Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Một trong những điều kiện để góp phần tạo nên hệ thống pháp luật tiến bộ đó chính là công tác xây dựng hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật trên tất cả các lĩnh vực theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Vì vậy, phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật nói chung và quy định pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải đáp ứng và phù hợp các điều kiện sau.
Hoàn thiện pháp luật phải đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa, pháp luật phải thích ứng nền kinh tế thị trường phát triển năng động, tương thích với pháp luật và tập quán dân sự, thương mại trong khu vực và quốc tế hiện nay. Xây dựng pháp luật vừa là cơ sở để quản lý, vừa là điều kiện thúc đẩy và thu hút đầu tư cũng như căn cứ pháp lý cho việc thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Không ngừng đổi mới trong nhận thức, thực tiễn xây dựng, áp dụng, vận dụng và từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới cơ chế hoạch định, thực thi chính sách, pháp luật.
Hoàn thiện pháp luật phải hoàn thiện các định hướng thể chế, trong đó cần hoàn thiện thể chế về “Tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; pháp luật về giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, y tế, văn hóa xã hội, thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội; pháp luật về quốc phòng, an ninh; pháp luật về hội nhập quốc tế và hai nhóm giải pháp về xây dựng, hoàn thiện pháp luật”. đồng thời “gắn kết xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật với bốn trụ cột chính của hệ thống pháp luật, gồm: thể chế; thiết chế thi hành pháp luật; nhân lực làm công tác pháp luật; thông tin pháp luật” và đặc biệt là pháp luật dân sự.
Chuẩn hóa quy trình xây dựng pháp luật thông qua việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng pháp luật cần phải đánh giá đầy đủ trước yêu cầu chuyển mạnh sang mô hình phát triển theo chiều sâu, dựa vào nguồn nhân lực chất lượng cao, dựa chủ yếu vào đổi mới, sáng tạo, khoa học, công nghệ, đón nhận Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật vừa bảo đảm sự ổn định, vừa tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy phát triển nhanh, thích ứng kịp thời những thay đổi nhanh của tình hình thế giới và trong nước. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cũng như chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cần phải đặc biệt coi trọng công tác nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn trong xây dựng pháp luật, nghiên cứu thấu đáo, đồng bộ các phương diện pháp lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường… trong xây dựng pháp luật, nhằm bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và tính khả thi của quy định pháp luật nói chung và trong giao kết hợp đồng nói riêng. Bên cạnh đó, các cơ quan cần nghiên cứu đẩy mạnh quá trình chuẩn hóa, khoa học hóa, hiện đại hóa quy trình xây dựng pháp luật từ khâu đưa ra sáng kiến lập pháp, xây dựng dự thảo văn bản pháp luật, đưa dự thảo lấy ý kiến tham gia, phản biện của các cơ quan liên quan, của các đối tượng chịu sự điều chỉnh, cho đến việc thẩm định và cuối cùng là Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua. Đặc biệt, điều quan trọng là phải chế định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giải trình của tất cả các chủ thể tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội đã được giao nhiệm vụ.
Việc hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trên nền tảng pháp luật dân sự mà trong đó BLDS Việt Nam năm 2015 là công cụ pháp lý quan trọng làm căn cứ để các chủ thể khi triển khai các hoạt động dân sự, kinh doanh. Trong đó, chế định hợp đồng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về kinh tế, dân sự, thương mại của mỗi quốc gia. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật, xây dựng và đảm bảo khung pháp luật hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng phát sinh trong quá trình hội nhập hiện nay là một nhiệm vụ, một yêu cầu cấp bách, vừa thể chế hoá nguyên tắc tự do kinh doanh, vừa là công cụ bảo đảm cho việc vận dụng nguyên tắc này một cách đúng đắn trong nền kinh tế thị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ hợp đồng đồng thời buộc các chủ thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình cũng như trách nhiệm của các bên liên quan. Đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, trật tự công cộng nói chung và trật tự kinh doanh nói riêng cũng như các chủ thể khi tham gia các giao dịch dân sự đặc biệt là giao kết hợp đồng.
Định hướng hoàn thiện pháp luật trong đó có pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại phải uyển chuyển, linh hoạt, tương thích với điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay. Từ thực tiễn này, Nhà nước cần hạn chế tối đa sự can thiệp của các quan hệ tư nhằm đảm bảo sự vận hành đúng đắn của thị trường theo những nguyên tắc và quy luật khách quan, vốn có của nó. Tiến trình trình hội nhập khu vực và quốc tế cũng đặt ra yêu cầu hài hòa hóa hệ thống pháp luật của Việt Nam với pháp luật của các quốc gia khu vực và thế giới trong đó có pháp luật về quan hệ hợp đồng. Ngoài ra, với sự phát triển mạnh của công 4.0 đang tác động rất sâu sắc tới phương thức giao kết, tổ chức thực hiện hợp đồng mang tính truyền thống tạo ra những luận điểm pháp lý nhằm đơn giản hoá thủ tục giao kết, thực hiện hợp đồng nhằm giảm chi phí về thời gian cũng như tiền bạc cho các tổ chức, cá nhân khi tham gia quan hệ hợp đồng. Nhiệm vụ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa “tạo dựng môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội cho phát triển, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, có trật tự, kỷ cương” và “thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào nền kinh tế thị trường”. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Việc áp dụng quy định pháp luận từ lý luận đến thực tiễn về hợp đồng và giao kết hợp đồng trong đó có nội dung liên quan đến điều kiện chấp nhận hợp đồng hiện nay tại Việt Nam đang phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cần được nhận diện đầy đủ để có giải pháp khắc phục. Những bất cập, khó khăn trong quá trình và tiến trình xây dựng, áp dụng quy định của pháp luật dân sự xuất phát từ nhiều yếu tố, nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Trong khi, các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng chưa thực sự ý thức hết được vai trò quan trọng của pháp luật đối với việc giao kết và trách nhiệm đối với giao kết, chưa nắm được và thông hiểu các quy định của pháp luật về hợp đồng nên nhiều những điều kiện xuất phát từ đề nghị đến chập nhận đề nghị giao kết hợp đồng có chứa đựng sai sót, ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của hợp đồng cũng như dẫn đến sự vô hiệu của các giao kết. Ngoài tra, nhiều công chức thực hiện chức năng hành chính công còn hiểu khá cứng nhắc, quan liêu, đôi khi máy móc về các quy định của pháp luật về các quan hệ giao kết mà bản chất là xuất phát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện. Vì vậy, đã tạo nên sức ép khá lớn cho việc áp dụng pháp luật mềm dẻo, linh hoạt trong thực tiễn. Thực tế cho thấy, pháp luật về hợp đồng nói chung và giao kết hợp đồng nói riêng còn nhiều bất cập, một số quy định khá cứng nhắc, khó áp dụng trong thực tiễn. Không những vậy, khi nghiên cứu và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng hiện nay còn thiếu nhiều quy định của một chế định hợp đồng hiện đại, chưa thật phù hợp để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là điều kiện về giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Thực chất, việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nói chung và pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng không hề đơn giản bởi các quy định của pháp luật về hợp đồng ở nước ta hiện nay đang nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Pháp luật dân sự cụ thế trong BLDS năm 2015 mới chỉ khắc phục được phần nào sự tản mát, thiếu thống nhất và giảm thiểu những mâu thuẫn nhỏ trong các quy định về hợp đồng nói chung và quy định về giao kết hợp đồng nói riêng tại Việt Nam. Vì vậy, việc hoàn thiện và từng bước nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng đòi hỏi phải đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ và lô gíc giữa các tiêu chí, giữa các lĩnh vực điều chỉnh khác nhau của pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành cũng như khả năng dự liệu những tình huống phát sinh trong thực tiễn. Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng nhằm phục vụ tốt hơn cho việc ký kết, thực hiện hợp đồng giữa các tổ chức, cá nhân, bởi vậy cần có sự tương thích với yêu cầu của chính sách phát triển chung của đất nước. Nhưng ở bất kỳ góc độ nào cũng cần phải đảm bảo pháp luật phải hài hòa và tương thích pháp luật quốc tế.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Việt Nam trong tiến trình hội nhập và thích ứng với xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, pháp luật điều chỉnh hoạt động về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cần phải có sự thay đổi cơ bản để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia quan hệ dân sự. Xét về thực chất, khi xây dựng giải pháp pháp luật về giao kết hợp đồng một mặt phải tuân theo nguyên tắc của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt khác phải tuân thủ và thực thi triệt để chủ trương, chính sách, đường hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bên cạnh việc xây dựng, kiện toàn pháp luật, một vấn đề cấp bách đặt ra cần phải nâng cao hiệu quả và năng lực thực thi pháp luật. Thực tế cho thấy, hệ thống pháp luật hay các văn bản pháp quy dù hay tới đâu nhưng nếu chỉ nằm trên bàn giấy hay chỉ mang tính nguyên tắc, không mang tính thực tiễn, không đi vào đời sống xã hội thì cũng không phải là pháp luật tốt. Để đưa pháp luật vào cuộc sống không chỉ cần phải nghiên cứu, quan tâm giải quyết đồng bộ, đồng thời nhiều vấn đề, nhiều mặt, trong đó việc nâng cao việc giáo dục nhận thức và am hiểu pháp luật. Ý thức chấp hành, thực thi pháp luật của mỗi tổ chức, cá nhân giữ vai trò đặc tiên quyết. Bên cạnh đó cần phải thiết lập, tổ chức vận hành hiệu quả cơ chế, quy chế phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật trong việc giao kết hợp đồng.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn pháp luật về hợp đồng, trong đó phạm vi nghiên cứu cụ thể là “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”. Quá trình nghiên cứu đặc điểm pháp lý, bản chất của chấp nhận hợp đồng cũng như các điều kiện của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thông qua những nội dung điều chỉnh pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Phân tích thực trạng và thực tiễn pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trên cơ sở các điều kiện, tính hiệu lực và những cơ sở pháp luật quy định thay đổi, điều chỉnh, hủy bỏ hợp đồng, tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sau đây:
3.2.1 Hoàn thiện khái niệm về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Theo BLDS 2015 quy đinh tại Điều 393, Khoản 1 có định nghĩa chính thức như sau: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.”. Định nghĩa này không có sự thay đổi so với BLDS 2005 được nêu tại Điều 396. Trong BLDS 2012 có sự khác bổ sung khoản 1 Điều 393, theo đó: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”. Điều 394, BLDS 2015 về thời hạn trả lời tại Khoản 1 quy định: “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời đồng thời khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”. Soi chiếu Điều 397 BLDS 2005 có thể nhận thấy BLDS 2015 đã có những điểm mới quy định rõ hơn về thời hạn chấp nhận giao kết hợp đồng. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, xuất phát từ định nghĩa này có thể xác định lời chấp nhận chỉ được xem là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng khi có đầy đủ hai yếu tố bao gồm: (1) “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó” đồng thời, cũng trong điều này nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời. Điều này có nghĩa, bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ bên được đề nghị chuyển thành bên đề nghị giao kết hợp đồng. (2) tại Khoản 2, BLDS 2015, Điều 394 quy định: “Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị”. Theo định nghĩa chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 396, BLDS 2005, theo đó: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”. Điều 393, BLDS 2015, theo đó, tại Khoản 1 điều này vẫn được nhắc lại nội dung Điều 396, BLDS 2005 đồng thời BLDS 2015 có bổ sung định nghĩa về chấp nhận giao kết hợp đồng cụ thể: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”. Trong thực tế, theo quy định tại Khoản 1, Điều 393, việc chấp nhận là chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị sẽ là vấn đề rất khó khăn và trong nhiều trường hợp sẽ mất đi nguyên tắc tự do ý chí của các bên mà trong đó cụ thể là bên được mời chấp nhận hợp đồng. Ngoài ra, tại khoản 2, Điều 393, BLDS 2015 có nêu “trừ trường hợp có thỏa thuận khác hay theo thói quen được xác lập giữa các bên” từ đây dẫn đến việc “ngầm hiểu, hiểu sai” bản chất đích thực của quy định và tính chất tiêu chuẩn pháp lý dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng và công tác xét xử. Quy định này có phần hơi khác biệt với Luật hợp đồng của Trung Quốc năm 1999 tại Điều 21, theo định nghĩa này: “Chấp nhận giao kết là sự bày tỏ ý định chấp nhận đề nghị giao kết người nhận đề nghị giao kết”. Nhưng khi đối chiếu Pháp luật của CHLB Nga về giao kết hợp đồng, theo đó, pháp luật ghi nhận nguyên tắc này tại khoản 1, Điều 438 Bộ luật dân sự CHLB Nga chỉ ra: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị giao kết hợp đồng về việc đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện”. Ngoài ra, Điều 438, khoản 2 của Bộ luật này qui định:” Sự im lặng không được xem là chấp nhận, trừ khi có sự khác biệt phát sinh từ pháp luật, từ tập quán kinh doanh, hoặc từ quan hệ trước đó giữa các bên” thì pháp luật dân sự của Việt Nam lại khá tương đồng. Ngược lại, với BLDS Việt Nam và Pháp, Bộ luật Dân sự Đức năm 1900 đưa ra: “việc chấp nhận bằng im lặng là hợp pháp nếu có thể lý giải được sự im lặng đó phù hợp với tập quán chung, hoặc nếu người đề nghị thỏa mãn như vậy. Đồng thời, theo quy định tại Điều 151 thì: “Hợp đồng được giao kết bởi chấp nhận đề nghị, không cần thiết rằng người đề nghị được thông báo về chấp nhận, nếu việc thông báo như vậy không hoàn toàn bình thường theo tập quán chung, hoặc nếu người đề nghị đã khước từ nó. Thời điểm mà đề nghị mãn hạn được xác định phù hợp với ý chí của người đề nghị thể hiện trong đề nghị hoặc hoàn cảnh”. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Nghiên cứu pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, theo các luật gia Unidroit chỉ ra rằng việc chấp nhận bằng hành động trước tiên với việc phân loại đề nghị. Theo đó, các luật gia đề nghị có thể được chia thành hai loại căn cứ vào điều kiện về hình thức chấp nhận: “Một loại là đề nghị có qui định hình thức chấp nhận” và loại kia “đề nghị không qui định hình thức chấp nhận” đồng thời, để làm rõ quy định về thỏa thuận khác hay trong tập quán, thói quen thương mại… thì người đề nghị không thể đơn phương tuyên bố trong đề nghị của mình rằng đề nghị được coi là chấp nếu không trả lời hoặc giữ im lặng, bởi người đề nghị là bên đề xướng hợp đồng và người được đề nghị có quyền tự do lựa chọn trả lời hoặc phớt lờ lời đề nghị. Từ đây, tác giả có kiến nghị các nhà làm luật cần xem xét, vận dụng hài hòa pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Bởi nếu xét theo phương ngữ thông thường giống như khi phân tích hình thức hợp đồng, chấp nhận cũng có hình thức biểu hiện như vậy chứng minh cho sự chấp nhận. Các hình thức đó bao gồm văn bản, lời nói, cử chỉ hay hành động, hoặc sự im lặng hay không hành động mà không thể hiện rõ trong quy định pháp luật dẫn đến việc suy diễn hoặc hiểu sai lệch bản chất của pháp luật sẽ làm méo mó đi bản chất pháp luật. Đồng thời việc buộc người nhận được đề nghị phải trả lời mỗi lần chấp nhận theo tác giả Vũ Văn Mẫn không khác nào xâm phạm vào quyền tự do không kết ước của họ. Do đó, không thể suy diễn im lặng là đồng ý.
Như vậy, việc làm rõ tính chất của chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng và làm sáng tỏ khái niệm về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trong đó hai phạm vi cơ bản khi tuyên bố ý chí chấp nhận rõ ràng và mặc nhiên chấp nhận thì sẽ được áp dụng như thế nào. Đồng thời cần làm rõ, trường hợp im lặng có được xem là đồng ý, là chấp nhận đề nghị giao kết hay không? Trường hợp có thì trong trường hợp cụ thể nào không thể để các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật tự ngầm hiểu hay suy diễn pháp lý. Hoàn thiện khái niệm về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm hoàn thiện văn bản pháp luật dân sự về hợp đồng nói chung cũng như quy định về đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng, không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn nhằm tương thích với nhu cầu và xu thế phát triển với pháp luật thế giới.
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về tính hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Trong quan hệ pháp luật dân sự, việc xác định tính hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mang một ý nghĩa quan trọng đảm bảo quyền và nghĩa vụ các bên trong việc đề nghị giao kết và tính hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng. Việc xác định thời điểm chính xác bên được đề nghị có thể chấp nhận đề nghị từ đó làm cơ sở ràng buộc trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ dân sự với bên đề nghị đồng thời qua đó xác định trước khi đề nghị có hiệu lực, bên đề nghị có quyền rút lại đề nghị giao kết hợp đồng.
Theo quy định BLDS 2015, không có điều khoản cụ thể nào quy định về tính hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ có quy định về hiệu lực của hợp đồng quy định tại Điều 401, BLDS 2015, theo đó: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác”. Do vậy, có thể xem Điều 394, BDLS 2015 về thời hạn trả lời có căn cứ áp dụng hiệu lực. Theo quy định Khoản 1 Điều 394, quy định: “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời” và tại Khoản 2 nêu ra: “Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị” đồng thời pháp luật cũng nêu ra khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời.
Khi so sánh pháp luật hợp đồng Trung Quốc năm 1999 tại Điều 26 về hiệu lực hợp đồng: “Thông báo chấp nhận có hiệu lực khi nó tới tới người đưa ra đề nghị giao kết. Trường hợp chấp nhận giao kết không yêu cầu thông báo, chấp nhận có hiệu lực khi hành vi chấp nhận được thực hiện phù hợp với thông lệ liên quan hoặc như yêu cầu tại đề nghị giao kết”. Ngoài ra, tại Điều 33, cũng nêu rõ thời điểm hiệu lực đối với thư hoặc thông điệp điện tử, theo đó: “Trường hợp các bên giao kết hợp đồng thông qua việc trao đổi thư hoặc các thông điệp điện tử, một bên có thể yêu cầu thực hiện một thư xác nhận trước khi hợp đồng được thiết lập. Hợp đồng này được thiết lập sau khi có thư xác nhận”. Cũng trong khôn khổ pháp luật dân sự Trung quốc 1999 cũng đã đề cập quy định đối với việc chấp nhận giao kết quá hạn hoặc việc chuyển chấp nhận giao kết bị trì hoãn, chấp nhận giao kết có những thay đổi cơ bản để hướng dẫn chủ thể thực thi giao kết đúng luật. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit về hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng chậm hơn quy định, chúng ta thấy có sự tương đồng giữa các văn bản nay, tất cả đều ghi nhận nguyên tắc chung rằng, một chấp nhận giao kết Hợp đồng có hiệu lực khi chấp nhận này đến bên đề nghị trong thời hạn quy định hoặc trong một thời gian hợp lý nếu không có quy định gì về thời hạn (khoản 2 Điều 18 Công ước Viên và điểm 2 khoản 1 Điều 2 Bộ nguyên tắc Unidroit). Hơn nữa, cũng giống BLDS, Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit đều quy định ngoại lệ cho trường hợp trả lời chấp nhận chậm trễ nhưng vẫn có thể được xem là đến đúng hạn và còn hiệu lực. Cụ thể, Điều 21 Công ước Viên quy định “1. Một chấp nhận chào hàng muộn màng cũng có hiệu lực của một chấp nhận nếu người chào hàng phải thông báo bằng lời nói không chậm trê cho người nhận chào hàng hoặc gửi cho người này một thông báo về việc đó; 2. Nếu thư từ hay văn bản khác do người nhận chào hàng gửi đi chứa đựng một sự chấp nhận chậm trễ mà thấy rõ rằng nó đã được gửi đi trong những điều kiện mà nếu sự chuyển giao bình thường thì nó đã đến tay người chào hàng kịp thời thì sự chấp nhận chậm trễ được coi như chấp nhận đến kịp thời.
Thông qua nghiên cứu hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới và thực tiễn pháp luật Việt Nam cụ thể là BLDS 2015 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tác giả kiến nghị giữ lại Khoản 1 Điều 394, BLDS 2015 đồng thời tách Khoản 2 Điều 394 thành một điều luật riêng đồng thời bổ sung làm rõ điều kiện khách quan cũng như các điều kiện khác đảm bảo tính hiệu lực cũng như công bằng cho các bên tham gia giao kết dân sự. Đồng thời, cần xem xét bổ sung điều khoản cụ thể về hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tránh hiểu sai hoặc suy diễn. Bên cạnh đó, việc bổ sung điều khoản về rút lại chấp nhận giao kết và chấp nhận giao kết quá hạn cũng như các điều kiện giao kết bị trì hoãn hoạc có những thay đổi cơ bản sẽ phải được thực hiện như thế nào. Cơ sở và hành lang pháp lý điều chỉnh trước, trong và sau quá trình chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, xu thế pháp luật khu vực và trên thế giới về các yêu cầu, nội dung thay đổi, rút lại chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhằm phù hợp với thực tiễn xã hội và tương đồng với luật pháp trong khu vực và trên thế giới.
3.2.3 Hoàn thiện quy định thay đổi, rút lại, hủy bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Trong thực tế đời sống xã hội hiện nay, một điều chắc chắn sẽ không thể đi đến hợp đồng nếu không có sự tồn tại của tự do ý chí, sự thống nhất ý chí và sự thiện chí, trung thực. Bản chất của hợp đồng là kết quả của sự gặp gỡ ý chí giữa các chủ thể tham gia giao kết và cũng là tiền đề, là điều kiện bắt buộc để một giao kết được xác lập. Tuy nhiên, cần phải có sự tồn tại của điều kiện tiên quyết, đó là ý chí giao kết phải hiện hữu. Khi nghiên cứu pháp lý, so sánh các văn bản quốc tế và hệ thống pháp luật của một số quốc gia như Pháp, Đức, của Anh – Mỹ, nói chung và một số quốc gia có nền tư pháp tiên tiến thừa nhận rằng: “sự hiện hữu của ý chí chỉ được ghi nhận một khi nó được bộc lộ ra ngoài và ở trong tình trạng có thể được người khác nhận biết”. Pháp luật nước ta hiện nay, cụ thể pháp luật dân sự mà trong đó được thiết lập bằng BLDS đã vận dụng kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật của các nước để hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Nguyên tắc của tự do ý chí, của sự thống nhất ý chí cũng chính là nguyên tắc để bên đề nghị được quyền đưa ra đề nghị, được quyền thay đổi và rút lại đề nghị thì bên chấp nhận đề nghị cũng vậy, quyền và nghĩa vụ trong giao kết hợp đồng là công bằng tương đối. Trong thực tế, có nhiều trường hợp bên được đề nghị đã gửi thông báo chấp nhận đề cho bên đề nghị về việc chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng. Tuy nhiên, xuất phát từ lý do nào đó bên được đề nghị lại muốn thay đổi, rút lại thông báo đã gửi đi đó. Như vậy, việc thay đổi hay thông báo rút lại chấp nhận đề nghị đã gửi đi trong trường hợp này theo quy định pháp luật cụ thể BLDS 2015 có giá trị pháp lý như thế nào và ý nghĩa của hiệu lực về thời điểm thông báo được quy định và áp dụng như thế nào?
Theo Điều 397 BLDS 2015, quy định cho phép chủ thể được đề nghị giao kết Hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết Hợp đồng. Tuy nhiên, không như quy định với bên đề nghị giao kết Hợp đồng, tại Điều 389, BLDS 2015 quy định tại Khoản b, chỉ rõ: “Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh”. Tại điều 397, BLDS 2015 quy định về thông báo chấp nhận hợp đồng, theo đó: “Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng”. Ngoài ra, theo BLDS 2015 không cho phép bên được đề nghị sửa đổi, bổ sung trả lời chấp nhận. Nguyên nhân là do xuất phát từ nguyên tắc: chấp nhận giao kết Hợp đồng phải là chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”. Từ những phân tích trên có thể nhận thấy có những sự bất bình đẳng giữa bên đề nghị giao kết hợp đồng và bên được mời hay là bên chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng.
Ngoài ra, theo Điều 395, BLDS 2015 quy định: “Trường hợp bên đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị” và BLDS 2015 quy định tại Điều 396 quy định trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì “thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị. Trong trường hợp này, khi nghiên cứu về nguyên tắc tự do ý chí thì người thân bên chấp nhận đề nghị không hẳn đã tự nguyện và vì quy định pháp luật bắt buộc, buộc phải thực hiện dẫn đến quy định bị phá vỡ nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật dân sự đó là quyền tự do, tự nguyện. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Để làm rõ hơn, theo Điều 397, BLDS 2015, quy định về rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, theo đó: “Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng”. Đối chiếu với Điều 27, Luật hợp đồng Trung Quốc 1999, quy định: “Một chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được rút lại. Thông báo rút lại phải tới người đề nghị giao kết trước hoặc cùng lúc với chấp nhận giao kết. Ngoài ra, theo Điều 28 quy định về giao kết quá hạn thì “Một chấp nhận giao kết do người nhận được đề nghị giao kết gửi sau khi đã hết hạn cho việc chấp nhận sẽ được coi như một đề nghị giao kết mới, trừ khi người đưa ra đề nghị giao kết thông báo kịp thời cho người nhận đề nghị rằng chấp nhận giao kết đó có giá trị”. Ngoài ra, cần nghiên cứu, xem xét điều chỉnh hành lang pháp lý trước, trong và sau quá trình chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Việc xem xét sửa đổi bổ sung quy định vừa phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật, vừa phải đảm bảo sự thể hiện ý chí đích thực của bên đề nghị giao kết và bên được đề nghị giao kết nhưng vẫn phát huy vai trò tự do ý trí, tự do giao kết, và có hướng mở đồng thời phải tương thích, phù hợp với xu hướng pháp luật quốc tế hiện nay.
3.2.4. Kiến nghị về hình thức của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Trong thực tiễn việc áp dụng và thực thi pháp luật, nhiều trường hợp khi tham gia vào giao dịch dân sự theo BLDS 2015 của Việt Nam và phát hiện hiệu lực của hợp đồng dân sự do có vi phạm về hình thức. Do đó, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân sự cũng như pháp luật về giao kết hợp đồng tránh rủi ro các bên hoặc những rủi ro về hình thức sẽ dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng và các quan hệ giao kết bị phá vỡ. Vì vậy, tác giả kiến nghị các cơ quan xây dựng văn bản cần nghiên cứu, xem xét và hoàn thiện quy định về hình thức hợp đồng nói chung và đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng theo hướng: một mặt thừa nhận quyền tự do hình thức của các bên trong giao dịch, mặt khác nhằm siết chặt trật tự pháp lý, đảm bảo an toàn trong giao dịch giữa các bên cũng như đảm bảo lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng trong mối hài hoà với lợi ích của cá nhân, tổ chức. Theo đó, cần quy định rõ trong luật thực định những quy định về hình thức của đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợp đồng hợp đồng đặc biệt liên quan đến bất động sản cần phải là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
3.2.5. Kiến nghị nghiên cứu bổ sung quy định về huỷ bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Nghiên cứu BLDS Việt Nam 1995, 2005 & 2015 cũng như văn bản pháp luật của Việt Nam hiện nay không tìm thấy bất kỳ quy định nào cụ thể, rõ ràng quy định về hủy bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Do đó, tác giả luận văn kiến nghị những nhà làm luật khi xây dựng pháp luật về giao kết hợp đồng cần nghiên cứu pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội đồng thời kiến nghị xem xét lại quy định này trên cơ sở tham khảo quy định của Hoa Kỳ để đảm bảo quyền tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng, tránh gây những thiệt hại mà bên đề nghị có thể dự phòng được. Có lẽ quy định của pháp luật Hoa Kỳ về quyền tự do rút đề nghị sẽ là quy định phù hợp hơn với thực tiễn, có tính khả thi cao và có thể vận dụng vào pháp luật hợp đồng ở Việt Nam cho lần sửa đổi tới của Bộ luật dân sự về giao kết hợp đồng. 5.5. Kiến nghị về các trường hợp chấm dứt hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng. Để tăng thêm tính khả thi và phù hợp của quy định về chấm dứt hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, cần thiết có sự điều chỉnh và bổ sung một trường hợp tại Điều 394 là “những trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, cần xem xét bổ sung các trường hợp cụ thể về hủy bỏ hiệu lực của chấp nhận nghị giao kết hợp đồng để tăng thêm tính khả thi và phù hợp của quy định về chấm dứt hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, cần thiết có sự điều chỉnh và bổ sung. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Tiểu kết Chương 3
Nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật dân sự là nhiệm vụ tối thượng của nền tư pháp quốc gia và là một trong những đòi hỏi cấp thiết trong tiến trình phát triển mới của kinh tế, xã hội nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp cận và tăng cường hội nhập đa phương với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Xây dựng và kiện toàn các quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chính là xây dựng hành lang pháp lý mở cho việc thực hiện quan hệ dân sự thông qua hình thức giao kết hợp đồng của các tổ chức, cá nhân. Việc xây dựng, hoàn thiện phải đảm bảo mục tiêu quản lý xã hội của Nhà nước, lợi ích quốc gia dân tộc, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đồng thời phải tương thích với pháp luật, tập quán thương mại quốc tế để phục vụ tốt hơn cho yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ luật học, tác giả luận văn tập trung phân tích, so sánh những vấn đề mang tính thực tiễn chứng minh sự cần thiết cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam trong đó có BLDS Việt Nam năm 2015 nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự, thương mại, kinh tế linh hoạt nâng cao tính cạnh tranh chính là động lực thu hút đầu tư, tạo điều kiện mở cho sự phát triển nền kinh tế xã hội.
Xuất phát từ quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ cơ sở lý luận thông qua những khái niệm về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, phân tích các đặc điểm pháp lý về cả tính chất và bản chất của quan hệ dân sự trong đó có nội dung nghiên cứu là “chấp nhận giao kết hợp đồng”. Với tư cách là một đạo luật chung, việc đánh giá thực trạng của pháp luật dân sự và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc chung cho việc giao kết hợp đồng thông qua các thủ tục trên để định hướng cho các quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, đảm bảo sự thống nhất giữa quy định của luật chung và quy định của các văn bản pháp luật chuyên ngành hiện nay.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Bộ Luật dân sự 2015 của Việt Nam hiện nay được xem là đạo luật điều chỉnh mọi quan hệ dân sự trong đời sống kinh tế xã hội, đồng thời là văn bản pháp lý quan trọng và cũng là sản phẩm được tạo ra từ yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Trong tiến trình hội nhập và phát triển, Việt Nam đã dần khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế và biết đến là một đất nước có nền kinh tế ổn định tăng trưởng và phát triển năng động. Việc nghiên cứu về “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” mang ý nghĩa và giá trị thiết thực giúp cho các chủ thể khi tham gia vào giao dịch dân sự không chỉ mang ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn bằng việc cung cấp nhận diện đầy đủ các nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện pháp lý làm cơ sở để thực hiện hợp đồng. Với mục đích của đề tài nghiên cứu, Luận văn đã ghi nhận được một số kết quả sau:
Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn đã làm sáng tỏ và hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng trong đó có chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Công trình nghiên cứu đã tìm hiểu, soi chiếu, viện dẫn các quy định pháp luật về hợp đồng trên thế giới, pháp hệ thống pháp luật điển hình, pháp luật của một số quốc gia cũng như từ cơ sở nghiên cứu về pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS năm 2015. Nghiên cứu, phân tích các đặc điểm pháp lý, quan điểm chuyên gia, góc nhìn thực tiễn về giao kết hợp đồng từ đó khái quát chỉ ra khung lý thuyết nghiên cứu đánh giá để hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ thực tiễn BLDS 2015 của Việt Nam hiện nay.
Luận văn đã chỉ ra vài trò, ý nghĩa và thực trạng hệ thống pháp luật dân sự hiện nay từ góc nhìn BLDS 2015 của Việt Nam cũng như pháp luật dân sự thế giới trong phạm vi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Nghiên cứu chỉ ra những những quy định của pháp luật quốc tế và một số hệ thống pháp lý điển hình, đặc điểm, đặc trưng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu đánh giá, kiến nghị để xây dựng pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhằm từng bước hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam trong thời kỳ mới. Thông qua việc so sánh, đánh giá tổng hợp, nhận diện những ưu nhược điểm để xây dựng các thiết chế pháp luật điều chỉnh phù hợp vừa đảm bảo tính khả thi, tương thích với điều kiện, đặc thù, hoàn cảnh của nước ta, vừa đảm bảo tương thích với pháp luật khu vực và thông lệ quốc tế.
Luận văn được nghiên cứu một cách khách quan, xuất phát từ yêu cầu và nhu cầu thực tiễn của sự phát triển kinh tế xã hội. Nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là quá trình phức tạp và liên quan đến nhiều loại hình giao dịch dân sự khác nhau, nhiều chủ thể khác nhau. ì vậy, khả năng áp dụng và ứng dụng sẽ phổ biến mang tầm quan trọng trong việc mở rộng nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện nay. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Luận văn đã chỉ ra nhiệm vụ nghiên cứu, tiến trình khoa học, đối soát và soi chiếu hệ thống pháp lý về giao kết hợp đồng. Những kiến nghị hoàn thiện về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đưa ra trên cơ sở các phân tích, có căn cứ khoa học, tính thực tiễn, tính khả thi và khả năng vận dụng, ứng dụng không chỉ đối với các cơ quan chức năng, tổ chức mà còn các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có thể áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội, nâng cao khả năng nhận thức pháp luật và thực thi pháp luật trong việc thực hiện lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo BLDS 2015 là một đề tài mới, phạm vi rộng, tính chất phức tạp và chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm pháp luật khác nhau nên trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế và chưa thực sự phân tích và đánh giá đầy đủ bản chất và mục đích của đề tài. Tác giả luật văn rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân quan tâm để bổ sung, hoàn thiện và phát triển đề tài nghiên cứu. Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng