Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Các giải pháp vi mô nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực nội tại của các NHTM Việt Nam
1. Xây dựng chiến lược kinh doanh cụ thể và dài hạn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở điều tra, nghiên cứu thị trường một cách khoa học, toàn diện và chi tiết
Hoạt động kinh doanh của các NHTM chỉ có thể đạt được hiệu quả tối đa trên cơ sở một chiến lược kinh doanh cụ thể, rõ ràng và dài hạn. Để xây dựng được một chiến lược kinh doanh như vậy, trước hết các nhà hoạch định chính sách phải có được những thông tin đầy đủ, chính xác về thị trường, về khách hàng và về đối thủ cạnh tranh trên cơ sở thực hiện nghiên cứu thị trường một cách khoa học, bài bản và chi tiết. Như đã nghiên cứu ở chương II, hiện nay hầu hết các NHTM Việt Nam đều thực hiện nghiên cứu thị trường thị trường một cách mơ hồ, chung chung, thiếu cơ sở với những thông tin số liệu nhiều khi vẫn còn manh mún, thiếu nhất quán và độ tin cậy không cao. Hệ quả của cách thức nghiên cứu thị trường như vậy là những chính sách, chiến lược kinh doanh có phần tự phát, không có định hướng, dẫn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nhiều khi còn dàn trải, kém hiệu quả, gây lãng phí các nguồn lực do tập trung quá mức vào khai thác những phân đoạn thị trường không phải là thế mạnh trong khi vẫn có những mảng thị trường giàu tiềm năng bị bỏ ngỏ. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Tuy nhiên, việc nghiên cứu thị trường một cách khoa học, bài bản và chi tiết là vấn đề không hề đơn giản, đòi hỏi nhiều thời gian, chi phí với những kỹ thuật điều tra, chọn mẫu, phân tích phức tạp, nhất là khi các ngân hàng lại tiến hành nghiên cứu một cách riêng lẻ, độc lập. Vì vậy, việc các ngân hàng trong nước có thể phối hợp với nhau tiến hành việc nghiên cứu thị trường chung về những vấn đề cơ bản về cầu, về khách hàng, về khả năng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các ngân hàng nước ngoài là một biện pháp tương đối hiệu quả đối với các NHTM Việt Nam. Việc tiến hành nghiên cứu thị trường chung có thể thực hiện thông qua một ban độc lập chuyên môn hoá nghiên cứu thị trường thuộc Hiệp hội ngân hàng, với sự tư vấn của các chuyên gia có uy tín trong và ngoài nước trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường cũng như lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Các ngân hàng cũng có thể cử các chuyên viên nghiên cứu thị trường riêng của mình tham gia vào ban này, vừa để thu thập và nghiên cứu thông tin, vừa học hỏi kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực này.
Việc nghiên cứu thị trường như vậy vừa giúp các ngân hàng tiết kiệm được nhiều chi phí, tránh láng phí các nguồn lực lại vừa có được những cơ sở vững chắc, đáng tin cậy để hoạch định chính sách, chiến lược kinh doanh vì thông tin số liệu được thu thập mang độ chính xác, độ nhất quán và có tính hệ thống cao, lại được phân tích, đánh giá một cách toàn diện, khoa học và bài bản bởi một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm. Tất nhiên mỗi ngân hàng, tuỳ theo định hướng phát triển và nguồn lực hiện có của mình mà có thể chỉ tập trung nghiên cứu một hay một vài mảng thị trường cụ thể. Như vậy mỗi ngân hàng có thể sẽ lựa chọn những kết quả nghiên cứu thị trường nhất định phù hợp với chiến lược phát triển của mình và trên cơ sở các kết quả đó cộng với tiềm lực, thế mạnh của mình xác định được chỗ đứng trên thị trường, xây dựng một tầm nhìn và kế hoạch kinh doanh phù hợp một cách có hệ thống, có trọng tâm trọng điểm, cụ thể và dài hạn thay vì những chiến lược kinh doanh thiếu bài bản, manh mún và tự phát như hiện nay.
Việc xây dựng những chiến lược kinh doanh dài hạn, khoa học và bài bản của các NHTM Việt Nam nên được phối hợp đồng bộ với những chính sách khác như chính sách đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ và chính sách Marketing nhằm tăng cường quảng bá hình ảnh và uy tín của các ngân hàng đối với các khách hàng trong và ngoài nước. Một trong những chính sách quảng bá hình ảnh, uy tín có hiệu quả và tác dụng to lớn của các ngân hàng hiện nay là tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, các hoạt động văn hoá thể thao, chẳng hạn như việc tham gia ủng hộ đồng bào bị bão lụt, ủng hộ các quỹ vì người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt, người tàn tật; tài trợ các giải đấu thể thao (như việc các ngân hàng Agribank, SHB là nhà tài trợ chính thức cho 2 giải bóng đá quốc tế có uy tín trong tháng 10/2006 tại Việt Nam); tài trợ phát sóng các chương trình truyền hình (chẳng hạn VIB tài trợ phát sóng chương trình “ở nhà chủ nhật” trên kênh VTV3, Techcombank tài trợ phát sóng “Bản tin tài chính” và VPBank tài trợ phát sóng “Bản tin kinh tế thị trường” trên kênh VTV1 hàng ngày, Vietcombank tài trợ phát sóng chương trình “Thị trường chứng khoán” trên kênh VTC1); tổ chức hoặc tài trợ tổ chức các hoạt động văn hoá, nghệ thuật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tăng cường năng lực tài chính Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Như đã phân tích trong chương II, năng lực, sức mạnh tài chính của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế lĩnh vực ngân hàng hiện nay là rất hạn chế, biểu hiện cụ thể ở thực trạng quy mô vốn tự có nhỏ bé so với các NHTM trong khu vực và trên thế giới, tỷ lệ an toàn vốn hầu như vẫn còn dưới chuẩn mực quốc gia và quốc tế, chất lượng tài sản thấp. Năng lực tài chính thấp của các NHTM Việt Nam không chỉ hạn chế hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng chống đỡ các cú sốc trong môi trường kinh doanh của các ngân hàng mà còn làm giảm năng lực cạnh tranh của từng ngân hàng và toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam với các NHTM nước ngoài khi lĩnh vực tài chính, ngân hàng từng bước được mở cửa, tự do hoá. Vì vậy, nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam một cách toàn diện là một giải pháp tiên quyết để năng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong bối cảnh hội nhập.
Việc nâng cao năng lực, sức mạnh tài chính trước hết thông qua việc không ngừng nâng cao vốn điều lệ, vốn tự có của các NHTM. Về phía các NHTM nhà nước, việc bổ sung vốn điều lệ có thể xuất phát từ bản thân các ngân hàng này hoặc có thể nhờ sự hỗ trợ của NHNN hay của Chính phủ. Để chủ động tạo nguồn bổ sung vốn điều lệ, các NHTM nhà nước phải nỗ lực tăng cường hiệu quả hoạt động song song với tiết kiệm tối đa chi phí để đạt mức lợi nhuận cao, trên cơ sở đó tăng mức tích luỹ, tạo nguồn bổ sung vốn điều lệ ngày một lớn hơn. Tuy vậy có thể nhận ra một điều là việc tích luỹ lợi nhuận để tạo nguồn bổ sung vốn điều lệ đòi hỏi một thời gian tương đối dài và nỗ lực rất lớn của các ngân hàng này. Bên cạnh đó, trước mắt các ngân hàng này cần có sự hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp của NHNN và của chính phủ trong việc tạo ra các nguồn bổ sung vốn điều lệ khác. Sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước thể hiện thông qua việc Chính phủ tiếp tục cấp vốn bổ sung vốn điều lệ cho các NHTM nhà nước bằng nguồn trái phiếu đặc biệt của Chính phủ. Tuy nhiên như đã phân tích chương II giải pháp này chỉ mang tính trước mắt và có giới hạn do bản thân nguồn lực của Chính phủ cũng có hạn, mặt khác trái phiếu đặc biệt chỉ là nguồn vốn bổ sung mạng tính hình thức chứ không làm tăng năng lực tài chính thật sự của các NHTM nhà nước. Sự hỗ trợ gián tiếp của nhà nước thể hiện ở các chính sách khuyến khích các NHTM nhà nước chủ động thu hồi các khoản nợ đã khoanh để bổ sung vốn tự có; cho phép các ngân hàng tăng vốn bằng cách bán cổ phần ưu đãi (không tham gia quản lý) cho cán bộ công nhân viên với cổ tức cao hơn tiền gửi tiết kiệm; giữ lại phần thu thuế sử dụng vốn phải nộp cho Nhà nước; chuyển phần vốn vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) theo chương trình tái cơ cấu các NHTM nhà nước và cho phép các ngân hàng này không phải nộp thuế sử dụng vốn hàng năm để các ngân hàng dùng khoản thuế đó hoàn trả khoản vay theo điều kiện của WB và IMF. Tuy nhiên về lâu dài, các NHTM nhà nước không nên trông chờ vào sự hỗ trợ của NHNN và Chính phủ, bởi vì bất kì sự hỗ trợ nào dù là trực tiếp hay gián tiếp của NHNN hay của Chính phủ ít nhiều đều là những hình thức bao cấp, bảo hộ đối với các ngân hàng này. Việc bảo hộ, bao cấp như vậy một mặt làm các nguồn lực của Nhà nước vốn đã hạn chế lại càng thêm khó khăn, một mặt làm tăng tính lệ thuộc, ỷ lại và làm giảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và sức mạnh nội tại của các NHTM – vốn giữ vai trò đầu tàu trong hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay. Không những vậy, những hình thức bao cấp, bảo hộ như vậy sẽ không tồn tại lâu dài và dần bị xoá bỏ để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, công bằng cho các NHTM hoạt động trên thị trường Việt Nam theo các cam kết mở cửa thị trường tài chính, ngân hàng mà chính phủ Việt Nam đã thoả thuận với các nước, các khu vực và tổ chức quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Biện pháp thật sự hiệu quả và quan trọng nhất hiện nay nhằm nâng cao quy mô vốn điều lệ và năng lực tài chính của các NHTM nhà nước chính là biện pháp cổ phần hoá (CPH) các NHTM nhà nước. Đây là một giải pháp nhận được nhiều ý kiến ủng hộ từ phía các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng trong và ngoài nước cũng như sự đồng tình của dư luận. Đó cũng chính là một giải pháp mà nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng đế tái cơ cấu hệ thống NHTM nhà nước trước khi mở cửa hội nhập lĩnh vực tài chính ngân hàng của mình, và thực tế kết quả mà nó mang lại không chỉ là việc quy mô vốn điều lệ và sức mạnh tài chính của các ngân hàng được tăng cường, mà bên cạnh đó cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý điều hành và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng được cải thiện một cách rõ rệt.
Về mặt nguyên tắc, CPH các NHTMNN cũng tương tự như CPH các DNNN khác. CPH các DNNN là một giải pháp cải cách rất triệt để các DNNN mà không làm thay đổi tính chất và định hướng phát triển kinh tế của đất nước. Vấn đề lớn nhất trong việc CPH các DNNN là đảm bảo nguyên tắc quyền lực chi phối của Nhà nước đối với các DN hoạt động trong những lĩnh vực then chốt, có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Trong lĩnh vực ngân hàng cũng vậy. Để chi phối hoạt động của các NHTM nhà nước, Nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ 100% vốn của ngân hàng đó. Với một khối lượng cổ phần khống chế trên 50% tổng số vốn, Nhà nước đã có thể kiểm soát được hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra với việc Nhà nước không nắm giữ 100% vốn cổ phần của ngân hàng, các cổ đông trong nước và nước ngoài có cơ hội tham gia sở hữu một phần vốn chủ sở hữu, làm tăng sự giám sát của công chúng đối với hoạt động của ngân hàng, góp phần làm cho hoạt động của nó lành mạnh và minh bạch hơn. Cũng nhờ đó, vai trò kiểm soát hoạt động của Nhà nước đối với các ngân hàng không những không yếu đi mà còn được củng cố hơn. Vì thế về nguyên tắc, CPH các NHTM nhà nước là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực tài chính, ngân hàng ở nước ta nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, do vai trò và tầm ảnh hưởng đặc biệt của các NHTM nhà nước đối với nền kinh tế nên việc CPH các ngân hàng này đòi hỏi những lộ trình, bước đi thận trọng hơn nhiều so với việc CPH các DNNN. Thực tế triển khai CPH các NHTM nhà nước cho thấy có không ít phức tạp, nhất là trong hoàn cảnh nước ta lần đầu tiên thực hiện CPH các NHTM nhà nước. Vào tháng 2/2004, NHNN đã chính thức trình Chính phủ đề án CPH thí điểm 2 NHTM nhà nước là Vietcombank và MHB. Theo lộ trình dự kiến, 2 ngân hàng này phải sẽ phải hoàn thành đề án CPH chi tiết vào tháng 6/2004, nhưng do nhiều khó khăn vướng mắc chậm được giải quyết, mãi đến giữa năm 2005 hai ngân hàng mới trình lên Thủ tướng Chính phủ đề án CPH chi tiết. Cuối năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký các quyết định số 230/2005/QĐ-TTg (ngày 21/9/2005) và số 266/QĐ-TTg (ngày 27/10/2005) về việc CPH thí điểm Vietcombank và MHB. Khi CPH các ngân hàng này, phần vốn Nhà nước sẽ được điều chỉnh giảm dần nhưng không thấp hơn 51%, mỗi pháp nhân không được sở hữu quá 10% vốn điều lệ. Ngày 15/12/2005, Vietcombank đã có động thái đầu tiên trong tiến trình CPH của mình với việc phát hành thành công đợt trái phiếu chuyển đổi trị giá 1.365 tỷ VND để tăng vốn. Hiện nay cả Vietcombank và MHB vẫn đang thực hiện quá trình CPH, tuy nhiên quá trình CPH của 2 ngân hàng này đã và đang gặp không ít khó khăn vướng mắc. Thứ nhất là những vướng mắc về mặt pháp lý, thứ hai là khó khăn trong việc thu hồi nợ và định giá các ngân hàng trước khi CPH, thứ ba là cơ chế quản trị điều hành chậm được đổi mới và thứ tư là việc quy định cụ thể về tỉ lệ vốn góp của Nhà nước tại các ngân hàng này và vấn đề quản lý phần vốn của Nhà nước. Chính những khó khăn vướng mắc đó đã làm chậm tiến trình CPH 2 ngân hàng này (lẽ ra phải hoàn thành vào cuối năm 2006), cụ thể là cho đến nay các ngân hàng vẫn chưa phát hành được cổ phiếu ra công chúng. Theo dự kiến, nhanh nhất cũng phải đến quý IV năm 2006 các ngân hàng này mới có thể phát hành cổ phiếu ra công chúng và như thế, tiến trình CPH 2 ngân hàng này sẽ phải đợi đến năm 2007 mới hoàn thành. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Sau khi tiến hành CPH thí điểm Vietcombank và MHB, cuối tháng 9/2006 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã công bố quyết định CPH tất cả 3 NHTM nhà nước còn lại, theo đó Incombank và BIDV sẽ bắt đầu được CPH vào năm 2007 còn Agribank bắt đầu được CPH vào năm 2008. Việc đẩy nhanh tiến trình CPH các NHTM nhà nước trong vòng 2 năm nữa là rất cần thiết. Cần tranh thủ vừa tiến hành CPH, vừa đúc rút kinh nghiệm, sửa chữa những sai lầm trước khi các NHTM nhà nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ phía các NHTM nước ngoài kể từ năm 2010.
Đối với các NHTMCP, do khả năng bổ sung vốn điều lệ từ các cổ đông lớn hiện tại (hầu hết là các NHTM nhà nước và các DNNN lớn) là rất hạn chế cho nên việc tăng vốn điều lệ trong thời gian tới ngoài việc bổ sung từ nguồn dự trữ và lợi nhuận giữ lại thì các ngân hàng nên tích cực và chủ động thu hút vốn từ phía các cổ đông đại chúng, nhất là các cổ đông nước ngoài trên thị trường OTC hoặc thông qua niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung, vì các cổ đông nước ngoài có tiềm lực vốn lớn hơn hẳn các cổ đông trong nước. Việc được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung chắc chắn sẽ giúp các NHTMCP thuận lợi hơn rất nhiều trong việc huy động tăng vốn cổ phần vì so với các doanh nghiệp có cổ phiếu đang niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán, hầu hết các NHTMCP hoạt động kinh doanh ổn định, hiệu quả hơn và có uy tín cao hơn đối với các cổ đông trong và ngoài nước. Chưa bao giờ cổ phiếu của các NHTMCP lại được các nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nước ngoài quan tâm như hiện nay. Tính đến hết tháng 9/2006, đã có ít nhất trên 10 tổ chức tài chính nước ngoài, trong đó đa số là các NHTM, công ty tài chính, quỹ đầu tư hàng đầu trên thế giới tham gia sở hữu các NHTMCP lớn nhất Việt Nam với tỷ lệ góp vốn tối đa (30% vốn điều lệ) mà Nhà nước cho phép: 3 cổ đông nước ngoài hiện nay của Sacombank là Quỹ đầu tư Dragon Financial Holdings (Anh), Công ty tài chính IFC thuộc Ngân hàng thế giới WB và ngân hàng ANZ (Australia) nắm giữ tổng cộng 30% vốn điều lệ của ngân hàng; Ngân hàng HSBC (Anh) hiện đang nắm giữ 10% cổ phần của Techcombank và Ngân hàng OCBC (Singapore) đang sở hữu 10% vốn điều lệ của VPBank đều cho biết sẽ tăng gấp đôi vốn cổ phần khi định mức mua cổ phần đối với mỗi cổ đông chiến lược của một NHTMCP được NHNN điều chỉnh từ 10% lên 20% trong thời gian tới; 4 nhà đầu tư nước ngoài là Connaught Investors (thuộc tập đoàn Jardine Matheson Group), quỹ đầu tư Dragon Financial Holdings, công ty tài chính quốc tế IFC và ngân hàng Standard Chartered Bank hiện cũng đang nắm giữ hết 30% vốn điều lệ của ACB;… Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài khác như Deutsche Bank (Đức), Cathay Bank, Wachovia, Morgan Stanley (Hoa Kỳ), BNP Paribas, Societe Generale (Pháp) cũng đang rất quan tâm đến việc đầu tư vào các NHTMCP lớn như Eximbank, Phuongnambank, Techcombank, EAB. Sự tham gia của các cổ đông nước ngoài với tư cách là cổ đông là một tín hiệu tốt cho sự phát triển của các NHTMCP trong tương lai gần vì ngoài việc đảm bảo nguồn lực tài chính cho các ngân hàng này, các nhà đầu tư nước ngoài còn giúp cho hoạt động quản trị, điều hành và giám sát của các ngân hàng này lành mạnh, chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể được chuyển giao công nghệ ngân hàng tiên tiến hiện đại và kinh nghiệm quản lý, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Việc nâng cao năng lực tài chính còn thể hiện thông qua việc các NHTM Việt Nam sẽ phải nỗ lực nâng cao tỷ lệ an toàn vốn đạt và vượt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, đảm bảo sự hoạt động bền vững. Để nâng cao hệ số an toàn vốn, các ngân hàng ngoài việc phải có những biện pháp tăng quy mô vốn tự có như đã trình bày trên đây còn phải có những chính sách và biện pháp quản lý tài sản hiệu quả để tăng chất lượng tài sản và hạn chế đến mức tối đa quy mô tài sản “có” rủi ro.
Để nâng cao chất lượng tài sản “có”, trước hết các NHTM Việt Nam hiện nay phải đẩy mạnh việc giải quyết nợ tồn đọng, nợ khó đòi để từng bước nâng cao chất lượng tín dụng. Như đã trình bày ở chương II, ngoài thực trạng quy mô vốn tự có nhỏ bé, mộ vấn đề nan giải khác của các NHTM Việt Nam nói chung và đặc biệt là các NHTM nhà nước là vấn đề nợ xấu ở mức cao mặc dù các ngân hàng đã có nhiều cố gắng để phân loại và xử lý các khoản nợ xấu, nợ khó đòi. Bên cạnh các giải pháp tận thu nợ tồn đọng từ bán tài sản đảm bảo, giãn nợ, đánh giá phân loại loại nợ, sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý nợ, cả 4 NHTM nhà nước đều đã lần lượt thành lập các Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (Asset Management Company) từ năm 2002 và trên thực tế các công ty này cũng đã phát huy tác dụng trong việc giúp các ngân hàng tự xử lý trên 9.500 tỷ VND chỉ trong vòng gần 3 năm., tuy nhiên số nợ xấu của các NHTM nhà nước hiện nay vẫn ở mức cao (trên 17.500 tỷ VND). Vì vậy trong thời gian sắp tới, các ngân hàng cần tiếp tục tích cực và chủ động xử lý nợ xấu bằng quỹ dự phòng rủi ro, khai thác các tài sản xiết nợ, chuyển một phần tỉ lệ nợ thành vốn góp tại các doanh nghiệp vay vốn (theo quy định hiện hành tỉ lệ này không được vượt quá 11% vốn tự có của doanh nghiệp), tích cực thu hồi nợ của các doanh nghiệp bằng các biện pháp mạnh, kể cả bằng biện pháp kiện các doanh nghiệp chây ỳ này (nhất là các DNNN) ra toà theo như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và sự đồng ý của NHNN vào tháng 8/2004.
Một giải pháp khác cho vấn đề xử lý nợ tồn đọng, nợ xấu của các NHTM nhà nước và NHTMCP là hình thức chứng khoán hoá các khoản nợ CDO (Collaterized Debt Obligation). Trước hết các ngân hàng cần đánh giá xem một khoản nợ có thể được chứng khoán hoá hay không. Khi thực hiện việc chứng khoán hoá một khoản nợ thì khoản nợ này sẽ được loại ra khỏi bảng cân đối kế toán, từ đó chất lượng tài sản có sẽ được nâng lên. Khoản nợ này sẽ được chuyển từ ngân hàng sang một công ty AMC nào đó, công ty này có thể trực thuộc ngân hàng hoặc là một công ty độc lập do Chính phủ hay các tổ chức khác thành lập. Nếu như các công ty AMC không chấp nhận xử lý khoản nợ này thì các ngân hàng đương nhiên cũng không thể thực hiện chứng khoán hoá khoản nợ đó. Vì vậy thông thường khi thực hiện chứng khoán hoá các khoản nợ, các ngân hàng thường phải gộp nhiều loại khoản nợ lại với nhau, trong đó có cả các khoản nợ xấu và các khoản nợ có chỉ số an toàn tín dụng cao hơn để làm tăng khả năng được chấp nhận xử lý của các khoản nợ từ phía các AMC. Các khoản nợ được đem ra chứng khoán hoá thường có tính rủi ro rất cao nên việc các AMC chấp nhận mua chúng là không đơn giản. Bên cạnh việc ghép các khoản nợ như trên, hoạt động chứng khoán hoá các khoản nợ trước mắt cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước trong việc đảm bảo cho các AMC. Về mặt nghiệp vụ, việc chứng khoán hoá các khoản nợ thường kèm theo những tính toán phức tạp về phân lớp chứng khoán, quyết định dòng tiền hay các nghiệp vụ bổ trợ nhằm đảm bảo tín dụng, vì vậy đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên có đủ năng lực và một hệ thống trang thiết bị ngân hàng tương đối hiện đại. Cho nên giải pháp này cần được thực hiện phối hợp với các giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực và trình độ công nghệ của các ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Song song với các biện pháp để hạn chế và xử lý tối đa nợ xấu, các biện pháp nhằm kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng cũng là một công việc hết sức quan trọng giúp các NHTM Việt Nam nâng cao chất lượng tài sản có cũng như năng lực tài chính của mình. Các ngân hàng cần thành lập và nâng cao chất lượng đội ngũ, hiệu quả hoạt động của các Uỷ ban quản lý tài sản nợ-có (ALCO) và Hội đồng tín dụng thuộc ban điều hành nhằm đề ra và theo dõi việc thực hiện các chính sách, các quy trình kiểm soát rủi ro tín dụng. Mặt khác, việc xây dựng được một cẩm nang tín dụng với những hướng dẫn chi tiết về quy trình thẩm định, chấm điểm tín dụng, xét duyệt cho vay phù hợp với chuẩn mực quốc tế là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự áp dụng nhất quán và chặt chẽ chính sách tín dụng của các ngân hàng. Hiện nay bốn NHTM nhà nước lớn và một số NHTMCP đã xây dựng được những cẩm nang tín dụng tương đối phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Các ngân hàng còn lại cũng cần xây dựng và đưa vào sử dụng các cẩm nang tín dụng như vậy.
Một giải pháp khác để nâng cao chất lượng tín dụng là các ngân hàng cần chú trọng kiểm soát tốt tốc độ tăng trưởng tín dụng trong mối tương quan với các nguồn lực và khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng của mình. Trong thời gian từ năm 2004 đến nay, hoạt động cho vay của các NHTM nhà nước và đặc biệt là các NHTMCP đã có những dấu hiệu tăng trưởng nóng với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn khá nhiều tốc độ tăng trưởng vốn tự có và vốn huy động (gấp 1,5 đến 2 lần), làm gia tăng nợ xấu và lượng tài sản “có” rủi ro. Điều này có nguy cơ gây ra rủi ro tín dụng lớn và làm giảm khả năng hoạt động an toàn của các ngân hàng này.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng cần rà soát lại số lượng và chất lượng nguồn nhân lực làm công tác tín dụng, kể cả đội ngũ lãnh đạo quản lý, tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm làm việc của các cán bộ nhân viên tín dụng, tránh tình trạng quá tải trong công việc, sự yếu kém về trình độ nghiệp vụ và sự tắc trách dẫn đến sự cẩu thả, tuỳ tiện trong việc thẩm định và phê duyệt các khoản vay, phân loại và xử lý các khoản nợ, làm gia tăng nợ xấu và giảm chất lượng tín dụng.
Một biện pháp vô cùng cần thiết khác hiện nay nhằm làm tăng chất lượng tín dụng đối với các NHTM Việt Nam, đặc biệt là các NHTM nhà nước là cần chủ động, linh hoạt hơn trong việc tách biệt các khoản vay chính sách theo chỉ đạo và các khoản vay thương mại, tập trung vào các khoản cho vay thương mại và chuyển dần các khoản vay chính sách sang cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam và Ngân hàng phát triển Việt Nam. Để đạt được hiệu quả, biện pháp này cần nhận được sự ủng hộ và phối hợp của NHNN và Chính phủ thông qua việc NHNN và Chính phủ giảm bớt từng bước sự can thiệp vào hoạt động cho vay của các ngân hàng cũng như sự bao cấp, bảo hộ bằng nhiều hình thức khác nhau đối với các ngân hàng, nhằm làm tăng quyền chủ động và tính tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng trong hoạt động cho vay của mình. Cùng với biện pháp này, các NHTM Việt Nam trong thời gian tới cũng cần xây dựng được chính sách cho vay theo đối tượng khách hàng với cơ cấu hợp lý, tránh sự tập trung tín dụng quá mức vào các DNNN nói riêng và các DN, tổ chức khác nói chung hoạt động kém hiệu quả và chậm trễ trong việc trả nợ.
3. Đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ cung cấp và không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, phù hợp với năng lực, quy mô, chất lượng hoạt động kinh doanh và nhu cầu của thị trường Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Một trong những biện pháp quan trọng để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế lĩnh vực ngân hàng là các ngân hàng cần nỗ lực đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ cung cấp phù hợp với năng lực hiện có cũng như nhu cầu của khách hàng trên thị trường, trong đó tập trung nhiều hơn theo hướng phát triển các dịch vụ mới và còn nhiều tiềm năng trên thị trường ngân hàng Việt Nam. Đây là một giải pháp mang tính chiến lược dài hạn, đòi hỏi quá trình nghiên cứu và triển khai lâu dài và chi phí đầu tư lớn, do đó các NHTM Việt Nam cần có sự chuẩn bị ngay từ bây giờ. Để thực hiện đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ thành công, các NHTM Việt Nam một mặt cần chú ý nghiên cứu, học tập kinh nghiệm các sản phẩm dịch vụ đang được các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới triển khai, mặt khác cũng cần có những nghiên cứu cụ thể về nhu cầu trong nước để có những sửa đổi, cải tiến các sản phẩm dịch vụ đó cho kịp thời và phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường Việt Nam. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược mở rộng dịch vụ với những bước đi cụ thể, có định hướng, phù hợp với năng lực nhằm tránh sự đầu tư ồ ạt, dàn trải, gây lãng phí các nguồn lực và kém hiệu quả. Trong việc cải tiến phát triển các sản phẩm mới, bên cạnh việc đa dạng hoá các sản phẩm truyền thống như huy động vốn, cho vay, thanh toán, các NHTM Việt Nam cũng cần tập trung vào các dịch vụ thu phí, đặc biệt là các dịch vụ mới được ứng dụng trên cơ sở công nghệ hiện đại như dịch vụ phát hành và quản lý thẻ, các dịch vụ tư vấn đầu tư và các dịch vụ phái sinh.
Việc tìm hiểu các sản phẩm dịch vụ đã có sẵn của các NHTM trên thế giới chỉ là bước đi ban đầu để giúp các NHTM Việt Nam theo kịp với các ngân hàng này, tuy nhiên về lâu dài để có được lợi thế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng trong nước cần có sự đầu tư thích đáng để tự nghiên cứu và triển khai các sản phẩm hoàn toàn mới, trước hết là tại thị trường trong nước và xa hơn là vươn ra thị trường khu vực và thế giới. Tuy nhiên việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, dù là sản phẩm dịch vụ sẵn có hay chưa từng có, đều đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn, không chỉ về thời gian mà còn về tài chính, con người và công nghệ, kèm theo những rủi ro lớn. Vì vậy, để phát huy tối đa hiệu quả, các biện pháp, chính sách đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ phải được các ngân hàng coi là biện pháp chiến lược dài hạn, kết hợp hài hoà với các giải pháp, chiến lược nghiên cứu thị trường bài bản, tăng cường sức mạnh tài chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trình độ công nghệ ngân hàng.
Cùng với sự đa dạng hoá về sản phẩm dịch vụ và gia tăng cạnh tranh do sự tham gia ngày càng đông đảo của các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ trên thị trường tài chính, ngân hàng trong thời gian tới, người tiêu dùng ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm dịch vụ phù hợp hơn cho mình, vì thế mức độ trung thành của họ đối với từng ngân hàng cũng sẽ có thay đổi theo chiều hướng giảm dần. Vì vậy, bên cạnh việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, các ngân hàng cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ và chăm sóc khách hàng nhằm thu hút và duy trì sự trung thành của người tiêu dùng để đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh việc nghiên cứu, cải tiến các dịch vụ cung cấp về mặt kỹ thuật để tăng độ nhanh chóng, tiện lợi và đơn giản cho khách hàng, các ngân hàng cũng cần chú ý nhiều hơn đến chất lượng hoạt động giao dịch trực tiếp với khách hàng, hay nói cách khác là tác phong làm việc, văn hoá giao dịch và thái độ phục vụ đối với khách hàng. Các nhân viên ngân hàng, nhất là các nhân viên giao dịch trực tiếp với khách hàng luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định khi giao tiếp với khách hàng từ cách nói năng, chào hỏi, tiếp đón và trả lời điện thoại, luôn phải giữ được thái độ hoà nhã, cởi mở, nhiệt tình và tôn trọng khách hàng. Tất cả những hành vi, thái độ, tác phong dù nhỏ nhất đó của các nhân viên lại có thể quyết định sự thành bại của cả một ngân hàng, cho nên chúng cần được quy định như những tiêu chí để đánh giá kết quả công việc của mỗi nhân viên trong việc nâng lương, bình xét khen thưởng nhằm nâng cao tính tự giác trong việc phục vụ tốt khách hàng của họ. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay khi mà các giao dịch ngân hàng đang được toàn cầu hoá mạnh mẽ, nhu cầu của người tiêu dùng có thể phát sinh mọi lúc, mọi nơi thì một biện pháp khác để nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là kéo dài thời gian hoạt động của các phòng giao dịch và mở rộng mạng lưới chi nhánh phục vụ nhu cầu giao dịch của người tiêu dùng.
Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt để thu hút và giữ chân khách hàng, việc cải tiển chất lượng dịch vụ về mặt kỹ thuật và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là chưa đủ. Các ngân hàng cần có một chiến lược khách hàng hiệu quả để nắm bắt và lưu trữ các thông tin cần thiết về khách hàng nhằm chăm sóc khách hàng một cách chu đáo nhất và duy trì mối quan hệ với họ, chẳng hạn như có những chính sách ưu đãi về phí dịch vụ, khuyến mãi, hậu mãi hay tặng quà cho những khách hàng lâu năm hay những khách hàng có doanh số giao dịch lớn,… Một hệ thống giải pháp được rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới hiện đang áp dụng mà các NHTM Việt Nam nên nghiên cứu áp dụng là hệ thống giải pháp Quản trị quan hệ khách hàng CMR (Customer Relation Management) – được xây dựng trên cơ sở các ứng dụng công nghệ thông tin cho phép thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin về khách hàng một cách có hệ thống – nhằm nâng cao khả năng chất lượng phục vụ khách hàng nói riêng và công tác quản trị khách hàng nói chung.
4. Nâng cao trình độ quản lý điều hành, hoàn thiện và hợp lý hoá cơ cấu tổ chức và mạng lưới phân phối sản phẩm dịch vụ
Để nâng cao trình độ quản lý điều hành của các NHTM Việt Nam thì hiện nay vấn đề cốt yếu là phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý. Biện pháp này đòi hỏi trước hết mỗi ngân hàng cần xây dựng được một cơ chế lựa chọn nhân sự quản lý công khai và minh bạch, gắn với việc đánh giá nhân viên hàng năm theo đúng các mức độ tiến bộ về các mặt, các tiêu chí theo mô hình khung năng lực toàn diện (Compentency Framework) mà các NHTM trên thế giới hiện nay đang áp dụng. Mỗi ngân hàng cũng cần xây dựng một kế hoạch nhân sự quản lý, có kế hoạch bồi dưỡng cán bộ nguồn hoặc thông qua chiến lược tuyển dụng dài hạn đối với các vị trí quản lý để đảm bảo tính kế thừa liên tục, tránh gây ra nhứng xáo trộn không cần thiết khi có những biến động về nhân sự quản lý, gây ảnh đến hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, phòng ban, chi nhánh hoặc của toàn ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Đội ngũ lãnh đạo, quản lý của các NHTM Việt Nam cũng cần phải khắc phục điểm yếu hiện nay là kinh nghiệm quản lý các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại và công tác quản trị rủi ro thông qua việc tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động hàng ngày và qua việc tự nghiên cứu, học hỏi thêm những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Các ngân hàng có thể tổ chức những khoá đào tạo riêng biệt cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý hay hợp tác với các ngân hàng lớn nước ngoài tổ chức các khoá tham quan, tập huấn ở nước ngoài cho các cán bộ này nhằm tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm của các nhà quản trị ngân hàng hàng đầu thế giới.
Các NHTM Việt Nam cũng có thể mạnh dạn xem xét phương án thuê các cán bộ quản lý cao cấp nước ngoài có nhiều danh tiếng và kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Đây là một phương án tuy tốn kém và không phải ngân hàng nào cũng thực hiện được, nhưng cũng có những lợi ích đáng kể: thứ nhất là tài năng và kinh nghiệm quản lý của họ sẽ góp phần nâng cao hiệu quản hoạt động kinh doanh của đơn vị họ phụ trách nhất là đối với các hoạt động ngân hàng tiên tiến hiện đại, thứ hai là việc thuê các cán bộ quản lý nước ngoài sẽ tạo áp lực tự hoàn thiện đổi mới bản thân mạnh mẽ đối với các cán bộ quản lý và nhân viên Việt Nam, thứ ba việc thuê cán bộ quản lý cấp cao người nước ngoài là biện pháp nhanh nhất để các NHTM Việt Nam tiếp cận với trình độ và kinh nghiệm quản lý của các ngân hàng hàng đầu trên thế giới.
Để nâng cao trình độ quản lý điều hành, trình độ quản trị của từng thành viên và toàn thể Hội đồng quản trị và các Ban chức năng cũng phải được nâng cao về chất lượng thông qua việc thiết lập một cơ chế giám sát hiệu quả, minh bạch hoá thông tin với hệ thống các báo cáo đầy đủ, hệ thống thông tin quản lý thông suốt cũng là một khía cạnh khác để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản trị công ty tại các NHTM Việt Nam.
Một biện pháp cần thiết khác để nâng cao trình độ quản lý điều hành của các NHTM Việt Nam là tăng cường về số lượng và nâng cao chất lượng các công cụ quản lý, bao gồm việc xây dựng Hệ thống thông tin quản lý (MIS) đảm bảo sự thông suốt của các luồng thông tin từ các phòng ban, bộ phận, thậm chí từ từng nhân viên tới ban lãnh đạo cũng như ngược lại, góp phần nâng cao năng lực nắm bắt, xử lý thông tin và ra quyết định của các nhà quản lý; thiết kế và sử dụng các mẫu báo cáo phù hợp nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin chính xác về tình hình hoạt động của ngân hàng cũng như các biến động của thị trường để phục vụ cho việc ra quyết định của ban lãnh đạo; thiết lập các quy trình xử lý nghiệp vụ đầy đủ và rõ ràng nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy định về an toàn và hiệu quả trong toàn hệ thống, đồng thời cũng tăng cường khả năng khai thác công nghệ của mỗi ngân hàng; tăng cường cơ chế giám sát và kiểm tra thông qua vai trò của Ban giám sát cũng như Ban kiểm toán, Ban kiểm soát nội bộ và thực hiện nghiêm túc việc kiểm toán độc lập hàng năm.
