV.
2. Đánh giá chung tình hình phát triển sản phẩm tại BIDV Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
2.1. Kết quả đạt được
Đặt trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị xã hội toàn cầu và khu vực có nhiều biến động tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động ngân hàng, nhưng có thể khẳng định những năm gần đây BIDV tiếp tục đạt được những thành công quan trọng trên tất cả các bình diện nói chung và phát triển sản phẩm nói riêng, tạo bước chuyển mạnh mẽ theo cơ chế thị trường với các tiêu chí hoạt động tiệm cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Nguồn vốn huy động của BIDV tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Tổng tiền gửi của khách hàng năm 2005 tăng 29,3% so với năm 2004. Tiền gửi tiếp tục tăng nhanh, đặc biệt là trong năm 2005, là do BIDV đã năng động, sáng tạo trong việc chọn các giải pháp phát triển sản phẩm và cung ứng dịch vụ mang tính cạnh tranh cao, huy động tiền gửi linh hoạt, hấp dẫn và phù hợp với nhu cầu tiền gửi đa dạng của nền kinh tế: tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm “ổ trứng vàng”, tiết kiệm bậc thang, phát hành chứng chỉ tiền gửi dài hạn, thực hiện cung ứng các dịch vụ quản lý tiền tự động như Smart@ccount, dịch vụ Homebanking…Đồng thời, BIDV cũng đã chú trọng mở rộng mạng lưới một cách có lựa chọn ở các thị trường tiềm năng để tăng kênh huy động vốn và cung ứng các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, bán buôn cho khách hàng.
Để tăng tính ổn định của nguồn vốn huy động và giảm thiểu rủi ro kỳ hạn, BIDV đã tích cực duy trì tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn ở mức cao. Năm 2005, tỷ trọng tiền gửi trung, dài hạn đạt 48% tổng tiền gửi khách hàng.
BIDV cũng đã chú trọng giảm tỷ trọng cho vay trung, dài hạn, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn để đảm bảo từng bước cải thiện cơ cấu bảng tổng kết tài sản, thực hiện theo đúng lộ trình chiến lược kinh doanh dài hạn của ngân hàng. Tỷ trọng cho vay ngắn hạn chiếm 60% tổng cho vay thương mại, cho vay trung, dài hạn chỉ chiếm 40%.
Có thể nói, các cơ cấu lớn của BIDV đã có bước chuyển biến tích cực. Nguồn vốn huy động ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn. Qua các năm, cơ cấu nguồn vốn của BIDV luôn được điều chỉnh để phù hợp hơn với cơ cấu tín dụng, tăng tỷ trọng đầu tư/tổng tài sản và giảm tỷ trọng tín dụng/tổng tài sản. Hoạt động đầu tư đã dần khẳng định vị trí trong hoạt động kinh doanh. Giá trị đầu tư góp vốn liên doanh năm 2005 đã tăng 33% so với năm 2004, đạt mức gần 30 triệu USD.
Hoạt động tín dụng đã được kiểm soát chặt chẽ, gắn tăng trưởng với chất lượng và đảm bảo an toàn. Cơ cấu tín dụng được chuyển biến căn bản từ hoạt động chính sách (cho vay theo Kế hoạch Nhà nước) là chủ yếu sang cho vay thương mại (đến 31/12/2005, dư nợ cho vay thương mại chiếm 88% tổng dư nợ); giảm tỷ trọng cho vay trung, dài hạn từ 53% năm 2001 trên tổng dư nợ xuống còn 42% năm 2005; đối tượng khách hàng trong lĩnh vực tín dụng được đa dạng (dư nợ cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng từ 22% lên 48%); nợ cho vay xây lắp đã giảm xuống còn 25,9% năm 2005.
Đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ, BIDV đã rất tích cực đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh tự doanh (trading) vừa nhằm mục tiêu lợi nhuận, vừa là kênh tạo nguồn thanh khoản. Là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, trong những năm gần đây BIDV là một trong số ít ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trên thị trường ngoại hối, vốn, trái phiếu và thị trường tiền tệ của Việt Nam:
Đối với thị trường ngoại hối trong nước, BIDV có vai trò đáng kể. Tổng doanh số giao dịch ngoại hối của BIDV trong năm 2005 chiếm gần 20% tổng doanh số giao dịch của thị trường, là ngân hàng có doanh số lớn thứ 2 tại Việt Nam. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV tập trung phục vụ nhu cầu của khách hàng, tuân thủ các quy định của NHNN về trạng thái ngoại hối trên cơ sở đối ứng back-to-back trạng thái phát sinh với các đối tác.
Đối với hoạt động trên thị trường tiền tệ, chủ yếu tập trung quản lý nguồn vốn của ngân hàng (banking book) nhằm phục vụ thanh khoản, tuân thủ các quy định về các giới hạn an toàn của NHNN, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả của các dòng vốn nhàn rỗi. Với nguồn vốn dồi dào và uy tín trên thị trường, BIDV hiện là đối tác giao dịch với hầu hết các TCTD có mặt tại thị trường Việt Nam, bao gồm các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng cổ phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các công ty tài chính….
BIDV cũng tích cực đầu tư trái phiếu chính phủ, nâng tỷ trọng đầu tư năm 2005 thêm 1% so với năm 2004, đạt 7% trên tổng tài sản. Tài sản này tạo nguồn dự trữ thứ cấp, đáp ứng nhu cầu thanh khoản toàn ngành, cơ cấu lại tài sản có sinh lời theo hướng tích cực, tăng hiệu quả trong đầu tư kinh doanh, đồng thời đem lại hiệu quả trong kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
BIDV là một trong những ngân hàng đi đầu tại thị trường Việt Nam trong việc phát triển các sản phẩm phái sinh. BIDV là một trong những ngân hàng thương mại đầu tiên tại thị trường Việt Nam được NHNN cấp phép thực hiện các sản phẩm như quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại tệ (foreign currency Option), quyền chọn giữa ngoại tệ và VND (foreign currency and VND Option), sản phẩm tiền gửi cơ cấu (dual currency deposit). Trong thời gian tới, BIDV cũng đang xúc tiến triển khai thực hiện các sản phẩm phái sinh trên nhiều lĩnh vực như giao dịch hàng hóa tương lai (commodity futures), các sản phẩm cơ cấu (structure products), hoán đổi lãi suất (interest rate swap)…
BIDV cũng là ngân hàng hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực quản lý tài sản (asset management). Với uy tín và chất lượng hoạt động của mình, BIDV đang thực hiện quản lý lượng tài sản trị giá trên 700 triệu USD từ nguồn phát hành trái phiếu Chính phủ Việt Nam tại thị trường New York.
Trong những năm qua, BIDV cũng đã phát triển mạnh mẽ hiện đại hóa công nghệ. Kết thúc năm 2005, BIDV đã cơ bản triển khai xong Dự án Hiện đại hóa giai đoạn I. Như vậy, BIDV đã hình thành nền móng công nghệ cơ bản, cốt lõi cho một ngân hàng hiện đại đa năng, để phát triển các SPDV có hàm lượng công nghệ cao, tiến tới trình độ của các ngân hàng trong khu vực. Việc triển khai thành công dự án hiện đại hóa là một cuộc cách mạng trong hoạt động của BIDV, một mặt đã góp phần nâng cao số lượng SPDV, năng suất và chất lượng phục vụ khách hàng, qua đó đã nâng cao khả năng cạnh tranh của BIDV. Mặt khác nó làm thay đổi tập quán, thói quen, là bước chuyển quan trọng từ bán thủ công sang hiện đại, từ phân tán sang tập trung với việc xử lý giao dịch trực tuyến, tăng cường tính tự động hóa và hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát.
