Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng đối với Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt thì hoạt động huy động vốn lại càng trở nên quan trọng, hoạt động của Ngân hàng gắn bó mật thiết với hệ thống tiền tệ và hệ thống thanh toán. Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Như vậy vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng, ngoài vốn điều lệ là điều kiện bắt buộc theo luật thì Ngân hàng phải huy động thêm vốn để hoạt động kinh doanh để từ đó thu lợi nhuận. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Với chức năng tập chung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh tế, một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho Ngân hàng điều kiện để mở rộng thị trường kinh doanh bằng việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng được uy tín cho khách hàng.

Bên cạnh đó huy động vốn tạo cho Ngân hàng khả năng cạnh tranh cao, nguồn vốn huy động càng lớn sẽ chứng minh rằng quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuận của Ngân hàng hiện đại…

Trong giai đoạn 2017 – 2019 công tác huy động vốn luôn được ngân hàng quan tâm đúng mức. Trong những năm qua, với nhiều nỗ lực cố gắng NCB – TNH đã đạt được những kết quả khả quan trong công tác huy động vốn. Nguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng nhanh và bền vững, hình thức huy động đa dạng hơn. Vốn huy động tiết kiệm từ dân cư là một nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao và quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng. Đây là nguồn vốn có độ ổn định cao điều đó giúp ngân hàng chủ động hơn trong việc sử dụng vốn để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng đã đưa ra mức lãi suất tương ứng với nhiều kỳ hạn gửi tiền khác nhau do vậy khách hàng có thể chọn cho mình cách thức gửi tiền phù hợp. Ngoài ra, sự đoàn kết thống nhất của cán bộ công nhân viên, tuổi đời còn tương đối trẻ có trình độ nghiệp vụ vững chắc, nhiệt tình công tác, có khả năng nhanh chóng tiếp cận các ứng dụng hiện đại nhất trong lĩnh vực ngân hàng tiền tệ, cùng việc điều hành kinh doanh ngày càng khoa học và thống nhất đã tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng nói riêng.

Tuy nhiên, mặc dù quy mô nguồn vốn huy động của NCB- TNH ngày càng mở rộng nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn chưa được cao. Cơ cấu vốn của Phòng giao dịch vẫn chưa hợp lý. Tỷ lệ vốn huy động từ tổ chức kinh tế thấp hơn nhiều so với tỷ lệ vốn huy động từ dân cư. Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đã phát triển thêm nhiều hình thức mới nhưng chủ yếu vẫn là những sản phẩm truyền thống. Công tác Marketing của NCB tuy đã được chú trọng và là công tác trọng tâm của ngân hàng trong điều kiện gay gắt nhưng vẫn chưa được thực hiện theo một chính sách nhất quán.

Để nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân em xin đi sâu nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân” với hy vọng sẽ đưa ra được những ý kiến đóng góp nhỏ bé của mình cho lời giải bài toán huy động vốn tại PGD.

Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của NHTM.

Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân.

Chương III: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.

Bản chất, chức năng và các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng hầu như là giống nhau song quan niệm về NHTM lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới. Sở dĩ như vậy là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ của NHTM lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế.

Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM nhưng về cơ bản đều phản ánh hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ – tín dụng, dịch vụ ngân hàng. Có thể khái quát lại như sau:

“Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế. Việc tạo lập, tổ chức, quản lý vốn của NHTM là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ riêng đối với các NHTM mà còn vì sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế”.

1.1.2 Chức năng và vai trò của NHTM Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

1.1.2.1 Chức năng của NHTM

Chức năng trung gian tài chính

Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hàng. Nhờ có thị trường tài chính và cơ chế chuyển giao vốn năng động trên thị trường tài chính mà trong đó NHTM giữ vai trò chủ đạo, NHTM hoạt động như một chiếc cầu nối giữa khả năng cung ứng vốn và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội, là trung gian tín dụng ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là người có tiền cho vay và một bên là những người có nhu cầu chi tiêu cần đi vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, bằng những biện pháp, chính sách và áp dụng những phương pháp kỹ thuật theo hướng hiện đại ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội để phân bổ vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Với chức năng này, ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Như vậy, với chức năng trung gian tài chính, NHTM đã góp phần tạo ra lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ giữa người gửi tiền, ngân hàng, người đi vay và đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế.

Chức năng trung gian thanh toán

Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề ngân hàng thực hiện vai trò là trung gian thanh toán. Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể trong nền kinh tế có nhiều hạn chế đó là rủi ro phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng.

Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế. Trước hết thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán nhanh chóng và thuận tiện như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán, thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ…cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán mà theo họ là hiệu quả và an toàn nhất. Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Mặt khác, chức năng này còn góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán làm tăng uy tín của ngân hàng và tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút nguồn vốn tiền gửi. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Chu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM nên các NHTM không ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng thanh toán đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng tốt hơn.

Chức năng tạo tiền

Chức năng tạo tiền là chức năng cực kỳ quan trọng của NHTM. Chức năng này được thể hiện trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt động đầu tư của NHTM, trong đó mối quan hệ với ngân hàng trung ương đặc biệt trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền. Từ một lượng tiền cơ sở do NHTƯ phát hành qua hệ thống NHTM sẽ được tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng được tính theo công thức :

D = m.MB

khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng

MB: khối lượng tiền cơ sở

m = 1/rd: hệ số nhân tiền

rd: tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Ngân hàng trung ương có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi lượng tiền tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của NHTM từ đó ảnh hưởng đến khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế do đó đạt được hiệu quả mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặt ra.

Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính

Ngoài các dịch vụ truyền thống là huy động và cho vay, NHTM ngày nay còn cung cấp một danh mục dịch vụ khá đa dạng và phong phú: dịch vụ thanh toán, dịch vụ môi giới, bảo lãnh, tư vấn, bảo hiểm… Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các loại dịch vụ ngân hàng cũng phát triển và mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Đồng thời, việc phát triển các dịch vụ này cũng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng chu chuyển vốn trong nền kinh tế, làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí in ấn kiểm đếm tiền.

Ngày nay, trong điều kiện cạnh tranh rất khốc liệt giữa các ngân hàng việc đưa ra các dịch vụ mới làm tăng tiện ích cho khách hàng là một yếu tố để cạnh tranh. Chính vì vậy mà các ngân hàng tích cực đầu tư trang bị cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ tin học, khoa học kỹ thuật vào hoạt động của mình. Nếu các NHTM có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng về dịch vụ, tạo được uy tín với khách hàng thì đây cũng là một biện pháp, một yếu tố để tăng khả năng huy động vốn.

1.1.2.2 Vai trò của NHTM

NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Khi nhắc tới vai trò của NHTM thì không thể không nhắc tới vai trò cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn. Nếu không có vốn thì doanh nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tư, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể thu được.

Do nhược điểm của thị trường tài chính dẫn đến ảnh hưởng tới tính liên tục của chu trình tài chính như sự không khớp nhịp giữa cung vốn và cầu vốn qua vấn đề thời gian và lượng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanh toán… NHTM với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thể khắc phục được những nhược điểm trên. NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế… hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường

Để có thể tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận các doanh nghiệp cần phải quan tâm tới thị trường đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính là vốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh vì nó đặt nền tảng đầu tiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phải biết khai thác các nguồn vốn khác tài trợ cho hoạt động của mình. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn đó. Như vậy, ngân hàng chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường giúp doanh nghiệp tìm kiếm được đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời gian.

NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Nếu ngân hàng trung ương có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ như: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,… thì các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các cộng cụ này mặt khác nó còn tham gia điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Nói cách khác, thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại ngân hàng trung ương, giúp ngân hàng trung ương có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định.

NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế

Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế – xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó.Vì vậy, nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác NHTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.

NHTM ra đời và ngày càng phát triển dựa trên cơ sở nền sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng cần đến sự hoạt động của NHTM. Với vai trò quan trọng của mình NHTM trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

1.1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn

Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.

Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm: Vốn điều lệ; Các quỹ dự trữ; Vốn huy động; Vốn đi vay; Vốn tiếp nhận; Vốn khác.

Vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng được gọi là vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động.

Vốn điều lệ của ngân hàng trước hết được dùng để: Xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay ttrung và dài hạn.

Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm:

  • Quỹ dự trữ : Được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều lệ.
  • Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắp rủi ro, thu lỗ trong hoạt động của ngân hàng.
  • Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn
  • Quỹ khen thưởng phúc lợi.
  • Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ. Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng.

Vốn huy động: Ðây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:

  • Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
  • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
  • Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
  • Các khoản tiền gửi khác

Ðối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất, thì nhu cầu giao dịch với những tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này. Ðối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố quyết định và người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời.

Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM. Thuộc loại này bao gồm:

Vốn vay trong nước:

  • Vay ngân hàng trung ương: Ngân hàng trung ương sẽ tiếp vốn cho NHTM thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng. Làm như vậy, ngân hàng trung ương sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM.
  • Vay các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng.
  • Vốn vay ngân hàng nước ngoài.

Vốn tiếp nhận: Ðây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nước… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định.

Vốn khác: Ðó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng (đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng…).

1.1.3. Nghiệp vụ sử dụng vốn Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Ðây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng. Thành phần tài sản Có của ngân hàng bao gồm: Dự trữ; Cho vay; Ðầu tư; Tài sản Có khác.

Dự trữ : Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để sẵng sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ. Ngân hàng trung ương được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc do chính phủ qui định. Dự trữ bao gồm:

  • Dự trữ sơ cấp: bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng trung ương, tại các ngân hàng khác.
  • Dự trữ thứ cấp (cấp hai) là dự trữ không tồn tại bằng tiền mà bằng chứng khoán, nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách thuận lợi. Thuộc loại này gồm: Tín phiếu kho bạc; Hối phiếu đã chấp nhận; Các giấy nợ ngắn hạn khác, gọi là dự trữ thứ cấp bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt. Khi quản lý dự trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể áp dụng 1 trong 3 phương pháp.
  • Phương pháp phong toả: Theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào một tài khoản tại ngân hàng TW và sẽ bị phong toả để đảm bảo thực hiện đúng mức dự trữ.
  • Phương pháp bán phong toả: Theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ được quản lý và phong toả tại một tài khoản riêng ở NHTW. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn
  • Phương pháp không phong toả: Theo phương pháp này tiền dự trữ được tính và thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong toả, nó có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt hay tiền gửi NHTW hay dưới dạng chứng khoán ngắn hạn là tuỳ NHTM, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, NHTW sẽ kiểm tra việc thực hiện dự trữ bắt buộc, nếu các NHTM không thực hiện đúng sẽ bị phạt (cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm).

Cấp tín dụng: Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:

Cho vay: là nghiệp vụ tín dụng của NHTM. Trong đó NHTM sẽ cho người đi vay vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn. Người đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay. Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hoặc khách quan. Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố…

Chiết khấu: Ðây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng. Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác.

Cho thuê tài chính: Là loại hình tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị tho bên cho thuê.

Bảo lãnh ngân hàng: Trong loại hình nghiệp vụ này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh cho khách hàng nhờ đó khách hàng sẽ được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết.

Ðầu tư: Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như:

  • Góp vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; góp vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng.
  • Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty…

Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp.

Tài sản Có khác: Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là tài sản lưu động nhằm: Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…ngoài ra còn các khoản phải thu, các khoản khác…

1.1.3.3 Các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Là nghiệp vụ của ngân hàng thực hiện các dịch vụ cho khách hàng thông qua đó nhận được các khoản thu dưới hình thức hoa hồng. Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ này càng mở rộng, bao gồm:

  • Tiến hành chuyển tiền cho khách hàng, thanh toán hộ khách hàng về các khoản tiền mua bán dịch vụ thông qua việc thu hộ, chi hộ khách hàng bằng hình thức séc, ủy nhiệm thu. ủy nhiệm chi, thư tín dụng…
  • Đóng vai trò làm trung gian trong việc mua bán hộ cho khách hàng.
  • Làm đại lý phát hành và bán chứng khoán cho công ty.
  • Liên kết hợp tác với các công ty bảo hiểm để bán các sản phẩm của mình kèm theo yếu tố bảo hiểm.
  • Tiến hành các hoạt động bảo lãnh, cho thuê các thiết bị trung và dài hạn, ủy thác, tư vấn, môi giới chứng khoán…

Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đã chứng tỏ được sự cần thiết của hệ thống ngân hàng trong phát triển nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy của nền kinh tế.

1.2. Hiệu quả huy động vốn của NHTM Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

1.2.1 Hoạt động huy động vốn tại NHTM

1.2.1.1 Khái niệm

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu hoạt động huy động vốn là một việc hết sức cần thiết để qua đó có những phương pháp quản lý cũng như sử dụng một cách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Vốn huy động đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng mua quyền sử dụng các khoản vốn của khách hàng trong một thời gian nhất định và có trách nhiệm hoàn trả số vốn đó theo đúng kế hoạch.

Nguồn vốn của NHTM bao gồm:

Vốn chủ sở hữu:

Đây là lượng vốn nhất định để ngân hàng bắt đầu hoạt động (thường lớn hơn hoặc bằng lượng vốn mà pháp luật quy định). Đây là nguồn hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa của ngân hàng. Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của ngân hàng, sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm:

Vốn hình thành ban đầu.

Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.

Các quỹ của ngân hàng.

Nguồn vay nợ có thể đổi thành cổ phần.

Vốn nợ:

Vốn nợ của ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng dùng để thực hiện hoạt động kinh doanh. Vốn nợ bao gồm: Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Tiền gửi.

Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng. Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn huy động của ngân hàng. Hiện nay, tiền gửi được phân chia thành những loại hình chủ yếu sau:

  • Tiền gửi thanh toán
  • Tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng
  • Tiền gửi tiết kiệm
  • Tiền gửi của ngân hàng và các tổ chức tài chính Nguồn vốn tiền gửi này có những đặc điểm sau:
  • Phải được thanh toán ngay khi khách hàng yêu cầu dù đến hạn hay chưa.
  • Quy mô lớn nhất so với những nguồn khác.
  • Là đối tượng chịu dự trữ bắt buộc, ngoài ra ngân hàng còn phải mua bảo hiểm cho khoản tiền gửi nên chi phí cho tiền gửi cao hơn chi phí trả lãi tiền gửi.
  • Nhạy cảm với biến động lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu.
  • Dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc về ngân hàng như mạng lưới chi nhánh, thái độ phục vụ.

Tiền vay

Nhiều ngân hàng trong những giai đoạn cụ thể phải vay mượn để đáp ứng nhu cầu chi trả do khả năng huy động bị thiếu hụt. Ngân hàng thường vay từ các nguồn sau:

  • Vay từ ngân hàng trung ương
  • Vay các tổ chức tín dụng
  • Vay trên thị trường vốn
  • Nguồn vốn ủy thác

Đặc điểm của nguồn này là các khoản đi vay có thời hạn xác định và ổn định hơn so với nguồn tiền gửi; các ngân hàng chỉ đi vay lúc cần thiết và không phải lúc nào cũng có thể vay được từ ngân hàng trung ương, từ các tổ chức tín dụng; nguồn này không phải chịu dự trữ bắt buộc nhưng lãi suất phải trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất phải trả cho tiền gửi cùng kỳ hạn.

1.2.1.2 Vai trò Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng. Mục tiêu của hoạt động huy động vốn đó là:

Tìm kiếm nguồn vốn rẻ: Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất trong các hoạt động của ngân hàng. Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu và kỳ phiếu. Định kỳ ngân hàng lập biểu về số dư và lãi suất tương ứng để xác định vốn huy động bình quân và tính toán chi phí trả lãi. Quản lý chi phí trả lãi là hoạt động thường xuyên và quan trọng của ngân hàng. Mỗi sự thay đổi về lãi suất và cơ cấu nguồn vốn đều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân hàng. Việc tính chi phí của từng nguồn vốn cụ thể cho phép các nhà quản lý xác định nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay đổi lãi suất hay không, thu nhập từ tài sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn tăng thêm hay không. Về nguyên tắc, những nguồn vốn có thời hạn càng ngắn và tính ổn định thấp thì chi phí nguồn vốn cũng phải thấp tương ứng.

Tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp: Cơ cấu vốn cần đa dạng thể hiện ở việc duy trì một tỷ lệ giữa vốn huy động ngắn và dài hạn, giữa vốn nội tệ và ngoại tệ. Một ngân hàng có chất lượng huy động vốn cao sẽ có nguồn vốn dồi dào và cơ cấu vốn cân đối, tránh rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn thay đổi. Hơn nữa ngân hàng phải dự đoán xu hướng thay đổi cơ cấu nguồn vốn huy động. Yếu tố này cũng rất quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng. Do đó sự biến động về cơ cấu vốn sẽ kéo theo sự biến động trong cơ cấu cho vay, đầu tư, bảo lãnh,… và kéo theo sự biến động về lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động. Sự biến động về cơ cấu vốn huy động phụ thuộc một phần vào kế hoạch điều chỉnh của ngân hàng và những nhân tố bên ngoài, đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu và tiếp cận thị trường.

Xây dựng quy mô và sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định: Ngân hàng muốn mở rộng hoạt động cần phải có quy mô vốn tương đối lớn, trong đó vốn huy động là một bộ phận quan trọng. Không thể nói đến chất lượng huy động vốn tốt nếu việc huy động vốn không đáp ứng được nhu cầu về khối lượng vốn kinh doanh. Khối lượng vốn phải đạt tới quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng. Để thực hiện tốt vấn đề này cần kết hợp hài hoà các yếu tố khác như lãi suất, chính sách marketing, các hình thức huy động vốn. Tuy nhiên không phải cứ có nguồn vốn lớn đã là tốt, nó cần phải phù hợp với quy mô của ngân hàng, mức vốn tự có, khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng,… Hơn nữa việc mở rộng hoạt động của ngân hàng chỉ thực sự an toàn khi nguồn vốn huy động luôn có tốc độ tăng trưởng ổn định. Nếu quy mô vốn huy động hiện tại lớn nhưng ngân hàng không kiểm soát, không dự đoán được xu hướng của các dòng tiền gửi vào và rút ra trong giai đoạn tiếp theo thì sẽ rất khó khăn trong việc cho vay và đầu tư, đặc biệt là mất đi sự chủ động của ngân hàng.

Điều hành tốt nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh: Trong hoạt động ngân hàng thường xảy ra tình trạng không cân đối về vốn giữa các chi nhánh, phòng giao dịch trong cùng hệ thống, giữa các ngân hàng. Nếu có công tác huy động vốn hợp lý thì ngân hàng sẽ linh hoạt hơn trong việc giải quyết tạm thời tình trạng thiếu thừa này. Một số biện pháp thường sử dụng như điều chuyển vốn nội bộ giữa các chi nhánh (trong trường hợp mất cân đối nội bộ), vay giữa các ngân hàng, vay NHTW. Chất lượng vốn huy động ở đây thể hiện ở việc đưa ra quyết định lựa chọn đúng đắn, có lợi nhất đối với ngân hàng, đảm bảo chủ động trong kinh doanh.

1.2.1.3 Các hình thức Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Vốn huy động có ý nghĩa quyết định đến khả năng hoạt động của ngân hàng nên hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng của NHTM. Các hình thức huy động vốn ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng vốn huy động được, vì vậy việc đưa ra các hình thức huy động phù hợp, linh hoạt là điều hết sức cần thiết, có như vậy ngân hàng mới khai thác được hết nguồn vốn từ doanh nghiệp, dân cư cũng như trong các thành phần kinh tế khác.