Song song với việc nâng cao trình độ quản lý điều hành, các NHTM Việt Nam cũng cần hoàn thiện và hợp lý hoá hơn nữa cơ cấu tổ chức và mạng lưới phân phối sản phẩm dịch vụ. Trên cơ sở áp dụng công nghệ ngân hàng và các công cụ quản lý hiện đại, các ngân hàng có thể nghiên cứu triển khai mô hình tổ chức hướng theo khối khách hàng và sản phẩm, mô hình tổ chức Back-office và Front-office tách bạch giữa khối quản lý và hành chính với khối kinh doanh mà hiện nay đa phần các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới đang áp dụng, cho phép các ngân hàng giảm bớt sự cồng kềnh, chồng chéo và gây lãng phí các nguồn lực trong cơ cấu tổ chức.
Việc mở rộng mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch cũng phải được hợp lý hoá trong mối tương quan với định hướng, chiến lược phát triển về chiều rộng và nguồn lực hiện có của từng ngân hàng cũng như với sự gia tăng về nhu cầu của người tiêu dùng trên từng khu vực thị trường, tránh sự đầu tư mở rộng mạng lưới ồ ạt, dàn trải, gây lãng phí các nguồn lực và làm giảm hiệu quả kinh doanh. Việc áp dụng các công cụ quản lý và công nghệ hiện đại cùng với việc đổi mới mô hình tổ chức hoạt động cần phải đi đôi với quá trình mở rộng mạng lưới nhằm tăng hiệu quả quản lý và hiệu quả hoạt động của các chi nhánh, phòng giao dịch mới. Mặt khác, việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của các NHTM Việt Nam hiện nay và trong tương lai cũng cần cân đối với việc mở rộng hệ thống máy ATM vì trên thực tế với xu hướng phát triển của công nghệ ngân hàng, mỗi máy ATM ngày càng có thêm nhiều chức năng, tiện ích khác và dần trở thành một phòng giao dịch mini, giúp các ngân hàng tiết kiệm đáng kể chi phí đầu tư mở rộng mạng lưới. Bên cạnh đó, xu thế phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ ngân hàng trực tuyến như InternetBanking, MobileBanking và E-Banking hiện tại và trong tương lai (nhất là ở các thành phố, đô thị lớn) cũng sẽ làm giảm đi tương đối nhu cầu giao dịch ngân hàng theo kiểu truyền thống, do đó cũng làm giảm áp lực về yêu cầu mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng.
5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện nay là một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với các NHTM Việt Nam trước khi cánh cửa hội nhập được mở ra đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng bởi vì xét cho cùng, nhân lực chính là cái gốc của mọi đổi mới, mọi thành tựu, là “nguồn lực của mọi nguồn lực” không chỉ trong ngành ngân hàng mà trong toàn bộ nền kinh tế nói chung. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải được các ngân hàng xây dựng thành chiến lược lâu dài và thực hiện một cách toàn diện, triệt để, nghiêm túc mới phát huy được hết tính hiệu quả của nó, bắt đầu từ công tác đào tạo nguồn nhân lực, chính sách tuyển dụng, chính sách trả lương cho đến những chế độ đãi ngộ, điều kiện và môi trường làm việc, cơ hội dành cho nhân viên để họ rèn luyện và nâng cao trình độ, làm cho người lao động không chỉ phấn đấu hết mình cho ngân hàng mà còn giữ chân được họ ở lại cống hiến cho ngân hàng trong một thời gian dài.
Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện nay của các NHTM Việt Nam hiện nay nên bắt đầu từ biện pháp là các ngân hàng phối hợp với Bộ giáo dục và đào tạo và các trường đại học chuyên ngành tài chính, ngân hàng nâng cao chất lượng đào tạo đại học, sao cho giáo dục phải đi trước thực tiễn yêu cầu của nền kinh tế và lĩnh vực ngân hàng, tránh tình trạng như hiện nay khi mà một bộ phận không nhỏ sinh viên được đào tạo chuyên ngành ngân hàng, tài chính nhưng không được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu công việc, sau khi được tuyển dụng đều phải trải qua một quá trình đào tạo lại. Nguyên nhân chủ yếu là do chương trình đào tạo đại học vẫn thiên về lý thuyết, không theo kịp, không bám sát thực tiễn công việc, trình độ giảng dạy của đội ngũ giảng viên đại học còn nhiều hạn chế. Vì vậy, các ngân hàng có thể cùng với Bộ giáo dục và đào tạo và các trường đại học chuyên ngành phối hợp biên soạn, cập nhật giáo trình giảng dạy theo hướng hiện đại và bám sát thực tiễn hơn. Bên cạnh đó, các ngân hàng có thể thực hiện tài trợ các trang thiết bị giảng dạy, đào tạo hiện đại hỗ trợ cho các trường đại học nhằm nâng cao khả năng tiếp cận với thực tiễn của đội ngũ giảng viên và sinh viên. Đội ngũ giảng viên chuyên ngành bên cạnh việc tự tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi cũng cần được thường xuyên trau dồi các kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn mới về nghiệp vụ ngân hàng để nâng cao trình độ giảng dạy. Ngoài ra các ngân hàng và các trường đại học có thể tạo điều kiện cho sinh viên sớm tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động ngân hàng thông qua các chương trình thực tập vào năm thứ 3, thứ tại các ngân hàng như các nước trên thế giới đã làm. Để nâng cao ý thức tự rèn luyện của sinh viên, các chương trình thực tập này có thể được các trường đại học tính vào điểm học tập. Thực tế những khoá thực tập như vậy sẽ giúp các sinh viên hình dung và nắm bắt rõ hơn công việc trong tương lai của mình để có định hướng phấn đấu rõ ràng, góp phần năng cao trình độ kiến thức và kinh nghiệm làm việc cho sinh viên.
Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng đòi hỏi các ngân hàng phải xây dựng được một chiến lược tuyển dụng thực sự chuyên nghiệp và mang tính lâu dài, trên cơ sở bám sát vào chiến lược kinh doanh và định hướng phát triển cụ thể của từng ngân hàng. Các tiêu chí tuyển dụng phải thực sự rõ ràng, cụ thể, có cơ sở khoa học tuỳ theo yêu cầu từng vị trí, từng công việc, trên cơ sở các tiêu chí ấy các ngân hàng thiết kế một quy trình tuyển chọn với những hình thức thi và nội dung thi phù hợp. Việc đánh giá ứng viên không chỉ đơn thuần dựa trên các tiêu chí cơ bản như trình độ kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm làm việc mà còn phải căn cứ vào các tiêu chí khác như khả năng phù hợp cuả ứng viên với công việc, động lực làm việc và mức độ cam kết gắn bó với ngân hàng của ứng viên. Hình thức thi tuyển cũng cần được các ngân hàng thay đổi theo hướng linh hoạt hơn tuỳ vào từng vị trí, từng công việc, không nhất thiết là mọi vị trí, mọi công việc đều phải trải qua nhiều vòng, nhiều hình thức thi. Ngoài các hình thức thi truyền thống là thi viết và phỏng vấn để kiểm tra kiến thức, kỹ năng, các ngân hàng nên thực hiện một số hình thức thi khác như ra bài tập tình huống, thảo luận theo nhóm với nội dung phong phú và thích hợp cho từng vị trí nhằm phát hiện các phẩm chất quan trọng của ứng viên như khả năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng trình bày và thuyết phục, kỹ năng tự xoay sở, ứng phó để giải quyết tình huống. Đây là những phẩm chất quan trọng đối với một nhân viên ngân hàng trong thời đại hiện nay. Những hình thức tuyển dụng linh hoạt, phù hợp sẽ giúp các ngân hàng và các ứng viên tiết kiệm thời gian, chi phí mà các ngân hàng vẫn tuyển được nhân viên phù hợp với yêu cầu của mình.
Các ngân hàng cũng cần xây dựng một chiến lược tuyển dụng có tầm nhìn lâu dài trên cơ sở bám sát chiến lược kinh doanh chung, tránh việc tuyển dụng khi thì ồ ạt, khi thì manh mún theo kiểu thời vụ, khi cần thì tuyển, khi không cần thì thôi. Nhất là đối với những vị trí quản lý việc tuyển dụng thường gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các ngân hàng mất nhiều thời gian và chi phí vì những vị trí như thế thường đòi hỏi ở ứng viên nhiều kỹ năng, trình độ đa dạng, phức tạp hơn.
Ngoài ra, các ngân hàng Việt Nam cần phải chủ động hơn trong công tác tuyển dụng, tránh việc thụ động đăng tin tuyển dụng trên báo chí, trên mạng rồi ngồi chờ các ứng viên quan tâm đến công việc tới nộp hồ sơ. Trên thực tế đối tượng hướng tới của các ngân hàng thường là các sinh viên giỏi, nhưng không phải là mọi sinh viên giỏi đều quan tâm đến lĩnh vực ngân hàng và biết được nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng nếu như họ không chủ động tìm hiểu thông tin, vì cơ hội có được những việc làm tốt khác của những sinh viên này là rất nhiều. Bởi vậy, không hẳn là những sinh viên biết tin tuyển dụng của ngân hàng và tham gia dự tuyển đã là những sinh viên giỏi nhất, và có nghĩa là các ngân hàng đã để mất một bộ phận không nhỏ nguồn nhân lực chất lượng cao do công tác tuyển dụng thụ động như vậy. Để thu hút được sự quan tâm của số lượng tối đa những sinh viên giỏi đối với ngân hàng, công tác tuyên truyền, quảng cáo, thông báo rộng rãi về các chương trình tuyển dụng nói riêng và về hình ảnh của ngân hàng và nhu cầu tuyển dụng lâu dài nói chung cần phải được thực hiện chủ động thông qua nhiều hình thức khác nhau. Bên cạnh việc đăng quảng cáo trên báo chí và trên mạng, các ngân hàng có thể sử dụng những hình thức tuyên truyền khác như dán poster, treo băng rôn, phát tờ rơi tại những nơi tiềm năng như các trường đại học chuyên ngành và các trường đại học khác có danh tiếng. Ngoài ra, các ngân hàng có thể tổ chức các buổi gặp gỡ giao lưu với sinh viên các trường đại học để vừa giới thiệu quảng bá hình ảnh của mình, vừa trao đổi với sinh viên về chiến lược phát triển, chiến lược tuyển dụng, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ,… hiện tại và trong tương lai của mình nhằm thu hút tối đa sự quan tâm của những sinh viên giỏi đối với ngân hàng mình. Các ngân hàng cũng nên áp dụng và duy trì việc hỗ trợ học bổng cho những sinh viên giỏi của các trường đại học chuyên ngành nói riêng và các trường đại học danh tiếng nói chung, bởi vì đây là một biện pháp rất hiệu quả trong việc quảng bá hình ảnh, thương hiệu của các ngân hàng, vừa thu hút được sự quan tâm của đội ngũ nhân tài có chất lượng cao ở các trường đại học. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Một nhiệm vụ mà các NHTM Việt Nam, nhất là các NHTM nhà nước cần phải tiến hành nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng là tiến tới xoá bỏ hoàn toàn tình trạng “con ông cháu cha” trong công tác tuyển dụng hiện vẫn còn nặng nề trong ngành ngân hàng, trong khi trình độ, chất lượng và kể cả lý lịch bản thân của những nhân viên được tuyển theo kiểu này phần lớn là không đạt yêu cầu của các ngân hàng. Đây cũng là một biện pháp để cải thiện uy tín của các ngân hàng trong công tác tuyển dụng đối với các ứng viên, nhất là các sinh viên giỏi.
Bên cạnh chính sách đào tạo và chính sách tuyển dụng hợp lý, chính sách trả lương và đãi ngộ đối với các nhân viên mới nói riêng và tất cả các cán bộ nhân viên nói chung cũng cần được cải thiện nhiều hơn nữa sao cho tạo ra môi trường làm việc thoải mái nhất cho nhân viên, khuyến khích họ làm việc nghiêm túc, có tinh thần trách nhiệm và phấn đấu rèn luyện nâng cao khả năng, trình độ để cống hiến tối đa cho ngân hàng trong thời gian lâu dài. Để làm được điều đó, trước hết các NHTM Việt Nam nên thay đổi chính sách trả lương và thời gian thử việc đối với các nhân viên mới theo hướng nâng cao mức lương thử việc cho sát với mức lương chính thức, đồng thời rút ngắn thời gian thử việc tới mức hợp lý (khoảng 1 đến 3 tháng), bởi vì khi các ngân hàng đã có được trong tay một đội ngũ nhân viên giỏi nhờ chính sách tuyển dụng hiệu quả thì việc trả lương khởi điểm thấp và kéo dài thời gian thử việc như hiện nay là không cần thiết, không những không khuyến khích các nhân viên mới nỗ lực hết mình mà trái lại còn gây ra tâm lý chán nản, mất kiên nhẫn cho họ. Chế độ trả lương, thưởng, thăng tiến đối với các cán bộ nhân viên nói chung cũng cần được đổi mới theo hướng công bằng và bình đẳng hơn, dựa trên cơ sở những tiêu chí bình xét rõ ràng, khoa học (không chỉ đơn thuần trên cơ sở vị trí công tác, thâm niên công tác của nhân viên mà còn phải dựa vào hiệu quả công việc, mức độ cố gắng và tiến bộ về mặt rèn luyện kiến thức, kỹ năng, mức độ nhiệt tình của nhân viên đối với công việc, tinh thần trách nhiệm đối với công việc và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên) nhằm tạo ra động lực khuyến khích nhân viên không ngừng học tập, nâng cao năng lực bản thân của họ cũng như động viên họ cam kết gắn bó lâu dài với ngân hàng. Các NHTM Việt Nam cũng nên xem xét tới chính sách thưởng bằng cổ phiếu – cách mà hiện nay nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới đang làm nhằm giữ chân các nhân viên của họ trong một thời gian rất dài.
Bên cạnh chế độ lương, thưởng, thăng tiến hàng năm, các chính sách đãi ngộ khác như chế độ bảo hiểm, các chế độ chăm sóc cho nhân viên nhân dịp lễ, Tết hay ốm đau, bệnh tật, tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao cho nhân viên,… cũng là những biện pháp rất quan trọng góp phần động viên tinh thần, nâng cao sức khoẻ của người lao động, tạo ra sự gắn bó lâu dài cuả họ đối với ngân hàng.
Một biện pháp rất quan trọng khác giúp các NHTM Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là thường xuyên tổ chức các khoá, các chương trình đào tạo mới và đào tạo nâng cao đối với cán bộ nhân viên với sự tham gia giảng dạy của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực tài chính ngân hàng cũng như các lĩnh vực khác có liên quan nhằm không ngừng nâng cao trình độ kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ của họ, đáp ứng yêu cầu của công việc trong thời kỳ hội nhập, nhất là các kiến thức, kỹ năng về nghiệp vụ giao dịch ngân hàng hiện đại, về chính sách, pháp luật thương mại – ngân hàng trong nước và quốc tế, về công nghệ thông tin và ngoại ngữ, kỹ năng làm việc theo nhóm và làm việc độc lập. Các ngân hàng cũng cần khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ cán bộ nhân viên tự học hỏi và nâng cao trình độ thông qua các khóa đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ ở trong và ngoài nước. Công tác nghiên cứu khoa học trong nội bộ các ngân hàng cũng cần được quan tâm và đầu tư thích đáng nhằm cổ vũ tinh thần ham học hỏi, tinh thần sáng tạo và đóng góp sáng kiến, giải pháp hữu ích của đội ngũ cán bộ nhân viên, thông qua có chế độ hỗ trợ nghiên cứu khoa học và thưởng cho các phát minh sáng tạo của nhân viên.
Bên cạnh đó, các ngân hàng phải tạo ra cho đội ngũ cán bộ nhân viên một môi trường làm việc năng động, hiện đại và chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng cũng không kém phần thân thiện, cởi mở và giàu bản sắc dân tộc, giúp cho họ có cơ hội chứng tỏ bản thân và phát huy khả năng của mình, qua đó giữ chân được họ ở lại cống hiến lâu dài cho ngân hàng.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực của các NHTM Việt Nam sẽ phát huy hiệu quả tối đa khi nó được kết hợp đồng bộ, hài hoà các chiến lược kinh doanh chung và chiến lược nâng cao trình độ quản lý, trình độ công nghệ của các ngân hàng.
6. Nâng cao trình độ công nghệ ngân hàng
Như đã phân tích trong phần thực trạng công nghệ ngân hàng của các NHTM Việt Nam ở chương II, hiện nay các NHTM Việt Nam hầu hết đều đã xây dựng được một nền tảng công nghệ tương đối hiện đại so với các NHTM trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên năng lực khai thác và sử dụng trang thiết bị còn rất nhiều hạn chế. Để phát huy tối đa hiệu quả của công nghệ hiện đại và không ngừng nâng cao năng lực công nghệ, các ngân hàng trước hết cần xây dựng cho mình một chiến lược công nghệ dài hạn trên cơ sở chiến lược kinh doanh và khả năng đầu tư phát triển công nghệ của từng ngân hàng. Một chiến lược công nghệ dài hạn là công cụ thiết yếu để các ngân hàng thống nhất quản lý những nỗ lực cải tiến công nghệ của mình, tránh sự đầu tư manh mún, tuỳ tiện hoặc dàn trải, gây lãng phí. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Bên cạnh đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc tăng cường sức mạnh tài chính, các ngân hàng cũng cần đẩy mạnh hơn nữa việc trang bị công nghệ với các giải pháp công nghệ tổng thể và nối mạng cho toàn hệ thống, nhằm tạo ra sức bật toàn diện về công nghệ, tận dụng tối đa hiệu quả công nghệ dựa trên lợi thế nhờ quy mô đồng thời cũng góp phần giảm thiểu sự lãng phí do đầu tư không đồng bộ. Ngoài ra, do công nghệ nói chung và công nghệ ngân hàng trên thế giới hiện nay hao mòn vô hình và lạc hậu rất nhanh nên các ngân hàng cũng cần có sự đầu tư thích hợp cho việc nghiên cứu và đổi mới, bổ sung, nâng cấp những tiện ích của trang thiết bị công nghệ để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tiến bộ công nghệ.
Để tận dụng và khai thác tối đa những lợi ích của công nghệ tiên tiến, các ngân hàng phải xây dựng được một đội ngũ nhân lực có chuyên môn cao trong lĩnh vực công nghệ ngân hàng, đồng thời thận trọng và kỹ lưỡng hơn trong việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ, máy móc, công nghệ và thuê chuyên gia tư vấn. Đội ngũ nhân lực công nghệ cần được đào tạo sao cho theo kịp được với những tiến bộ công nghệ trên thế giới, có khả năng thẩm định, đánh giá tính đúng đắn và tính tin cậy của các chuyên gia tư vấn, tránh sự lệ thuộc quá mức vào các chuyên gia tư vấn bên ngoài gây ra sự thụ động và lãng phí. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng cần nâng cao khả năng nắm bắt và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng của đội ngũ cán bộ nhân viên thông qua việc tiến hành các hoạt động đào tạo về kiến thức và kỹ năng sử dụng máy móc, công nghệ cho cán bộ nhân viên ngân hàng và các hoạt động kiểm tra, đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ của từng bộ phận. Xây dựng các văn bản kỹ thuật, sổ tay hướng dẫn áp dụng quy trình công nghệ cũng là một biện pháp góp phần nâng cao khả năng áp dụng công nghệ của cán bộ nhân viên ngân hàng.
Trong quá trình đầu tư trang thiết bị công nghệ và lắp đặt các phần mềm ứng dụng, các ngân hàng cần chú trọng thực hiện đồng bộ, triệt để các giải pháp an ninh mạng, tránh nguy cơ tấn công từ bên trong (nhân viên ngân hàng) và bên ngoài (tội phạm công nghệ thông tin, hackers) trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, gây những thiệt hại khó lường cho khách hàng và cho chính bản thân các ngân hàng về mặt kinh tế và uy tín kinh doanh.
Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực công nghệ ngân hàng giữa các NHTM trong nước với nhau và giữa các NHTM trong nước với các NHTM nước ngoài cũng là một giải pháp quan trọng góp phần nâng cao trình độ công nghệ cho toàn bộ hệ thống ngân hàng, bởi vì ngân hàng là một ngành đòi hỏi sự liên kết cao không chỉ về tài chính mà còn cả về công nghệ. Sự thiếu đồng bộ, thiếu liên kết trong ứng dụng công nghệ ngân hàng giữa các ngân hàng trong cùng một hệ thống với nhau không chỉ dẫn đến việc các ngân hàng không thể kết nối với nhau được trong các giao dịch mà còn gây lãng phí các nguồn lực, do đó làm giảm sức mạnh công nghệ và hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hệ thống. Mặt khác, việc hợp tác về công nghệ ngân hàng sẽ giúp các NHTM trong nước nhận được chuyển giao các công nghệ tiên tiến từ các ngân hàng có trình độ công nghệ phát triển hơn, qua đó giúp các ngân hàng Việt Nam rút ngắn khoảng cách và dần tiếp cận được với trình độ công nghệ của các ngân hàng hàng đầu khu vực và trên thế giới.
II. Các giải pháp vĩ mô góp phần tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ nâng các NHTM Việt Nam nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
1. Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tài chính, ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế
Nhiệm vụ đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tài chính ngân hàng là một nhiệm vụ trọng tâm mà ngành đã đề ra trong kế hoạch và chương trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là điều kiện cốt yếu bảo đảm cho các ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả. Đồng thời việc xây dựng, sửa đổi bổ sung hệ thống chính sách pháp luật về tài chính ngân hàng cũng để thực hiện các cam kết quốc tế với các tổ chức, liên minh kinh tế trong khu vực và trên thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực này.
Trước hết Chính phủ và NHNN cần nghiên cứu và sớm ban hành các văn bản điều chỉnh các loại hình nghiệp vụ ngân hàng hiện đại mà hiện pháp luật Việt Nam chưa có quy định, nhưng trong thời gian tới sẽ được các ngân hàng trong và ngoài nước triển khai theo lộ trình tự do hoá các nghiệp vụ ngân hàng được giao dịch, đồng thời cho phép các NHTM trong nước triển khai thí điểm các loại hình nghiệp vụ mới này để có sự chuẩn bị cần thiết trước khi hội nhập.
Chế độ hạch toán, kế toán và các quy định liên quan đến việc công khai hoá thông tin cũng phải được hoàn thiện theo tiêu chuẩn quốc tế. Việc hoàn thiện chế độ kế toán, kiểm toán theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ giải quyết sự khác biệt trong việc phân loại nợ và đánh giá thực trạng tài chính của các NHTM Việt Nam theo chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế với chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam, đồng thời cũng tạo ra một công cụ quản lý quan trọng giúp NHNN tăng cường hiệu quả giám sát của mình đối với từng ngân hàng và toàn bộ hệ thống NHTM.
NHNN cần nghiên cứu để ban hành các văn bản quy định việc công khai hoá thông tin, trong đó đặc biệt quan trọng là những nội dung cần công khai hoá (chẳng hạn như các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh) và thời hạn phải công khai hoá. Thực hiện công khai hoá thông tin là một yêu cầu quan trọng giúp tăng cường hiệu quả quản lý giám sát của NHNN với các NHTM, đồng thời tạo dựng được lòng tin cho công chúng và các nhà đầu tư trong và ngoài nước đối hoạt động kinh doanh của các NHTM.
NHNN và Chính phủ cũng cần xây dựng các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh nói chung và trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nói riêng nhằm đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và sự phát triển ổn định của thị trường ngân hàng, tránh sự cạnh tranh không lành mạnh gây rối loạn thị trường tài chính, ngân hàng khi lĩnh vực tài chính ngân hàng của nước ta thực sự mở cửa. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến phá sản doanh nghiệp, thu hồi nợ và các biện pháp xử lý tài sản thế chấp cũng cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hơn nhằm đảm bảo sự công khai, minh bạch, nhất quán và đơn giản hơn trong quá trình xử lý tài sản thế chấp và thu hồi nợ của các ngân hàng. NHNN và các cơ quan hữu quan cũng cần nghiên cứu để ban hành những văn bản điều chỉnh các giao dịch ngân hàng điện tử và các giao dịch ngân hàng hiện đại khác để tạo khung pháp lý, thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ này.
2. Tiếp tục thực hiện cải cách hệ thống NHTM nhà nước và các DNNN, giảm bớt sự can thiệp quá mức của Chính phủ và các cơ quan công quyền vào hoạt động kinh doanh của các NHTM nhà nước nhằm tăng cường tính tự chủ, tính tự chịu trách nhiệm của các NHTM nhà nước
Như đã đề cập và phân tích ở chương II, thực trạng năng lực tài chính còn yếu kém về nhiều mặt (quy mô vốn tự có nhỏ bé, tỉ lệ nợ xấu, nợ không sinh lời cao, chất lượng tài sản thấp) hiện nay của các NHTM nhà nước xuất phát từ một nguyên nhân quan trọng, đó là sự yếu kém về tình hình tài chính và hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hệ thống DNNN nói chung trong đó có các NHTM, cũng như do sự can thiệp quá mức của Chính phủ và một số cơ quan công quyền vào hoạt động cho vay của các NHTM nhà nước thông qua các chỉ thị, quyết định cho vay theo diện chính sách đối với các doanh nghiệp, các công ty nhà nước. Vì vậy, để thực hiện tăng cường sức mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các NHTM nhà nước – đầu tàu trong hệ thống NHTM Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, một biện pháp tiên quyết đối với Chính phủ, NHNN và các cơ quan công quyền là phải cải cách triệt để và toàn diện hệ thống NHTM nhà nước và các DNNN, giảm bớt sự can thiệp quá mức vào hoạt động kinh doanh của các NHTM nhà nước nhằm tăng cường tính tự chủ, tính tự chịu trách nhiệm của các NHTM nhà nước.
Trước hết Chính phủ và các bộ ngành có liên quan phải tiếp tục tiến hành sắp xếp lại và cải tổ toàn diện hệ thống các DNNN trong đó có cả các NHTM nhà nước thông qua các biện pháp cụ thể như đẩy mạnh việc cổ phần hoá các DNNN và các NHTM nhà nước; kiên quyết giải thế hay tuyên bố phá sản đối với các DNNN hoạt động yếu kém, thua lỗ; không gia hạn nợ, xoá nợ, không cấp vốn bổ sung cho các DNNN hoạt động kém hiệu quả và chây ỳ trả nợ, đồng thời cho phép các NHTM được phép kiện các doanh nghiệp này ra toà vì chây ỳ trả nợ; tiến tới xoá bỏ dần từng bước các chế độ ưu đãi dưới nhiều hình thức khác nhau đối với các DNNN nhằm tăng cường tính tự chủ và tính tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Đối với các NHTM Việt Nam, ngoài việc áp dụng những biện pháp cải tổ triệt để, toàn diện tương tự như đối với các DNNN, Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan cần giảm dần sự can thiệp quá mức vào hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của các ngân hàng thông qua việc chuyển dần các khoản cho vay chính sách theo các chỉ thị, quyết định của Trung ương đối với các DNNN, các Tổng công ty nhà nước, các dự án, chương trình phát triển của Nhà nước sang Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam và Ngân hàng phát triển Việt Nam; từng bước trao quyền tự chủ cho các NHTM nhà nước trong hoạt động cho vay thương mại và hoạt động kinh doanh khác; trước mắt vẫn tiếp tục hỗ trợ các ngân hàng trong việc cấp vốn điều lệ bổ sung từ nguồn trái phiếu Chính phủ và xử lý triệt để các khoản nợ xấu, nợ khó đòi nhằm tăng năng lực tài chính của các ngân hàng này, tuy nhiên về lâu dài cần xoá bỏ biện pháp cấp vốn điều lệ bổ sung từ ngân sách Nhà nước mà thay vào đó tiến hành cổ phần hoá tất cả các NHTM nhà nước nhằm tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng này đối với hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanh của mình.
3. Xoá bỏ dần bao cấp, bảo hộ đối với các NHTM trong nước đi đôi với nới lỏng từng bước các quy định hạn chế mang tính hành chính đối với các NHTM trong và ngoài nước nhằm tạo môi trường hoạt động kinh doanh minh bạch, lành mạnh, bình đẳng hơn cho hệ thống NHTM Việt Nam Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay một cách thực sự vững chắc, lâu dài, bên cạnh việc từng bước tạo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các NHTM nhà nước và NHTMCP, Chính phủ, NHNN và Quốc hội cần áp dụng biện pháp, chính sách để tạo ra môi trường hoạt động kinh doanh thực sự bình đẳng, công bằng, lành mạnh và minh bạch cho toàn hệ thống NHTM Việt Nam. Khi đó áp lực cạnh tranh giữa các NHTM trong nước với nhau cũng như giữa các NHTM trong nước với các NHTM nước ngoài sẽ tạo động lực đổi mới mạnh mẽ về mọi mặt cho các NHTM Việt Nam một cách vững chắc. Đồng thời việc tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng cũng chính nhằm thực hiện các cam kết theo nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc mở cửa thị trường trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại song phương và đa phương đối với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Để thực hiện thành công mục tiêu này, trước hết NHNN và Chính phủ phải tiến hành từng bước xoá bỏ các hình thức bao cấp, bảo hộ đối với các NHTM trong nước, nhất là các NHTM nhà nước, song song với nới lỏng dần các quy định hạn chế mang tính chất hành chính đối với các NHTM trong nước và đặc biệt là các NHTM nước ngoài. Việc xoá bỏ bảo hộ, bao cấp và các quy định hạn chế như vậy cần phải gắn với lộ trình và nội dung hội nhập của ngành ngân hàng theo các cam kết khu vực và quốc tế. Cụ thể NHNN, Chính phủ và Quốc hội cần xoá bỏ từng bước cơ chế cấp vốn điều lệ bổ sung và cấp vốn hỗ trợ xử lý nợ xấu đối với các NHTM nhà nước, bãi bỏ cơ chế ưu đãi về thuế sử dụng vốn đối với các NHTM nhà nước, tiến tới bãi bỏ tất cả các quy định khác (về chế độ tài chính, thuế khoá, về tổ chức, về hoạt động kinh doanh,…) mà các quy định đó không những có tính chất ưu đãi và có lợi cho các NHTM nhà nước hơn NHTMCP, NHTM trong nước hơn NHTM nước ngoài mà còn phạm các nguyên tắc của WTO và các liên minh thương mại, tài chính, ngân hàng khu vực và quốc tế khác mà Việt Nam có cam kết. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Bên cạnh đó, NHNN và Chính phủ cần có chính sách nới lỏng dần các quy định hạn chế mang tính chất hành chính cho phù hợp với các cam kết quốc tế, trước hết là đối với các NHTMCP, sau đó là các NHTM nước ngoài, chẳng hạn như các quy định hạn chế về số vốn điều lệ, tỷ lệ góp vốn tối đa của bên nước ngoài vào một ngân hàng trong nước, số lượng nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng nước ngoài, số lượng và phạm vi chi nhánh và phòng giao dịch được mở, số lượng và phạm vi địa lý lắp đặt hệ thống máy ATM, tổng số hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, tổng giá trị các giao dịch về dịch vụ ngân hàng, giới hạn tỷ lệ huy động vốn bằng VND so với vốn điều lệ, tổng số người được tuyển dụng của các NHTM nước ngoài,… Đối với toàn bộ hệ thống NHTM, các quy định, can thiệp hành chính đối với tất cả các ngân hàng về các biện pháp điều hành tỷ giá, lãi suất cũng cần được xem xét bãi bỏ trong tương lai xa hơn, khi mà nền kinh tế Việt Nam đã thực sự có được một cơ chế thị trường đồng bộ.
4. Nâng cao năng lực quản lý vĩ mô và vai trò giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
Trong mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp hiện đại như hiện nay, NHNN cần phải phát huy tối đa chức năng quản lý vĩ mô và vai trò giám sát, là “ngân hàng của các ngân hàng” trên lãnh thổ Việt Nam. Để thực hiện tốt các chức năng, vai trò đó, Chính phủ và Quốc hội cần tăng cường quyền lực cho NHNN trong việc điều chỉnh các chính sách tài chính tiền tệ và các hoạt động giám sát ngân hàng cũng như các thực hiện nhiệm vụ đối ngoại của Nhà nước về ngân hàng. Hiện nay, ngoài NHNN có rất nhiều cơ quan cùng tham gia vào việc quản lý, giám sát hoạt động của các ngân hàng như Chính phủ (tham gia vào hoạt động cho vay của các NHTM nhà nước) và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố (tham gia vào việc cấp giấy phép và giám sát hoạt động của các NHTM trên địa bàn). Điều này dẫn đến sự chồng chéo trong công tác quản lý và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của các chính sách của NHNN, ảnh hưởng đến vai trò độc lập của NH trung ương. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Bên cạnh đó, bản thân NHNN phải nâng cao trình độ nguồn nhân lực và tiến hành cải cách mô hình tổ chức hoạt động theo cơ chế mới. Thực trạng nguồn nhân lực hạn chế do ảnh hưởng nhiều từ thời bao cấp và mô hình tổ chức phân tán với 64 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố của NHNN hiện nay làm giảm hiệu quả quản lý vĩ mô, luồng thông tin trong nội bộ không thông suốt và không được cập nhật kịp thời, quá trình xem xét ra quyết định và thực thi quyết định bị kéo dài. Các công cụ và phương pháp quản lý, giám sát của NHNN cũng phải được đổi mới để đảm bảo hiệu quả cao hơn. Hiện nay, hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN vẫn được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc kiểm tra tính tuân thủ các quy định hiện hành mà chưa tập trung phân tích, đánh giá các rủi ro tiềm tàng trong hoạt động của các ngân hàng. Để tăng cường khả năng phát hiện và ngăn ngừa các rủi ro tiềm tàng, các NHNN có thể nghiên cứu và áp dụng các phương pháp, công cụ giám sát ngân hàng hiện đại hiện nay trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc giám sát của Uỷ ban giám sát ngân hàng BASEL như Hệ thống giám sát ngân hàng CAMELS, SEER và SCOR của Hoa Kỳ, RATE và TRAM của Anh, ORAP và SAABA của Pháp,…
5. Xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin và thị trường tài chính tiền tệ Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
Hạ tầng công nghệ thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nền kinh tế. Hiện nay công nghệ thông tin Việt Nam là một trong những ngành có tốc độ phát triển cao nhất trong khu vực và trên thế giới. Đây là một thuận lợi cho quá trình hiện đại hoá ngành ngân hàng Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng và phát triển hoàn thiện, đồng bộ hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước không những góp phần tăng cường năng lực công nghệ cho các ngân hàng mà còn cho phép các ngân hàng triển khai các sản phẩm, dịch vụ mới trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại, góp phần đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ và tăng hiệu quả quản lý, hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Trong quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, ngoài việc cải cách và phát triển hệ thống NHTM cho phù hợp với yêu cầu của hội nhập, thị trường tài chính, tiền tệ cũng phải được xây dựng và phát triển đồng bộ, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến sự phát triển của thị trường giao dịch nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm tiền gửi. Thực tế phát triển hệ thống NHTM ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy một nền kinh tế và hệ thống NHTM chỉ có thể phát triển vững chắc và phát huy mọi hiệu quả trên cơ sở đổi mới cân đối, đồng bộ cả hệ thống NHTM và thị trường tài chính tiền tệ. Sự phát triển đồng bộ của thị trường tài chính tiền tệ một mặt tạo ra sự cạnh tranh đối với các ngân hàng trong việc thu hút và phân bổ các nguồn vốn trong xã hội, từ đó tạo ra động lực thúc đẩy sự đổi mới của các ngân hàng, mặt khác nó cũng tạo ra cho các ngân hàng những cơ hội để đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, cung cấp các công cụ đa dạng cho phép các ngân hàng linh hoạt hơn trong việc điều tiết các nguồn vốn, nâng cao tính thanh khoản và tăng cường khả năng chống đỡ trước những diễn biến bất lợi của thị trường.
KẾT LUẬN
Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của Việt Nam đang diễn ra hết sức nhanh chóng và mạnh mẽ. Chỉ một thời gian không lâu nữa, ngành ngân hàng Việt Nam sẽ phải mở dần cánh cửa hội nhập, bước ra sân chơi rộng lớn hơn, thực hiện tự do hoá theo các cam kết với các quốc gia và các tổ chức, liên minh kinh tế, thương mại trong khu vực và trên thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội và triển vọng cho các NHTM Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít những thách thức khó khăn, đòi hỏi các ngân hàng không ngừng nỗ lực đổi mới về mọi mặt nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường tài chính, ngân hàng trong và ngoài nước. Hệ thống NHTM Việt Nam chính là huyết mạch của nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và sứ mệnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời đại mới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp, bài viết đã tập trung phân tích và làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, những thành tựu và những hạn chế, tồn tại trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện nay cũng như những cơ hội và thách thức đối với các NHTM Việt Nam trong tiến trình mở, cửa hội nhập, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị đối với các NHTM Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan hữu quan nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả cạnh tranh của các NHTM Việt Nam khi ngành ngân hàng bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế.
Với mong muốn đề tài “Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, tác giả hy vọng trên cơ sở những nghiên cứu trong phạm vi của khoá luận tốt nghiệp, các NHTM Việt Nam cùng với Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan liên quan có thể cùng nhau phối hợp xây dựng các chiến lược và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng VCB

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