Với sự quyết tâm của toàn hệ thống, dịch vụ BIDV trong những năm qua đã có nhiều khởi sắc, phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, đánh dấu bước phát triển mới của Ngân hàng trên lĩnh vực hoạt động dịch vụ. Chỉ tiêu thu dịch vụ ròng năm 2005 tăng mạnh so với năm 2004, nhiều sản phẩm mới ra đời với chất lượng cao hơn và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Bên cạnh những sản phẩm, dịch vụ truyền thống như thanh toán, bảo lãnh ngân quỹ, kinh doanh tiền tệ… BIDV đã chú trọng quan tâm nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ mới như dịch vụ thẻ, sản phẩm BIDV-Smart@ccount, BIDV-Homebanking…Hoạt động dịch vụ BIDV trong năm 2005 có tốc độ tăng trưởng cao đạt 36,5% (trong khi đó mức độ tăng trưởng dịch vụ của BIDV trong năm 2003 chỉ đạt khoảng 20%).
Đặc biệt năm 2005 là năm đánh dấu những bước tiến lớn về hoạt động marketing sản phẩm, dịch vụ BIDV. Bên cạnh những khách hàng là những doanh nghiệp lớn, các Tổng công ty thì đối tượng khách hàng của BIDV cũng mở rộng đến các khách hàng cá nhân và các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, thương hiệu BIDV đã từng bước đi vào đông đảo công chúng người dân Việt Nam và bước đầu được giới thiệu ra thị trường quốc tế.
BIDV đã dần nâng cao độ tín nhiệm, từng bước khẳng định vị trí, vai trò của BIDV trên thương trường trong và ngoài nước như: thương hiệu BIDV đạt giải thưởng Sao Vàng Đất Việt và được chứng nhận đăng ký và bảo hộ tại Mỹ, là ngân hàng duy nhất được lựa chọn phục vụ quản lý nguồn vốn phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ và là Ngân hàng được Hiệp hội các định chế tài chính phát triển châu Á – Thái Bình Dương (ADFIAP) trao tặng hai giải thưởng về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và phát triển kinh tế địa phương. Năm 2005 cũng đánh dấu những nỗ lực đa dạng hóa hoạt động, mở rộng sang các lĩnh vực tài chính phi Ngân hàng của BIDV, với việc mua lại phần vốn góp của QBE để thành lập Công ty bảo hiểm phi nhân thọ 100% vốn BIDV, thành lập Công ty liên doanh quản lý đầu tư với đối tác uy tín của Hoa Kỳ và Công ty liên doanh tháp BIDV với một đối tác của Singapore.
2.2. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong phát triển sản phẩm tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
2.2.1. Những hạn chế
Cơ cấu sản phẩm chưa hợp lý, các sản phẩm tạo ra sự khác biệt và tính cạnh tranh thấp:
Mặc dù cho đến nay, cơ cấu sản phẩm của BIDV cung cấp đã trải rộng từ các sản phẩm tiền gửi, cho vay, đầu tư tài chính, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán… cung cấp gần như đầy đủ các nhu cầu cơ bản của khách hàng. Nhưng có thể thấy rằng ngân hàng phần lớn còn tập trung vào các sản phẩm truyền thống, các sản phẩm khác cung ứng không hiệu quả và mang tính hình thức. Hãy nhìn vào bảng 2 để thấy rằng thu nhập từ các sản phẩm tín dụng là chủ yếu, trong khi đó các SPDV khác thu nhập thấp và chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu thu nhập. Điều này chứng tỏ cơ cấu sản phẩm truyền thống là chủ yếu, xu thế chuyển dịch sang cơ cấu sản phẩm phi tín dụng còn chậm.
Cơ cấu sản phẩm hợp lý là cơ cấu mà tỷ trọng các sản phẩm truyền thống giảm dần, các SPDV ngân hàng hiện đại tăng dần lên. Điều này là tất yếu bởi vì khi tham gia vào WTO, các ngân hàng nước ngoài rất mạnh về cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Mặt khác, cạnh tranh chủ yếu bằng các sản phẩm truyền thống như tín dụng là rất rủi ro.
