Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Đánh giá hiệu quả hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TMCP Tiên Phong dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 giới thiệu chủ đề nghiên cứu về hoạt động tái cấu trúc NH và lý do lựa chọn lĩnh vực này. Để thực hiện được chủ đề nghiên cứu của khóa luận cần xác định được mục tiêu nghiên cứu, đưa ra các phương pháp thực hiện, đồng thời xác định được đối tượng, phạm vi của đề tài nghiên cứu và kết cấu của khóa luận.
1.1. LÝ DO CHỌN LĨNH VỰC VÀ CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Đất nước ta đã và đang trong thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đánh dấu cho sự phát triển vững mạnh đó là sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức WTO (2007) và gần đây nhất là tiến tới ký kết hiệp định TPP (2015). Để hội nhập kinh tế quốc tế thành công, điều kiện đầu tiên là phải phát huy nội lực kinh tế đất nước. Năm 2014, đánh dấu bước chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp cho sự lớn mạnh này, không thể không kể đến vai trò của ngành NH đối với nền kinh tế. NHTM luôn giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế, là yếu tố không thể thiếu để tập trung vốn cho sự phát triển đất nước. NHTM với vai trò là các tổ chức tài chính trung gian với chức năng huy động vốn, cho vay, luân chuyển đồng tiền từ nơi nhàn rỗi đến nơi đầu tư,… Những thành tựu kinh tế xã hội đạt được là có sự đóng góp rất lớn của ngành NH. Cũng chính vì thế mà hoạt động NH trở nên rất nhạy cảm, có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng của nền kinh tế. Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
Chịu sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ, nền kinh tế Việt Nam cũng phải đương đầu với những khó khăn không nhỏ. Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính, tín dụng ở Mỹ diễn ra phức tạp, kéo theo các hoạt động của ngành ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều ngân hàng tỏ ra bối rối trong các hoạt động huy động và cho vay vì không biết diễn biến thị trường như thế nào. Kết quả là trong năm 2008, tăng trưởng của các ngân hàng bị chậm lại, chất lượng nợ suy giảm, tỷ lệ nợ xấu gia tăng, điều này đe dọa trực tiếp đến sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Thêm vào đó là việc mở cửa thị trường tài chính, ngân hàng trong bối cảnh toàn cầu hóa Thế giới, cho phép các NH có vốn nước ngoài tham gia vào hoạt động NH tại Việt Nam, làm cho các NHTM Việt Nam chịu sự cạnh tranh gay gắt và những tác động mạnh trên thị trường tài chính quốc tế. Từ đầu năm 2010, các chính sách khôi phục kinh tế sau khủng hoảng đã được từng bước thực hiện. Tuy nhiên, chịu tác động mạnh mẽ của suy thoái kinh tế toàn cầu và lạm phát tăng cao, nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thực sự ổn định và còn tồn tại nhiều yếu tố bất lợi.
Đến nay, NHNN đã thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô giúp kiềm chế lạm phát ở mức thấp, giữ tỷ giá ở mức ổn định, thanh khoản cao, lãi suất hạ ở cả thị trường liên ngân hàng và thị trường giao dịch giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng, tổ chức cá nhân trong nền kinh tế. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc khắc phục hậu quả ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ (2008) nhưng các NHTM vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn phía trước và bộc lộ rõ những bất ổn trong lĩnh vực NH như : nợ xấu tăng cao, lợi nhuận của các NH chủ yếu từ tín dụng, rủi ro cao,… Hơn thế nữa, sự ra đời của nhiều hệ thống NH nhỏ, hoạt động chưa cao, sở hữu chéo, chạy đua lãi suất giữa các NH gây ảnh hưởng lớn đến toàn hệ thống và cả trên thị trường tiền tệ. Do đó, nếu Chính phủ và NHNN không có những biện pháp can thiệp kịp thời sẽ có thể gây ra những hậu quả xấu ảnh hưởng đến sự an toàn và chất lượng của toàn hệ thống.
Nhằm ổn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả, bền vững theo lộ trình quy định tại Nghị định 141/2006NĐ-CP, các NHTM, đặc biệt là những NH có quy mô nhỏ phải có những giải pháp và hướng đi mới nhằm đảm bảo số vốn điều lệ thực góp đúng theo quy định của CP. Thêm vào đó, đầu năm 2012, theo đề án được ban hành Quyết định số 254/QĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ về việc “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” các NHTM Việt Nam bắt đầu quá trình tái cấu trúc. Đề án tái cấu trúc TCTD được triển khai với các hình thức như tự tái cơ cấu, hợp nhất, sáp nhập. Kết quả sau 4 năm triển khai đề án, quá trình tái cơ cấu NHTM Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ và giúp cho các NH giảm được những rủi ro hệ thống. Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của NHNN và sự nỗ lực của các NHTM mà đã có hơn 10 TCTD trong đó có các NH yếu kém đã được tái cơ cấu. Trong số những NH nằm trong “danh sách đen”, nổi bật lên là sự kiện tái cơ cấu của Ngân hàng TMCP Tiên Phong đã từng được xem là một trong những NH đang nằm ở bờ vực nguy hiểm vì tỷ lệ nợ xấu tăng cao, tuy nhiên nhờ chính sự nỗ lực và trợ giúp của các cổ đông bên ngoài, TPBank hiện nay là một trong số những NH có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất trong số những NHTM tại Việt Nam. Chính vì vậy, sinh viên quyết định thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TMCP Tiên Phong” sẽ giúp nhìn nhận rõ hơn về hiệu quả sau khi tái cơ cấu và những thành tựu, kết quả tích cực NH đã đạt được, cũng như những hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại trong hoạt động của NH sau tái cơ cấu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến hoạt động tái cơ cấu của doanh nghiệp, đặc biệt là NH.
- Đi sâu vào phân tích các yếu tố tác động và quá trình tái cơ cấu của TPBank.
- Phân tích hiệu quả của hoạt động tái cơ cấu, kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sau tái cơ cấu của TPBank.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu:
Giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên, khóa luận được thực hiện sẽ giúp trả lời câu hỏi nghiên cứu như sau:
Hoạt động tái cơ cấu của TPBank có thật sự mang lại hiệu quả ở các mặt cho hoạt động của NH sau tái cơ cấu?
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu, số liệu:
Nguồn dữ liệu và số liệu thu thập được là nguồn thứ cấp, chủ yếu được thu thập từ các báo cáo tài chính hằng năm của NH. Bên cạnh đó, khóa luận cũng sử dụng số liệu được cung cấp từ báo cáo thống kê, từ các tài liệu báo cáo ngành liên quan và các cơ sở dữ liệu khác.
1.3.2. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu, số liệu:
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA trong việc tính toán và ước lượng hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất của TPBank. Từ đó rút ra nhận xét về kết quả bước đầu của quá trình tái cấu trúc của TPBank.
1.4. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
1.4.1. Không gian:
Phạm vi khóa luận tập trung vào phân tích và đánh giá hiệu quả của hoạt động tái cơ cấu của Ngân hàng TMCP Tiên Phong.
1.4.2. Thời gian:
Các số liệu thu thập và phân tích được tổng hợp từ năm 2008 đến 2014. Do thời gian và nguồn lực có hạn, gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, số liệu của NH nên dẫn đến một số hạn chế trong quá trình phân tích các khía cạnh có liên quan cũng như việc đánh giá hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. Vì vậy, mức độ chính xác và hiệu quả sẽ không như mong muốn.
1.5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN:
Kết cấu của đề tài khóa luận tốt nghiệp gồm 4 chương
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 nhằm mục đích giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu như tên đề tài, lý do chọn đề tài. Trong chương này cũng xác địch mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu được sử dụng cũng như những hạn chế của đề tài khóa luận tốt nghiệp.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Nội dung chương 2 sẽ làm rõ các khái niệm cơ bản về tái cấu trúc: định nghĩa hoạt động tái cấu trúc, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, vai trò của Ngân hàng trung ương trong quá trình tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại,… Ngoài ra cũng sẽ đề cập đến phương pháp phân tích định lượng để đánh giá kết quả tái cấu trúc. Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
Sau đó, trong chương 2 sẽ đánh giá thực trạng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG
Trong nội dung chương 3 sẽ gồm 3 phần:
- Phân tích quá trình hoạt động của TPBank trước tái cấu trúc: những điểm mạnh, yếu, thuận lợi, khó khăn của NH trong hoạt động, đồng thời cũng đánh giá về vị thế của NH trong ngành.
- Phân tích hoạt động tái cấu trúc của TPBank: tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc hoạt động kinh doanh, tái cấu trúc hệ thống quản trị.
- Đánh giá hiệu quả đạt được của hoạt động tái cấu trúc, phân tích một số chỉ tiêu hoạt động của NH sau tái cấu trúc.
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SAU TÁI CẤU TRÚC CỦA TPBANK
Chương 4 nêu ra những nhận xét về hoạt động tái cấu trúc của NH và đưa ra những giải pháp mong muốn để cải thiện tốt hơn hoạt động của NH sau tái cấu trúc.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày bối cảnh nền kinh tế cũng như ngành NH tại Việt Nam, đồng thời lựa chọn được chủ đề khóa luận thông qua hoạt động tái cấu trúc của NHTMCP Tiên Phong. Với đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TMCP Tiên Phong”, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng của khóa luận nhằm phân tích, tìm hiểu và đánh giá hiệu quả hoạt động của TPBank sau tái cơ cấu. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thu thập, phân tích, thống kê và ứng dụng mô hình DEA để phân tích bao dữ liệu hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất qua việc xem xét phạm vi đề tài với các số liệu tổng hợp của NH năm 2008 và năm 2014. Cuối chương 1 cũng đã trình bày kết cấu của khóa luận bao gồm 4 chương để có cái nhìn tổng quát bài khóa luận hoàn chỉnh, đáp ứng được thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trước khi phân tích hoạt động tái cấu trúc thực tế thì việc tìm hiểu những cơ sở lý thuyết về tái cấu trúc cũng hết sức quan trọng. Trong chương 2, sinh viên sẽ tìm hiểu những nội dung chính sau: các khái niệm về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, phương pháp phân tích định lượng để đánh giá kết quả của hoạt động tái cấu trúc, thực trạng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
2.1. KHÁI NIỆM TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
2.1.1. Khái niệm:
“Tái cấu trúc ngân hàng” là một thuật ngữ thông dụng chỉ sự thay đổi nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả về lợi nhuận và hiệu quả sản xuất. Hiện nay, hoạt động tái cơ cấu được xem là giải pháp hiệu quả để giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các NHTM cải thiện tình hình hoạt động, tình hình sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB, 1998), tái cấu trúc ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng.
“Tái cấu trúc ngân hàng” là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng. (Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu – Bài học từ tái cấu trúc ngân hàng, IMF – 1997).