Có nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức huy động vốn của NHTM:

Phân loại theo đối tượng khách hàng

Khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, thuộc rất nhiều đối tượng khác nhau. Chính vì vậy hoạt động huy động vốn của ngân hàng cũng dựa vào việc phân chia hình thức khách hàng tùy theo đối tượng huy động. Với việc dựa theo đối tượng khách hàng thì hoạt động huy động vốn của ngân hàng được chia thành các hình thức sau:

Tiền gửi cá nhân

Khách hàng cá nhân chiếm tỷ lệ lớn trong đối tượng khách hàng của ngân hàng, chính vì vậy các hoạt động dịch vụ của ngân hàng với đối tượng khách hàng này cũng rất đa dạng. Với mục đích gửi tiền chủ yếu là tiết kiệm, bảo quản, đem lại khả năng sinh lời thì nguồn vốn nhàn rỗi huy động từ khách hàng cá nhân đem lại là khá đáng kể với ngân hàng. Đồng thời có thể thấy, nguồn huy động này có tính ổn định cao góp phần làm cho ngân hàng có thể dễ dàng sử dụng lượng vốn này để thực hiện các hoạt động đầu tư của mình một cách hiệu quả nhất.

Tiền gửi của doanh nghiệp

Không chỉ khách hàng cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng mà các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khác cũng góp phần tạo nên sự đa dạng trong hoạt động của ngân hàng. Trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng, lượng vốn huy động từ khách hàng là doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế cũng chiếm phần lớn.

Mặc dù vậy, mục đích gửi tiền của đối tượng này là dùng để thanh toán cũng như tiến hành các giao dịch nên lượng vốn huy động sẽ không ổn định về mặt thời gian, gây khó khăn trong việc sử dụng vốn của ngân hàng. Tuy nhiên, không phải lúc nào các doanh nghiệp gửi tiền cũng với mục đích thanh toán, nên số vốn nhàn rỗi trong tài khoản sẽ được hưởng lãi nếu doanh nghiệp chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn.

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác

Thực tế, đây là nguồn vốn vay của NHTM với các tổ chức đó nhằm tăng cường khả năng thanh khoản. Tuy nhiên trong một số trường hợp, với ngân hàng có lượng vốn huy động lớn có thể đem gửi tại các ngân hàng khác nhằm mục đích hưởng lãi. Điều này giúp NHTM giảm bớt một phần chi phí, đồng thời đem lại lợi nhuận cao hơn.

Phân loại theo mục đích huy động

Bao gồm các hình thức sau:

Tiền gửi thanh toán

Đây là tiền gửi của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ hoặc thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có yêu cầu. Nói chung, lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó chủ tài khoản được hưởng những dịch vụ ngân hàng với mức chi phí thấp.

Tiền gửi có kỳ hạn

Nguồn này thường có kỳ hạn xác định trước với một mức lãi suất cao hơn so với lãi suất của tiền gửi thanh toán. Có thể nói đây là nguồn có chi phí cao nhất của ngân hàng. Đồng thời do tính ổn định cao trong kỳ hạn bởi mục đích gửi tiền của khách hàng là hưởng lãi nên các khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn này. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Tiền gửi tiết kiệm

Đây cũng là một dạng tiền gửi có kỳ hạn nhưng có một số điểm khác biệt theo quy định của văn bản pháp luật mà ngân hàng nhà nước quy định. Đây là nguồn vốn được huy động từ nguồn tiền nhàn rỗi, khoản thu nhập chưa sử dụng đến trong dân cư. Các tầng lớp dân cư gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời. Do lượng tiền nhàn rỗi này được gửi với một thời gian xác định nên đây cũng là nguồn vốn quan trọng được ngân hàng sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Chính vì vậy, nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn nguồn tiết kiệm của dân cư, các ngân hàng đều cố gắng làm thay đổi thói quen giữ tiền tại nhà của dân cư bằng cách tiếp cận với khách hàng thông qua mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch dược mở rộng khắp, đồng thời đưa ra các hình thức huy động mới đa dạng, với lãi suất hấp dẫn.

Phát hành giấy tờ có giá

Các giấy tờ có giá là công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trường. Nguồn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào đó. Lãi suất của hình thức huy động này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.

Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành thường gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn.

Phân theo kỳ hạn của nguồn vốn huy động

Tiền gửi ngắn hạn

Đây là nguồn vốn ngân hàng huy động trong khoảng thời gian ngắn và thường được xác định là từ 0 đến 12 tháng, cá biệt trong thời kỳ huy động vốn khó khăn, còn có kỳ hạn theo tuần.

Tiền gửi trung và dài hạn

Đây là nguồn vốn được huy động với thời gian từ 12 tháng trở lên. Đây là nguồn vốn ổn định được ngân hàng sử dụng với mục đích đầu tư mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.

Phân theo loại tiền huy động

Vốn huy động bằng Việt Nam đồng

Ngân hàng huy động vốn bằng đồng Việt nam thông qua các hình thức huy động vốn khác nhau với các mục đích sử dụng khác nhau. Trong nguồn vốn ngân hàng huy động thì nguồn huy động bằng đồng Việt Nam chiếm tỷ trọng cao, đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng.

Vốn huy động bằng ngoại tệ

Ngoài huy động vốn bằng đồng Việt nam, ngân hàng cũng tiến hành huy động vốn bằng ngoại tệ, chủ yếu là bằng đồng dollar Mỹ. Số vốn huy động bằng ngoại tệ cũng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong hoạt động của ngân hàng. Mục đích của huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng là đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế cũng như các hoạt động kinh doanh ngoại tệ khác của ngân hàng.

1.2.2 Hiệu quả huy động vốn Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

1.2.2.1 Khái niệm

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác đang phải đối mặt với các cuộc cạnh tranh khốc liệt. Bất kỳ biến động nào dù nhỏ hay lớn đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Vì vậy, hiệu quả trong hoạt động huy động vốn không chỉ đánh giá chính xác đúng đắn hoạt động huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả năng thích nghi và khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân hàng.

Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Khi so sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặc kết quả / chi phí hoặc chi phí / kết quả. Mỗi cách so sánh đó đều cung cấp các thông tin có ý nghĩa khác nhau. Đặc biệt, không thể tính kết quả bằng cách lấy kết quả – chi phí vì như vậy chỉ cho ra một chỉ tiêu kết quả chứ không phải chỉ tiêu kết quả.

Như vậy, việc huy động sẽ đạt hiệu quả khi kết quả trên 1 đơn vị chi phí hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả ở trong giới hạn hiệu quả quy định hoặc trên cơ sở thực tiễn. Mặt khác, hiệu quả huy động vốn còn phải được xem xét ở góc độ thực hiện mục tiêu chung của hoạt động tín dụng và huy động vốn.

Với ý nghĩa này, hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.

1.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Ngân hàng huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau. Mỗi cách thức huy động vốn đem lại cho NHTM một nguồn vốn có tính chất khác nhau, với chi phí khác nhau. Để đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn ta cần dựa vào các chỉ tiêu cụ thể, mỗi chỉ tiêu nêu lên một mặt của hoạt động huy động vốn của NHTM.

Sau đây là một số chỉ tiêu:

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động thể hiện khả năng mở rộng quy mô vốn huy dộng của Ngân hàng qua các năm, cho thấy nguồn vốn biến đổi theo xu hướng như thế nào và khả năng kiểu soát của Ngân hàng đến nguồn vốn huy động. Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tăng cường và mở rộng thị trường hoạt động của mình.

Về mặt lượng, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động thường được đánh giá thông qua:

Tổng VHĐ kỳ này – Tổng VHĐ kỳ trước

Tổng VHĐ kỳ trước

Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về quy mô nguồn vốn huy động qua các thời kỳ. Nếu tỷ lệ này dương thì quy mô nguồn vốn huy động của Ngân hàng được mở rộng. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch vốn huy động

Từng năm, từng tháng các Ngân hàng đều xây dựng kế hoạch huy động vốn như thế nào; do đó tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch vốn huy động được tính:

Tổng VHĐ được năm i

Tổng VHĐ xây dựng năm i

Tỷ trọng vốn huy động trong tổng vốn

Vốn huy động ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và ảnh hưởng tới chi phí haojt động bình quân của Ngân hàng, từ đó ảnh hưởng tới chi phí đầu ra tức lãi suất cho vay của Ngân hàng. Huy động phải phù hợp với cơ cấu sử dụng, đáp ứng yêu cầu sử dụng, để tối đa dư nợ tín dụng và đầu tư, từ đó sẽ tối đa lợi nhuận mà không phải trả lãi suất trên phần vốn huy động thừa.

Nguồn vốn Ngân hàng được đánh giá là hợp lý nếu các thành phần của nó đáp ứng được kế hoạch sử dụng vốn và có chi phí huy động thấp nhất.

Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng

Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn

Chi phí vốn huy động

Chi phí huy động vốn là toàn bộ chi phí Ngân hàng bỏ ra trong quá trình huy động vốn. Chi phí vốn huy động bao gồm 2 phần: chi phí trả lãi (trả lãi suất huy động) và chi phí phi lãi.

Chi trả lãi chiếm phần lớn trong chi phí huy động, ngoài ra là các chi phí phi lai như: Chi phí lương công nhân viên, chi phí quảng cáo marketing, chi phí máy móc địa điểm, cơ sở hạ tầng,…

Chi phí trả lãi bình quân = (Chi phí trả lãi)/(Tổng NVHĐ)

Chỉ tiêu này phản ánh số tiền Ngân hàng phải bỏ ra cho một đồng vốn huy động được.

Chi phí phi lãi bình quân = (Chi phí phi lãi)/(Tổng NVHĐ) e. Khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh của Ngân hàn

Tỷ lệ vốn huy động trên tổng dư nợ là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn bởi nó cho phép so sánh khả năng cho vay với khả năng huy động vốn, qua đó cho biết khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của một NHTM. Chỉ tiêu này được tính như sau:

Nếu một NHTM có nguồn sử dụng vốn tương xứng với nguồn vốn huy động, chứng tỏ nguồn vốn huy động đã được sử dụng có hiệu quả và công tác huy động vốn của ngân hàng đã thành công. Bởi vì phần lớn thu nhập từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bù đắp phần nào chi phí huy động và đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Hơn nữa việc sử dụng vốn tốt sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn. Cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn người ta thường xem xét đến công tác sử dụng vốn của ngân hàng đó.

1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Những yếu tố thuộc về ngân hàng

Chiến lược kinh doanh của NHTM

Nói chung mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn luôn luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu của mọi ngân hàng. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn thì những định hướng nhất định trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ chi phối mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn. Cho vay ngắn hạn là một hoạt động truyền thống của NHTM nhưng đứng trước yều cầu đa dạng hóa các danh mục đầu tư, ngân hàng phải tăng cường cấp tín dụng cho các dự án trung và dài hạn thì ngân hàng sẽ tăng cường huy động từ nguồn trung và dài hạn bằng việc phát hành giấy nợ trung và dài hạn, tăng cường huy động tiền gửi trung và dài hạn bằng các biện pháp khuyến khích người gửi tiền.

Việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, địa điểm của ngân hàng cũng ảnh hưởng rất nhiều tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Một ngân hàng có mạng lưới chi nhánh rộng khắp, địa điểm thuận lợi nơi dân cư có thu nhập cao, ổn định thường có nhiều cơ hội thu hút được nhiều nguồn vốn hơn so với những ngân hàng có mạng lưới nhỏ, hẹp, địa điểm không thuận lợi. Đó là do việc mở rộng mạng lưới chi nhánh (đặc biệt tại những nơi dân cư đông đúc, có mức sống cao) khiến ngân hàng có cơ hội tiếp xúc với khách hàng nhiều hơn, do vậy tăng khả năng thu hút được nguồn vốn.

Chính sách lãi suất của ngân hàng

Lãi suất được coi là giá cả của sản phẩm dịch vụ tài chính. Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiền gửi và thay đổi quy mô, cơ cấu vốn. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho những khách hàng có lượng gửi lớn, thường xuyên. Hơn nữa cũng cần xây dựng một hệ thống lãi suất linh hoạt, phù hợp với quy mô và cơ cấu nguồn vốn. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Hoạt động marketing của ngân hàng

Mục tiêu cuối cùng là thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng vừa đảm bảo khả năng sinh lời, khả năng cạnh tranh an toàn trong kinh doanh thì marketing đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc cạnh tranh giữa các NHTM hiện nay.

Hoạt động ngân hàng mang tính xã hội hóa cao, phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường kinh tế, chính trị, dân cư…nên sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào cũng ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.

Một chính sách marketing thường có 2 nhiệm vụ chính là:

  • Phải nắm bắt được kịp thời sự thay đổi trong môi trường kinh doanh cũng như những nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ sản phẩm mà ngân hàng cung cấp.
  • Xây dựng được những chính sách, giải pháp thích hợp để cạnh tranh được với đổi thủ đồng thời đạt được mục tiêu lợi nhuận mong muốn.

Việc nắm bắt được sự thay đổi của thị trường, nhu cầu của khách hàng sẽ giúp ngân hàng đưa ra được những sản phẩm phù hợp, linh hoạt góp phần đáp ứng được nhu cầu của khách hàng đồng thời thu hút được lượng vốn lớn. Xuất phát từ việc nghiên cứu thị trường, ngân hàng cũng sẽ đưa ra được những sản phẩm mới.

Mặt khác, chính sách khuếch trương sẽ giúp người dân có thêm nhiều thông tin về ngân hàng, thông qua những phương tiện thông tin đại chúng xây dựng được lòng tin với ngân hàng.

Trình độ, thái độ phục vụ khách hàng của đội ngũ nhân viên

Đội ngũ nhân viên, đặc biệt là những nhân viên giao dịch là những người tiếp xúc chính với khách hàng đến giao dịch. Vì vậy, nếu trình độ nhân viên cao, thái độ tiếp xúc với khách hàng niềm nở ân cần sẽ tạo tâm lý thoải mái cho khách hàng, làm hài lòng khách hàng đến gửi tiền, từ đó có thể thu hút thêm nhiều khách hàng. Ngược lại, nếu đội ngũ nhân viên không gây được thiện cảm với khác hàng đến giao dịch, không tạo được ấn tượng với khách hàng về “văn hóa giao dịch” thì sẽ gây ra sự không hài lòng với khách hàng, ảnh hưởng đến lượng khách hàng của ngân hàng.

Các chính sách marketing, cũng như các kế hoạch, biện pháp thu hút lượng tiền gửi do ngân hàng hoạch định được thực hiện đều bởi đội ngũ nhân viên, do vậy, trình độ của nhân viên ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến việc huy động vốn của ngân hàng có thành công hay không.

Sự phát triển về công nghệ cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Trình độ công nghệ cao sẽ làm cho các nghiệp vụ được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, thuận tiện hơn cho khách hàng, thu hút thêm khách hàng đến gửi tiền.

Ngoài các yếu tố trên, uy tín của ngân hàng cũng giúp cho ngân hàng có khả năng tăng huy động vốn từ công chúng, từ thị trường tài chính tốt hơn, vì khách hàng ngoài việc gửi tiền vào ngân hàng do mục đích sinh lời còn vì mục đích đảm bảo an toàn, vì vậy mà một ngân hàng có uy tín cao sẽ thu hút thêm nhiều khách hàng.

Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của ngân hàng

Các chính sách, văn bản pháp luật của nhà nước

Là một chủ thể kinh tế trong nền kinh tế, các ngân hàng phải hoạt động theo pháp luật và chính sách của nhà nước. Do ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh chịu nhiều rủi ro, và có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động chung của cả nền kinh tế nên hoạt động của ngành ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương, chính phủ.

Thứ nhất, ngân hàng phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các văn bản pháp luật trong ngành về vốn, về hoạt động, cách thức kinh doanh. Hệ thống này mặc dù luôn được điều chỉnh để hợp lý hơn nhưng vẫn gây ra những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng.

Thứ hai, do ngân hàng có quan hệ với hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế nên chịu tác động gián tiếp của các văn bản pháp luật quy định cho các lĩnh vực kinh doanh nói chung và các ngành nghề kinh doanh khác nói riêng. Các văn bản pháp luật như Luật đất đai, Luật doanh nghiệp, Luật thuế …. cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của ngân hàng. Nếu các văn bản pháp luật này 34 thống nhất, tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc sẽ rất có lợi cho hoạt động của ngân hàng. Ngược lại, nếu các văn bản pháp luật trên lỏng lẻo, không thống nhất thì sẽ gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động của ngân hàng. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Môi trường xã hội

Môi trường xã hội cũng là một yếu tố quan trọng ành hưởng tới hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.

Phân bố dân cư, thu nhập của dân cư là một nguồn lực tiềm tàng có thể khai thác nhằm mở rộng quy mô huy động vốn của NHTM. Vì vậy, tại những nơi, khu vực có đông dân cư, thu nhập cao, ổn định thì việc huy động vốn sẽ dễ dàng hơn với ngân hàng.

Môi trường văn hóa như tập quán, tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của dân cư cũng như quyết định của dân cư về tiêu dùng và tiết kiệm ảnh hưởng nhiều đến khả năng huy động vốn của dân cư. Ngoài ra, đó còn là tâm lý mức độ chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hay quyết định chi tiêu số tiền nhàn rỗi của mình vào đầu tư bất động sản, tài sản tài chính.

Đặc điểm của khách hàng

Một yếu tố khác ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng là đặc điểm của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng.

Năng lực tài chính của khách hàng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng. Nếu khách hàng có thu nhập ca, ổn định thì ngoài tiêu dùng ra họ sẽ có những khoản tiết kiệm, nhàn rỗi để gửi vào ngân hàng. Ngược lại, nếu khách hàng có thu nhập thấp thì việc thu hút khoản tiền nhàn rỗi từ khách hàng là rất khó khăn. Ngoài ra, tâm lý thói quen của khách hàng cũng ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng, đặc biệt thói quen giữ tiền mặt của dân cư sẽ là cản trở lớn đến việc thu hút vốn của ngân hàng.

Môi trường kinh tế

Hoạt động của NHTM thường bị ảnh hưởng rất lớn bởi các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập quốc dân, tỷ lệ lạm phát. Khi nền kinh tế trong thời kỳ hưng thịnh, có tốc độ phát triển nhanh, thu nhập quốc dân cao, các đơn vị kinh tế, dân cư sẽ có nguồn tiền gửi dồi dào vào ngân hàng. Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế bất ổn, trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát cao thì việc huy động vốn của ngân hàng sẽ gặp khó khăn bởi người dân dùng tiền để mua tài sản có tính ổn định cao, còn các doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sản xuất, lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ bị thu hẹp

Mặt khác, trong môi trường ngày càng phát triển hiện nay, khả năng ứng dụng công nghệ trở thành điều kiện bắt buộc để ngân hàng tồn tại và phát triển. Nhiều dịch vụ mới đã xuất hiện liên quan hoạt động huy động vốn của ngân hàng bên cạnh những dịch vụ truyền thống như dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking), chuyển tiền qua mạng (Internet banking), rút tiền qua hệ thống máy ATM đã làm cho tỷ lệ gửi tiền, thanh toán qua ngân hàng ngày càng tăng với tỷ lệ cao.

Sự phát triển của thị trường tài chính

Sự phát triển của thị trường tài chính một mặt tạo thêm một kênh huy động mới cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng tạo thêm cho ngân hàng một đối thủ cạnh tranh. Khi thị trường tài chính phát triển, đem lại thuận lợi cho ngân hàng trong việc phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn. Tuy nhiên, đây cũng là một kênh để các doanh nghiệp huy động vốn nhằm mục đích phục vụ sản xuất kinh doanh.

Mặt khác, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính sẽ ngày càng xuất hiện nhiều định chế tài chính phi ngân hàng như công ty tài chính, công ty chứng khoán cạnh tranh với ngân hàng trong việc huy động vốn kinh doanh, do vậy đối thủ cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng thêm. Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Tổng quan về phòng giao dịch Trân Nguyên Hãn

One thought on “Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464