Mặc dù tập trung vào các sản phẩm truyền thống, nhưng các sản phẩm truyền thống còn khá đơn điệu, chưa phong phú đa dạng, sự khác biệt, tính cạnh tranh còn thấp.
Do cùng quy mô và địa bàn hoạt động, có thể so sánh BIDV với Techcombank thì thấy rằng các sản phẩm huy động vốn của BIDV còn khá nghèo nàn.
Bảng: Các sản phẩm tiền gửi của Ngân hàng Techcombank và BIDV
Các sản phẩm tín dụng cũng vậy, còn khá đơn giản. Các sản phẩm cho vay với mục đích tiêu dùng, mua cổ phần trả góp….ít được thực hiện mặc dù những nhu cầu này càng tăng trong xã hội. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Có thể nói, đối với các sản phẩm truyền thống, do đều đáp ứng các nhu cầu giống nhau, nên để cạnh tranh được thì phải tạo được sự khác biệt cho các sản phẩm của mình.
Các ngân hàng như Techcombank, EAB… đã tạo ra sự khác biệt bằng cách chia sản phẩm tiền gửi hoặc sản phẩm cho vay thành các sản phẩm đáp ứng những nhu cầu rất cụ thể, chi tiết; tạo sự khác biệt từ tên gọi sản phẩm như “ Tiết kiệm phát lộc”, Tiết kiệm định kỳ “Vì tương lai – An sinh” (của
Ngân hàng Techcombank); Tiết kiệm đảm bảo bằng USD (của VPBank)…Điều này thể hiện việc ứng dụng rất sâu sắc lý luận các cấp độ sản phẩm ngân hàng. Trong khi đó các sản phẩm của BIDV mới chỉ có một vài sản phẩm được chi tiết hóa, cụ thể nhu cầu (như tiết kiệm “ổ trứng vàng”, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng), còn chủ yếu chỉ dừng lại ở việc đáp ứng các nhu cầu rất chung chung như: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn.
Mức độ đáp ứng nhu cầu của các sản phẩm còn nhiều bất cập, việc hoàn thiện và phát triển sản phẩm còn nhiều hạn chế:
Mức độ đáp ứng nhu cầu không đều giữa các vùng, miền, giữa các chi nhánh, giữa các cán bộ nhân viên… Điều này thể hiện ở các thành phố lớn hoặc đô thị việc đáp ứng các nhu cầu thường tốt hơn ở các chi nhánh ở vùng nông thông; các chi nhánh cùng một địa bàn, các cán bộ nhân viên cũng đáp ứng nhu cầu của khách hàng rất khác nhau và khá chênh lệch.
Lãi suất tiết kiệm tuy có được điều chỉnh, song thường chậm hơn so với sự thay đổi của giá cả thị trường, nhiều lúc lãi suất tiết kiệm thấp hơn tỷ lệ trượt giá.
Việc đưa ra các sản phẩm theo kịp sự phát triển nhu cầu của khách hàng còn chậm, hết sức dè dặt. Chất lượng các sản phẩm truyền thống còn chưa tốt trong khi các sản phẩm mới đang thử nghiệm chưa triển khai rộng.
Hiện nay nền tảng công nghệ thông tin nói riêng và công nghệ ngân hàng nói chung của BIDV vẫn còn nhiều bất cập đã gây hạn chế cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển sản phẩm mới cho ngân hàng. Chẳng hạn như việc sử dụng thẻ ATM của BIDV còn nhiều hạn chế cho khách hàng như khách hàng chỉ có thể rút tiền mà không thể gửi tiền qua máy, máy thường xuyên bị lỗi. Sự đồng cảm, tinh thần trách nhiệm cao, luôn tận tụy với khách hàng, hiểu biết tâm lý, đáp ứng nhu cầu của khách hàng của cán bộ công nhân viên ngân hàng còn nhiều bất cập. Điều này thậm chí gây phản cảm đối với khách hàng và dường như khách hàng chưa thoát khỏi tâm lý cho rằng tâm lý làm việc “bao cấp”, thiếu chuyên nghiệp vẫn tồn tại ở phần lớn các nhân viên ngân hàng, đặc biệt là các chi nhánh ở vùng nông thôn.