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã được ra đời từ những năm cuối của thập niên 90 ở Việt Nam, khi hệ thống các ngân hàng rơi vào khủng hoảng, bộc lộ rõ những yếu kém, sai phạm và kéo theo những rủi ro hệ thống dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997). Hoạt động tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không mang tính định kỳ, không bắt buộc các ngân hàng phải thực hiện. Mà việc tái cấu trúc chỉ được thực hiện khi có những biểu hiện yếu kém, những vấn đề nổi cộm mà có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng hay toàn hệ thống. Những nguyên nhân dẫn đến việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng như: tỷ lệ an toàn vốn thấp, yếu kém trong việc thực hiện chức năng trung gian, khủng hoảng kinh tế, nợ xấu cao, giám sát và quản lý kém,… Hoạt động tái cấu trúc gần như bao gồm toàn bộ những biện pháp có liên quan đến từng NH như cổ phần hóa NHTMNN, mua bán, sáp nhập, tự tái cơ cấu…
Từ những khái niệm trên, ta có thể khái quát về định nghĩa, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại là việc thực hiện những biện phám nhằm hạn chế và khắc phục những yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại (mà những yếu kém này có thể gây ra một cuộc khủng hoảng trên toàn hệ thống) với mục đích cải thiện và duy trì sự phát triển bền vững, mang tính an toàn, và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng tín dụng và thanh toán, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM.
2.1.2. Nội dung tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại: Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
Với tiêu chí phát triển hệ thống tài chính quốc gia, đẩy mạnh tính cạnh tranh giữa các ngân hàng và cải thiện khả năng sinh lợi của NH, việc tái cấu trúc hệ thống NH ngày càng trở nên cấp thiết. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng bao gồm tái cấu trúc hoạt động kinh doanh, tái cấu trúc tài chính và tái cấu trúc hệ thống quản trị. Tái cấu trúc hệ thống NHTM không giống với hoạt động tái cấu trúc của các ngành khác như: công nghiệp, dịch vụ, thương mại,… bởi vì sự ảnh hưởng của các ngành kinh tế khác không có tính rộng khắp như sự ảnh hưởng của hệ thống NHTM. Với chức năng trung gian tài chính, hoạt động của NHTM có liên quan mật thiết đến mọi lĩnh vực trong nền kinh tế xã hội trong nước và cả thế giới.
Lý do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại:
Lý do thứ nhất, sự phát triển của nền kinh tế có tác động sâu rộng đến hệ thống NH, chính vì thế đòi hỏi hệ thống các NH phải thay đổi để đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế đề ra. Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hướng đến sự thay đổi trong những khuôn khổ quản trị, nâng cao tính cạnh tranh, cải thiện kết quả hoạt động và tăng khả năng quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, cải thiện khả năng tiếp cận tài chính của mọi đối tượng trong xã hội.
Bên cạnh đó, việc tái cấu trúc không chỉ thực hiện khi hệ thống các NHTM đang trong tình trạng khủng hoảng, mà tái cấu trúc cần được thực hiện thường xuyên khi hệ thống NHTM đang hoạt động bình thường sẽ tránh gây ra những hậu quả xấu cho hệ thống và nền kinh tế, tiết kiệm được chi phí cho hoạt động tái cấu trúc và nhằm hướng đến mục tiêu phát triển.
Lý do thứ hai, khi hệ thống NHTM đang tiềm ẩn những rủi ro: thanh khoản kém, rủi ro tín dụng, khả năng cạnh tranh, năng lực quản trị giảm sút, luân chuyển vốn khó khăn, tính liên kết giữa các NH yếu, hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát còn hạn chế,…. Thêm vào đó là sự tồn tại của những nhóm lợi ích, sở hữu chéo giữa các NH lớn làm tăng tính lệ thuộc và rủi ro hệ thống cao, kỷ luật trên thị trường tiền tệ không được chấp hành nghiêm túc. Nếu những động cơ trên diễn ra mạnh mẽ, nhiều NH sẽ có khả năng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, nợ xấu tăng cao. Điều này đòi hỏi Chính phủ phải có những biện pháp can thiệp để bảo vệ các khoản tiền gửi của KH tại NH, tránh sự cố gián đoạn giao dịch và hiệu ứng domino ra toàn hệ thống, và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế khi NH có nguy cơ phá sản. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã và đang là xu thế tất yếu và khách quan. Những cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử đã chứng minh rằng cần phải khôi phục và đảm bảo ổn định các điều kiện tài chính thì mới có thể hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển.
Mục tiêu ngắn và trung hạn, tái cơ cấu hệ thống nhằm hướng đến sự ổn định trong hoạt động, đảm bảo khả năng thanh khoản và duy trì tính liên tục trong hoạt động của hệ thống NH. Trong dài hạn, việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đặt mục tiêu thay đổi khuôn khổ quản trị của từng NH và cả hệ thống, cải thiện hiệu quả hoạt động, tăng tính cạnh tranh và khả năng quản trị rủi ro,…. Bên cạnh đó, sự ủng hộ và lòng tin từ công chúng cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của hoạt động tái cấu trúc.
Nội dung tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại:
Tái cấu trúc tài chính:
Lành mạnh hóa tài chính hệ thống NHTM mà trọng tâm là xử lý nợ xấu và minh bạch hóa tài chính là công việc cấp thiết và quan trọng trong hoạt động tái cấu trúc.
“Đề án cơ cấu lại hệ thống TCTD giai đoạn 2011 – 2015” kèm theo Quyết định 254/QĐ-TTg về việc tái cấu trúc là sự nỗ lực của Chính phủ về mặt pháp lý nhằm xử 8 lý các NH yếu kém, và đề ra lộ trình cho đến năm 2015. NHNN đã đề ra những nội dung tái cấu trúc, cần tập trung vào giải quyết nợ xấu, nâng cao tính thanh khoản, bổ sung vốn và hoàn thiện khuôn khổ quản trị NH.
Tăng quy mô và chất lượng vốn tự có của các NHTM:
Theo Luật các Tổ chức tín dụng 2010, Vốn tự có bao gồm phần giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của TCTD theo quy định của NHNN. Nguồn vốn tự có này được các NHTM sử dụng để đầu tư cơ sở hạn tầng, công nghệ, ngoài ra nó còn là nguồn vốn để góp vốn, mua cổ phần của các DN khác hoặc nguồn vốn để thành lập công ty trực thuộc như Công ty chứng khoán, Công ty cho thuê tài chính,… Mặc dù vốn tự có chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NH nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác, bảo đảm sự an toàn cho NHTM và duy trì niềm tin đối với KH và điều chỉnh hoạt động của NH,…
Để tăng nguồn vốn tự có, các NHTM có thể:
- Tăng nguồn lợi nhuận giữ lại: đây là phần lợi nhuận mà NH đạt được trong hoạt động kinh doanh của năm, nhưng không thực hiện chia cho cổ đông mà giữ lại để tăng vốn. Với biện pháp này NH có thể tự chủ động trong việc tăng vốn tự có mà không bị phụ thuộc và thị trường vốn, nhằm cắt giảm chi phí cho NH.
- Phát hành cổ phiếu mới: NH có thể phát hành vốn cổ phần thường hay vốn cổ phần ưu đãi. Với hình thức này, NH không phải lo lắng về gánh nặng cổ tức nếu NH làm ăn thua lỗ. Phát hành cổ phiếu mới cũng làm tăng quy mô vốn tự có nhưng cũng làm tăng khả năng vay nợ của NH trong tương lai, và chi phí phát hành cao.
- Bên cạnh đó, NH cũng có thể làm tăng quy mô vốn tự có bằng cách chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu, giúp NH củng cố vốn cổ phần và hạn chế những chi phí trả lãi phát sinh.
Nhằm đảm bảo chất lượng vốn tự có của các NHTM trên toàn Thế giới, vào năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision – BCBS) đã ban hành Hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord hay Basel 1). Hệ thống này đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8%. Đến quý 4/2003, phiên bản mới của Hiệp ước vốn (Basel II) có hiệu lực, quy định tiêu chuẩn vốn tối thiểu của các NHTM vẫn là 8%. Mục đích ra đời của Hiệp ước vốn Basel là nâng cao chất lượng, sự ổn định của hệ thống NH quốc tế, bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của NH và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính. Chính vì lí do đó, các nhà quản lý ngành NH luôn xác định rõ và giám sát các NH, buộc các NH phải duy trì mức tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ở Việt Nam hiện nay theo Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của NHNNVN, quy định tỉ lệ này đang là 9%, giống như chuẩn mực Basel mà các hệ thống NH trên thế giới đang áp dụng. Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
Vốn tự có
Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng
- Vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động
- Vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường Vốn tự có được chia làm 3 cấp:
- Vốn cấp 1: Vốn góp của chủ sở hữu (vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần thường) và lợi nhuận giữ lại
- Vốn cấp 2: Thặng dư vốn cổ phần, chênh lệch do đánh giá lại tài sản, các khoản dự phòng tổn thất, vốn bổ sung từ các công cụ nợ, các khoản nợ dài hạn thỏa mãn điều kiện nhất định.
- Vốn cấp 3: Tùy theo quy định của cơ quan giám sát NH, các NHTM có thể sử dụng các khoản nợ thứ cấp ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu về vốn đối với rủi ro trên thị trường.
Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
Tại VN, chỉ tiêu an toàn vốn và chỉ tiêu vốn tự có là những chỉ tiêu cần được quan tâm bởi nó phản ánh độ an toàn và lành mạnh “sức khỏe” của NH, những chỉ tiêu này cần được duy trì ở mức nhất định theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, NHTM cần có những biện pháp tăng vốn nhằm tăng khả năng tài chính để chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình.
Xử lý nợ xấu:
Với sự ra đời ngày một nhiều, các NHTM phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, chính vì vậy mà các NH đua nhau tung ra những hình thức cho vay với điều kiện hết sức dễ dàng. Thêm vào đó là sự chạy đua về doanh số, nhiều nhân viên tín dụng đã sẵn sàng nâng cao giá trị tài sản đảm bảo, nhằm giúp cho KH có thể vay được nhiều hơn. Những khoản vay này rất dễ được liệt kê trong danh sách nợ xấu, chỉ vì điều kiện cho vay không nghiêm ngặt của NH. Một khi đã nằm trong danh sách nợ xấu, buộc NH phải trích lập dự phòng rủi ro và làm giảm lợi nhuận của mình. Nếu ngay từ đầu, NH thực hiện nghiêm ngặt việc phân loại rủi ro, trích lập dự phòng đầy đủ và chấp nhận mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn thì hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ không bị ảnh hưởng nhiều, không tốn nhiều chi phí cho việc xử lý nợ xấu, đảm bảo được an toàn hệ thống và không ảnh hưởng đến tiền gửi của người dân và tài sản của Nhà nước.
Để xử lý triệt để nợ xấu, các NHTM cần phải minh bạch trong công tác cho vay, đưa ra giải pháp và quy kết trách nhiệm rõ ràng khi đưa ra quyết định cho vay. Hạn chế hoặc cắt giảm những TCTD yếu kém, hoạt động không hiệu quả bằng các thương vụ hợp nhất, sáp nhập. Đổi mới và cơ cấu lại các tập đoàn kinh tế, DNNN gắn liền với xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính. Bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) sẽ giúp các NHTM hóa giải được số nợ xấu, làm sạch bảng cân đối kế toán, giúp hồi phục hoạt động tín dụng,…
Tái cấu trúc hoạt động kinh doanh:
Bên cạnh việc rà soát và chấn chỉnh những yếu kém do hoạt động tài chính gây ra, tái cấu trúc hệ thống NH cần triển khai và thực hiện nghiêm ngặt những biện pháp củng cố và chấn chỉnh hoạt động kinh doanh để ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động của NH và đáp ứng các quy định nghiêm ngặt theo thông lệ quốc tế.
Tái cấu trúc cần rà soát lại tất cả các quy trình hoạt động của NH, từ việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm, quy trình cho vay, các quy định về tín dụng,… cho đến quản trị nguồn nhân lực, kế toán, tài chính,… Để từ đó tìm ra những lỗ hỏng cần khắc phục, xây dựng những quy trình quản lý mang tính logic, khoa học hơn. Để tiến hành hoạt động tái cấu trúc, các NHTM cần thực hiện những nội dung sau:
Tái cấu trúc chất lượng nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đối với mọi lĩnh vực hoạt động, là yếu tố quyết định đến sự thành công của các tổ chức. Hơn nữa sự ra đời của 11 hàng loạt các NHTM, sự cạnh tranh gay gắt và hội nhập quốc tế sâu rộng đã đặt ra yêu cầu cấp bách đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực. Để chủ động hội nhập một cách có hiệu quả, NH cần chuẩn bị và đảm bảo những điều kiện nhất định như: đẩy nhanh quá trình đổi mới thể chế, chính sách, công nghệ, nghiệp vụ cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Để thực hiện tốt những yêu cầu đã đặt ra, đòi hỏi đội ngũ nhân viên NH phải có chuyên sâu về kiến thức, nghiệp vụ, đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp,… Đội ngũ cán bộ nhân viên NH cần có sự nhất quán cao về nhận thức, cần được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, nâng cao trình độ tin học, kỹ năng sử dụng các phương tiện công nghệ hiện đại trong công việc,…
Tái cấu trúc chất lượng sản phẩm, dịch vụ:
Hoạt động của các NHTM giữ vai trò quan trọng và đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới. NHTM đóng vai trò là trung gian tài chính trong nền kinh tế, cung ứng các dịch vụ, sản phẩm liên quan đến tiền gửi, cho vay, thanh toán,… qua các kênh phân phối khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của KH trong khuôn khổ phạm vi pháp luật cho phép. Để có thể cạnh tranh và đem lại nguồn doanh thu cho mình, các NHTM cần đa dạng hóa danh mục sản phẩm, tăng cường hoạt động marketing trên thị trường, tiến hành các chương trình khuyến mãi nhằm thu hút KH, đẩy mạnh chất lượng dịch vụ,…
Hoạt động của một NHTM không chỉ gói gọn trong các hoạt động tín dụng, thanh toán, trao đổi tiền tệ,… mà để mang lại nguồn thu cho NH và cổ đông, các NHTM đã và đang thực hiện những hoạt động kinh doanh khác như: mua bán cổ phiếu, đầu tư bất động sản,… Mặc dù những hoạt động này đem lại nguồn lợi nhuận cho NH, tuy nhiên NH cần tập trung củng cố và nâng cao chất lượng các hoạt động kinh doanh chính, hạn chế những lĩnh vực kinh doanh mang tính rủi ro, kém hiệu quả.
Đẩy mạnh phát triển các hoạt động NH bán lẻ mang lại hiệu quả cao, cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ NH như tiền gửi tiết kiệm, cho vay ưu đãi, thanh toán,… kết hợp với các sản phẩm bảo hiểm hướng tới KHCN, KHDN, các tổ chức thông qua các kênh phân phối của NH như chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch, hay các kênh phân phối như Mobile banking, ATM, Internet banking,… hoặc các kênh phân phối thứ ba. Xây dựng nền tảng KH ổn định, vững mạnh, củng cố, đẩy mạnh quan hệ với các KH là DN lớn, các bạn hàng hợp tác lâu dài.
Tạo sự đột phá, khác biệt về sản phẩm, nhằm chiếm lĩnh và các KH mang lại lợi nhuận cao ở mỗi phân khúc thị trường khác nhau. Củng cố và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng, phát triển các dịch vụ thẻ quốc tế,… để thu hút ngày càng nhiều KH tiềm năng hơn.
Tái cấu trúc công nghệ:
Khoa học công nghệ ngày càng phát triển hiện đại, và đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và xã hội. Để chủ động và dành được lợi thế trên thị trường, các NHTM cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, khai thác hệ thống chương trình mới, áp dụng khoa học công nghệ trong việc phát triển và quảng bá sản phẩm, chú trọng đến các sản phẩm phần mềm giao dịch điện tử như Mobile banking, Internet banking,
Đồng thời tập trung hoàn thiện hệ thống core – banking nhằm phục vụ cho các hoạt động NH diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm chi phí, thời gian cho NH và KH. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, thuê những chuyên gia tư vấn trực tiếp xây dựng, triển khai thực hiện các dịch vụ ngân hàng điện tử để có thể cạnh tranh với các NHTM khác. Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
Tái cấu trúc về chính sách và cơ chế điều hành:
Ban kiểm tra, giám sát ở mỗi NHTM cần xây dựng và ban hành những quy chế, quy trình kiểm tra, giám sát nội bộ, cần thực hiện nghiêm ngặt và minh bạch trong công tác quản lý, điều tra, kiểm soát rủi ro nội bộ. Tăng cường quản lý rủi ro và kiểm soát chặt chẽ để tránh những tình huống xấu xảy ra. Ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý, phòng ngừa rủi ro và làm tăng hiệu quả kiểm soát độc lập của các cấp quản lý đối với giao dịch và kiểm soát chéo giữa các bộ phận. Tái cấu trúc lại bộ máy hoạt động sao cho tinh gọn, nhưng vẫn đảm bảo tốt các hoạt động của NH được tiến hành thông suốt, hiệu quả.
Tái cấu trúc hệ thống quản trị:
Kể từ khi Việt Nam tham gia vào nền kinh tế thị trường, và đặc biệt là sự gia nhập Tổ chức kinh tế Thế giới WTO, và mới đây nhất là tiến tới ký kết Hiệp định TPP, vấn đề quản trị DN được đề ra như một nhu cầu cấp thiết để làm sao các DN tại VN có thể cạnh tranh với những DN trong khu vực và trên Thế giới. Việc quản trị DN tốt, có thể giúp DN dễ dàng trong việc tiếp cận những cơ hội về tài chính, đầu tư và nâng tầm giá trị của DN. NHTM cũng được xem là một DN với đặc thù là tổ chức kinh doanh tiền tệ, chứa đựng nhiều rủi ro và có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế của một nước nên vấn đề quản trị lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một NH nếu yếu kém trong quản trị sẽ gây tổn thất rất lớn cho chính NH, bên cạnh đó còn ảnh hưởng xấu đến các DN khác, ngược lại nếu hoạt động quản trị của NH tốt, thì khả năng cung ứng và hỗ trợ các DN càng lớn. Hơn thế nữa, việc tham gia ồ ạt của các NH có vốn 100% nước ngoài vào VN, đòi hỏi các NHTM trong nước phải đặc biệt chú trọng, thực hiện nghiêm ngặt công tác quản trị NH.
Yếu tố quan trọng nhất trong công tác quản trị NHTM đó chính là năng lực quản trị nội bộ. Một NH hoạt động có mạnh hay không, có thành công hay thất bại là do năng lực quản trị nội bộ của chính NH đó. Để làm tốt điều này, các NHTM cần quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản trị cũng như cấu trúc hệ thống NH, thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro, đảm bảo tính minh bạch và công khai trong công tác quản trị NH, nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ trên cơ sở áp dụng hệ thống công nghệ NH hiện đại để có thể tìm ra những rủi ro và đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời. Bên cạnh đó, NH cần cơ cấu lại mô hình tổ chức bởi lẽ mô hình tổ chức hiện nay của các NHTM chỉ có thể phát huy tác dụng trong điều kiện hoạt động với qui mô nhỏ, và mức độ tập trung quyền lực cao. Với áp lực cạnh tranh từ phía các NH khác, yêu cầu đặt ra hiện nay cần phải chuẩn hóa hoạt động tổ chức theo hướng gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao.
Tái cấu trúc hệ thống quản trị có thành công hay không, đòi hỏi sự nỗ lực và hỗ trợ từ nhiều phía. Nếu chỉ dừng lại ở sự cố gắng của chính NH thì hoạt động tái cấu trúc sẽ chỉ dừng lại ở mức 70%, bởi lẽ để có thể thực hiện tái cấu trúc hệ thống quản trị thành công, đòi hỏi phải có một bộ luật hoàn chỉnh để các NHTM dựa vào đó mà đưa ra những mục tiêu, những chiến lược quản trị từ tổ chức đến hoạt động, và đặc biệt là quản trị rủi ro, mang lại sự an toàn cho hoạt động của NHTM.
2.1.3. Vai trò của NHNN trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM: Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
Trong 25 năm qua, hệ thống NHTMVN đóng vai trò quan trọng trong chức năng điều tiết các hoạt động trên thị trường tiền tệ, góp phần đổi mới và phát triển hệ thống kinh tế quốc dân hướng tới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống NH chính là lá cờ tiên phong về mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu phát triển quan trọng, song nhìn nhận một cách khách quan, hệ thống NHTMVN còn tồn tại nhiều hạn chế về năng lực tài chính, quản trị, khả năng cạnh tranh, hạn chế về công nghệ, nguồn nhân lực,… Những yếu kém 14 của các NHTM khiến hệ thống NHTM hoạt động thiếu tính ổn định, tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây ảnh hưởng đến sự an toàn cho cả hệ thống. Các cấp ủy Đảng, Chính phủ, NHNN nhận định rõ những yếu kém đang tồn tại của hệ thống NH và từng bước đưa ra những giải pháp phù hợp với từng thời kỳ, kiên định thực hiện theo lộ trình của Đề án 254 “Cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua, để giúp hệ thống NHTM khôi phục những yếu kém, đáp ứng đầy đủ những chuẩn mực quốc tế về hoạt động NH, có khả năng cạnh tranh với các NH trong khu vực và trên Thế giới.
NHNNVN là đơn vị chủ trì, phối hợp với các Bộ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW có liên quan đến triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu các TCTD giai đoạn 2011 – 2015, chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn hoạt động cho toàn bộ hệ thống NHTM. Để có thể làm tốt vai trò là đầu tàu trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM, NHNN cần ráo riết thực hiện những nội dung sau:
Kiểm tra và đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM:
NHNN thường xuyên tổ chức những buổi kiểm tra, rà soát nhằm đánh giá toàn diện tình hình, kết quả và chất lượng hoạt động của các NHTM. Từ đó có thể phát hiện kịp thời những sai sót, yếu kém về tình hình tài chính, quản trị, hoạt động kinh doanh,… để có thể phân chia thành 3 nhóm:
- Nhóm các NH dẫn đầu (các NH lớn)
- Nhóm các NH trung bình, chủ yếu tập trung vào các hoạt động bán lẻ
- Nhóm các NH nhỏ
Việc phân loại nhóm các NH, với mục đích khuyến khích các NHTM tái cấu trúc bằng các thương vụ như hợp nhất, sáp nhập hay tự tái cấu trúc tạo ra những NH lớn có đủ năng lực tài chính để cạnh tranh với các NH có vốn nước ngoài, tập trung phát triển những hoạt động kinh doanh chính, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH.
Đề ra các phương án tái cấu trúc hệ thống NHTM trình lên Chính phủ: Hoạch định rõ mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc và biện pháp thực hiện tái cấu trúc. Việc Chính phủ ban hành Quyết định 254/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cấu trúc các TCTD cho thấy sự cố gắng, nỗ lực của NHNN trong tiến trình thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTMVN. Trong khoảng thời gian ngắn, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và khẩn trương thực hiện những biện pháp mang tính thận trọng, phù hợp với tình hình thực tế, một số những NHTMCP yếu kém đã hoàn tất các giai đoạn kiểm tra, giám sát và xây dựng những phương án tái cơ cấu phù hợp với lộ trình mà Quyết định 254 đã đề ra và xác thực với tình hình ngân hàng đang hoạt động đề trình lên NHNN phê duyệt.
NHNN đóng vai trò là trung gian giữa các NHTM, hỗ trợ các NHTM về vấn đề thanh khoản:
Quá trình tái cấu trúc diễn ra có thể sẽ ảnh hưởng đến hệ thống NH và cả hệ thống tài chính của một nước. Hoạt động NH sẽ trở nên xáo trộn, rủi ro tăng cao, ảnh hưởng đến cả lòng tin của các cá nhân, tổ chức có liên quan và cả những nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chính vì lẽ đó, NHNN cần đứng ra giải quyết vấn đề thanh khoản giữa các TCTD trên thị trường. Là bên cho vay cuối cùng, NHNN có thể cho NHTM vay cùng với những điều kiện ràng buộc để chắc chắn rằng khoản vay này được đảm bảo, nhờ đó mà các NHTM có cơ hội được bổ sung thêm nguồn vốn hoạt động, đảm bảo ổn định cho hoạt động và tính thanh khoản của NH, cải thiện lòng tin đối với nhà đầu tư, người dân và các tổ chức KT-XH.
Quá trình tái cơ cấu NH diễn ra khi một NH rơi vào tình trạng khủng hoảng bằng các hình thức như: tự tái cơ cấu, hợp nhất, sáp nhập,… Tuy nhiên trên thực tế, không phải NH nào cũng tự nguyện, tự giác thực hiện điều này. Đặc biệt là những phi vụ M&A vì vấn đề về nghĩa vụ và lợi ích của các bên tham gia khá phức tạp. Chính vì vậy, NHNN đóng vai trò là cầu nối giữa các TCTD, các NHTM, hỗ trợ các bên có liên quan nhanh chóng thực hiện công cuộc tái cơ cấu.
2.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG ĐỂ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC: Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
DEA là phương pháp Phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis) với mô hình ước lượng hiệu quả kỹ thuật và mô hình ước lượng năng suất tổng hợp Malmquist TFP theo thời gian. Việc sử dụng DEA giúp các nhà nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị/tổ chức/doanh nghiệp (hay còn được gọi là các đơn vị ra quyết định – Decision making units, DMUs) hoạt động trong cùng một lĩnh vực như ngân hàng, trường học,…
DEA thường được sử dụng trong các nghiên cứu về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, với mục tiêu đo lường hiệu quả kỹ thuật và mô hình ước lượng năng suất tổng hợp Malmquist TFP theo thời gian. Việc áp dụng DEA vào các công trình 16 nghiên cứu khoa học quốc tế đã trở nên phổ biến, tuy nhiên ở Việt Nam, DEA chỉ dừng lại ở mức phân tích và đánh giá số liệu để từ đó đưa ra giải pháp. Vì vậy, sinh viên quyết định chọn phương pháp bao dữ liệu làm công cụ tính toán hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất trước và sau khi tái cấu trúc, xây dựng đường bao biên tiêu chuẩn dành cho các NH trong hoạt động kinh doanh. Kết quả sau khi chạy mô hình này sẽ cho ra các điểm hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả thuần (PE) và hiệu quả qui mô (SE) trong hoạt động của các NHTM. Từ đó đưa ra các góp ý, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế của NHTM sau khi tái cấu trúc thành công.
Trong bài khóa luận, sinh viên sử dụng DEA để tính toán hiệu quả về sản xuất và hiệu quả về lợi nhuận của 7 NHTM (thực thể ra quyết định – DMUs) trước và sau khi tiến hành tái cấu trúc: NHTMCP Tiên Phong (TPBank), NHTMCP Đại Chúng Việt Nam (PVCombank), NHTMCP Phát triển nhà TP Hồ Chí Minh (HDBank), NHTMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), NHTMCP Nam Việt (NaviBank), NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB), NHTMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank). Áp dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu, đầu vào là chi phí hoạt động và chi phí lãi vay, tiền thanh toán cho nhân viên và tiền thanh toán cho nhà cung cấp, đầu ra là thu nhập từ lãi vay, thu nhập từ hoạt động, tiền gửi của KH và tiền cho KH vay để tính toán và phân tích hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất. Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
Đường giới hạn khả năng sản xuất (Production possibilities frontier – PPF) được Farrell sử dụng để đánh giá hiệu quả (mang tính tương đối) giữa các công ty trong cùng một ngành, những công ty nào đạt đến đường PPF sẽ được cho là hoạt động hiệu quả so với các công ty không đạt đến mức giới hạn.
Hình 2.1. Đường giới hạn khả năng sản xuất ứng với hai hàng hóa H1 và H2
Từ đó có thể kết luận rằng những DMU A, C và D hoạt động hiệu quả hơn những DMU B và E vì A, C, D nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Đường bao giới hạn khả năng sản xuất PPF giúp các DMU giới hạn hiệu quả kỹ thuật và được cho là hiệu quả sản xuất tối đa đầu ra trong điều kiện đầu vào cho trước. Hình 2.1 cho thấy, ứng với mỗi điểm là sự tương ứng của mức đầu vào và đầu ra xác định. Ta xét đến mức độ hiệu quả của TE qua công thức:
TE = SE x PE
Trong đó:
TE: Tổng hiệu quả kỹ thuật
SE: Hiệu quả kỹ thuật thuần túy
PE: Hiệu quả quy mô
Kỹ thuật xác định TE tạo ra đường bao biên dành cho các DN hoạt động hiệu quả, để từ đó so sánh với các DN khác hoạt động không hiệu quả để sản xuất ra điểm hiệu quả. DN hoạt động hiệu quả là DN có TE=1.
Việc sử dụng các yếu tố đầu vào x để thu được các yếu tố đầu ra y được đo lường theo công thức sau:
Công thức trên được áp dụng đối với trường hợp có 1 biến đầu vào và 1 biến đầu ra cho một kết quả tính TE. Tuy nhiên đối với các DN, các yếu tố đầu vào và đầu ra rất đa dạng nên để dễ dàng tìm hiểu, ta giả sử mỗi DMU có k yếu tố đầu vào và m yếu tố đầu ra và dựa trên giá cả và của các yếu tố đầu vào và đầu ra để tiến hành tính toán:
Giá cả các yếu tố đầu ra, đầu vào của các DMU khá đa dạng và phức tạp. Để dễ hình dung, ta giả sử mỗi DMU sẽ có những trọng số nhất định, tương ứng là sao cho TE là cao nhất. Vì vậy những trọng số này được gọi là “giá ẩn” (shadow prices), những giá ẩn này đóng vai trò quan trọng trong việc tính toán hiệu quả kỹ thuật TE. Một cách tổng quát, nếu có n DMU, mỗi DMU có k yếu tố đầu vào và m yếu tố đầu ra, việc xác định hiệu quả T của một DMU bất kỳ sẽ có công thức tổng quát như sau:
Với điều kiện:
0 (Các giá ẩn là không âm)
Từ đó ta có thể xác định được TE của một DN tại một thời kỳ để có những đánh giá khách quan về hiệu quả sản xuất của DN, từ đó đưa ra các giải pháp, định hướng về thay đổi qui mô hay thay đổi về công nghệ để đạt hiệu quả tốt nhất.
Bên cạnh việc áp dụng DEA để xác định hiệu quả kỹ thuật tại một thời điểm nhất định của một DMU, thì việc tính toán hiệu quả trong sản xuất theo thời gian cũng có thể áp dụng DEA để tính toán. So sánh hiệu quả hoạt động giữa các giai đoạn của một DMU sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu có cái nhìn sâu hơn về sự thay đổi của hiệu quả hoạt động theo thời gian, từ đó có những đánh giá chính xác về những tác động dẫn đến sự ảnh hưởng theo từng giai đoạn nghiên cứu và đưa ra những dự báo cho tương lai. Để đo lường, tính toán sự thay đổi của năng suất tổng hợp theo thời gian của các DMUs qua các giai đoạn, ta sử dụng chỉ số Malmquist. Với điều kiện hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS), chỉ số Malmquist TFP của một DMU tại thời điểm t+1 được so sánh với thời điểm t, ta có công thức:
Với điều kiện hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS):
EFCH = PECH x SECH
Tổng quát:
TFPCH = (PECH x SECH) x (TECHCH)
Trong đó:
TFPCH: Mức thay đổi của năng suất tổng hợp (Chỉ số Malmquist TFP)
EFCH: Mức thay đổi của hiệu quả kỹ thuật (Trong điều kiện CRS)
PECH: Mức thay đồi của hiệu quả kỹ thuật thuần (Trong điều kiện VRS)
TECHCH: Mức thay đổi của công nghệ hay đường giới hạn (Frontier)
SECH: Mức thay đổi của hiệu quả nhờ quy mô (trong điều kiện VRS)
Vì vậy, nếu kết quả hay TFPCH >1 thì năng xuất tổng hợp của DMU đã
tăng ở thời điểm t+1 so với thời điểm t. Nếu < 1 thì năng suất tổng hợp của DMU suy giảm ở thời điểm t+1 so với thời điểm t. Chỉ số Malmquist cho thấy rằng sự cải tiến trong hiệu quả kỹ thuật và những tiến bộ của công nghệ sẽ góp phần làm gia tăng năng suất tổng hợp của một DMU.
Phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA thường được sử dụng trong các nghiên cứu khoa học, để phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của các DN trong nhiều lĩnh vực. Vì được xây dựng trên các yếu tố đầu vào, đầu ra thực tế và không yêu cầu cỡ mẫu lớn như phương pháp phân tích hồi quy, tuy nhiên DEA cũng có những hạn 20 chế là không tính toán đến yếu tố sai số của mẫu. Tuy nhiên trong bài khóa luận này, sinh viên sử dụng phương pháp phân tích DEA để phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất và hiệu quả lợi nhuận của 7 NHTM trước và sau khi tiến hành tái cấu trúc giai đoạn (2011 – 2013). Khóa luận: Đánh giá hoạt động tái cơ cấu Ngân hàng TPBank
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Tổng quan chung về Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp NC cấu trúc vốn tại Ngân hàng TPBank