Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Đánh giá hiệu quả hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TMCP Tiên Phong dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG TRƯỚC KHI TÁI CẤU TRÚC:
3.1.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Tiên Phong:
- Tổng quan:
- ên ngân hàng:
- Tên tiếng Anh:
- Tên giao dịch:
- Tên viết tắt:
- Vốn điều lệ:
- Giấy phép số:
- Địa chỉ trụ sở:
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG Tien Phong Commercial Joint Stock Bank Tien Phong Bank TPBank 5.550.000.000.000 (Năm nghìn năm trăm năm mươi tỷ) đồng 123/GP-NHNN ngày 5/5/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam Tòa nhà FPT, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Lịch sử hình thành:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) Tiên Phong (gọi tắt là TPBank) được thành lập vào ngày 5-5-2008 theo Giấy cấp phép thành lập số 123/GP-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).
Ngân hàng (NH) có trụ sở chính tại Tòa nhà FPT, Phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam.
Được thành lập bởi Công ty cổ phần FPT, Công ty thông tin di động VMS (MobiFone) và Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare), TPBank được kế thừa các thế mạnh về công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông di động, tiềm lực tài chính và vị thế của các cổ đông lớn này mang lại. TPBank xác định phát huy các ưu thế này để xây dựng cho mình một nền tảng bền vững và mang đến cho khách hàng cuộc sống tài chính đơn giản và hiệu quả hơn.
FPT là cổ đông lớn nhất với 16.90% cổ phần, đóng vai trò quan trong việc hỗ trợ công nghệ và kinh nghiệm khai thác các giải pháp công nghệ thông tin trong hoạt động của Ngân hàng. Các khách hàng của TPBank cũng được hưởng lợi khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ khác của FPT như viễn thông, máy tính, điện thoại di động, chứng khoán, đầu tư…nhờ các gói dịch vụ trọn gói của TPBank phối hợp với FPT.
Tổng Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare) là cổ đông lớn của TPBank với số vốn góp 10%. Vinare góp phần quan trọng cho TPBank về tiềm lực tài chính, hệ thống đối tác rộng khắp và kinh nghiệm, chuyên môn sâu trong lĩnh vực quản trị tài chính.
Công ty Thông tin di động VMS (MobiFone) cũng là cổ đông lớn của TPBank với số vốn góp 7.14%. VMS (MobiFone) đóng vai trò chiến lược trong việc hỗ trợ các giải pháp về việc sử dụng các dịch vụ Ngân hàng thông qua kênh điện thoại di động (Mobile Banking) với chất lượng dịch vụ cao. Mobile Banking là một yếu tố không thể thiếu của một Ngân hàng hiện đại nhằm phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện. Các khách hàng của MobiFone cũng sẽ được hưởng lợi khi có thêm sự lựa chọn trong việc sử dụng dịch vụ Ngân hàng thông qua mạng di động chất lượng cao mà họ gắn bó.
TPBank xác định sứ mệnh đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin viễn thông và các giải pháp công nghệ trong hoạt động Ngân hàng nhằm mang tới giải pháp tài chính mới, phong cách và chất lượng dịch vụ mới, mô hình hoạt động và quản trị tiên tiến, đóng góp vào sự phát triển của ngành Ngân hàng trong nước.
TPBank cung cấp dịch vụ thông qua mạng lưới phòng giao dịch (PGD) và chi nhánh hoặc phục vụ tận nhà hay cơ quan. Trong năm 2008, TPBank đã có mặt tại 2 thành phố lớn nhất của cả nước là Hà nội và TP. Hồ Chí Minh. Trong năm 2009, TPBank đã mở rộng sự hiện diện của mình tại Hải Phòng, Cần Thơ và Đà Nẵng. Và đầu năm 2011, TPBank đã tiếp tục mở rộng mạng lưới của mình tại Đồng Nai, An Giang để có thể phục vụ các khách hàng của TPBank một cách tốt nhất. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Tầm nhìn, sứ mệnh và quá trình phát triển: Tầm nhìn:
TPBank mong muốn trở thành ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, có nền tảng hoạt động bền vững, luôn tạo ra cơ hội và điều kiện tốt nhất để khách hàng, cổ đông, và cán bộ nhân viên đạt được ước mơ về một cuộc sống tài chính hiệu quả và giản đơn.
Sứ mệnh:
TPBank ứng dụng công nghệ để cung cấp tới khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tài chính hiệu quả, giản đơn trên một nền tảng hoạt động ngân hàng bền vững.
Quá trình phát triển và các cột mốc đáng nhớ:
Được thành lập ngày 05/05/2008, Ngân hàng TMCP Tiên Phong kế thừa những thế mạnh về công nghệ hiện đại, kinh nghiệm thị trường cùng tiềm lực tài chính của các cổ đông chiến lược bao gồm: Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI, Tập đoàn Công nghệ FPT, Công ty Thông tin Di động VMS (MobiFone), Tổng công ty Tái bảo hiểm Việt Nam (Vinare) và Tập đoàn Tài chính SBI Ven Holding Pte. Ltd (Singapore).
Tháng 12/2013, TPBank đã có bước ngoặt lớn khi tái cơ cấu thành công và vinh dự nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích này. Đồng thời Ngân hàng TMCP Tiên Phong cũng đưa ra bộ nhận diện thương hiệu mới với tên giao dịch được rút gọn lại thành TPBank.
Kể từ khi thành lập, TPBank luôn nỗ lực mang lại các giải pháp, sản phẩm tài chính Ngân hàng hiệu quả nhất cho khách hàng dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến và trình độ quản lý chuyên sâu. Với những nỗ lực đó TPBank đã nhận được các phần thưởng xứng đáng: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, được Tạp chí Global Financial Market Review trao tặng giải thưởng Ngân hàng Số sáng tạo nhất Việt Nam 2014. Đặc biệt, tháng 11/2014, TPBank vinh dự là Á quân chương trình bình chọn ngân hàng điện tử yêu thích tại Việt Nam – MyEbank, trong đó, đứng vị trí số 1 về Mobile Banking, Top 5 Internet Banking.
Cùng với tuyên ngôn thương hiệu “Vì chúng tôi hiểu bạn“, TPBank mong muốn trở thành ngân hàng điện tử hàng đầu Việt Nam bằng phong cách và chất lượng dịch vụ mới.
Cột mốc đáng nhớ của TPBANK:
Tháng 5-2008:
Nhận giấy phép thành lập Tiên Phong Bank
Hoàn tất việc triển khai hệ thống ngân hàng lõi Flex-cube
Tháng 6-2008:
Khai trương Tiên Phong Bank
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện với ngân hàng đầu tư và Việt Nam (BIDV) và khung hợp tác chung với ngân hàng Citibank.
Tháng 8-2009:
Khai trương TPBank chi nhánh Hà Nội
Chính thức tham gia hệ thống thanh toán lớn nhất tại Việt Nam-smarklink Ra mắt hệ thống ngân hàng tự động Minibank 24/7
Tháng 9-2008:
Chính thức là công ty đại chúng
Tháng 10-2008:
Khai trương TPBank chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
Ra mắt dịch vụ internet banking dành cho khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp
Tháng 12-2008:
Nhận chứng chỉ ISO 9001:2000 cho toàn bộ hoạt động, sản phẩm, dịch vụ của Tiên Phong Bank
Tháng 3-2009:
Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất của tiên phong bank được tổ chức
Tháng 6-2009: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Khai trương Tiên Phong Bank chi nhánh Cần Thơ Kỷ niệm 1 năm thành lập
Tháng 8-2009:
Khai trương chi nhánh Hải Phòng
Tháng 9-2009:
Khai trương chi nhánh Đà Nẵng
Tháng 3-2010:
Đại hội đồng cổ đông lần hai của TPBank được tổ chức
Tháng 5-2010:
Khai trương sở giao dịch của TPBank tại Hà Nội
Tháng 8-2010:
Tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng
Tháng 9-2010:
Khai trương chi nhánh Tiên Phong
Tháng 10-2010:
Khai trương chi nhánh Thăng Long
Tháng 12-2010:
Tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng
Tháng 01-2011:
Khai trương chi nhánh Đồng Nai Khai trương chi nhánh An Giang
Tháng 4-2011:
Đại hội đồng cổ đông lần ba được tổ chức
Tháng 11-2012:
Đạt giải thưởng “Tin và dùng” 2013 cho Dịch vụ Ngân hàng điện tử do độc giả Thời báo Kinh tế Việt Nam – Tạp chí Tư vấn Tiêu & Dùng bình chọn.
Tháng 11-2013:
TPBank đạt giải “Ngân hàng sáng tạo tiêu biểu” năm 2013 – giải thường do Tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG song hành cùng hội thảo Diễn đàn ngân hàng khu vực Đông Nam Á bình chọn.
Tháng 12-2013:
TPBank ra mắt nhận diện thương hiệu mới và đón nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ về thành tích xuất sắc trong công tác tái cơ cấu.
Tháng 12-2014:
Khai trương Trụ sở mới tại 57 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội Nâng cáp thành công hệ thống core banking FCC lên phiên bản 12.03
Tháng 1-2015:
Khai trương TPBank Hoàng Mai
Tháng 3-2015:
Khai trương TPBank Cửu Long Khai trương TPBank Tân Phú
Đến 31/12/2010 số vốn điều lệ của TPBank đạt 3.000 tỷ đồng
TPBank xác định sứ mệnh đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin viễn thông và các giải pháp công nghệ trong hoạt động ngân hàng nhằm mang tới giải pháp tài chính mới, phong cách và chất lượng dịch vụ mới, mô hình hoạt động và quản trị tiên tiến, đóng góp vào sự phát triển của ngân hàng trong nước. Với số lượng người sử dụng máy tính và điện thoại ngày càng tăng, sự bùng nổ về việc ứng dụng CNTT trong đời sống mọi mặt của người Việt Nam, chiến lược của TPBank là khai thác các ứng dụng công nghệ để tạo ra một hệ thống tích hợp nhằm mang tới những sản phẩm dịch vụ đa dạng phong phú và tiện lợi tới đông đảo người dân Việt Nam.
TPBank cam kết mang lại cuộc sống tài chính hiệu quả và đơn giản cho các thành viên liên quan:
- Với khách hàng: cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tài chính ngân hàng giúp khách hàng tối ưu hóa hiệu quả tài chính cùng với sự thuận tiện và đơn giản khi tiếp cận và sử dụng các dịch vụ và sản phẩm.
- Với cổ đông: là một tổ chức kinh tế hoạt động bền vững và hiệu quả mang tới cổ đông lợi ích kinh tế cao, đều đặn và dài hạn.
- Với cán bộ nhân viên: là ngôi nhà thứ hai mang tới từng thành viên một cuộc sống sung túc và đầy đủ về vật chất và tinh thần.
- Với cộng đồng xã hội: là tổ chức có trách nhiệm xã hội, tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động xã hội, cộng đồng, góp phần vào sự hưng thịnh của đất nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Tiên Phong: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Khóa luận sử dụng số liệu chính thức của NH Tiên Phong trong giai đoạn 2008 – 2014.
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh của TPBank trong giai đoạn 2008 – 2010
Năm 2008, với sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Thế giới gây ra những biến động phức tạp về lãi suất và tỷ giá, khiến cho hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng trở nên khó khăn. Thời điểm đó cũng là lúc TPBank ra đời, nhưng với những cố gắng, nỗ lực của toàn thể CBNV và sự lãnh đạo sáng suốt của HĐQT, với sự điều hành chuyên nghiệp và đầy kinh nghiệm của Tổng Giám đốc, Ban Điều hành nên hoạt động kinh doanh vẫn đạt được những kết quả khả quan. Tính đến cuối năm 2008, tổng tài sản của Ngân hàng là 2.419 tỷ đồng, đến năm 2009, tài sản của Ngân hàng tăng 343% và tổng nguồn vốn huy động, tổng dư nợ đều tăng, tăng 8.310, 3.058 và 2.896 tỷ đồng so với 2008. Tổng thu nhập hoạt động thuần năm 2009 đạt 310 tỷ đồng, tăng 189 tỷ đồng (tăng 156%) so với năm 2008 và lợi nhuận sau thuế tăng 151%. Năm 2010, doanh thu từ hoạt động đạt 460 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế đạt 162 tỷ đồng, tăng lần lượt 48% và 26% so với năm 2009. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Hình 3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank giai đoạn 2008 – 2010
Theo các Báo cáo tài chính qua các năm, hoạt động kinh doanh của TPBank có sự thay đổi khá rõ trong cơ cấu tỷ trọng các hoạt động kinh doanh của NH. Năm 2008, thu nhập của TPBank chủ yếu là từ nguồn thu nhập lãi thuần, chiếm giá trị lớn nhất, với 130 tỷ đồng, các hoạt động khác không mang lại nguồn thu cao cho NH bởi vì đây là năm đầu tiên NH mới thành lập, các hoạt động như đầu tư chứng khoán, kinh doanh ngoại hối chưa được quan tâm đẩy mạnh. Sang đến năm 2009, thu nhập của NH từ các hoạt động có dấu hiệu dàn trải hơn năm 2008, tuy nhiên vẫn chưa thật sự đồng đều. Thu nhập chính của NH vẫn tập trung vào nguồn thu lãi, với 216 tỷ đồng, hoạt động dịch vụ đạt 18 tỷ đồng, các hoạt động khác như chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, góp vốn mua cổ phần có sự gia tăng, lần lượt là 21, 79 và 4 tỷ đồng. Trong khi những hoạt động khác có sự gia tăng thì hoạt động kinh doanh ngoại hối của NH vẫn lỗ 31 tỷ đồng. Lý giải cho điều này là vì năm 2009, do các chính sách của Nhà nước mà lĩnh vực kinh doanh vàng và ngoại tệ bị hạn chế, nên đã gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NH, và đặc biệt là với TPBank NH vừa mới thành lập được 1 năm, chưa có nhiều kinh nghiệm đến hoạt động ngoại hối lúc bấy giờ. Năm 2010, hoạt động kinh doanh của TPBank có nhiều khả quan hơn, các hoạt động hầu hết đều đem về nguồn thu cho NH, chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là thu nhập từ lãi thuần, với 213 tỷ đồng, hoạt động dịch vụ 21 tỷ đồng, chứng khoán kinh doanh 2 tỷ đồng, chứng khoán đầu tư 12 tỷ đồng, nguồn thu từ hoạt động khác tăng mạnh, tăng tỷ đồng, góp vốn mua cổ phần 6 tỷ đồng. Bên cạnh việc tăng nguồn thu từ các hoạt động, chi phí hoạt động của NH cũng có chiều hướng tăng, chi phí hoạt động năm 2010 là 197 tỷ đồng tương ứng 58% so với năm 2009, việc tăng chi phí hoạt động có ảnh hưởng đến lợi nhuận trước thuế của NH. Hơn nữa, việc tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng năm 2010 lên đến 130% so với năm 2009 đã làm ảnh hưởng đến lợi nhuận sau thuế, cụ thể lợi nhuận sau thuế của NH chỉ đạt 162 tỷ đồng.
Nhìn chung, lợi nhuận của NH tăng qua các năm, đây là tín hiệu vui cho thấy hoạt động kinh doanh của NH có khả quan và có sinh lời khi vừa mới thành lập và phần lớn các NH khác đang đối mặt với nhiều khó khăn. Trong những năm qua, NHNN tiếp tục áp dụng các chính sách tiền tệ chặt chẽ, giảm lãi suất điều hành và ổn định cung cầu ngoại tệ,… Bên cạnh đó, TPBank liên tục đẩy mạnh chất lượng dịch vụ hoạt động, tìm kiếm KH, và thực hiện các chương trình ưu đãi toàn diện dành cho khách hàng cá nhân, các chương trình khuyến mãi đã giúp cho hoạt động kinh doanh tại TPBank dần thoát khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế lên toàn bộ hệ thống Ngân hàng, khẳng định được vị thế của mình trong ngành, và hoàn thành xuất sắc kế hoạch đề ra, trích lập đủ các quỹ dự phòng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu tài chính của TPBank
Bảng 3.2. thể hiện một số chỉ tiêu tài chính của TPBank cho thấy các chỉ tiêu đều tốt. Hệ số an toàn vốn (CAR) đều đạt mức 10-15%, đảm bảo theo đúng quy định của NHNN là trên 9% cho thấy sự an toàn trong nguồn vốn của NH. Có được điều đó một phần là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn thấp vì tình hình NH vừa mới thành lập, đang trong quá trình xây dựng, quảng bá thương hiệu đến KH. Những năm đầu vừa mới thành lập, chịu sự ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tại Mỹ, và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế, hệ số ROA và ROE của NH không được cao, cụ thể năm 2008, hệ số ROA đạt 4,18%, tuy nhiên ROA giảm chỉ còn 1,95% vào năm 2009 và tiếp tục giảm còn 1,02% vào 2010; ROE giảm từ 9,91% năm 2008 xuống còn 6,69% năm 2010. Tỷ lệ nợ xấu năm 2008 chỉ 0,6%, tuy nhiên tỷ lệ này tăng qua các năm, năm 2009 là 1,4% và 2010 là 2,2%. Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) qua các năm khá cao, từ 10% năm 2008 tăng lên 15% năm 2010, đạt yêu cầu về hệ số CAR theo quy định của NHNN là 9%. Qua các chỉ tiêu về tài chính cho thấy, sau 3 năm hoạt động, với nguồn vốn ban đầu còn thấp, NH chưa đẩy mạnh các hoạt động cho vay đến KH, chưa sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Bên cạnh đó, TPBank cần đặc biệt quan tâm đến các khoản nợ xấu, để đề ra các quy trình, giải pháp cụ thể nhằm hạn chế tối đa mức nợ xấu mà NH đang mắc phải.
3.1.3. Đánh giá vị thế của Ngân hàng TMCP Tiên Phong: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Điểm mạnh:
Ngày 06/06/2008, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức đi vào hoạt động. Ra đời trong bối cảnh kinh tế khó khăn, không mấy thuận lợi, TPBank đã chọn cho mình một con đường riêng để tồn tại và phát triển, phấn đấu trở thành Ngân hàng dẫn đầu về công nghệ hiện đại tại Việt Nam. Con đường hình thành và nỗ lực không ít chông gai, nhưng những gì mà TPBank làm được cho đến nay đã gặt hái không ít những thành công bước đầu. Được đánh giá là NH trẻ dẫn đầu về công nghệ tại Việt Nam, Tiên Phong đã vinh dự nhận được chứng chỉ ISO 9001:2000 cho toàn bộ hoạt động, sản phẩm, dịch vụ của Tiên Phong Bank, đạt giải thưởng “Tin và Dùng” 2013 cho Dịch vụ NH điện tử do độc giả Thời báo Kinh tế Việt Nam – Tạp chí Tư vấn Tiêu & Dùng bình chọn, đạt giải “Ngân hàng sáng tạo tiêu biểu” năm 2013 – giải thưởng do Tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG song hành cùng hội thảo Diễn đàn Ngân hàng khu vực Đông Nam Á bình chọn, và các giải thưởng khác do Thủ tướng Chính phủ trao tặng,…
Về năng lực tài chính: Với vốn điều lệ ban đầu 3.000 tỷ đồng, TPBank trước những khó khăn rất lớn trong việc cạnh tranh với những “ông trùm” trong ngành. Tuy nhiên, với những nỗ lực và sự quyết tâm của toàn thể CBNV, TPBank ngày nay đã đạt được những tín hiệu tích cực trong kết quả hoạt động kinh doanh. Với quyết tâm nâng cao vốn điều lệ nhằm đáp ứng những yêu cầu mở rộng kết quả hoạt động kinh doanh như mở rộng mạng lưới, đẩy mạnh phát triển quy mô hoạt động, đầu tư về cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo những quy định về an toàn vốn,… nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và vươn lên trở thành một trong những NHTMCP hàng đầu Việt Nam.
Về hoạt động kinh doanh: đến 2010 các chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh đều cho thấy kết quả khả quan: tổng vốn huy động đạt 7.557 tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt 5.156 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 2,2%, lợi nhuận trước thuế đạt 213 tỷ đồng.
Về hệ thống CNTT: Kể từ những ngày đầu thành lập, lãnh đạo NH Tiên Phong đã xác định tầm quan trọng trong sự cạnh tranh và phát triển, đồng thời mang lại cho KH sự tiện lợi trong giao dịch mà các NH chưa có. Tháng 10/2008, TPBank tung ra gói NH điện tử (eBank) bao gồm Internet Banking, thẻ ATM và SMS Banking, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động phát triển của Tiên Phong. Ngoài ra Tiên Phong còn giới thiệu đến KH tiện ích xác thực thư bảo lãnh bằng QR Code đầu tiên tại Việt Nam giúp KH tiết kiệm thời gian trong việc hoàn tất thủ tục xác thực với NH,…
Về nguồn nhân lực: đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của HĐQT và Ban điều hành là những người có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực quản trị tài chính – ngân hàng, có sự kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm kinh doanh với kỹ năng quản lý.
Đội ngũ cán bộ tín dụng của NH được đào tạo, có kinh nghiệm, chất lượng cán bộ ngày càng được nâng cao để phù hợp với trình độ phát triển ngày càng cao trong ngành tài chính ngân hàng.
Điểm yếu:
TPBank từ trước đến nay vẫn được xem là NH nhỏ. Các chỉ số về vốn điều lệ, tổng tài sản, nguồn vốn, dư nợ đều thể hiện quy mô của NH nằm trong nhóm các NHTM có quy mô nhỏ trong toàn hệ thống. Bên cạnh đó, Nghị định số 141/2006/NĐ-37
CP của Chính phủ, yêu cầu mức vốn tối thiểu của các NHTM phải đạt 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010, đã buộc TPBank phải huy động các nguồn lực bên ngoài để đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ của NH.
Như đã phân tích ở trên, hiệu quả kinh doanh NH khá khả quan, tuy nhiên vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Các hoạt động của NH vẫn chỉ tập trung vào các hoạt động truyền thống như cho vay và huy động vốn, thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu lãi, các hoạt động khác vẫn chưa được đẩy mạnh.
Về cơ cấu bảng cân đối kế toán của NH cho thấy, hơn 80% tổng tài sản vẫn tập trung nhiều vào các hoạt động tín dụng và có tính chất tương tự như tín dụng và tỷ lệ này có xu hướng tăng qua các năm. Trong đó 3 khoản mục đáng chú ý thể hiện danh mục đầu tư của NH chứa đựng khá nhiều rủi ro là dư nợ cho vay, chứng khoán đầu tư và tài sản có khác. 3 khoản mục này có sự gia tăng khá bất thường trong ba năm trở lại đây. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Bảng 3.3: Một số khoản mục tài sản của TPBank
Từ dữ liệu Bảng 3.3. cho thấy, dư nợ cho vay của TPBank có tốc độ tăng “chóng mặt”, tăng từ 275 tỷ đồng (năm 2008) lên đến 5.156 tỷ đồng (năm 2010) tăng 4.881 tỷ đồng trong thời kỳ nền kinh tế khó khăn và tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống NHTM thấp. Khoản mục Chứng khoán đầu tư và tài sản có khác của NH cũng có xu hướng tăng, và chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng tài sản. Trong báo cáo tài chính NH năm 2010, khoản mục tài sản có khác bao gồm 692 tỷ đồng mà NH ủy thác cho Công ty CP Quản lý quỹ đầu tư FPT để đầu tư chứng khoán và 3.323 tỷ đồng là số tiền mà NH đặt cọc tại các Công ty chứng khoán với mục đích thu mua trái phiếu với yêu cầu nhất định về lợi tức.
Cơ hội:
Theo quan điểm của Nhà Kinh tế học P. Samuelson “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trường”. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, NH là một loại hình DN đặc biệt với sản phẩm vô hình, không tồn tại dưới dạng vật chất như các DN bình thường khác. Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế của thời đại, việc chủ động nhận thức và đánh giá được giá trị của chính mình, và sẵn sàng tham gia vào cuộc chạy đua là điều mà TPBank đang hướng đến và để làm được điều này, TPBank chủ động tiến tới quá trình tái cơ cấu nhằm mở rộng quy mô, danh tiếng và dễ dàng tiếp cận những KH tiềm năng một cách nhanh nhất của NH trên thị trường kinh tế. Với việc tự tái cơ cấu bằng biện pháp tăng vốn điều lệ chắc chắn sẽ mở ra cơ hội mới cho NH, dễ dàng đẩy mạnh các hoạt động huy động vốn, cho vay và đầu tư.
Thách thức:
Mặc dù trong thời gian qua, hệ thống NHTMVN có bước phát triển nhất định tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số thách thức đối với các NH. Nếu so với các NHTM hiện nay, TPBank nằm trong số những NH có tiềm lực tài chính nhỏ, nên sẽ có những khó khăn đối với NH trong công tác quản lý rủi ro. Bên cạnh đó, khủng hoảng kinh tế cũng gây ra những khoản nợ xấu cho NH, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của NH. Nền kinh tế nước ta vẫn đang trong quá trình phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng trầm trọng vừa qua, điều này sẽ dẫn đến nhiều KH không trả nợ đúng hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của NH.
Việc hội nhập kinh tế quốc tế mang lại những cơ hội, cũng như những thách thức đối với TPBank, vì nó làm tăng rủi ro cho NH trong khi hệ thống quản lý chưa được hoàn thiện, đồng bộ giữa các phòng ban. Thêm vào đó, đòi hỏi TPBank phải có một nguồn nhân lực không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải có đạo đức nghề nghiệp, được trang bị đầy đủ những kỹ năng về phân tích, đánh giá và dự báo mô hình theo tiêu chuẩn quốc tế.
3.2. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
3.2.1. Động cơ tiến hành tái cấu trúc:
Đáp ứng phù hợp với chủ trương của Chính phủ và NHNN
Những yếu kém của một số bộ phận các NHTM hiện nay như năng lực quản lý, điều hành còn yếu, quy mô tài chính nhỏ, trình độ lãnh đạo chưa cao, trình độ CBNV chưa được đẩy mạnh, công nghệ còn nhiều hạn chế,… có thể sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính quốc gia. Quy mô tín dụng của một số bộ phận NHTM quá cao, vì vậy nếu nền kinh tế quốc gia có những sự thay đổi tiêu cực thì những NHTM này sẽ có thể bị ảnh hưởng xấu. Trái lại, sự bất ổn của hệ thống NH có thể sẽ tác động lớn đến sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô. Một NH yếu kém sẽ khó khăn trong công tác huy động và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả cho nền kinh tế, và có khả năng sẽ ảnh hưởng toàn bộ hệ thống NH, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống tài chính và chính sách tiền tệ của cả nước. Chính vì thế, tái cấu trúc NH là yêu cầu cấp bách hiện này nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các NH, đặc biệt là những NH nhỏ, góp phần ổn định nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế bền vững. Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị lần 3 của Ban chấp hành TW Đảng Khóa về việc tái cơ cấu nền kinh tế với một trong ba lĩnh vực quan trọng nhất là cơ cấu thị trường tài chính, trọng tâm nhất là tái cấu trúc hệ thống các TCTD và NHTM. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký quyết định ban hành đề án “Cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2011 – 2015” (Tháng 2/2012) nhằm tái cấu trúc hệ thống các TCTD và góp phần ổn định kinh tế một cách hiệu quản, an toàn và bền vững.
Chiến lược tái cấu trúc của TPBank:
Cùng với đó, năm 2011, NHNN công bố danh sách 9 NH yếu kém, bắt buộc phải tái cấu trúc. Những NH buộc phải tiến hành tái cấu trúc là vì nợ xấu tăng cao, hoạt động kinh doanh thua lỗ, có NH đang đứng trên bờ vực phá sản, thanh khoản kém,… Thời điểm đó, Tiên Phong vừa mới thành lập được 3 năm, là một trong số ít những NH còn non trẻ trong danh sách phải tiến hành tái cấu trúc. NH Tiên Phong vốn như một đứa trẻ, dễ uốn nắn nên việc tái cấu trúc không phải tốn nhiều thời gian để tiến hành như những NH gạo cội khác.
Không giấu giếm những yếu kém của mình trong công tác hoạt động, các lãnh đạo của Tiên Phong đã xác định được chiến lược tái cấu trúc cho NH. Trên cơ sở nguyện vọng của các cổ đông, Tiên Phong đã xây dựng một số chiến lược cho công tác tái cấu trúc của mình gồm 3 giai đoạn trọng tâm. Chú trọng tập trung khắc phục những yếu kém trong hoạt động của NH, chủ động kêu gọi nguồn vốn đầu tư từ các cổ đông bên ngoài, nhằm lành mạnh bảng cân đối kế toán. Giai đoạn 2, NH tập trung củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh và công tác quản trị rủi ro. Giai đoạn 3 tập trung phát triển và ổn định kinh doanh nhằm thu lãi từ các hoạt động, nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần ổn định và phát triển an toàn, hiệu quả, đưa TPBank trở thành một Ngân hàng mạnh và lọt vào Top 15 Ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam.
3.2.2. Tái cấu trúc tài chính:
Xử lý nợ xấu:
Nguyên nhân khách quan:
Ra đời vào khoảng giữa năm 2008, chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, môi trường kinh doanh trong nước bất lợi đã ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kinh doanh của NH, đặc biệt là chất lượng tín dụng giảm sút, nợ xấu có chiều hướng gia tăng qua các năm. Theo quy định của chuẩn mực quốc tế, tỷ lệ nợ xấu chấp nhận được là ở mức 5%, nếu mức nợ xấu vượt quá mức độ cho phép này sẽ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến NH. Tại thời điểm đó, mức tiêu thụ hàng hóa giảm mạnh, hoạt động mua bán gặp nhiều khó khăn, thị trường bất động sản đóng băng, hoạt động của hầu hết các NH trì trệ, năng lực tài chính giảm sút,… đã làm cho tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng chậm lại đáng kể, và tốc độ nợ xấu tăng. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Thêm vào đó, công tác kiểm tra, giám sát của NHNN chưa được đẩy mạnh, chưa xử lý triệt để những vi phạm và rủi ro trong hoạt động tín dụng tại các TCTD, đặc biệt là những vi phạm về an toàn vốn tối thiểu, trích lập dự phòng hay những vi phạm về quy định cấp tín dụng,…
Nguyên nhân chủ quan:
Thành lập trong thời kỳ khủng hoảng, và còn non trẻ trong công tác quản trị, điều hành tín dụng nên TPBank gặp phải những khó khăn bước đầu. Công tác phân tích, đánh giá và phân loại KH chưa phù hợp. Công tác thẩm định, quyết định cho vay và kiểm tra chất lượng tài sản đảm bảo, tình hình sản xuất kinh doanh của KH chưa tuân thủ đúng theo quy định của NHNN. Một số CBNV kinh doanh đánh giá quá cao TSĐB, không đúng theo thực tế, TSĐB thiếu giấy tờ pháp lý, nên có một số trường hợp dẫn đến tranh chấp,…
Bảng 3.4. Tỷ lệ nợ xấu Ngân hàng TMCP Tiên Phong giai đoạn Quý III/2011 – 2013
Cũng như những NH khác trong thời kỳ này, thời kỳ khủng hoảng ngành tài chính NH 2011 – 2012, TPBank lâm vào tình trạng nợ xấu kéo dài, và có xu hướng gia tăng qua các năm. Bảng 3.4 cho thấy nợ xấu của NH đạt 278 tỷ đồng vào quý III/2011 và tăng lên 285 tỷ đồng vào năm 2012 tương đương 77%. Đến năm 2013, sau quá trình tái cấu trúc tỷ lệ nợ xấu chưa được xử lý hoàn toàn nhưng chỉ còn 225 tỷ đồng. Sau nhiều nỗ lực trong công tác xử lý nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đã giảm đáng kể từ 6,4% (2011) xuống còn 1,8% (2013).
Để làm tốt công tác tái cấu trúc tài chính, TPBank đã chủ động tăng cường trích lập dự phòng, dùng nguồn dự phòng được trích lập sẵn để xử lý nợ xấu trong thời gian qua theo quy định của pháp luật. NH cũng chủ động liên hệ và trao đổi với KH về việc kéo dãn thời gian trả nợ và cân nhắc điều chỉnh mức lãi suất một cách hợp lý, giúp cho KH đảm bảo hoàn tất được khoản vay theo quy định của NH. Bên cạnh đó, vào năm 2011 Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác tài sản Tiên Phong (AMC) ra đời, đã góp phần vào công tác xử lý nợ xấu của NH, thu hồi triệt để những khoản nợ còn tồn đọng, hạn chế tối đa những tổn thất về tài sản cũng như “làm sạch” tình hình tài chính cho NH. Công ty AMC còn giúp NH đẩy mạnh công tác quản lý và sử dụng có hiệu quả các TSĐB như nhà xưởng, máy móc thiết bị, xe ô tô,… Công tác xử lý nợ xấu còn được chỉ đạo ráo riết thực hiện bằng các biện pháp bán nợ cho VAMC, hơn 30 khoản nợ xấu trị giá 135,8 tỷ đồng đã được xử lý, giúp tỷ lệ nợ xấu năm 2013 chỉ còn 1,8%.
Công tác xử lý nợ xấu còn được Ban HĐQT ráo riết triển khai và thực hiện bằng các biện pháp thu hồi nợ trên thị trường liên NH, với số dư nợ lên đến 1.000 tỷ đồng. Sau công cuộc tái cấu trúc, TPBank đã thu hồi được các khoản nợ của Ngân hàng Đại Tín (Trustbank), các danh mục ủy thác từ Công ty quản lý quỹ FPT, nợ từ Công ty Đức Khải, NHTMCP Sài Gòn (SCB), và số nợ gốc 119 tỷ đồng của NHTMCP Phương Tây (nay là PVcomBank).
Ngoài những cố gắng, nỗ lực của Ban lãnh đạo cùng CBNV của toàn NH, công tác tái cấu trúc tài chính của TPBank còn nhận được sự hỗ trợ từ phía NHNN. NHNN đã chỉ đạo và hỗ trợ TPBank trong việc thực hiện đúng quy định của pháp luật trong cho vay, đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và giới hạn cấp tín dụng. NHNN cũng đã nhắc nhở NH trong việc phối hợp với KH để đánh giá đúng thực lực, khả năng tài chính của KH, tính pháp lý của các TSĐB và khả năng thu hồi nợ, để từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời và phù hợp. NHNN cũng đã ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN vào ngày 23/04/2012 về việc phân loại nợ đối với những khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định. Thêm vào đó, NHNN cũng chỉ đạo NH trong việc cắt giảm chi phí, chia sẻ khó khăn cùng DN bằng cách cắt giảm lãi suất tiền vay đối với những lĩnh vực mà NH ưu tiên. Ngoài ra, NHNN cũng đã kết hợp với các Bộ, ngành có liên quan để thực hiện những giải pháp hỗ trợ nhằm tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, tạo điều kiện cho NHTM trong công tác thu hồi và xử lý nợ xấu.
Tăng vốn tự có:
Một trong những yếu kém của hệ thống NHTM tại Việt Nam là việc tồn tại nhiều NHTM với quy mô vốn tự có nhỏ, hoạt động yếu kém. Với tỷ lệ vốn tự có thấp hơn so với tổng tài sản như vậy, sẽ khiến các NHTM rủi ro trong công tác tín dụng, gây ra những hạn chế trong công tác xử lý nợ, những diễn biến xấu, phức tạp trên thị trường, khiến hoạt động của các NH rủi ro cao. Theo Nghị định số 141 ngày 22/11/2006 của Chính phủ về việc đảm bảo số vốn điều lệ thực góp là 1.000 tỷ đồng (trong đó chiếm 50% là vốn đến từ cổ đông sáng lập) và đến cuối năm 2010 là 3.000 tỷ đồng. Chính vì thế, các NHTMVN không ngừng tiến hành các biện pháp nhằm tăng vốn điều lệ. Không nằm ngoài danh sách đó, số vốn điều lệ thực góp của TPBank vào năm 2008 chỉ 1.000 tỷ đồng, số vốn quá khiêm tốn so với các NH trong cùng ngành. Chính vì lẽ đó, năm 2009, Ban Hội đồng quản trị NH đã quyết định tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng. Và đến năm 2011, khi quá trình tái cấu trúc NHTM diễn ra trên diện rộng và theo phương án đã được đại hội đồng cổ đông thông qua và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận, TPBank đã quyết định tăng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng lên 5.550 tỷ đồng. Trước đó ngày 17/12/2012, NHNN đã ban hành văn bản số 8331/NHNN-TTGSNN về việc chấp nhận cho TPBank tăng vốn điều lệ theo phương án đã đệ trình.
Bảng 3.5. Cổ đông sáng lập ban đầu NHTMCP Tiên Phong
Với những cổ đông ban đầu là FPT, Tổng Công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare), Công ty Thông tin di động VMS (MobiFone), và Tập đoàn Tài chính SBI Ven Holding Pte. Ltd (Singapore) đã thông qua quyết định tái cấu trúc trong phiên họp Đại hội đồng cổ đông, và cho phép Cổ đông mới – Tập đoàn DOJI tham gia vào hoạt động này. Cụ thể Tập đoàn DOJI sở hữu 20% cổ phần TPBank. Vì vốn sở hữu chỉ còn 1.620 tỷ đồng (do bị ảnh hưởng bởi các khoản lỗ và trích lập dự phòng), dưới mức tối thiểu là 3.000 tỷ đồng theo quy định của NHNN nên TPBank quyết định tăng vốn điều lệ lên 5.550 tỷ đồng thông qua việc phát hành 225 triệu cổ phần với giá cổ phần phát hành là 6.000 đồng/CP. Vốn chủ sỡ hữu sau khi tăng vốn điều lệ là 3.150 tỷ đồng.
Bảng 3.6. Cổ đông hiện hành của NHTMCP Tiên Phong
Việc tăng vốn điều lệ trong thời gian này là vô cùng cấp thiết trong giai đoạn cổ phần hóa các NHTMNN, sự phát triển mạnh mẽ của các NHTMCP, ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài, sẽ giúp TPBank phát triển kinh doanh và nâng cao vị thế của NH, nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các tổ chức tín dụng khác, đồng thời cho phép NH có đủ nguồn vốn để trang bị đầu tư hệ thống công nghệ, phát triển các sản phẩm tín dụng có giá trị gia tăng trên nền tảng công nghệ, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và mở rộng mạng lưới hoạt động của NH. Việc tăng VCSH đã tạo cơ hội cho TPBank củng cố hoạt động, đồng thời tập trung tái cấu trúc bộ máy tổ chức hiện đại và cạnh tranh hơn, tăng cường tín dụng, mở rộng mạng lưới hoạt động, đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ, mở rộng hoạt động đầu tư góp vốn. Bằng kinh nghiệm thực tế, HĐQT tin tưởng TPBank sẽ thực hiện thành công và đảm bảo lợi ích của các cổ đông và gia tăng uy tín, vị thế, khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của NH.
3.2.3. Tái cấu trúc kinh doanh: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Hoạt động kinh doanh:
Bảng 3.7. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012 – 2014
Năm 2012, với những biến động phức tạp về lãi suất và tỷ giá, khiến cho hoạt động kinh doanh của các NH trở nên khó khăn. Tuy nhiên, với những cố gắng, nỗ lực sau quá trình tái cấu trúc, TPBank vẫn đạt được những kết quả kinh doanh khả quan. Tính đến cuối năm 2012, tổng tài sản của NH là 15.120 tỷ đồng, đến năm 2013, tài sản của Ngân hàng tăng 112% và tổng nguồn vốn huy động, tổng dư nợ đều tăng, lần lượt 55% và 19% so với 2012. Tổng thu nhập hoạt động thuần năm 2013 đạt 893 tỷ đồng, tăng 74% so với năm 2012 và lợi nhuận sau thuế tăng 228%. Năm 2014, doanh thu từ hoạt động đạt 1.151 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế đạt 536 tỷ đồng, tăng lần lượt 29% và 41% so với năm 2013.
Nhìn chung, lợi nhuận của NH tăng qua các năm, đây là tín hiệu vui cho thấy NH đã hoạt động kinh doanh tốt và có sinh lời khi phần lớn các NH khác đang đối mặt với nhiều khó khăn. Trong những năm qua, NHNN tiếp tục áp dụng các chính sách tiền tệ chặt chẽ, giảm lãi suất điều hành và ổn định cung cầu ngoại tệ,… Bên cạnh đó, TPBank liên tục tung ra hàng loạt những sản phẩm, dịch vụ mới: QR Code, chương trình ưu đãi toàn diện dành cho khách hàng cá nhân, các chương trình khuyến mãi… đã giúp cho hoạt động kinh doanh tại TPBank dần thoát khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế lên toàn bộ hệ thống NH, khẳng định được vị thế của mình trong ngành, và hoàn thành xuất sắc kế hoạch đề ra, trích lập đủ các quỹ dự phòng theo quy định của NHNN Việt Nam.
Hoạt động huy động vốn:
Bảng 3.8: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn
Hình 3.2: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn
Tình hình huy động vốn của TPBank từ năm 2012 đến 2014 có sự tăng trưởng khá mạnh. Cụ thể, tổng vốn huy động năm 2013 đã tăng 16.586 tỷ đồng, tương ứng khoảng 140% so với năm 2012, cao hơn nhiều so với sự tăng trưởng mức huy động chung của toàn ngành, tăng 23%. Trong đó vốn huy động ngắn hạn đạt 24.697 tỷ đồng, chiếm 87% tổng huy động từ khách hàng và tăng 152% so với năm 2012. Năm 2014 vốn huy động tăng cao, tăng 18.854 tỷ đồng so với năm 2013, cụ thể nguồn vốn huy động ngắn hạn tăng 15.458 tỷ đồng (tăng 63%), trung và dài hạn tăng 92%, đạt 7.086 tỷ đồng, chiếm 15%. Sự tăng trưởng rõ rệt của nguồn vốn huy động tại TPBank là nhờ NH đã phát triển các sản phẩm, dịch vụ riêng cho từng phân khúc khách hàng song song với việc cải tiến nhiều dịch vụ tiện ích, dịch vụ gia tăng, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng, cùng với chính sách linh hoạt, các chương trình thúc đẩy bán hàng hiệu quả giúp đẩy mạnh huy động từ khách hàng, đảm bảo tính thanh khoản của NH. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Về thời hạn vốn huy động của TPBank qua 3 năm thể hiện sự duy trì trong tăng trưởng của tỉ trọng vốn huy động ngắn hạn, trung và dài hạn. Việc duy trì này sẽ giúp TPBank tìm được giải pháp huy động hiệu quả hơn đối với các tổ chức và cá nhân đang nhàn rỗi về vốn. Hơn nữa, khoản tiền huy động từ nguồn trung và dài hạn là quan trọng đối với bất kỳ NH nào. Đây chính là nguồn tiền chủ yếu mà NH tiến hành cho vay. Vì lãi suất cho vay trung và dài hạn cao, nên NH sẽ dễ dàng kiếm được lợi nhuận từ khoản cho vay trung và dài hạn, thêm vào đó NH và sẽ giảm được rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.
Qua việc xem xét về tình hình vốn huy động theo thời hạn có thể thấy TPBank luôn cố gắng nỗ lực để giữ vững sự tăng trưởng trong việc huy động vốn. Đây là bước đi hợp lý để NH có khả năng cấp các khoản vay và tín dụng cho thị trường khi mà hiện tại nhu cầu vay vốn của các cá nhân, tổ chức, chủ thể kinh tế ngày càng gia tăng, bên cạnh đó TPBank còn phải có những chính sách hợp lý, sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng để cạnh tranh với các NH khác trên thị trường.
Bảng 3.9: Cơ cấu vốn huy động theo thành phần giai đoạn 2012 – 2014
Hình 3.3. Hoạt động huy động vốn của TPBank năm 2012
Năm 2012, tiền gửi tiền vay từ các TCTD là 763 tỷ đồng, chiếm 6% trong tổng vốn huy động, tiền gửi của KH là 9.270 tỷ đồng, chiếm 80%, phát hành giấy tờ có giá là 752 triệu đồng, chiếm 6%, các khoản nợ chính phủ chiếm 7% trong tổng số và công cụ tài chính phái sinh chiếm 0,05% tương đương 7 tỷ đồng.
Hình 3.4, 3.5. Hoạt động huy động vốn của TPBank năm 2013, 2014
Năm 2013, các khoản nợ chính phủ và NHNN vẫn còn duy trì ở mức 834 tỷ đồng, tiền gửi, tiền vay từ các TCTD đạt 11.394 tỷ đồng, chiếm 40%, phát hành giấy tờ có giá là 2.341 tỷ đồng, chiếm 8% trong tổng số, tiền gửi của khách hàng luôn giữ ở mức cao, với 14.332 tỷ đồng, chiếm 50% tổng số vốn huy động của năm 2013, các khoản nợ khác năm 2013 có xu hướng tăng, đạt 321 tỷ đồng, chiếm 1% tổng số.
Cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2014 tại TPBank có sự thay đổi rõ rệt. Chiếm phần lớn tỷ trọng trong tổng số là tiền gửi của khách hàng và tiền gửi, tiền vay từ các TCTD, lần lượt là 21.623 tỷ đồng chiếm 46%, và 25.102 tỷ đồng chiếm 52%. Các chỉ tiêu khác như các khoản nợ chính phủ và NHNN, công cụ tài chính phái sinh, phát hành giấy tờ có giá và các khoản nợ khác lần lượt chiếm 2%, 0,03%, 0% và 0,8% trong tổng số vốn huy động được trong năm 2014.
Quan sát các hình 3.3, 3.4 và 3.5 ta thấy nguồn tiền gửi của khách hàng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Trong nguồn tiền gửi của khách hàng, nguồn tiền gửi có kỳ hạn chiếm phần lớn tỷ trọng trong tổng nguồn tiền gửi, chiếm 85% trong tổng số và tiền gửi không kỳ hạn chiếm 15%. Đây là nguồn vốn quan trọng, có tính ổn định cao tạo điều kiện thuận lợi cho NH trong quá trình sử dụng vốn. NH cần duy trì tỷ trọng cao của nguồn vốn này và không ngừng phát triển nó.
Nguồn tiền gửi, tiền vay từ các TCTD chiếm vị trí thứ hai trong tổng số nguồn vốn huy động, vì đây là nguồn vốn có chi phí thấp tạo điều kiện cho NH giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Trong những năm qua, tỷ trọng nguồn tiền gửi, tiền vay từ các TCTD có xu hướng tăng đáng kể.
Nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá của NH chiếm tỷ trọng nhỏ mặc dù đây là nguồn vốn có chi phí cao nhưng nó là nguồn vốn mà NH có thể chủ động về lãi suất, số lượng, thời hạn, NH có thể sử dụng nguồn vốn này cho đầu tư trung và dài hạn. Vì vậy, TPBank nên xác định một mức tỷ trọng hợp lý để có thể chủ động trong đầu tư trung và dài hạn.
Qua những số liệu trên có thể thấy, thời gian qua TPBank đã cố gắng trong việc huy động vốn từ nguồn tiền gửi của khách hàng, tiền gửi và tiền vay từ các TCTD, các khoản nợ chính phủ và NHNN và các khoản nợ khác cho thấy TPBank đang ngày càng chủ động hơn trong việc huy động vốn từ khách hàng. Bên cạnh đó, TPBank cần nâng cao tỷ trọng huy động vốn bằng các công cụ tài chính phái sinh nhằm cân bằng tỷ trọng giữa các chỉ tiêu huy động vốn. Có thể thấy, tình hình huy động tiền gửi của khách hàng đã được TPBank chú trọng và triển khai khá thành công trong thời gian qua. Ngân hàng Tiên Phong đã có nhiều hình thức huy động vốn mới như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậc thang, ngân hàng điện tử với các dịch vụ mới như phone banking, SMS banking,… làm cho các hình thức huy động vốn trở nên đa dạng hơn và hấp dẫn đối với khách hàng. Tiết kiệm dự thưởng giúp cho khách hàng có thể đạt được những giải thưởng lớn, có giá trị nên dễ dàng thu hút khách hàng. Tiết kiệm bậc thang giúp cho người gửi tiền có thể nhận được lãi suất cao khi số tiền mà khách hàng gửi vào càng lớn. Ngân hàng điện tử giúp cho các dịch vụ của NH trở nên dễ dàng, nhanh chóng và tiện lợi hơn, giúp cho khách hàng có thể dễ dàng kiểm tra được tài khoản của mình qua dịch vụ internet-banking, với dịch vụ SMS banking sẽ giúp khách hàng nhận thông tin khi thay đổi số dư tài khoản. Vấn tin tài khoản, in sao kê năm giao dịch gần nhất, sử dụng dịch vụ nạp tiền điện thoại qua tin nhắn, dịch vụ chuyển khoản bằng SMS,… Với việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, TPBank đã và đang thu hút được nhiều khách hàng.
Hoạt động cho vay:
Bảng 3.10: Doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng giai đoạn 2012 – 2014
Qua hình 3.6 có thể thấy, doanh số cho vay theo thời hạn tăng đều qua các năm. Cụ thể, năm 2013 doanh số cho vay tăng 5.843 tỷ đồng tăng 96% so với năm 2012, trong đó doanh số cho vay ngắn hạn tăng 3.816 tỷ đồng tương đương 87%, cho vay trung và dài hạn tăng 2.027 tỷ đồng tức 120% so với năm 2012. Năm 2014, doanh số cho vay vẫn giữ xu hướng tăng, đạt 19.839 tỷ đồng, tăng 66% so với năm 2013. Trong đó, cả doanh số cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đều tăng 66%. Cho vay ngắn hạn tăng mạnh và luôn chiếm phần lớn trong tổng doanh số cho vay theo thời hạn do nhu cầu vay vốn bổ sung vốn lưu động của các DN vừa và nhỏ, nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao. Bên cạnh đó, doanh số cho vay trung và dài hạn cũng có sự thay đổi tích cực, liên tục tăng qua các năm. Doanh số tăng là nhờ NH mở rộng hoạt động cho vay đối với những DN lớn, có nhu cầu vay vốn trung và dài hạn để đầu tư dự án kinh doanh. Điều này chứng tỏ NH đang điều chỉnh dần sự chênh lệch giữa tỷ lệ cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn. Định hướng này của NH nhằm mục đích đa dạng hóa loại hình cho vay, đồng thời khai thác nhóm KH tiềm năng có nhu cầu vay vốn trung, dài hạn để đầu tư. Vì phân khúc khách hàng này có nhu cầu vay vốn với số lượng lớn và thời gian dài nên có thể sẽ mang về cho NH những khoản lợi nhuận đáng kể từ tiền lãi cho vay. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi bao giờ cũng tồn tại rủi ro như nợ quá hạn, nợ khó thu hồi có thể gia tăng.
Tóm lại, cho vay ngắn hạn vẫn là hoạt động trọng tâm và chính yếu của NH bởi vì kinh doanh hoạt động này về mặt thủ tục là đơn giản, độ an toàn đối với khoản cho vay cao, ít rủi ro hơn cho vay trung và dài hạn.
Doanh số cho vay theo ngành kinh tế:
Bảng 3.11: Doanh số cho vay theo ngành kinh tế giai đoạn 2012 – 2014
Hình 3.7. Doanh số cho vay theo ngành kinh tế giai đoạn 2012 – 2014
Phân loại doanh số cho vay theo ngành kinh tế cho thấy chủ yếu là các khoản vay với mục đích hoạt động dịch vụ, xây dựng, công nghệ chế biến, chế tạo, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy, động cơ, tiêu dùng,…
Hoạt động tiêu dùng: Hoạt động tiêu dùng, phục vụ cá nhân và cộng đồng chiếm tỷ trong cao trong tổng số dư nợ cho vay, điển hình năm 2013 dư nợ cho vay tiêu dùng tăng 728% so với năm 2012 tương đương 3.985 tỷ đồng, năm 2014 tăng 3.404 tỷ đồng tăng 75% so với 2014. Hoạt động cho vay tiêu dùng luôn chiếm phần lớn trong tổng dư nợ cho vay, cụ thể năm 2012, cho vay tiêu dùng chỉ đạt 9% tuy nhiên đến năm 2013, con số này đạt mức 38%, năm 2014 đạt 40% trong tổng số dư nợ cho vay. Mức dư nợ cho vay tiêu dùng tăng cao do nhu cầu nâng cao đời sống cá nhân và xã hội luôn được quan tâm, với nhịp sống như hiện nay, máy móc đang thay thế sức người làm cho nhu cầu về đồ dùng gia đình không ngừng gia tăng, các tiện ích thanh toán bằng thẻ visa thanh toán dịch vụ ở các trung tâm thương mại, nhà hàng,… làm cho nhu cầu về vay tiêu dùng ngày càng tăng mạnh.
Hoạt động dịch vụ: Hiện nay, các DN được thành lập chủ yếu hoạt động trong ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ. Nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình, DN cần có vốn để hoạt động, thêm vào đó những DN được thành lập trước đây cũng cần vốn để bổ sung vốn lưu động, đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án lớn, đổi mới dây chuyền công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,… Nắm bắt được lợi thế đó, TPBank đã đưa ra những gói hỗ trợ ưu đãi dành cho các DN, giúp các DN có thể tiếp cận được nguồn vốn dễ dàng hơn. Các DN hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ như: kinh doanh dịch vụ vận tải, kho bãi, đại lý tàu biển, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, dịch vụ khai thuế hải quan,… Doanh số cho vay đối với hoạt động dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu cho vay, có xu hướng tăng trong tổng tỷ trọng qua các năm. Năm 2013, chỉ tiêu này đạt 3.578 tỷ đồng, tăng 657 tỷ đồng tương ứng tăng 22% so với cùng kỳ năm 2012. Chiếm tỷ trọng 30% trên tổng doanh số cho vay. Bước sang năm 2014, doanh số lại tăng lên đáng kể với mức đạt 6.547 tỷ đồng tăng 2.969 tỷ đồng hay tăng 83% so với năm 2013, đồng thời chiếm tỷ trọng 33% trên tổng doanh số cho vay, tăng 10% so với tỷ trọng năm 2013. Điều này cho thấy, hoạt động dịch vụ đã và đang là ngành phát triển, đòi hỏi phải được đầu tư khai thác hơn nữa.
Ngoài hai ngành trên thì các ngành khác như: xây dựng, công nghệ chế biến, chế tạo, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy, và động cơ,… luôn chiếm tỷ trọng trung bình và không có nhiều thay đổi, tương ứng mỗi ngành chiếm 2 – 12% trong tổng dư nợ cho vay theo ngành kinh tế.
Qua bảng số liệu 3.11 có thể thấy, dư nợ cho vay theo ngành kinh tế của TPBank cho thấy dư nợ cho vay tập trung vào một số ít ngành. Cũng như các NHTM khác, cho vay tiêu dùng tại TPBank được đẩy mạnh thể hiện ở dư nợ cho vay tiêu dùng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số cho vay theo ngành kinh tế. Nhu cầu của KH đối với các sản phẩm gia dụng như TV, tủ lạnh, máy giặt, xe máy,… là rất lớn do sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và tốc độ cải thiện mức sống. Chính vì vậy mà giá trị dư nợ cho vay tiêu dùng luôn tăng qua các năm. TPBank đã kịp thời đáp ứng theo nhu cầu đó bằng các sản phẩm tín dụng tiêu dùng đa dạng như cho vay mua nhà, vay tiêu dùng, cho vay mua xe ô tô,… với mức lãi suất hết sức cạnh tranh cũng như việc giải ngân linh hoạt. Ưu điểm của nhóm KH này là có thu nhập ổn định. Căn cứ vào thu nhập này, NH sẽ cấp một hạn mức tối đa mà NH có thể cho KH vay vừa đảm bảo an toàn cho NH trong việc thu hồi nợ, vừa đảm bảo cho KH có đủ khả năng chi trả. Thấy được mặt tích cực này, trong thời gian qua, NH đã đẩy mạnh lĩnh vực cho vay này.
Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế:
Bảng 3.12: Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế giai đoạn 2012 – 2014
Hình 3.8. Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế giai đoạn 2012 – 2014
Là ngân hàng bán lẻ số một Việt Nam, đối tượng khách hàng vay mà TPBank nhắm đến tương đối đa dạng, bao gồm các cá nhân/hộ gia đình và pháp nhân thuộc mọi loại hình kinh tế.
Thị trường NH bán lẻ tại VN vẫn là thị trường nhiều tiềm năng, nhờ bộ phận dân số trẻ và năng động chiếm tỷ lệ lớn, thu nhập ngày càng tăng, mong muốn cải thiện chất lượng sống. Nắm bắt được điều đó, TPBank luôn nỗ lực cung cấp nhiều sản phẩm cho vay tiện lợi để mua sắm tài sản, kinh doanh nhỏ lẻ hoặc các nhu cầu tiêu dùng, nhằm đẩy mạnh tín dụng cá nhân trong bối cảnh hiện nay. Nhóm KHCN luôn được TPBank xác định là nhóm KH mục tiêu, TPBank đã cố gắng trong việc mở rộng và phát triển mạng lưới KH này. Các dòng sản phẩm, dịch vụ cho vay dành cho KHCN không ngừng được cải tiến và nâng cao, thiết kế phù hợp với các nhu cầu mà đảm bảo độ an toàn cho NH. Một số sản phẩm vay tiêu biểu dành cho KHCN như: cho vay tiêu dùng, mua nhà, vay thấu chi; vay mua xe ô tô lên đến 72 tháng, tỷ lệ cho vay lên đến 80% giá trị chiếc xe; cho vay bất động sản với thời hạn tối đa lên đến 20 năm,…
Tổng dư nợ và tỉ trọng cho vay cá nhân cũng không ngừng gia tăng qua các năm và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế. Năm 2012 cho vay cá nhân đạt 2.129 tỷ đồng (chiếm 35%). Sang năm 2013 tăng gầp 2 lần và đạt 5.844 tỷ đồng (đồng thời chiếm 49%). Đến năm 2014, doanh số cho vay cá nhân đạt 10.515 tỷ đồng (chiếm 53% tổng tỉ trọng).
Mặc dù chỉ mới thành lập trong thời gian ngắn, TPBank đã xây dựng cho mình uy tín lớn và nhất là với những DN lớn đòi hỏi chất lượng cao. Ngân hàng Tiên Phong đồng tài trợ cho các dự án truyền tải điện quốc gia của Tổng công ty truyền tải điện Việt Nam. TPBank là nhà tài trợ 120 tỷ đồng cho tập đoàn Taxi Mai Linh trên toàn quốc. Là nhà tài trợ đầu mối xây dựng Nhà máy thực phẩm Đông Á 37 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Tiên Phong cũng tham gia tài trợ cho các tổng công ty lớn như Vietnam Airlines, Vinacomin, dự án Nhơn Trạch của Petro Việt Nam,… Qua bảng số liệu 3.6 ta thấy, khách hàng là các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong số lượng tín dụng đã được giải ngân của toàn NH. Cụ thể năm 2013 là 6.082 tỷ đồng, tăng 100% tương đương 2.128 tỷ đồng, doanh số này tiếp tục tăng trong năm 2014 đạt 9.324 tỷ đồng. Tuy nhiên tỷ trọng cho vay đối với các TCKT có xu hướng giảm trong tổng số do định hướng phát triển mạnh phân khúc KHCN nên mặc dù giá trị dư nợ tăng lên 6.082 tỷ đồng và 9.324 tỷ đồng vào năm 2013 và 2014 nhưng chỉ chiếm tỷ trọng lần lượt là 51% và 47%. Trong các tổ chức kinh tế thì dư nợ cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm chủ yếu (từ 35% tổng tỉ trọng trở lên) còn các doanh nghiệp quốc doanh chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ (8% tổng tỉ trọng qua các năm). Đây có thể xem là một cơ cấu hợp lý và phù hợp với thị trường mục tiêu mà TPBank đưa ra cũng như định hướng phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Phân tích chất lượng nợ vay:
Bảng 3.13: Tình hình chất lượng nợ vay của TPBank giai đoạn 2012 – 2014
Nợ tồn đọng có TSĐB và không còn đối tượng thu nợ
Nợ có khả năng mất vốn
Nợ nghi ngờ
Nợ dưới tiêu chuẩn
Nợ cần chú ý
Nợ đủ tiêu chuẩn
Nhóm nợ đủ tiêu chuẩn có giá trị tăng qua các năm từ 5.612 tỷ đồng năm 2012 lên 11.398 tỷ đồng năm 2013 và tăng đến 19.291 tỷ đồng trong năm 2014, đều chiếm tỷ trọng hơn 92%. TPBank đã duy trì tỷ trọng nợ đủ tiêu chuẩn khá cao trong tổng chỉ tiêu chất lượng nợ vay. Các chỉ tiêu còn lại như nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn và nợ tồn đọng có TSĐB và không còn đối tượng thu nợ cũng có sự biến động trong những năm qua. Cụ thể nợ cần chú ý có xu hướng giảm tỷ trọng, năm 2013 tỷ trọng này giảm chỉ còn 2% và năm 2014 cũng chỉ có 3% trong tổng số. Nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng chỉ tiêu đánh giá chất lượng nợ vay. Nợ tồn đọng không có TSĐB và không còn đối tượng thu nợ tăng 42 tỷ đồng vào năm 2013 và duy trì ở năm 2014. Chỉ tiêu này có sự xuất hiện là do sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2012 Việt Nam, Chính phủ tiến hành chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp và dịch vụ ngày càng đi xuống khiến một số DN hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên yếu kém, một số DN lâm vào cảnh phá sản. Chịu sự ảnh hưởng mạnh của cuộc khủng hoảng đó, một số DN đã vay vốn tại TPBank cũng lâm vào tình trạng trên, không có khả năng thanh toán khoản nợ đã vay. TPBank cũng đã và đang cố gắng trong việc việc xử lý nợ xấu của NH bằng cách đánh giá lại toàn bộ vốn, tài sản và đưa ra biện pháp xử lý thích hợp và bao gồm cả việc bán nợ xấu cho Công ty quản lý tài sản (VAMC).
Sản phẩm:
Ngày 10/12/2013, tại Hà Nội, NHTMCP Tiên Phong đã tổ chức Lễ ra mắt nhận diện thương hiệu mới và Lễ đón nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích xuất sắc trong công tác tái cơ cấu. NH cũng đã quyết định thay đổi tên và biểu tượng mới. Đổi từ tên TienPhongBank thành TPBank. Logo mới của TPBank có hình tam giác, với ý nghĩa thể hiện sự chắc chắn, bền vững. Kế thừa những ưu điểm của logo cũ, thiết kế mới của TPBank được thiết kế với xu hướng hiện đại, nhấn bằng sắc cam tươi, biểu trưng cho sức trẻ, sự năng động, nhiệt huyết và sự phát đạt. Hình tam giác được thể hiện dưới dạng đường xoắn bất tận, thể hiện sự vận động không ngừng nghỉ, nhưng vẫn đảm bảo sự ổn định, trường tồn. Hình tam giác bên trong thể hiện cho sự sẵn sàng, luôn thích ứng mọi thay đổi của NH đối với thị trường tài chính đầy biến động. Và hình tam giác này cũng thể hiện rằng NH luôn muốn hướng tới sự phát triển minh bạch và bền vững. Tên gọi Ngân hàng TMCP Tiên Phong vẫn được giữ nguyên như trước, tuy nhiên tên giao dịch được thay đổi từ TienPhongBank thành TPBank. Tên gọi TPBank được thiết kế với màu tím, thể hiện sự sang trọng, tin cậy, sự chỉnh chu và hoàn hảo, đồng thời sắc tím là màu sắc tượng trưng cho “sự chung thủy”, cho sự gắn bó lâu dài với KH.
Trước đây, khi nhắc đến hệ thống NH thì mọi người sẽ nghĩ ngay đến các NHTMVN và đặc biệt là NHTMNN, tuy nhiên kể từ khi các NHTMCP xuất hiện và mở rộng thị phần, chiến lược phát triển sản phẩm, dịch vụ thì buộc các NHNN cũng như chi nhánh các NHNNg phải tham gia vào thị trường theo cam kết mở cửa về thị trường tài chính, từ đó, dịch vụ NH sẽ thay đổi về cả tỷ trọng, lẫn chất lượng, đặc biệt là các NHTMCP và chi nhánh các NHNNg đang có sự gia tăng đáng kể về thị phần.
Trong cuộc cạnh tranh chất lượng, dịch vụ giữa các NH tại Việt Nam, thì các NHTMCPVN có ưu thế hơn chi nhánh các NHNNg vì có hệ thống mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước, sự hỗ trợ từ phía NHNN giúp ổn định hoạt động kinh doanh và có lượng KH ổn định, nhận được sự tin tưởng từ phía KH, cũng như thấu hiểu về văn hóa, phong tục của người Việt Nam. Có những ưu thế vượt trội hơn chính là điều may mắn cho các NHTMCPVN, tuy nhiên, để có thể đứng vững và cạnh tranh trong môi trường khắc nghiệt này, đòi hỏi mỗi NH phải cung cấp đến KH những dịch vụ, và chất lượng tốt nhất, mang lại giá trị, và sự tiện ích cho KH.
Có thể nói, hệ thống NHTMVN đã và đang ngày càng hoàn thiện mình để hội nhập sâu rộng hơn với Thế giới. Nếu như trước đây, hoạt động truyền thống của NH là huy động vốn và cho vay, thì ngày nay, các NHTM đã tung ra nhiều tiện ích như tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, phát hành thẻ tín dụng trong và ngoài nước,… Các dịch vụ tiện ích này đã giúp cho KH tiết kiệm được thời gian và chi phí cho những giao dịch của mình so với trước đây.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, cùng với mục tiêu trở thành Ngân hàng công nghệ đầu tiên của Việt Nam, TPBank đã xác định mũi nhọn để cạnh tranh và phát triển, đồng thời đem lại cho KH những lợi ích thực sự mà từ trước đến nay tại Việt Nam chưa có hoặc nếu có thì KH cũng không biết đến. TPBank đã cho ra mắt gói Ngân hàng điện tử, với việc ứng dụng phần mềm Core banking hiện đại nhất Thế giới Flexcube của Iflex. Gói Ngân hàng điện tử (eBank) đầu tiên bao gồm Internet Banking, thẻ ATM và SMS Banking đã ra đời, đánh dấu bước ngoạt trong sự phát triển về chất lượng sản phẩm của TPBank. Tiện ích mà eBank mang lại đó chính là việc KH chỉ cần những thao tác đơn giản tại nhà, cùng với điện thoại hoặc thiết bị có kết nối mạng, KH đã có thể chuyển tiền tới hơn 1.750 chi nhánh tất cả các NH trên toàn quốc và có thể rút tiền bằng thẻ ATM của TPBank tại 3.500 cây ATM của 17 NH thuộc liên minh thẻ Smartlink. Dịch vụ Mobile Banking giúp KH trả cước ADSL của FPT và nạp tiền điện thoại trả trước (Top up) cho mạng MobiFone, Vinaphone và Viettel. Sử dụng Internet Banking, KH có thể tiết kiệm được 20% chi phí so với việc chuyển tiền tại quầy. Sự phát triển lượng KH sử dụng gói eBank đã chứng minh được việc áp dụng công nghệ vào sản phẩm là có cơ sở. Chỉ trong quý I khi mới ra đời sản phẩm, đã phát hành gần 3.000 thẻ, số lượng đăng ký Internet Banking gần 2.500. Hiểu được tâm lý của KH, TPBank còn áp dụng miễn phí mở thẻ ATM đến hết năm, đó chính là động thái tích cực khuyến khích KH mở tài khoản tại NH, khuyến khích KH sử dụng thẻ thay vì tiền mặt cho các giao dịch. TPBank đã và đang tiếp tục hoàn thiện và phát triển, đưa đến cho khách hàng nhiều tiện ích mới hơn. Tập trung khai thác tối đa lợi thế đi đầu về dịch vụ NH số với các sản phẩm trọng điểm: Thẻ, mPOS, eBank,… Cụ thể trong năm 2014, TPBank đã triển khai tiện ích xác thực thư bảo lãnh bằng QR code đầu tiên tại Việt Nam. Thông qua dịch vụ này, KH có thể kiểm tra độ tin cậy của thư bảo lãnh mọi lúc mọi nơi với thao tác đơn giản và độ chính xác cao. Khách hàng chỉ cần cài đặt phần mềm phổ thông đọc mã QR Code trên smartphone và thực hiện quét QR Code. Kết quả kiểm tra sẽ được hiển thị trên màn hình điện thoại của KH tại trình duyệt có định dạng đường dẫn duy nhất, do TPBank cung cấp. Khách hàng chọn vào đường dẫn, nếu đúng là thư bảo lãnh do TPBank phát hành và có mã QR Code chính xác, các thông tin chi tiết về Thư bảo lãnh sẽ được hiển thị trên website của TPBank để KH có thể đối chiếu mà không cần phải liên hệ với NH hay làm thêm bất kỳ thủ tục nào khác.
Tiếp sau những thành công trong việc tung ra những sản phẩm mới, năm 2013, TPBank cho ra đời những sản phẩm, dịch vụ đa dạng, tiện ích cho KH như chương trình liên kết đối tác với các NH khác, kết nối cổng thanh toán với Payoo, Smartlink, FPT Online, Viettel,… Với những chiến lược, chính sách sản phẩm linh hoạt, cạnh tranh và chất lượng, số lượng KH của TPBank đã tăng lên con số ấn tượng, gần 250.000 KH vào cuối năm 2013. Chính mạng lưới KH sâu rộng này đã giúp TPBank hoàn thành chỉ tiêu đặt ra về quy mô và lợi nhuận trong năm. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Nhân lực:
Ngoài những chính sách phát triển sản phẩm, việc chú trọng đầu tư cho nguồn nhân lực luôn là công việc quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của một tổ chức DN. Cũng như các DN, yếu tố con người luôn được các NH đặc biệt đầu tư, bởi nó quyết định đến hiệu quả hoạt động của NH ở cả hai phạm trù, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức của người cán bộ NH. Lĩnh hội được sự quan trọng đó, TPBank đã đưa ra những chính sách nhằm phát triển đội ngũ nhân sự đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn với những phẩm chất đạo đức tốt.
Với những cố gắng, nỗ lực trong quá trình tái cấu trúc, TPBank đã gầy dựng lại hình ảnh cho chính mình, và chiêu mộ nhân tài cho NH, với những chính sách đãi ngộ cạnh tranh, phúc lợi về bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe,.. được nâng cao, đội ngũ nhân 62 viên được đào tạo bài bản, các khóa đào tạo về sản phẩm – nghiệp vụ, khóa đào tạo kỹ năng, hội thảo,… nhân viên được đánh giá và nâng cao trình độ chuyên môn thường xuyên, các hoạt động như teambuilding, gala gặp mặt,… thường xuyên được tổ chức nhằm tăng cường sự gắn kết giữa các nhân viên trong NH. Chính vì thế, số lượng nhân viên tại TPBank sau tái cấu trúc (31/12/2013) là 1.183 người, tăng 352 người so với cuối năm 2012.
Nhằm đánh giá chính xác những đóng góp của CBNV tại NH, hệ thống quản lý hiệu quả làm việc và đánh giá lương đã được NH truyền thông và áp dụng rộng rãi trong toàn hệ thống. Điểm nổi bật của hệ thống này không chỉ tạo sự cam kết của cá nhân với tổ chức thông qua các chỉ tiêu về KPIs/Balance Scorecard, mà còn cho phép đánh giá hiệu quả làm việc của từng cá nhân trong từng chu kỳ hoạt động một cách công bằng nhất. Bên cạnh đó, TPBank cũng đã triển khai Dự án xây dựng hệ thống thang bảng lương dành cho CBNV tại NH. Hệ thống lương được xây dựng dựa trên chỉ tiêu lương trả cho từng vị trí công việc với lương cố định và lương hiệu quả khi đạt chỉ tiêu, thưởng thành tích, các trợ cấp khác tùy vào từng vị trí công việc, phúc lợi xã hội,..
Công nghệ:
Kể từ sau những cuộc khủng hoảng tài chính, ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế Việt Nam, khiến hoạt động của các DN trong nước bị đình trệ, và NHTM không nằm ngoài số đó. Bên cạnh đó, sự ra đời ngày càng nhiều các NHTM khiến môi trường hoạt động ngày càng cạnh tranh gay gắt, buộc các NH phải có những cải tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và đổi mới từng ngày,… và việc đầu tư nâng cao chất lượng công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong hoạt động của NH. Theo Khảo sát của Bộ thông tin và truyền thông về việc ứng dụng KHCN vào hoạt động thì NH được đánh giá là ngành ứng dụng CNTT mạnh nhất trong tất cả các ngành, các NH lần lượt được kết nối mạng WAN, được đầu tư hệ thống đảm bảo an ninh mạng, hệ thống quản lý rủi ro,…
Cũng như những NH khác, TPBank luôn chú trọng đầu tư CNTT theo hướng hiện đại nhất, đảm bảo chuyên môn hóa cao, đáp ứng đầy đủ nhu cầu công việc cho từng vị trí, phù hợp với từng quy mô NH. Những sản phẩm của TPBank được KH đánh giá cao là eGold và eCounter. Đây là những sản phẩm mang tính đột phá trong số những sản phẩm được TPBank tung ra thị trường. eGold và eCounter được tích hợp những công nghệ hiện đại như QRCode, dấu vân tay,…giúp KH giao dịch nhanh chóng, tiện lợi và đảm bảo tính bảo mật cho KH. Để đảm bảo dữ liệu được bảo vệ an toàn, NH đã thực hiện việc chuyển trung tâm dữ liệu dự phòng về Trung tâm dữ liệu Láng Hòa Lạc và tiến hành nâng cấp toàn bộ máy chủ chính, mở rộng thành hệ thống điện toán đám mây cho máy chủ. Các hệ thống bảo mật cũng được tăng cường những thiết bị hiện đại để hỗ trợ, nhằm ngăn chặn những rủi ro, cũng như rò rỉ thông tin ra bên ngoài và đảm bảo an ninh cho toàn hệ thống.
3.2.4. Tái cấu trúc hệ thống quản trị: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Vấn đề quản trị NH hiện nay luôn được đặt lên hàng đầu và là công việc cần thiết của các NHTMVN khi gia nhập vào thị trường tài chính Thế giới. Các NH cần có những chính sách quản trị đúng đắn và phù hợp với tình hình hoạt động tại NH, để nâng cao hiệu quả hoạt động và có thể cạnh tranh với các NH trong nước, chi nhánh NH nước ngoài và các TCTD, TCTC trên thế giới. Năm 2007, Bộ Tài chính đã Ban hành Quyết định số 12/2007/QĐ – BTC ngày 13/3/2007 về việc Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và một số Luật liên quan đến quản trị công ty tại các NHTM. Nhờ vào những chính sách quản trị công ty tại các NHTM, việc áp dụng những mô hình quản lý rủi ro, quản lý tài sản,… mà năng lực quản trị của các NHTM tại Việt Nam đã có những kết quả khả quan, đáng khích lệ. Hệ thống bộ máy NH được rút gọn nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ chức năng, mối quan hệ giữa các phòng ban ngày càng chặt chẽ hơn, xác định rõ nhiệm vụ và quyền lợi của các phòng ban trong công tác quản lý,… Thành lập các Ủy ban theo đúng thông lệ và quy định của Luật các TCTD: Ủy ban nhân sự, Ủy ban quản trị rủi ro, Ủy ban chiến lược,… Các hoạt động chuyển giao công nghệ, máy móc được chú trọng hơn, góp phần mang tính chuyên nghiệp cao. Để đảm bảo an toàn vốn tối thiểu của các NH, NHNN quy định tỷ lệ CAR của các NH phải đạt từ 9% trở lên, nếu không đảm bảo được tỷ lệ này, buộc các NHTM phải tăng vốn điều lệ bằng nhiều cách như tăng VCSH, tăng tỷ trọng vốn an toàn,… Cùng với đó là quy định về mức vốn tối thiểu của NHTMCP là 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010, đã khiến các NHTM “ồ ạt” tăng vốn tối thiểu, sở hữu chéo giữa các NH với DN ngày càng nhiều.
Theo đó, TPBank luôn tuân thủ chặt chẽ những quy định về đảm bảo an toàn vốn theo quy định. Kể từ sau năm 2013, Ban lãnh đạo TPBank đã đưa ra những định hướng, chiến lược về tăng cường công tác quản trị rủi ro, kiểm soát chất lượng hoạt 64 động, quản lý, đặc biệt chú trọng vào công tác kiểm soát nội bộ, đề ra những giải pháp nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro trong hoạt động. Xác định cụ thể vai trò của Hội đồng quản trị và Ban điều hành trong công tác quản trị NH. Ban điều hành có nhiệm vụ giám sát các hoạt động hằng ngày tại NH, giải quyết tức thời những vướng mắt, hoặc tiếp nhận ý kiến và trình Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ xây dựng, kiểm tra giám sát tiến trình thực hiện chiến lược và đưa ra những quyết định nhằm phòng ngừa rủi ro. Những nỗ lực, cố gắng trong công tác tái cấu trúc hệ thống quản trị đã được đền đáp xứng đáng qua những kết quả về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của TPBank luôn được duy trì trên 19%, tỷ lệ thanh toán nhanh duy trì trên 20%, tỷ lệ thanh toán trong 7 ngày tiếp theo đối với VNĐ là 212%.
Mặc dù nằm trong số những NH phải tái cơ cấu, gắn liền với câu chuyện nợ xấu, hoạt động tiền gửi, cho vay giảm mạnh, hoạt động tín dụng bị hạn chế do phải tập trung nguồn vốn vào thị trường liên ngân hàng và thị trường trái phiếu,… Giai đoạn năm 2011 là giai đoạn khó khăn nhất của TPBank, nhưng với sự hỗ trợ từ NHNN và các cơ quan ban ngành, và chính sự nỗ lực của NH, TPBank đã nhanh chóng thoát khỏi khó khăn. Đặc biệt ngay tại thời điểm tái cơ cấu năm 2011, TPBank đã chú trọng đến công tác nâng cao chất lượng tín dụng, công tác xử lý, thu hồi các khoản nợ quá hạn, NH đã thành lập Ban xử lý nợ có sự tham gia và chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp cao nên hoạt động xử lý nợ hiệu quả hơn. Đến nay, Tiên Phong được NHNN ghi nhận là một trong những NH có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống các TCTD, với mức tỷ lệ 0,48% (Theo báo cáo thu nhập 6 tháng đầu năm 2015 của TPBank).
3.3. HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
3.3.1. Kết quả đạt được:
Mặc dù vẫn còn những khó khăn nhưng với sự chỉ đạo sát sao và quyết tâm cao của HĐQT và Ban Điều hành, TPBank tự hào đã đạt được những kết quả ấn tượng, tạo thêm nền tảng vững chắc để NH xác lập vị thế và tầm cao mới. Từng bước tiến hành tái cấu trúc bằng cách cải tổ bộ máy tổ chức, áp dụng những chính sách quản trị chuyên nghiệp, tăng vốn điều lệ từ 3.000 lên 5.550 tỷ đồng, đã giúp TPBank đảm bảo được an toàn tài sản, cải thiện chỉ tiêu tài chính và an toàn trong hoạt động. Về vấn đề nợ xấu, NHNN cho phép các NHTM có thể gia hạn nợ cho một số khoản nợ đủ điều kiện, giảm tỷ lệ lãi suất hợp lý, tăng trích lập dự phòng rủi ro giúp NH xử lý nợ xấu hiệu quả hơn.
Kết thúc năm 2014, tổng tài sản của TPBank đã vượt qua mốc 51.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 536 tỷ đồng, đạt 122% kế hoạch cả năm. Tổng huy động đạt 46.725 tỷ đồng. Dư nợ cho vay khách hàng là 19.389 tỷ đồng, tăng gần 66,4% so với năm 2013. Chất lượng nợ tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 6,4% năm 2011 xuống còn 1,7% tại thời điểm năm 2014. NH đã thu hồi được toàn bộ 248 tỷ nợ gốc khoản vay và trái phiếu Vinalines. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Chất lượng tín dụng của TPBank là khá tốt. Dư nợ hàng năm đều tăng đáng kể. Từ năm 2012 đến năm 2014, quy mô tín dụng đã tăng tới 15 lần nhất là trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta vừa mới hồi phục sau cuộc khủng hoảng năm 2012, tăng trưởng tín dụng đạt 108%, đây là một mức tăng vô cùng ấn tượng. Hiệu quả của việc cho vay tăng cao, thu nhập từ hoạt động cho vay tăng trưởng đều qua các năm. Doanh số cho vay tăng đều, cho thấy nhu cầu về cho vay KH ngày càng tăng trong xã hội, đồng thời đóng góp vào sự gia tăng về doanh số cho vay nói riêng cũng như tổng tài sản nói chung. Điều này cho thấy nhu cầu về vay ngày một nhiều, cũng như sự nỗ lực không ngừng của Ban lãnh đạo cũng như của CBCNV trong việc tăng doanh số cho vay. Không chỉ tăng trưởng về quy mô mà hầu hết các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đều tăng. Vòng quay vốn tín dụng tăng thể hiện hiệu suất sử dụng nguồn vốn của NH tăng, tín dụng của NH đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu tín dụng của KH và mở rộng nguồn vốn cho vay. NH đã có những chuyển biến tích cực trong xử lý nợ xấu. Từ năm 2012 đến nay, NH đã tạo được hơn 500 tỷ đồng lợi nhuận mỗi năm. Nguồn vốn huy động tăng cao, nợ xấu giảm từ 6,4% (năm 2011) xuống còn 1,7% (năm 2014).
Năm vừa qua, NH đã áp dụng những biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và cung ứng các dịch vụ của hệ thống Ngân hàng như TPBank eBank phiên bản mới, tổng đài chăm sóc khách hàng hàng đầu Thế Giới Avaya, dịch vụ mPOS và sử dụng hóa đơn thanh toán điện tử, tiện ích xác thực thư bảo lãnh bằng QR Code,.. Số lượng KH của TPBank tăng gấp 5 lần, mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch được mở rộng và đầu tư chuyên nghiệp hơn, chất lượng dịch vụ được cải thiện. Đội ngũ nhân viên được đào tạo có trình độ, chuyên môn cao. Bên cạnh bằng những kỹ năng chuyên nghiệp, sự nhiệt tình và phong cách phục vụ tận tình đã xây dựng được niềm tin và sự tin cậy của KH khi đến giao dịch tại NH.
Hơn hết, NH luôn chấp hành nghiêm chỉnh những thủ tục, quy định, quy chế cho vay, đảm bảo tiền vay, cũng như thực hiện tốt các khâu kiểm tra, giám sát trước, trong và sau cho vay đối với KH. Và thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra hồ sơ, thẩm định dự án, phương án cho vay,… để có những đề xuất phù hợp và kịp thời nhằm hạn chế những khoản nợ xấu phát sinh.
3.3.2. Các mặt còn tồn tại và nguyên nhân: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Các mặt còn tồn tại:
- Quy mô vốn tự có của TPBank còn nhỏ so với các NHTM khác mặc dù đã có sự gia tăng trong thời gian qua. Tuy nhiên, với mức vốn tự có thấp như vậy, sẽ khiến NH gặp khó khăn trong việc quản trị rủi ro, khả năng phản ứng với những biến đổi trên thị trường tài chính bị hạn chế, và làm giảm khả năng cạnh tranh với các đối thủ trong ngành.
- Mặc dù mức nợ xấu đã được giảm xuống đáng kể, tuy nhiên NH cần xử lý và cắt giảm triệt để mức nợ xấu để đảm bảo an toàn cho hoạt động của NH.
- Năng lực quản trị điều hành vẫn chưa cao, mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành chưa thật sự minh bạch, thiếu sự đồng tình trong việc giải quyết triệt để các vấn đề xảy ra trong hoạt động của NH.
- Thời đại công nghệ số lên ngôi, hầu hết các NH đều “chạy đua công nghệ”, đưa công nghệ vào các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của KH, và để cạnh tranh với các NH khác. Mặc dù có sự tham gia góp vốn của Tập đoàn FPT, TPBank được hỗ trợ nhiều mặt về công nghệ, nhưng NH vẫn còn những hạn chế trong việc áp dụng công nghệ kỹ thuật. Sự liên kết giữa TPBank với các NH khác chưa cao, vấn đề về bảo mật thông tin của NH vẫn còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho KH khi giao dịch với NH. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Nguyên nhân:
Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý và môi trường vĩ mô:
- Sự gia tăng ngày càng nhanh số lượng NHTM khiến cho hoạt động của TPBank bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh, thêm vào đó công tác quản lý, thanh tra giám sát của NH chưa có hiệu quả. Mặc dù một số NH, trong đó có TPBank đã thay đổi quy định nhằm tiếp cận những chuẩn mực quốc tế nhưng vẫn còn bị tụt hậu so với sự phát triển của Thế giới. Những chuẩn mực về an toàn chưa được chặt chẽ, mức độ rủi ro trong hoạt động của NH chưa được cắt giảm.
- Những chính sách nới lỏng tiền tệ đã khuyến khích các DN, các nhà đầu tư mạnh dạn đổ vốn vào các dự án, tạo điều kiện cho TPBank đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tăng tài sản đảm bảo trong khi năng lực quản trị điều hành còn hạn chế, đã làm gia tăng rủi ro và ảnh hưởng đến sự an toàn của NH.
- Mặc dù những chính sách khuyến khích đầu tư, tăng trưởng kinh tế được thực hiện, nhưng thị trường bất động sản vẫn chưa thực sự được phục hồi, khiến các hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, hàng hóa tiêu thụ chậm, khả năng trả nợ của DN bị hạn chế,… khiến các khoản nợ khó đòi, nợ xấu của NH có xu hướng tăng mặc dù đã được cắt giảm, công tác xử lý nợ xấu còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, giai đoạn 2008 – 2013 là giai đoạn khó khăn của ngành tài chính trong nước và quốc tế, chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nên việc huy động các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài, tìm kiếm những nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, trình độ quản lý tham gia vào công cuộc tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của NH không gặp thuận lợi.
- Thông tư 13/2010/TT – NHNN và Thông tư 19/2010/TT – NHNN của NHNN về việc giám sát các NHTM chỉ mới được tập trung vào việc phân tích định lượng như giám sát chất lượng tài sản qua thống kê nợ quá hạn, giám sát giới hạn tín dụng của các NHTM,… Tuy nhiên chỉ tập trung vào phân tích định lượng vẫn chưa đủ, NHNN cần có thêm những đánh giá mang tính định tính khác như đánh giá tiêu chuẩn cấp tín dụng, quy trình cấp tín dụng của các NHTM,… Cần có một quy chế chung trong việc kiểm tra, giám sát các NHTM chứ không chỉ theo dõi, đánh giá từng NH riêng lẻ, chú trọng vào công tác cảnh báo sớm những rủi ro sẽ xảy ra với các NHTM.
Nguyên nhân từ phía NHTMCP Tiên Phong:
- Mức nợ xấu của NH những năm trở lại đây tuy có tăng nhưng không đáng kể, và luôn giữ ở mức dưới 1%. Tuy nhiên, mức nợ xấu của TPBank vẫn chưa được xác định, đo lường và phân tích đầy đủ nên vẫn chưa có những biện pháp ưu việt, giúp NH cắt giảm triệt để nợ xấu.
- Học hỏi và áp dụng những tiến bộ trong điều hành, quản lý và hoạt động của các NH trên Thế giới, tuy nhiên TPBank vẫn chưa chú trọng đến việc thay đổi định hướng kinh doanh theo xu hướng của các NH hiện đại là tập trung phát triển các dịch vụ phi tín dụng, giảm sự phụ thuộc vào các hoạt động tín dụng nhằm giúp NH giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động của mình.
- Trình độ tiếp thu, năng lực của các cấp lãnh đạo cũng như của nhân viên TPBank còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ tín dụng của NH được đào tạo, có kinh nghiệm cao tuy nhiên số nhân lực còn hạn chế nên làm giảm khả năng mở rộng của NH, chất lượng cán bộ cần được nâng cao hơn nữa, không ngừng đào tạo để phù hợp với trình độ phát triển ngày càng cao trong ngành tài chính ngân hàng. Chế độ đãi ngộ, lương thưởng còn bất cập, tài chính chưa cao nên khả năng thu hút người tài, chuyển đổi công nghệ còn gặp nhiều khó khăn.
- Việc phòng ngừa rủi ro được NH chú trọng song trước tình hình biến động không ngừng của thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro lãi suất, nên công tác phòng chống rủi ro của NH còn nhiều điểm chưa được hoàn thiện cần được phát triển và nâng cao.
3.3.3. Đánh giá kết quả tái cấu trúc: Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Như đã trình bày trong Chương 2, Sinh viên sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu phi tham số DEA để đánh giá hiệu quả về lợi nhuận và hiệu quả sản xuất của TPBank và so sánh với một số NH khác trên thị trường trước và sau khi tái cơ cấu, từ đó đưa ra nhận xét về kết quả bước đầu của quá trình tái cấu trúc của TPBank. Các NHTM được so sánh trong nghiên cứu gồm có: NHTMCP Phát triển nhà TP Hồ Chí Minh (HDBank), NHTMCP Đại Chúng Việt Nam (Pvcombank), NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB), NHTMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), NHTMCP Nam Việt (NaviBank), NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank). Đối với hiệu quả về lợi nhuận, chỉ tiêu đầu vào gồm chi phí từ lãi vay và chi phí hoạt động, chỉ tiêu đầu ra là thu nhập từ lãi vay và thu nhập hoạt động (Số liệu chi tiết tham khảo phần phụ lục). Đối với hiệu quả sản xuất, chỉ tiêu đầu vào là tiền thanh toán cho nhân viên và nhà cung cấp, các chỉ tiêu đầu ra lần lượt là tiền gửi của KH và cho vay KH. Sử dụng phần mềm MaxDEA chạy mô hình phân tích bao dữ liệu phi tham số DEA, Sinh viên thu được kết quả đánh giá về hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất của TPBank và các NH còn lại như sau:
Hiệu quả lợi nhuận:
Bảng 3.14. Kết quả mô hình đánh giá hiệu quả lợi nhuận của TPBank và các NHTM khác theo mô hình Malmquist
Kết quả chạy mô hình DEA đã được thể hiện rõ và cho thấy sự thay đổi hiệu quả lợi nhuận của TPBank trong quá trình tự tái cơ cấu giai đoạn 2011 – 2013. Dựa theo những lý thuyết về mô hình Malmquist đã được trình bày ở trên, lấy năm 2011 (thời điểm t) làm mốc thời gian để so sánh với năm 2013 (thời điểm t+1). Có thể thấy từ Bảng 3.14, kết quả mô phỏng cho ra TFPCH = 1,586 (TFPCH >1), tăng 0,586 điểm, cho thấy năng suất tổng hợp của TPBank sau tái cấu trúc đạt hiệu quả. Trong đó, các yếu tố cấu thành như hiệu quả kỹ thuật (EFCH), công nghệ (TECHCH), hiệu quả kỹ thuật thuần (PECH), quy mô (SECH) cũng có chiều hướng tăng lên và đều lớn hơn 1, lần lượt đạt 1,504; 1,055; 1; 1,504 điểm. Giả sử với cùng một mức đầu vào như nhau, nếu NH biết cách tận dụng và khai thác tối đa khả năng sẵn có để nâng cao hiệu quả thuần túy thì nó sẽ góp phần gia tăng lợi nhuận cho NH. Qua bảng kết quả ta có thể kết luận được hiệu quả qui mô của TPBank cao hơn hiệu quả kỹ thuật thuần túy. Hiệu quả kỹ thuật thuần túy chỉ đạt 1 điểm, không có sự thay đổi so với năm 2011. Điều này có thể lý giải bởi thực trạng hoạt động của các NH ngày càng tăng, tốc độ tăng nhanh về số lượng và tốc độ mở rộng quy mô của từng NH ngày càng nhanh, từ đó đặt ra vấn đề về tín dụng nóng cho các NH, sẽ dễ khiến hệ thống NH bị tổn thương khi nền KT có sự thay đổi. Hệ số SECH tăng 0,504 điểm chứng tỏ NH đã phát huy được lợi thế về nguồn vốn nhờ tăng quy mô vốn, quy mô hoạt động, trình độ lực lượng lao động hợp lý giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Sau quá trình tự tái cơ cấu, TPBank đã có những chuyển biến tích cực về hiệu quả lợi nhuận. Có thể nói, NH Tiên Phong chú trọng cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh hơn là chú trọng đầu tư vào tiến bộ của KHCN bằng những chính sách như tung ra những sản phẩm, đa dạng, linh hoạt với từng đối tượng KH, quy trình tín dụng được đơn giản hóa, mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch được mở rộng và đầu tư chuyên nghiệp hơn, chất lượng dịch vụ được cải thiện… TPBank đã cắt giảm tối đa chi phí lãi vay và chi phí hoạt động, cụ thể chi phí lãi vay giảm từ 1.251 tỷ đồng xuống còn 1.069 tỷ đồng, chi phí hoạt động giảm một nửa so với năm 2011. Ngược lại, thu nhập lãi và thu nhập từ hoạt động có chiều hướng tăng, thu nhập lãi vay đạt 1.667 tỷ đồng (2013) tăng 342 tỷ đồng so với năm 2011 và thu nhập hoạt động đạt 45 tỷ đồng tăng 220% so với năm 2011. Để đạt được kết quả đó, là nhờ nguồn tiền gửi, tiền vay từ các TCTD tăng, vì đây là nguồn vốn có chi phí thấp tạo điều kiện cho NH giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, doanh số cho vay trung và dài hạn cũng có sự thay đổi tích cực, liên tục tăng qua các năm. Doanh số tăng là nhờ NH mở rộng hoạt động cho vay đối với những DN lớn, có nhu cầu vay vốn trung và dài hạn để đầu tư dự án kinh doanh. Điều này chứng tỏ NH đang điều chỉnh dần sự chênh lệch giữa tỷ lệ cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn. Định hướng này của NH nhằm mục đích đa dạng hóa loại hình cho vay, đồng thời khai thác nhóm KH tiềm năng có nhu cầu vay vốn trung, dài hạn để đầu tư. Vì phân khúc khách hàng này có nhu cầu vay vốn với số lượng lớn và thời gian dài nên có thể sẽ mang về cho NH những khoản lợi nhuận đáng kể từ tiền lãi cho vay. Và để có được thành công sau tái cấu trúc, là nhờ vào việc tận dụng thế mạnh của cổ đông chiến lược là Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI. Nhờ sự tham gia của DOJI nên vốn điều lệ của TPBank tăng từ 3.000 tỷ đồng lên đến 5.550 tỷ đồng, tổng vốn huy động dân cư tăng gấp 2 lần, tăng trưởng tín dụng tăng gấp đôi, nợ xấu giảm từ 6,4% (năm 2011) xuống còn 1,8% (năm 2013), số lượng KH đến giao dịch tại TPBank tăng gấp 3 lần.
Cùng đạt được hiệu quả và có những chuyển biến tích cực như TPBank, năng suất tổng hợp của Vietinbank đạt 1,275 điểm tăng 0,275 điểm so với năm 2011. Trước khi quyết định bán cổ phần cho Bank of Tokyo – Mitsubishi UFJ, Vietinbank không nằm trong danh sách các NHTM buộc phải tái cơ cấu, tuy nhiên, Vietinbank vẫn muốn có sự thay đổi về sở hữu trong nguồn vốn của NH. Vì vậy, sau quá trình tái cơ cấu, Vietinbank đã dần lớn mạnh, quy mô tăng cao hơn, giúp NH đạt được những hiệu quả lợi nhuận đã đặt ra.
Với các NH còn lại, hiệu quả lợi nhuận lại có sự sụt giảm so với trước khi tái cơ cấu. Đối với HDBank, trước khi sáp nhập DaiABank, HDBank là NH có tình hình tài chính lành mạnh, khả quan, hoạt động tốt và không bị đưa vào danh sách NH yếu kém. Tuy nhiên kể từ khi tiến hành M&A, hiệu quả lợi nhuận của HDBank bị sụt giảm là do NH phải gánh tỷ lệ nợ xấu khá lớn của Đại Á (hơn 5%) nên làm cho năng suất tổng hợp của HDBank bị tụt giảm 0,083 điểm so với trước khi tái cơ cấu.
Tương tự như HDBank, các NH như LienVietPostBank, Navibank, SHB và Pvcombank đều bị sụt giảm hiệu quả lợi nhuận. Sau tái cấu trúc, hiệu quả lợi nhuận của Navibank có xu hướng tụt giảm, giảm 0,014 điểm. Kết quả chạy mô hình này khá khớp với kết quả thu thập được từ BCTC của Navibank, cụ thể cơ cấu tài sản có của Navibank đạt 3.100 tỷ đồng gồm các khoản phải thu, lãi và phí phải thu, trong đó lãi và phí phải thu tăng mạnh từ 1.325 tỷ đồng (đầu năm 2013) lên hơn 2.231 tỷ đồng (cuối năm 2013). Sau quá trình hợp nhất PVFC và Westernbank, hiệu quả lợi nhuận của Pvcombank có sự thay đổi nhẹ, giảm 0,544 điểm. Với SHB, quá trình sáp nhập Habubank bước đầu chưa đạt kết quả tốt, hiệu quả lợi nhuận giảm 0,356 điểm so với năm 2011.
Hiệu quả sản xuất:
Bảng 3.15. Kết quả mô hình đánh giá hiệu quả sản xuất của TPBank và các NHTM khác theo mô hình Malmquist
Với những yếu tố đầu vào là chi phí thanh toán cho nhân viên và nhà cung cấp, đầu ra là tiền gửi và cho vay KH, kết quả mô hình có sự thay đổi về hiệu quả sản xuất của TPBank và các NHTM khác sau quá trình tái cấu trúc, và có những sự thay đổi, khác biệt với hiệu quả lợi nhuận.
Tương tự như sự thay đổi của hiệu quả lợi nhuận, hiệu quả sản xuất của TPBank sau tái cấu trúc có chiều hướng tăng đạt 1,123, tăng 0,123 điểm so với năm 2011. TPBank đã triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu, tái cơ cấu bộ máy lãnh đạo, sở hữu, tập trung củng cố và chấn chỉnh những tồn tại, song song với việc hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất kinh doanh của KH, hạn chế và tăng cường năng lực tài chính, quản trị, hoạt động và năng lực cạnh tranh, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động, mức độ an toàn cho NH. Hiện nay trên thị trường, số lượng NH có xu hướng tăng không ngừng nghỉ, yêu cầu đặt ra đối với TPBank là làm sao để có thể đáp ứng được nhu cầu về tài chính cho tất cả các đối tượng KH, nâng cấp hệ thống vận hành hoạt động đạt mức hiện đại, chú trọng đến năng lực và khả năng tài chính để đảm bảo an toàn và giải quyết những rủi ro xảy ra trong hoạt động của NH. Hệ số TFPCH đạt 1,123 điểm là nhờ TPBank tập trung vào huy động vốn từ dân cư, làm cho nguồn tiền gửi của KH tăng lên, huy động từ KH tăng mạnh ở cuối năm 2012 nên chi phí trả lãi của NH cũng tăng đáng kể trong năm 2013, tuy nhiên không ảnh hưởng lớn đến thu nhập lãi thuần năm 2013. Hiệu quả kỹ thuật thuần vẫn không thay đổi, chứng tỏ TPBank vẫn chưa chú trọng đầu tư phát triển trình độ công nghệ, trình độ quản lý, chất lượng dịch vụ. Hiệu quả quy mô tăng 0,273 điểm cho thấy NH đã có những chính sách phù hợp trong hoạt động kinh doanh, đưa ra chỉ tiêu về lợi nhuận phù hợp với khả năng, quy mô NH, công tác quản trị được tiến hành chặt chẽ hơn nhằm hạn chế sự mất thanh khoản, luôn đặt vấn đề an toàn lên hàng đầu. TPBank tăng cường đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên ngân hàng, đổi mới quy trình tín dụng, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xét duyệt và quản lý hồ sơ, nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí, tăng cường quảng bá hình ảnh,… Ngoài ra, TPBank giới thiệu đến KH dịch vụ eBank, tiện ích xác thực thư bảo lãnh bằng QR Code đầu tiên tại Việt Nam giúp KH tiết kiệm thời gian trong việc hoàn tất thủ tục xác thực với NH. Tổng dư nợ cho vay của NH cuối năm 2013 đạt 11.926 tỷ đồng, NH chủ trương nâng cao chất lượng tín dụng, đẩy mạnh các khoản tín dụng có tài sản đảm bảo, cho vay đối với các DN vừa và nhỏ, vay tiêu dùng, vay mua xe ô tô,… nhằm nâng tổng dư nợ tín dụng lên mức 40.000 tỷ đồng vào năm 2015. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
Những NH như HDBank, SHB, PVCombank cũng có sự tăng trưởng trong hiệu quả sản xuất, cụ thể HDBank đạt 1,694 điểm, SHB đạt 1,001 điểm và PVCombank đạt 1,188 điểm. Với HDBank, do NH này sáp nhập với Đại Á vào cuối năm 2013 nên hiệu quả sản xuất chưa chịu ảnh hưởng xấu do hoạt động của Đại Á mang lại. Trong khi đó, SHB và PVCombank đã thể hiện được hiệu quả sau công cuộc mua bán sáp nhập của mình. Trong khi đó, LienVietPostbank, Navibank, Vietinbank lại bị suy giảm về hiệu quả sản xuất.
Đánh giá kết quả phân tích:
Từ kết quả phân tích, đánh giá hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất của TPBank sau hoạt động tái cấu trúc cho thấy được rằng NH này đang đi đúng hướng và đạt được thành công cho mình. Sự thay đổi về hiệu quả lợi nhuận cũng như hiệu quả sản xuất có sự khác biệt nhau, tuy nhiên vẫn cho thấy được kết quả khả quan, tín hiệu đáng mừng. Vì vậy việc lựa chọn phương án tái cấu trúc phù hợp và thực hiện tái cấu trúc một cách triệt để với tình hình hoạt động và quy mô của mình là điều vô cùng quan trọng, và TPBank đã làm được điều đó. Sự linh hoạt, khéo léo trong quyết định, sự nhanh nhạy, bản lĩnh trong việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước và sự thấu đáo, thông minh trong việc áp dụng vào đặc điểm, điều kiện và nguồn lực của NH đã giúp cho TPBank có được thành công và khẳng định vị trí của mình trong hệ thống các NHTMVN như ngày hôm nay.
Việc áp dụng mô hình nghiên cứu được sử dụng để xác định hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất của TPBank và các NH khác, tuy nhiên phương pháp này không tính toán đến yếu tố sai số hay nhiễu, do đó DEA không tồn tại yếu tố mức ý nghĩa hay độ tin cậy. Chính vì thế, kết quả chỉ mang tính tham khảo tại thời điểm các số liệu được nghiên cứu sử dụng. Và sẽ cần thêm thời gian để kiểm chứng tính hiệu quả của hoạt động tái cấu trúc trong bối cảnh hiện tại còn nhiều vấn đề tác động.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trên cơ sở lý thuyết xây dựng ở chương 1, khóa luận đã nêu được sơ lược thực trạng hoạt động của TPBank trước tái cấu trúc qua các chỉ tiêu như: vốn điều lệ, tỷ lệ an toàn vốn, tình hình hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động kinh doanh,…
Việc tiến hành tái cấu trúc đã tạo tiềm lực lớn mạnh cho TPBank phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn năng lực tài chính, và mạng lưới hoạt động của NH ngày càng lớn mạnh. Tạo ra những lợi ích cho cộng đồng, xã hội nói chung và ngành NH nói riêng. Khóa luận tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tái cấu trúc NHTMCP Tiên Phong về: tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc hoạt động kinh doanh, tái cấu trúc hệ thống quản trị. Áp dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu để phân tích hiệu quả sản xuất, hiệu quả lợi nhuận và trên cơ sở những phân tích về mặt định tính, đã đưa ra nhận xét về kết quả của quá trình tái cấu trúc diễn ra tại TPBank và những chính sách, biện pháp đã được áp dụng để có thể cải thiện tình hình hoạt động của TPBank trong tương lai. Qua những nhận định và phân tích trên, có thể thấy TPBank đã đi đúng hướng và đạt được những kết quả đáng mừng sau công cuộc tái cấu trúc, nguồn vốn điều lệ tăng lên 5.550 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu giảm xuống chỉ còn 0,48% (Theo báo cáo thu nhập 6 tháng đầu năm 2015 của TPBank), lợi nhuận sau thuế đạt 536 tỷ đồng (cuối năm 2015) tăng hơn gấp 2 lần so với cùng kỳ,… Tuy nhiên, những nghiên cứu sắp tới cần được thực hiện để có những đánh giá tốt hơn về hiệu quả của công cuộc tái cấu trúc trong bối cảnh nền kinh tế có những dự báo về tăng trưởng kinh tế, xã hội trong thời gian tới. Khóa luận: Thực trạng tái cơ cấu về Ngân hàng TPBank
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp NC cấu trúc vốn tại Ngân hàng TPBank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan chung về Ngân hàng TMCP Tiên Phong