Việc hoàn thiện sản phẩm và phát triển sản phẩm mới chưa được chú trọng một cách đúng mực, mới chỉ dừng lại ở việc đối phó, đi sau trong sự cạnh tranh với các ngân hàng khác. Điều này thể hiện ngay trong các sản phẩm của BIDV thì tính khác biệt đã thua kém so với các ngân hàng thương mại khác. Hãy nhìn vào bảng dưới đây để có thể thấy được điều đó:
Bảng: Các sản phẩm tín dụng cá nhân của BIDV và Techcombank Các sản phẩm tín dụng cá nhân
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
2.2.2.1. Nguyên nhân khách quan
Về luật pháp và cơ chế quản lý của Nhà nước
Hoạt động ngân hàng kinh doanh trong môi trường pháp lý quản lý chặt chẽ của Nhà nước, bởi vậy nếu hệ thống luật pháp không tiến bộ nhiều khi kìm hãm sự phát triển của các ngân hàng. Mặc dù vậy, cho đến nay hệ thống pháp luật về ngân hàng vẫn chưa được hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời chậm đổi mới, hoàn thiện so với yêu cầu phát triển kỹ thuật công nghệ hiện đại và triển khai rộng rãi các sản phẩm ngân hàng hiện đại.
Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức Tín dụng, Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản… còn nhiều điểm chưa thuận lợi cho hoạt động của NHNN và các tổ chức tín dụng trong cơ chế thị trường. Luật Giao dịch Điện tử chậm được ban hành đã hạn chế sự phát triển của thương mại điện tử, dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking). Luật Kế toán (2003) chậm hướng dẫn triển khai và còn bất cập so với yêu cầu quản trị ngân hàng theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế.
Cơ chế quản lý, đặc biệt cơ chế tài chính lao động của Nhà nước còn mang tính phân biệt đối xử giữa các loại hình TCTD thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Can thiệp hành chính của các cấp chính quyền đến hoạt động kinh doanh của các TCTD còn tồn tại đã hạn chế quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các TCTD và cạnh tranh bình đẳng trong hệ thống ngân hàng. Một số dịch vụ ngân hàng phổ biến trên thị trường quốc tế dự kiến sẽ được phát triển ở Việt Nam theo hiệp định thương mại Việt – Mỹ và sau khi gia nhập WTO chưa được thể chế hóa cụ thể.
Cơ chế quản lý, giám sát hoạt động ngân hàng chưa theo kịp tiến trình hiện đại hóa ngân hàng và chưa phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa đánh giá đúng và đầy đủ về những yêu cầu đối với môi trường pháp lý, điều kiện hoạt động… để khuyến khích và bảo đảm sự phát triển an toàn, hiệu quả của hệ thống ngân hàng, do đó chưa có chiến lược và giải pháp hỗ trợ phát triển dịch vụ ngân hàng một cách có hệ thống. Việc quản lý hành chính đối với doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn nặng nề, cải cách hành chính còn chậm và nhiều bất cập.
Về môi trường kinh tế – xã hội – văn hóa
Mặc dù nhiều năm trở lại đây, nước ta luôn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng nhìn chung trình độ phát triển nền kinh tế nước ta còn thấp, môi trường kinh tế còn nhiều khó khăn. Điều này hạn chế khả năng cung ứng và nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
Nói chung, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, thu nhập bình quân đầu người chưa thoát khỏi những nước có thu nhập thấp. Năm 2005, GDP ước đạt 50 tỷ USD và bình quân đầu người đạt trên 600 USD/năm, còn rất thấp so với các nước phát triển trong khu vực.
