Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH thương mại và vận tải Ngọc Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2 Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.2.1 Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đơn vị tính:đồng,%
Từ bảng trên ta có thể thấy trong 2 năm 2012-2013 tình hình kinh doanh của công ty có xu hướng cải thiện đáng kể.Tổng doanh thu năm 2012 là 7.385021.382 đồng nhưng năm 2013tổng doanh thu đã tăng lên 31,89% tương ứng với 2.355.114.559 đồng.Theo đà tăng của doanh thu thì chi phí cũng tăng theo 1 tỉ lệ tương ứng khi tổng chi phí năm 2012 là 7.322.217.123đồng thì năm 2013 con số ấy đã tăng lên 9.665.130.900 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 31,99%.Điều này cho thấy tỉ lệ gia tăng của chi phí gần như ngang bằng với tỉ lệ tăng của doanh thu trong năm.Sự ra tăng này đã kéo theo lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập công ty tăng với 1 tỉ lệ thấp hơn.Lợi nhuận năm 2012 của công ty là 62.804.259 đồng đã tăng thêm 12.200.782đồng trong năm 2013 tương ứng với 19,42%.Từ đó số thuế mà công ty nộp cho nhà nước cũng tăng từ 15.701.065 đồng lên 18.751.260 đồng.Kết quả thu được cho thấy sự nỗ lực hết mình của đội ngũ nhân viên kinh doanh trong việc khai thác khoảng trống thị trường thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ.Tuy nhiên sự ra tăng về quy mô kinh doanh không đem đến được lợi thế trong việc cắt giảm chi phí khi mà tốc độ gia tăng chi phí vẫn ngang bằng hoặc cao hơn(tuy không nhiều) tốc độ gia tăng về doanh thu.Điều này cũng chịu sự tác động của nhiều nguyên nhân.Nguyên nhân khách quan có thể kể đến đó là yếu tố lạm phát làm gia tăng chi phí vận chuyển hàng hóa,và giá vốn đầu vào của doanh nghiệp.Mặ khác do sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thương mại cung ứng sơn ngày càng gia tăng buộc doanh nghiệp phải chủ động giảm giá bán so với đối thủ nhằm chiếm lĩnh thị trường.Nhìn chung doanh nghiệp đạt được mục tiêu về mở rộng thị phần nhưng xét về dài hạn thì lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn còn rất khiêm tốn.Điều đó đặt ra thách thức không nhỏ trong việc đưa ra các biện pháp kinh doanh nhằm tăng hiệu quả và thu được nhiều lợi nhuận nhất.
Nhìn lại kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây, mỗi năm có hàng chục nghìn công ty phá sản và rất nhiều công ty chỉ hoạt động cầm cự thì nhìn chung Công ty TNHH thương mại và vận tải Ngọc Minh đã có những nỗ lực và thành công đáng ghi nhận.Điều đó là nhờ sự quản lí chặt chẽ và sự nhạy bén của ban lãnh đạo cùng sự làm việc nhiệt tình tâm huyết hết mình vì công việc của nhân viên trong công ty.Tuy nhiên,chúng ta cũng phải nhìn nhận một điều là Lợi nhuận trước và sau thuế của công ty vẫn dừng lại ở những con số khá khiêm tốn.Đó là thách thức mà công ty cần có những định hướng trong tương lai.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Quản Trị Doanh Nghiệp
2.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
Bảng 1.2:Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH thương mại và vận tải Ngọc Minh 2012-2013
Từ bảng báo trên ta có thể thấy rằng,lợi nhuận sau thuế của công ty tăng lên đáng kể.Năm 2012 lợi nhuận sau thuế là 47.103.194 đồng ,năm 2013 là 56.253.781 đồng tăng 19.42%.Tuy nhiên tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế lại nhỏ hơn rất nhiều so với sự ra tăng doanh thu bán hàng trong năm.Đó là do trong năm 2013 công ty sử dụng khoản vay ngắn hạn làm phát sinh chi phí lãi vay khá lớn làm ảnh hưởng tới lợi nhuận sau thuế như sau:
- Trong năm 2012 doanh thu thuần vầ bán hàng của công ty là 7.384.515.590 đồng đến năm 2013 tăng 31.89% đạt 9.739.570.923đồng.Điều này cho thấy công ty đã có được những thành công lớn trong thưc đẩy doanh số bán hàng nhờ đội ngũ nhân viên kinh doanh năng động,công ty ngày càng tạo được uy tín và niềm tin với khách hàng hơn,đặc biệt là thị trường tại Hải Phòng
- Việc doanh thu bán hàng tăng lên kéo theo giá vốn ra tăng với tỉ lệ gần như tương ứng với 32.28% dẫn đến lợi nhuân gộp tăng lên 28.03% từ 677.321.729 đồng năm 2012 tăng lên 867.188.299 đồng năm 2013.
- Năm 2012 lợi nhuận thuần của công ty là 157.662.028 đồng,năm 2013 lại bị suy giảm khá nhiều mặc dù doanh thu thuần tăng nhanh.Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự sụt giảm này là do trong năm công ty có sử dụng khoản vay ngắn hạn 2.000.000.000 đồng bổ sung vào vốn kinh doanh của công ty,dẫn tới việc phải chi trả khoản chi phí lãi vay khá lớn là:257.347.732 đồng.
- Mặc dù năm 2012 có lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là 157.662.028 đồng cao hơn năm 2013,nhưng năm 2012 có sự phát sinh của các khoản chi phí khác lên đên 95.363.561 đồng làm giảm tổng lợi nhuận kế toán trước thuế còn 62.804.259 đồng.Các khoản chi phí khác phát sinh trong năm 2012 là do công ty chiết khấu % hoa hồng cho khách hàng.Chính vì vậy,tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 2 năm chênh lệch 12.200.728 đồng tương ứng với 19.42% .
Nhìn chung lại,do Ngọc Minh là 1 công ty thương mại nhỏ,thiếu vốn kinh doanh dẫn tới việc phải hy sinh 1 phần lợi nhuận sau thuế để mở rộng thị phần tăng doanh thu.Việc vay ngắn hạn cộng thêm việc phải gánh chịu lãi vay khiến hiệu quả kinh doanh chưa tốt.Đặc biệt khi các công ty vẫn phải loay hoay với bài toán làm thế nào để thoát ra và tìm thấy cơ hội kinh doanh trong khủng hoảng thì việc sử dụng cơ cấu vốn vay ngắn hạn quá lớn sẽ tạo sức ép rất lớn tới hoạt động kinh doanh của công ty.
Nhận xét:
Cơ cấu tài sản:
- Qua bảng trên ta có thể thấy rằng trong cơ cấu tài sản của công ty thì hầu hết là tài sản ngắn hạn(chiếm trên 97%) tổng tài sản của công ty.Điều này cũng hoàn toàn phù hợp vì Ngọc Minh là công ty thương mại,nên không cần đầu tư nhiều vào tài sản dài hạn.Bên cạnh việc chiếm ưu thế gần như tuyệt đối thì tài sản ngắn hạn cũng có sự biến đổi tăng lên rất nhanh trong năm 2013 từ 608.990.477 năm 2012 tăng lên 8.271.232.890 năm 2013,tăng 3.662.242.413 đồng tương ứng với 79.45%.Tài sản ngắn hạn tăng lên là do sự ra tăng nhanh chóng của các chỉ tiêu sau:
- Nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự tăng lên nhanh chóng của tài sản ngắn hạn chính là từ các khoản phải thu ngắn hạn.Các khoản phải thu ngắn hạn trong đó chủ yếu là phải thu khách hàng tăng nhanh từ 2.633.128.374 đồng năm 2012 lên đến 4.284.578.719 đồng năm 2013 tương ứng với 62.71%.Điều này cho thấy công ty bị chiếm dụng nguồn vốn lớn,cũng như chưa làm tốt công tác thu hồi công nợ dẫn đến các khoản nợ xấu mà công ty không thu hồi được.Vì vậy công ty cũng nên có sự kiểm soát chặt chẽ hơn trong việc thu hồi nợ tránh việc bị chiếm dụng vốn quá nhiều ảnh hưởng tới tình hình tài chính,và khả năng quay vòng vốn của công ty. Tuy nhiên điều này cũng khá phổ biến với nhiều công ty thương mại,khi họ coi việc bán chịu cho khách hàng là 1 trong những cách để thu hút và giữ chân khách hàng.Chính vì vậy,để có thể đảm bảo hoạt động tài chính cũng như thu hút được khách hàng công ty cần có sự suy xét đến khả năng trả nợ của khách hàng đồng thời phải trích lập dự phòng hợp lí để tránh ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công ty.
- Việc ra tăng hàng tồn kho là nguyên nhân thứ 2 dẫn đến sự tăng lên của tài sản ngắn hạn.Do công ty là đại lý phân phối cấp 1 của Nippon nên công ty buộc phải đảm bảo doanh số tiêu thụ theo yêu cầu.Năm 2012 hàng tồn kho của công ty là 1.725.479.663 đồng,năm 2013 là 3.115.546.328 đồng tăng1.390.006.665 đồng tương ứng với 80.55% và vẫn đang chiếm 1 tỷ trọng lớn 37% tổng tài sản( năm 2013).Quy chế đại lý cấp 1 của Nippon buộc công ty phải đảm bảo doanh số tiêu thụ là 8 tỷ năm 2012,9 tỷ năm 2013.Mặc dù các sản phẩm sơn có thời gian sử dụng rất dài,có thể tránh được việc hư hỏng sản phẩm trong thời gian tồn trữnhưng việc hàng tồn kho lớn trên 35% sẽ dẫn tới việc công ty sẽ phải gánh chịu thêm các khoản chi phí tồn trữ,bảo quản hàng hóa… gây bất lợi.Mặt khác,việc phải thanh toán 85% giá trị đơn hàng nhập về từ Nippon trong vòng 1.5 tháng cũng tạo ra sức ép rất lớn cho công ty.Nếu hàng tồn kho quá lớn đồng nghĩa với việc công ty khó có thể thanh toán nợ ngắn hạn cho công ty mẹ làm ảnh hưởng tới tình hình tài chính và uy tín của doanh nghiệp.
- Năm 2013 với công ty cũng có thể coi là 1 năm thành công trong việc thúc đẩy doanh thu bán hàng và mở rộng thị trường ra nhiều tỉnh thành phía bắc.Chính vì vậy mà lượng tiền mặt của công ty tăng đáng kể: từ 155.284.520 đồng lên 712.294.392 đồng tăng 358%.Việc lưu trữ 1 lượng tiền mặt lớn cho thấy công ty có khả năng thanh khoản tốt giúp công ty chủ động trong chi trả và thanh toán trong công tác mua bán hàng hóa.Tuy nhiên,nếu dự trũ 1 lượng tiền mặt nhiều quá mức cần thiết có thể khiến công ty đánh mất những cơ hội đầu tư khác,đồng thời làm giảm giá trị của tiền và các khoản tương đương tiền bởi ảnh hưởng của lạm phát ,tỉ giá… Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
- Là 1 công ty thương mại kinh doanh các sản phẩm sơn các loại nên công ty không có sự đầu tư nhiều về tài sản dài hạn.Tài sản dài hạn của công ty chỉ tập trung vào phần tài sản cố định.Đó là 2 chiếc ô tô được khấu hao dần qua các năm với giá trị không lớn.Giá trị tài sản cố định giảm dần khi thời gian khấu hao gần hết.Ngoài tài sản cố định,công ty không có sự đầu tư cho các hạng mục dài hạn khác như bất động sản hay các khoản đầu tư tài chính dài hạn khác.Đó cũng là 1 hướng đi hợp lí trong thời kì khủng hoảng,khi các khoản đầu tư dài hạn thường có rủi ro rất lớn
- Nếu xét theo cơ cấu tài sản của công ty thì tài sản ngắn hạn là loại tài sản chủ yếu và cũng có sự biến động nhất và công ty dường như không có sự đầu tư gì thêm về tài sản cố định trong năm qua.Cơ cấu tài sản ngắn hạn chủ yếu tập trung vào 2 khoản mục chính là các khoản phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho,trong đó:
Các khoản phải thu ngắn hạn phần lớn là các khoản nợ ngắn hạn phải thu từ khách hàng của công ty.Năm 2012 phải thu khách hàng lên tới 2.633.128.374 đồng chiếm 55.42% tổng tài sản,năm 2013 con số này tăng lên 4.284.578.719 đồng chiếm 51.03%.Việc các khoản phải thu khách hàng chiếm quá nửa trong cơ cấu tài sản của công ty cũng đem đến những thuận lợi và khó khăn cho hoạt động tài chính cũng như kinh doanh của công ty như đã phân tích ở trên
Nhìn chung lại thì cơ cấu tài sản của công ty Ngọc Minh chủ yếu là tài sản ngắn hạn,loại tài sản này đang có xu hướng tăng lên trong khi tài sản dài hạn chỉ chiếm 1 phần rất nhỏ và đang được khấu hao nên giảm dần giá trị.Xu hướng này khá phù hợp với sự phát triển của 1 công ty thương mại
Cơ cấu nguồn vốn:
- Trong cơ cấu nguồn vốn của công ty thì nợ phải trả chiếm 1 tỉ trọng khá lớn và hoàn toàn là nợ ngắn hạn.Năm 2012 nợ ngắn hạn của công ty là 3.041.549.425 đồng chiếm 64.01% tổng tài sản.Trong đó có 2.191.785.623 đồng là khoản mà công ty phải thanh toán cho 2 nhà cung ứng : Nippon và ICI trong ngắn hạn.Đây là khoản vốn mà công ty đang tạm chiếm dụng trong thời gian ngắn.Nhờ vậy mà công ty có thể mở rộng thị trường mặc dù tài chính công ty còn hạn hẹp.Tuy nhiên,công ty cũng có những khoản phải thu khách hàng tương đương,nếu không làm tốt việc thu hồi nợ công ty sẽ gặp khó khăn rất lớn trong việc thanh toán các khoản nợ này.Năm 2013,doanh thu bán hàng tăng nhanh cũng kéo theo nợ ngắn hạn ra tăng tương ứng là 6.629.858.057 đồng chiếm 78,97% tổng nguồn vốn.Bên cạnh việc khoản phải trả cho người bán tăng nhanh thì công ty còn có khoản vay ngắn hạn là 2.000.000.000 đồng,kéo theo khoản chi phí lãi vay khá lớn.Xu hướng gia tăng nhanh của nợ ngắn hạn sẽ gây sức ép lớn cho công ty trong công tác thu và thanh toán nợ ngắn hạn.
- Vốn chủ sở hữu của công ty chiếm 1 tỷ trọng tương đối thấp trong cơ cấu nguồn vốn.Năm 2012 vốn chủ của công ty là 1.709.528.325 đồng chiếm 35.99%, gần như không có sự biến động nhiều trong năm 2013.Điều này phản ánh tình trạng mất cân đối trong cơ cấu vốn khi nợ vay chiếm phần lớn.Thiếu vốn kinh doanh là vấn đề của nhiều công ty thương mại nói riêng và các công ty nhỏ nói chung.Sử dụng vốn vay nhiều đặc biệt là vay ngắn hạn có thể dẫn đến tính trạng mất kiếm soát công ty nếu tình hình kinh doanh không tốt.
Nhìn chung lại cơ cấu vốn của công ty chưa thực sự hợp lí và an toàn khi nợ ngắn hạn chiếm 1 tỉ trọng quá lớn,trong khi công ty vẫn xảy ra tình trạng bị chiếm dụng vốn trong ngắn hạn.Nếu công ty không làm tốt và kiểm soát được việc thu hồi nợ ngắn hạn từ khách hàng có thể dẫn đến tình trạng thiếu vốn kinh doanh. Tuy nhiên, khi so sánh thì nợ phải thu ngắn hạn của công ty luôn nhỏ hơn rất nhiều so với nợ phải trả ngắn hạn.Điều này cho thấy cơ cấu nợ ngắn hạn của công ty đang mất cân bằng,công ty đang chiếm dụng vốn nhiều hơn là bị chiếm dụng.Công ty cần có sự kiểm soát tốt hơn về các khoản nợ để đảm bảo nguồn tín dụng cho công ty hoạt động,đồng thời tăng lượng vốn góp từ các thành viên nhằm tạo sự an toàn và chủ động về tài chính.Thay vì sử dụng nhiều vay nợ ngắn hạn công ty nên huy động nguồn vốn dài hạn hoặc ra tăng thêm thành viên góp vốn.
2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
Nhìn vào bảng trên ta thấy rằng nhìn chung hiệu quả kinh doanh của công ty là tương đối thấp và đang có xu hướng giảm dần.Năm 2012 cứ 1 đồng chi phí bỏ ra chỉ thu được 1.0085 đồng doanh thu và giảm dần còn 1.0077 đồng năm 2013.Kết quả này chịu sự tác động của các nhân tố sau:
2.3.1 Chỉ tiêu doanh thu
Bảng1.4: Tình hình tiêu thụ sản phẩm năm 2012-2013 Đơn vị tính:đồng,%
Từ bảng trên ta có thể thấy rằng tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm năm 2013 tăng đáng kể so với năm 2012 từ 7.384.515.590 đồng năm 2012 lên đến 9.739.570.923 đồng năm 2013 ,tăng 2.355.055.333 đồng tương ứng với tỷ lệ 31.89%.Điều đó cho thấy công ty đã có được những thành công rất đáng khen trong công tác bán hàng và tiếp cận và mở rộng thị trường ra nhiều tỉnh thành phố miền bắc.
Mặc dù công ty cung ứng cho khách hàng 2 dòng sản phẩm sơn :Nippon và ICI nhưng trên 96% doanh thu có được lại đến từ các dòng sản phẩm sơn Nippon .Đây là thương hiệu rất có tiếng và rất được ưa chuộng không chỉ ở Hải Phòng mà còn ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước.Năm 2012: doanh thu từ các sản phẩm sơn Nippon lên đến 7.089.134.966 đồng chiếm tới 96% tổng doanh thu bán hàng trong năm.Vị thế của nó tiếp tục được khẳng định khi doanh thu từ Nippon năm 2013 là 9.349.988.086 đồng,tăng 30.53% so với năm 2012. Điều này cho thấy công ty đang đi đúng hướng trong việc xác định mặt hàng chủ lực đang rất được ưa chuộng đem lại doanh thu cao cho công ty.Tuy nhiên do 1 vài năm gần đây tình hình kinh tế gặp khó khăn cũng làm ảnh hưởng tới thói quen chi tiêu của người dân.Đó chính là lí do lớn nhất khiến khả năng tiêu thụ dòng sơn ICI có tốc độ tăng nhanh hơn Nippon.Người dân bắt đầu chú hơn tới dòng sơn có mức giá trung bình này khiến cơ cấu doanh thu có sự biến đổi chút ít,và tốc độ tăng doanh thu ICI (75%) cũng nhanh hơn rất nhiều so với Nippon.
2.3.2 Hiệu quả sử dụng chi phí Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
Bảng 1.5: Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp năm 2012-2013
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng cùng với sự gia tăng 31.9% về doanh thu thì giá vốn cũng có sự tăng lên đáng kể từ 6.707.193.861 đồng năm 2012 lên đến 8.872.382.624 đồng năm 2013 tương ứng với 32.3%.Mặt khác trong năm 2013 công ty có sử dụng khoản vốn vay ngắn hạn 2 tỷ đồng làm phát sinh chi phí lãi vay 257.347.732 đồng.Việc sử dụng vốn vay từ bên ngoài đã làm phát sinh 1 khoản chi phí lớn để chi trả lãi vay.Nhìn chung tốc độ tăng chi phí đang tương xứng với tốc độ tăng doanh thu thuần.Để nâng cao hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa trong việc tiết kiệm chi phí đặc biệt là chi phí quản lý doanh nghiệp
Bảng 1.6 : Hiệu quả sử dụng chi phí
Từ bảng trên ta có thể thấy rằng : Sức sản xuất của chi phí và sức sinh lời của chi phí đều thấp và có xu hướng giảm dần.Năm 2012 cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì doanh nghiệp thu về được 1.008 đồng doanh thu,đến năm 2013 thì giảm nhẹ còn 1.007 đồng,trong khi sức sinh lời của chi phí giảm với tốc độ nhanh hơn là 3.3%.Điều này cho thấy doanh nghiệp sử dụng đồng vốn chưa thực sự hiệu quả ,sức sinh lời của chi phí còn quá nhỏ dẫn đến lợi nhuận thấp.Đây chính là nguyên nhân chính làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp suy giảm,vì vậy doanh nghiệp cần là rõ các nhân tố tác động làm cho chi phí tăng cao,phân tích để thấy được mức độ ảnh hưởng và sự cần thiết của các nhân tố đó trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế hiện nay và định hướng của doanh nghiệp,từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí.
2.3.3 Hiệu quả sử dụng lao động Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
Bảng1.7: Cơ cấu nhân sự và sự biến động nhân sự năm 2012-2013
Nhìn vào bảng trên có thể thấy rằng công ty có số lượng lao động ít,lao động chủ yếu được phân bổ vào lĩnh vực kinh doanh và vận chuyển.Trong năm 2013 công ty có tuyển mới thêm 2 lao động cho thấy công ty đang có sự mở rộng về quy mô,doanh thu bán hàng tăng nhanh kéo theo nhu cầu phải tuyển mới để bổ sung cho những vị của nhân viên vận chuyển giao hàng
Do đặc thù của công ty thương mại là không sản xuất ,mà chỉ kinh doanh sản phẩm của công ty khác,vì vậy kết quả hoạt động kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ nhân viên kinh doanh.Công ty có nhân viên vận chuyển giao nhận hàng,tư vấn bảo trì chiếm số đông.Chính vì đặc thù ấy nên cơ cấu lao động của công ty,nam giới luôn chiếm tỉ trọng cao hơn nữ giới:lao động nam chiếm ưu thếtrên 60%.Trong năm 2013 công ty tuyển thêm 2 nhân viên thì đó đều là nam giới phù hợp với vị trí giao nhận hàng- công việc yêu cầu cần có sức khỏe tốt,có thể lái xe và chuyển hàng.
Tóm lại những đặc thù lao động tại công ty như sau:
Vì là công ty thương mại nhỏ nên số lượng lao động của công ty không nhiều
Phần lớn là lao động phổ thông và là nam giới đáp ứng được yêu cầu công việc bố dỡ giao và vận chuyển hàng,bảo trì công trình, tư vấn khách hàng
Lao động quản lí,bộ phận kế toán,nhân viên kinh doanh đều rất trẻ,có trình độ năng động nhiệt tình và được đào tạo tốt
Lao động có chuyên môn nhưng công ty vẫn cần chú trong đào tạo các kĩ năng mèm cho nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong đàm phán kí kết hợp đồng.
Bảng 1.8 : Hiệu quả sử dụng lao động tại doanh nghiệp
Qua bảng trên ta thấy rằng cùng với sự gia tăng về số lượng nhân viên(20%)tại bộ phận vận chuyển và kinh doanh đã làm gia tăng 31.89% doanh thu,và năng suất lao động tăng 9.9% ,lợi nhuận sau thuế tăng 19.4% vào năm 2013.Tốc độ tăng của lao động nhỏ hơn tốc độ tăng doanh thu nhưng vẫn lớn hơn tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế.Điều này cho thấy toàn bộ nhân viên công ty đã có sự nỗ lực rất lớn trong việc thúc đẩy doanh thu bán hàng nhưng năng suất lao động vẫn chưa được cải thiện nhiều. Mặt khác mức sinh lời bình quân của 1 lao động và mức sinh lời của 1 đơn vị tiền lương năm 2013 đều giảm so với năm 2012 chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động chưa thực sự được cải thiện.Việc thu nhập bình quân tăng 8.3% cũng cho thấy doanh nghiệp đã có sự quan tâm rất lớn tới đời sống nhân viên trong công ty nhưng chế độ lương thưởng ở mức trung bình nên cũng chưa thực sự tạo ra động lực thúc đẩy người lao động tích cực hơn trong công việc.Tuy vậy công ty cũng đã rất chú trọng chăm lo tới đời sống người lao động bằng cách thường xuyên thăm hỏi động viên con em nhân viên hoặc khi nhân viên có người nhà bị ốm đau.Vì vậy hầu hết nhân viên của công ty đã làm việc nhiều năm,ít khi có tình trạng bỏ việc.Trong 1 vài năm gần đây công ty không có nhu cầu tuyển dụng nhiều lao dộng trong năm.Thay vào đó công ty TNHH thương mại và vận tải Ngọc Minh luôn chú trọng tới chính sách đào tạo cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ mà công ty cung ứng thông qua sự chuyên nghiệp và năng động của nhân viên kinh doanh,tận tụy của nhân viên giao hàng và thành thạo của nhân viên tư vấn.
Nhìn chung lại,doanh nghiệp sử dụng lao động chưa thực sự hiệu quả khi doanh thu tăng nhanh nhưng mức sinh lời tạo ra vẫn giảm trong đó có 1 phần nguyên là do năng suất lao động tại doanh nghiệp vẫn chưa được cải thiện nhiều.Vậy nên doanh nghiệp cần có những biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng người lao động trong thời gian tới.
2.3.4 Hiệu quả sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
a.Đặc điểm nguồn vốn
Bảng 1.9: Cơ cấu vốn trong doanh nghiệp năm 2012-2013
Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy quy mô vốn kinh doanh của doanh nghiệp không ngừng tăng nhanh qua các năm với sự gia tăng nhanh của vốn lưu động và sự giảm dần của vốn cố định.Trong cơ cấu vốn, nhìn chung vốn lưu động là chủ yếu.Điều này hoàn toàn phù hợp với cơ cấu của 1 doanh nghiệp thương mại. Bên cạnh đó,cùng với sự gia tăng của tổng vốn thì kéo theo sự ra tăng của vốn vay.Trong cơ cấu vốn doanh nghiệp thì vốn vay luôn chiếm tỷ trọng cao chiếm 78.97% năm 2013 và đang có xu hướng gia tăng tỷ trọng trong khi vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng thấp 35.99% năm 2012 giảm tiếp còn 21.03% năm 2013.Đây là cơ cấu vốn thiếu an toàn khi tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng vốn.Điều này có thể khiến doanh nghiệp gặp những rủi ro rất lớn như mất khả năng thanh toán,dẫn đến phá sản.
b.Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Bảng 2.0: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp năm 2012-2013
Sức sản xuất của vốn kinh doanh đang có xu hướng giảm.Nếu năm 2012 cứ 1 đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp bỏ ra thì thu về được 1.55 đồng doanh thu,đến năm 2013 thì con số này giảm chỉ còn 1.16 đồng.Vì Ngọc minh là công ty thương mại,tài sản lưu động chiếm trên 90% tổng vốn nên sức sản xuất của vốn kinh doanh chủ yếu dựa trên sức sản xuất của vốn lưu động.Ngoài ra,vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không có sự gia tăng nhiều trong năm 2013 (tăng 3.3% so với năm 2012) trong khi doanh thu tăng nhanh khi mở rộng quy mô kinh doanh đã làm cho sức sản xuất của vốn chủ tăng 27.7%
Sức sinh lời của công ty nhìn chung là tương đối thấp khi 1 đồng vốn kinh doanh bỏ ra chỉ tạo ra được 0.01 đồng lợi nhuận,và đang có xu hướng giảm trong năm 2013 khi 1 đồng vốn chỉ tạo ra được 0.007 đồng lợi nhuận giảm 32.4%.
Mặt khác,chúng ta có thể thấy rằng trong khi cả sức sinh lời và sức sản xuất đều có xu hướng giảm nhưng sức sinh lời lại có tốc độ giảm nhanh hơn sức sản xuất.Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là tương đối thấp hay nói cách khác là doanh nghiệp sử dụng vốn chưa có hiệu quả.Vìvậy doanh nghiệp cần tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp để khai thác tốt hơn, hiệu quả hơn nguồn vốn hiện có.
2.3.5 Hiệu quả sử dụng tài sản Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
Bảng 2.1: Cơ cấu tổng tài sản năm 2012-2013
Qua bảng trên ta thấy rằng tổng tài sản của công ty tăng lên nhanh chóng khi năm 2012 tổng tài sản là 4.751.077.750 đồng thì năm 2013 đã lên tới 8.395.640.163 đồng tương ứng với 76.71%.Điều này phản ánh quy mô kinh doanh của công ty ngày càng mở rộng.Xét theo cơ cấu tài sản thì tài sản ngắn hạn chiếm 1 tỷ trọng rất cao trong cơ cấu tài sản.Điều này hoàn toàn phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại khi tài sản ngắn hạn chiếm trên 95% tổng tài sản toàn doanh nghiệp.Hiện tại tài sản dài hạn của doanh nghiệp có xu hướng giảm về giá trị là do doanh nghiệp không có sự đầu tư thêm cho tài sản dài hạn,đồng thời tài sản đã được trích khấu hao trong nhiều năm.
Bảng 2.2: Hiệu quả sử dụng tài sản
Qua bảng trên ta có thể thấy rằng cả sức sản xuất và sức sinh lời của tài sản đều thấp va đang có xu hướng suy giảm trong đó:Năm 2012 cứ 1 đồng tài sản thì tạo ra 1.554 đồng doanh thu và 0.01 đồng lợi nhuận,đến năm 2013 thì 1 đồng tài sản chỉ tạo ra được 1.16 đồng và 0.007 đồng lợi nhuận.Điều này cho thấy việc hàng tồn kho cao,cơ cấu vốn vay lớn đã làm phát sinh thêm chi phí kinh doanh như chi phí lãi vay( năm 2013),chi phí bảo quản,tồn trữ đã làm cho lợi nhuận suy giảm dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản giảm.Trong khi đó,hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn lại rất cao và đang có xu hướng tăng nhanh do Ngọc Minh là 1 công ty thương mại nên tài sản dài hạn chiếm 1 tỷ trọng rất nhỏ đang có xu hướng giảm dần về giá trị.Chính vì vậy hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn cao nhưng lại không phản ánh đúng bản chất hiệu quả sử dụng tài sản nói chung.
Khi đánh giá về cơ cấu tài sản thì thấy rằng trên 97% là tài sản ngắn hạn,tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ,có xu hướng giảm dần giá trị.Chính vì vậy,sức sản xuất và sức sinh lời của tài sản ngắn hạn phản ánh rõ nhất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có biện pháp nhằm giảm bớt hàng tồn kho nâng cao năng suất lao động nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn từ đó nâng cao được hiệu quả kinh doanh.
2.4 Các chỉ tiêu tài chính Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Bảng 2.4. Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Qua bảng trên ta có thể thấy rằng khả năng tự tài trợ của công ty là rất thấp,công ty chủ yếu huy động vốn vay,trong đó hoàn toàn là nợ ngắn hạn.
Năm 2012 vốn chủ sở hữu của công ty là 1.709.528.325 đồng,tăng 3.29% trong năm 2013 đạt 1.765.782.106 đồng.Vốn chủ được bổ sung khá ít trong khi tổng vốn là tăng nhanh dẫn đến cơ cấu nợ vay lớn và cũng tăng theo.Năm 2012 vốn vay của công ty là 3.041.549.425 đồng chiếm 64% tăng lên đến 6.629.858.057 đồng năm 2013 chiếm 79% tổng vốn.Việc doanh nghiệp sử dụng cơ cấu vốn vay lớn nhằm gia tăng lợi nhuận sẽ mang đến những rủi ro rất lớn.Nếu lợi nhuận/tổng vốn < lãi suất vay vốn sẽ dẫn tới việc lợi nhuận là ra không đủ để chi trả lãi vay,dẫn tới tính trạng thua lỗ.Mặt khác.nếu công ty tận dung được cơ cấu vốn linh hoạt này cộng thêm tình hình kinh doanh tốt sẽ giúp công ty mở rộng được thị trường và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn.Tuy nhiên trong thời kì kinh tế đnag trên đà phục hồi công ty cần có sự xem xét kĩ lưỡng trong chính sách mắc nợ,để tạo ra được hiệu quả tốt nhất nhưng ít mạo hiểm nhất.
Đánh giá khả năng thanh toán của Công ty
Bảng 2.3. Đánh giá khả năng thanh toán
Qua bảng trên ta có thể thấy rằng khả năng thanh toán của công ty là chưa tốt.Điều này được thể hiện rất rõ khi các hệ số thanh toán tổng quát và hệ số thanh toán nợ ngắn hạn đều < 1.5,và hệ số thanh toán nhanh<1 và hệ số thanh toán tức thời < 0.5.Các hệ số thanh toán của công ty đều dưới mức trung bình.Trong đó:
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát cho biết công ty có bao nhiêu đồng tài sản để đảm bảo cho 1 đồng nợ phải trả.Năm 2012 chỉ số này là 1.5 lần,2013 là 1.27 lần giảm 23%.Thông thường chỉ số này phải xấp xỉ bằng 2 mới có thể đảm bảo khả năng thanh toán cho công ty.Trong khi đó,vốn vay của công ty hoàn toàn là nợ ngắn hạn.Điều này cho thấy khả năng tự tài trợ của công ty là chưa tốt. Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
- Vì là công ty thương mại và hầu hết cơ cấu tài sản là tài sản ngắn hạn nên chỉ số thanh toán nợ ngắn hạn cũng gần bằng tỉ số thanh toán tổng quát.Năm 2013 khi doanh số bán hàng của công ty tăng nhanh thì chỉ số này lại giảm,hệ số thanh toán nợ ngắn hạn của công ty năm 2013 chỉ còn 1.25.Điều này cho thấy cơ cấu sư dụng nợ vay ngắn hạn quá lớn dẫn đến tình trạng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn gặp khó khăn.Công ty cần có sự xem xét và điều chỉnh thay đổi cơ cấu vay nợ hoàn toàn bằng vay ngắn hạn sang cả vay ngắn hạn và dài hạn,hoặc có thể kết nạp thêm thành viên vào công ty làm ra tăng vốn chủ sở hữu.
- Hệ số thanh toán nhanh của công ty trong 2 năm đều <1 và ngày càng giảm.Mặc dù không tính đến giá trị của hàng tồn kho trong thanh toán nợ ngắn hạn thì công ty vẫn gặp phải khó khăn nếu không làm tốt công tác thu hồi nợ từ khách hàng.Muốn nâng cao tỷ số thanh toán nhanh thì công ty phải kiểm soát tốt công tác thu hồi nợ ngắn hạn,tăng cường các biện pháp marketing và các dịch vụ sau bán hàng nhằm thu hút khách hàng thay vì thu hút khách hàng bằng việc mua chịu.Việc này có thể dẫn đến những rủi ro cho công ty nếu gặp phải các khoản nợ khó đòi lớn làm ảnh hưởng tới tình hình tài chính,có thể dẫn đến phá sản khi công ty không đủ khả năng trả nợ.
- Hệ số thanh toán tức thời của công ty cho thấy công ty có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để đảm bảo cho thanh toán nợ ngắn hạn.Chỉ số này của công ty khá thấp : năm 2012 là 0.051 năm 2013 tăng lên là 0.107.Tuy có cải thiện được hệ số này nhưng khả năng thanh toán tức thời vẫn quá thấp so với trung bình là 0.5.
- Lượng tiền và các khoản đương tiền sẽ đảm bảo việc thanh toán cho khách hàng trong vòng 3 tháng.Chỉ số này rất quan trọng với các công ty thương mại khi lượng tiền mặt luân chuyển khá lớn trong ngắn hạn.Vì vậy công ty cần lưu trũ tiền mặt ở mức phù hợp để có thể sẵn sang thanh toán cho khách hàng
- Hệ số thanh toán lãi vay năm 2013 của công ty là 1.29 là tương đối thấp cho thấy khả năng chi trả lãi vay của công ty là chưa tốt.Công ty cần cân nhắc hiệu quả cuả vốn vay trong hoạt động kinh doanh của mình.
Hệ số hiệu suất hoạt động
Bảng 2.5: Hệ số hiệu suất hoạt động
Qua bảng trên ta thấy rằng,vòng quay tổng tài sản của công ty là tương đối lớn,nhưng có xu hướng giảm.Năm 2012 vòng quay tổng tà sản là 1.55 vòng nhưng năm 2013 giảm còn 1.16 vòng.Điều này cho thấy sự vận động của tài sản đã chậm lại khi năm 2013 : 1 đồng tài sản chỉ tạo ra được 1.16 đồng doanh thu.Điều này cho thấy hiệu quả kinh doanh của công ty bị suy giảm kéo theo sự suy giảm của tốc độ gai tăng của lợi nhuận.
Ngọc Minh là 1 công ty thương mại vì vậy tài sản của công ty chủ yếu là tài sản lưu động.Tài sản cố định chủ yếu là 2 ô tô có giá trị không lớn.Chính vì vậy hiệu quả sử dụng tài sản cố định rất cao và có xu hướng gia tăng
Vòng quay hàng tồn kho của công ty năm 2012 khá nhanh nhưng đang có xu hướng chậm lại trong năm 2013.Điều này cho thấy so vói giá vốn hàng bán thì hàng tồn kho năm 2013 đang tăng lên.Công ty cần phải có biện pháp để giảm bớt hàng tồn kho tránh để ứ đọng vốn,giảm chi phí bảo quản tồn trũ cho doanh nghiệp.
Kì thu tiền bình quân của công ty là khá dài,năm 2012 là 128 ngày có xu hướng tăng khi năm 2013 là 158 ngày.Kì thu tiền lớn và đang tăng lên chứng tỏ công ty thu hồi nợ khá chậm,công ty đang bị khách hàng chiếm dụng vốn khá.Mặc dù đây cũng là 1 cách để thu hút khách hàng nhưng nếu kéo dài có thể sẽ ảnh hưởng tới tình hình tài chính của công ty.Vì vậy công ty cần có biện pháp cương quyết hơn trong công tác thu hồi nợ
Hệ số sinh lời
Bảng 2.6. Đánh giá khả năng sinh lời
Nhìn vào bẳng số liệu trên chúng ta có thể thấy rằng sức sinh lời của của doanh thu và tài sản của công ty đều rất thấp,đang có xu hướng giảm trong năm 2013.Điều này cho thấy tình hình kinh doanh của công ty chưa thực sự hiệu quả.Đây cũng là khó khăn chung của rất nhiều công ty tronng những năm gần đây,khi hoạt động kinh doanh chịu sự ảnh hưởng rất lớn của tình hình kinh tế chung.Tuy nhiên do công ty tài trợ chủ yếu bằng vốn vay tới 78% trong năm 2013 nên sức sinh lời của vốn chủ khá tốt.
Mặt khác khi tình đến đòn bẩy tài chính ta có:
DFL = 4.23.Điều này cho thấy cơ cấu
vốn có đòn bẩy tài chính ở mức nhạy cảm cao.Trong khi đó sức sinh lời kinh tế của tài sản rất thấp năm 2013 là 3.95% < lãi suất vay vốn là 9.5%.Như vậy việc sử dụng cơ cấu vốn vay lớn như hiện nay là không có lợi.Doanh nghiệp cần có biện pháp cơ cấu lại nguồn vốn trong đó,vốn chủ sở hữu phải chiếm 1 tỷ trọng lớn nhằm tránh việc lợi nhuận tạo ra không đủ để trang trải chi phí lãi vay phát sinh trong kì..Điều này cũng cho thấy rằng doanh nghiệp sử dụng vốn vay là chưa thực sự hiệu quả.
Tuy nhiên,nhìn chung lại thì hiệu quả sử dụng tài sản ,sử dụng vốn vay của công ty là chưa tốt,sức sinh lời thấp nên lợi nhuận sau thuế đạt được không lớn.Công ty cần có các biện pháp nhằm cải thiện tình hình trên.
2.5.Đánh giá chung Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
Bảng 2.7: Tổng hợp các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh
Từ bảng tổng hợp về các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh trên ta có thể đánh giá tổng quát như sau:
Về hiệu quả sử dụng vốn:
- Nhìn chung sức sản xuất và sức sinh lời của vốn kinh doanh đều ở mức thấp và có xu hướng giảm dần.Trong đó hiệu quả sử dụng vốn cố định lại rất cao và có xu hướng tăng dần.Tuy nhiên sức sản xuất và sức sinh lời của vốn kinh doanh lại phụ thuộc hoàn toàn vào hiệu quả sử dụng vốn lưu động.Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh thì điều quan trọng là doanh nghiệp cần tìm cách cải thiện và nâng cao sức sinh lời của vốn lưu động.
- Sức sinh lời của vốn chủ là thấp nhưng đang có xu hướng tăng do công ty đang sử dụng cơ cấu nợ vay cao,trong khi tỷ trọng vốn chủ chỉ chiếm khoảng 35%.
- Tốc độ tăng sức sinh lời của vốn chủ và vốn cố định lại chậm hơn nhiều so với sức sản xuất,trong khi đó vốn lưu động lại phản ánh tốc độ giảm theo chiều ngược lại.
Hiệu quả sử dụng chi phí
- Nhìn vào bảng trên ta có thể đnáh giá rằng hiệu quả sử dụng chi phí là thấp và đang có xu hướng giảm dần.Sức sinh lời của chi phí thấp và giảm nhanh hơn sức sản xuất cho thấy doanh nghiệp chưa kiểm soát tốt chi phí phát sinh trong kì,đặc biệt gia tăng chi phí bảo quản tồn trữ và chi phí lãi vay ngắn hạn.Doanh nghiệp cần tìm cách nâng cao khả năng tự tài trợ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí.
Hiệu quả sử dụng lao động:Trong khi sức sản xuất của 1 lao động tăng lên nhưng sức sinh lời lại giảm cho thấy hiệu quả sử dụng lao động vẫn chưa được cải thiện.
Khả năng thanh toán:Các chỉ số thanh toán của doanh nghiệp cho thấy khả năng thanh toán là chưa tốt khi doanh nghiệp vừa bị chiếm dụng vốn cộng thêm việc hàng tồn kho quá lớn dẫn đến khả năng thanh toán nhanh và thanh toán ngắn hạn thấp và giảm dần.Doanh nghiệp cần có chính sách chiết khấu hợp lý nhằm khuyến khích khách hàng thanh toán sớm,đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa để giảm hàng tồn kho nhằm cải thiện tình hình.Ngoài ra,chi phí lãi vay cũng đang tạo ra sức ép rất lớn tới khả năng chi trả lãi vay ngắn hạn của doanh nghiệp.
Hệ số tự tài trợ: Cơ cấu vốn của doanh nghiệp đang bị mất cân đối khi khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp là rất thấp,cơ cấu nợ vay tăng dần và chiếm tỷ trọng cao.Doanh nghiệp cần có sự cân đối lại nguồn vốn nhằm chủ động hơn về tài chính và hạn chế làm phát sinh chi phí lãi vay làm giảm lợi nhuận.
Hiệu suất hoạt động: Hệ số này cho biết vòng quay hàng tồn kho và vòng quay tổng tài sản đang chậm lại trong khi kỳ thu tiền bình quân đang kéo dài ra.Doanh nghiệp cần có biện pháp nhằm giảm hàng tồn kho nhưng đồng thời rút ngắn ký thu tiền bằng các chính sách sách chiết khấu thanh toán sớm cho khách hàng.
Khả năng sinh lời: Chỉ số này phản ánh rất rõ tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.Sức sinh lời của doanh thu của vốn chủ ,của tài sản đều không tốt và đang có chiều hướng giảm dần.Đây là vấn đề lớn nhất mà doanh nghiệp đang cần giải quyết,trong đó việc kiểm soát chặt chẽ chi phí phát sinh sẽ góp phần cải thiện tình hình trên
Suy thoái kinh tế với sự trì trệ của ngành xây dựng,tín dụng và bất động sản đã có sự tác động rất sâu sắc tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nói chung và công ty TNHH thương mại và vận tải Ngọc Minh nói riêng.Các chỉ tiêu đều chỉ ra hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là không cao và đang có xu hướng giảm dần.Cơ cấu vốn cũng chưa thiếu hợp lý và an toàn khi cơ cấu nợ vay quá cao,vốn chủ thấp,sức sản xuất và sinh lời của tài sản thấp,hàng tồn kho lớn cộng thêm việc doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn lớn,khả năng thanh toán dưới mức trung bình dẫn tới lợi nhuận thấp hoạt động kinh doanh thiếu hiệu quả,tốc độ tăng lợi nhuận không tỉ lệ thuận tốc độ tăng doanh thu.Tuy nhiên,trong khi nhiều doanh nghiệp thua lỗ và gặp khó khăn để duy trì hoạt động thì cũng có thể thấy được công ty cũng đã có sự nỗ lực rất lớn trong việc mở rộng quy mô kinh doanh,chiếm lĩnh thị trường,gia tăng lợi nhuận.Vấn đề đặt ra với doanh nghiệp là cần xây dựng cơ cấu vốn hợp lý theo hướng tăng dần tỷ trọng vốn chủ sở hữu và giảm dần tỷ trọng nợ phải trả trong tổng vốn kinh doanh. Có như vậy mới cân đối cơ cấu vốn kinh doanh,tăng tốc độ doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng chi phí của các doanh nghiệp và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro xảy ra trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay. Khóa luận: Thực trạng hoạt động KD tại Cty Ngọc Minh
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển kinh doanh tại Cty Ngọc Minh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát chung về Cty TNHH Ngọc Minh