Cộng đồng doanh nghiệp phát triển chậm, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp lớn phổ biến là các doanh nghiệp quốc doanh thì còn nặng cơ chế bao cấp, chưa làm ăn hiệu quả. Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp tiến hành chậm chạp đã cản trở sức sản xuất của các doanh nghiệp này. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Thói quen sản xuất nhỏ, tâm lý sử dụng tiền mặt của đa số nhân dân, chưa quen sử dụng các SPNH, niềm tin vào sự hoạt động của các ngân hàng phần nào đã hạn chế sự phát triển các SPNH.
Về thị trường tài chính trong nước
Thị trường tài chính của nước ta đang còn ở giai đoạn phát triển sơ khai. Thị trường chứng khoán ra đời với sự thành lập của Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (tháng 7/2000), sau 6 năm hoạt động thì hàng hóa của thị trường còn rất ít, chất lượng chưa cao. Sự phát triển còn yếu kém của thị trường chứng khoán đã không đáp ứng được nhu cầu về vốn dài hạn của nền kinh tế, điều này gây áp lực cho ngân hàng phát triển kém bền vững. Điều này cũng làm cho các sản phẩm đầu tư tài chính của các ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế nói chung còn nghèo nàn, chưa phát triển.
Thị trường tiền tệ phát triển còn nhiều yếu kém, bất cập, mối quan hệ giữa các bộ phận của thị trường tài chính còn rời rạc, càng góp phần vào sự nghèo nàn, đơn điệu các SPNH.
Về khoa học công nghệ
Hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông quốc gia còn rất nhiều bất cập phân tán, nhỏ lẻ và thiếu đồng bộ. Hạ tầng công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán chưa đạt đến trình độ tiên tiến để hỗ trợ cho quá trình phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, còn khoảng cách xa và có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
Các nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin và viễn thông trong nước chưa đủ khả năng cung cấp các dịch vụ, giải pháp công nghệ tiên tiến để hỗ trợ cho ngành ngân hàng triển khai các dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Hệ thống công nghệ thông tin chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến trình độ phát triển không đồng đều, không tương thích về giải pháp công nghệ giữa các TCTD. Mức độ tự động hóa các giao dịch ngân hàng còn thấp, nhiều quy trình, nghiệp vụ ngân hàng còn xây dựng trên nền tảng xử lý thủ công chưa được tự động hóa.
Hệ thống thanh toán quốc gia và hệ thống thanh toán trong nội bộ các ngân hàng thương mại chưa được hiện đại hóa đồng bộ và còn nhiều bất cập. Khả năng kết nối mạng cục bộ của ngân hàng với mạng thanh toán quốc gia và của các ngân hàng còn nhiều khó khăn do trình độ công nghệ thông tin của các ngân hàng không đồng đều, mật độ cơ sở cung cấp dịch vụ ngân hàng còn mỏng và hạ tầng viễn thông quốc gia còn yếu kém.
2.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
Tiềm lực vốn của ngân hàng còn nhỏ bé
Để có thể mở rộng quy mô hoạt động cũng như phát triển các SPNH thì phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tài chính của ngân hàng. BIDV mặc dù đã có nhiều cải thiện nhưng năng lực tài chính hiện nay còn yếu kém và mức độ rủi ro hoạt động ngân hàng còn cao. Đó là chất lượng tài sản còn thấp, tỷ lệ nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế còn cao, vốn tự có nhỏ so với quy mô hoạt động, khả năng tăng vốn tự có gặp nhiều khó khăn.
Cho đến cuối năm 2005, vốn tự có của BIDV là 3746,3 tỷ đồng, hệ số an toàn vốn (CAR) còn thấp, mới đạt 6,2% (tiêu chuẩn quốc tế là 8%), thậm chí có nguy cơ càng xấu đi do tốc độ tăng tài sản nhanh hơn tốc độ tăng vốn tự có.
Nếu phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu cao (năm 2004 theo tiêu chuẩn quốc tế là 33,13%, trong khi đó theo tiêu chuẩn của Việt Nam chỉ có 4,65%), tỷ lệ trích dự phòng rủi ro/nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế là 21,61%, còn theo tiêu chuẩn Việt Nam là 65,73%. Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp nhà nước lớn trong khi năng lực tài chính của các doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém.
Quản trị ngân hàng còn nhiều bất cập so với yêu cầu
Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, bất hợp lý. Ngân hàng chưa áp dụng triệt để các nguyên tắc và thông lệ về quản trị ngân hàng, đặc biệt chưa thiết lập được hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Các giải pháp quy định từ Hội sở chính đề ra thì khi về các chi nhánh thực hiện chưa tốt theo đúng tinh thần của Ban Tổng Giám Đốc, phần nào do việc kiểm tra, kiểm soát chưa chặt chẽ.
Cơ chế bao cấp vẫn phần nào còn tồn tại ở một số cán bộ, đặc biệt ở các chi nhánh vùng nông thôn. Chính sách tuyển dụng, phân phối thu nhập chưa thực sự hợp lý, chưa thực sự động viên, khuyến khích và thu hút được những cán bộ giỏi, cán bộ tâm huyết với ngân hàng.
Sản phẩm ngân hàng còn đơn điệu, nghèo nàn
Cho đến nay, sản phẩm của BIDV còn đơn điệu, nghèo nàn phần nào do ngân hàng chưa có một chiến lược phát triển sản phẩm đúng đắn. Phần nào còn do chủ quan chưa chú trọng tập trung hành động theo quan điểm Marketing ở toàn hệ thống.
Trong cán bộ quản lý và nhân viên chưa thay đổi theo tư duy quản lý danh mục sản phẩm. Việc thiết kế và bán các SPDV mới chưa được triển khai một cách khoa học và chưa có tính chiến lược dài hạn. Chất lượng các sản phẩm dịch vụ kể cả các sản phẩm đòi hỏi hàm lượng công nghệ vẫn chưa cao.
Cơ sở vật chất, công nghệ thông tin ngân hàng
Do phát triển mạng lưới chi nhánh quá nhanh nên việc phát triển cơ sở vật chất còn chưa đồng bộ, công nghệ thông tin còn lạc hậu so với quốc tế. Hệ thống phân phối chưa được phát triển hợp lý. Hình thức phân phối chủ yếu là truyền thống phổ biến dưới hình thức chi nhánh. Các kênh phân phối hiện đại như: Internet, Phonebanking, ngân hàng tự động… ở giai đoạn thử nghiệm và chưa phổ biến.
Trình độ cán bộ của BIDV còn bất cập
Mặc dù BIDV đã liên tục đào tạo cán bộ, nhưng nói chung trình độ nhân viên trong hệ thống còn nhiều bất cập so với yêu cầu kinh doanh theo cơ chế thị trường và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng. Tính tự giác trong công việc còn thấp, tinh thần trách nhiệm và tính xây dựng còn chưa cao. Khả năng thích ứng với những SPDV mới và công nghệ mới còn chưa nhanh.
Chiến lược marketing nói chung và đặc biệt chiến lược sản phẩm nói riêng còn nhiều bất cập, tổ chức thực hiện các chiến lược này thiếu hiệu quả
Điều này thể hiện các sản phẩm của BIDV có tính cạnh tranh và sự khác biệt thấp, việc hoàn thiện sản phẩm và phát triển mới chưa đáp ứng được nhu cầu như đã phân tích ở trên, đặc biệt các chiến lược Marketing thiếu hiệu quả đi sau các ngân hàng khác. Điều này bắt nguồn từ việc hoạch định chiến lược và tổ chức thực hiện thiếu hiệu quả. Chiến lược Marketing chưa được coi trọng đúng mức trong hệ thống chiến lược kinh doanh của ngân hàng, từ đó dẫn tới chiến lược sản phẩm thiếu tính cạnh tranh. Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Biện pháp phát triển sản phẩm tại Ngân hàng BIDV

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV