Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Vướng mắc của quy định pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân trải qua các giai đoạn lịch sử, được các nhà làm luật quan tâm và thể chế hóa vào các văn bản pháp luật. Trong quá trình giải quyết các vụ việc trong thực tiễn đời sống, chế định này đã cho thấy sự phù hợp nhất định, phần nào đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan áp dụng pháp luật, góp phần tích cực vào công tác ngăn chặn, hạn chế thiệt hại xảy ra, đảm bảo quyền và lợi ích cho mọi chủ thể. Mặc dù bộ luật dân sự 2015 đã có nhiều điểm đổi mới, tiến bộ về vấn đề này nhưng khi áp dụng những quy định đó vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, không khả thi, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến hiệu quả giải quyết các vụ việc chưa cao, vẫn còn tồn động, tốn kém thời gian và tiền bạc. Xuất phát từ việc nhìn nhận những điểm bất cập, tình hình cụ thể đối với thực trạng áp dụng pháp luật, tác giả xin nêu ra một số vướng mắc để từ đó có giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân:

Thứ nhất, Khoản 1 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”. Tức là, người từ đủ mười tám tuổi trở lên, bao gồm cả đối tượng mất năng lực hành vi dân sự, cứ gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Lại đối chiếu xuống khoản 3 Điều luật này:

… Người mất năng lực hành vi dân sự (…) gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

  • Dễ dàng thấy sự không thống nhất trong cùng một Điều luật.

Thứ hai, xác định hậu quả pháp lý trong trường hợp cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại phải tự bồi thường thiệt hại mà không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại.

Hiện nay, bộ luật dân sự 2015 vẫn chưa có sự điều chỉnh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này, cho nên người bị thiệt hại sẽ phải chịu rủi ro không được đền bù thiệt hại.

Thứ ba, chưa có sự quy định rõ ràng về thời điểm xác định độ tuổi và tài sản

Thời điểm xác định độ tuổi của cá nhân để truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với người chưa thành niên, điều này có ý nghĩa hoàn toàn khác biệt để xác định trách nhiệm thuộc về người chưa thành niên hay cha, mẹ, người giám hộ. Cũng như thời điểm xác định độ tuổi, việc quy định về thời điểm xác định tài sản của người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của người bị thiệt hại.

Thứ tư, quy định chưa thống nhất trong trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại mà còn cha, mẹ, đồng thời đang được giám hộ Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Trường hợp này thì nên áp dụng theo quy định tại khoản 2 hay là khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015. Theo khoản 2 thì người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về cha, mẹ; Còn người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về chính họ. Trong khi theo khoản 3 thì người chưa thành niên gây thiệt hại có người giám hộ thì trách nhiệm bồi thường lại thuộc về người giám hộ (nếu như người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường hoặc người giám hộ không chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ). Như vậy, cùng đối tượng gây thiệt hại nhưng chủ thể có trách nhiệm bồi thường lại được quy định khác nhau ở 2 Điều khoản.

Thứ năm, chưa có quy định điều chỉnh rõ ràng đối với trường hợp người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại.

Pháp luật dân sự chưa có quy định khi đối tượng này gây thiệt hại mà vẫn còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; Cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về ai khi xảy ra hành vi trái pháp luật của con mình. Trường hợp người được giám hộ không còn cha, mẹ; Không xác định được cha, mẹ hoặc có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; Cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; Cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đồng thời người giám hộ lại chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì người bị thiệt hại phải chịu rủi ro vì yêu cầu bồi thường không được thực hiện.

Thứ sáu, quy định chưa hợp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý

Khoản 1 Điều 599 bộ luật dân sự 2015 quy định “Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra” là chưa hợp lý. Như đã phân tích ở chương 2, hành vi của người chưa thành niên trong thời gian học tập tại nhà trường không chỉ là kết quả của quá trình giáo dục của nhà trường, mà còn chịu ảnh hưởng từ phía gia đình, mà trong đó vai trò của cha, mẹ rất quan trọng.

  • Cũng tại Điều 599 bộ luật dân sự 2015, khoản 3 quy định:

Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường. Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Dễ thấy, Điều khoản này chưa quy định rõ ràng về việc cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình hay lấy tài sản của người gây thiệt hại để bồi thường. Điều này dẫn đến tình trạng khó khăn trong giải quyết mâu thuẫn, hoặc gây ra sự thiếu đồng bộ khi áp dụng pháp luật trên thực tế.

Thứ bảy, chưa có quy định khi xảy ra trường hợp người phải bồi thường chết sau khi gây thiệt hại.

Nếu nghĩa vụ để lại không mang tính nhân thân thì người được hưởng di sản thừa kế của người chết để lại sẽ thừa kế cả nghĩa vụ về tài sản này theo quy định của pháp luật về thừa kế và các chế định liên quan. Còn nếu người bồi thường chết mà không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản; Hay có người thừa kế nhưng người đã chết không để lại tài sản gì thì phải giải quyết như thế nào đối với thiệt hại đã xảy ra?

Thứ tám, chưa có quy định cụ thể để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người phải bồi thường rơi vào tình trạng không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi sau khi gây ra thiệt hại, hoặc khi gây thiệt hại, người này đang ở trong trạng thái này, tuy nhiên chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hay có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Về mặt nguyên tắc, người gây thiệt hại vào thời điểm chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó mà theo quy định của Điều 586 bộ luật dân sự 2015 thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong khi trên thực tế ở thời điểm gây thiệt hại, họ đã không thể, không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi và hậu quả của hành vi đó, nên cũng không có khả năng gánh chịu trách nhiệm dân sự. Vậy quy định như thế nào đối với trường hợp này mới hợp lý để bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại là vấn đề cần phải nghiên cứu.

Thứ chín, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trong trường hợp người dùng chất kích thích gây ra Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Giống như quy định tại Điều 615 bộ luật dân sự năm 2005, Điều 596 bộ luật dân sự năm 2015 cũng không đề cập đến trường hợp một người vô ý dùng chất kích thích làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi gây thiệt hại. Chẳng hạn, bác sĩ kê nhầm thuốc cho bệnh nhân, khiến bệnh nhân bị rối loạn nhận thức gây thiệt hại cho người khác. Trong trường hợp này, rõ ràng người sử dụng chất kích thích có lỗi vô ý nên không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo khoản 2 Điều 596 bộ luật dân sự 2015 “Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Đối với người gây thiệt hại, bản thân họ không có nhận thức tại thời điểm gây thiệt hại, đồng thời họ không có lỗi trong việc sử dụng chất kích thích dẫn đến mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, nên nếu buộc họ phải bồi thường cũng không phù hợp, hơn nữa cũng không có cơ sở. Tuy nhiên, nếu người bị thiệt hại không được bồi thường sẽ không phù hợp với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật này cũng như các nguyên tắc chung của Luật dân sự.

Thứ mười, khó khăn khi áp dụng điều kiện buộc người giám hộ bồi thường.

Để áp dụng điều kiện buộc người giám hộ phải bồi thường thì người gây thiệt hại phải là người được giám hộ. Theo quy định của pháp luật dân sự, một người không có khả năng nhận thức và được Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì mới được coi là người được giám hộ. Quy định này là phù hợp tuy nhiên có nhược điểm là sẽ ủng hộ sự vô trách nhiệm của người thân người mất khả năng nhận thức và buộc người bị thiệt hại chịu rủi ro từ sự vô trách nhiệm này. Vì người không có khả năng nhận thức gây thiệt hại mà chưa được Tòa án tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ sẽ thoát khỏi các quy định về trách nhiệm của người giám hộ.

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Để bảo vệ quyền, lợi ích của người bị thiệt hại cần xác định rõ những hạn chế, bất cập và tìm hiểu các giải pháp khắc phục, qua đó góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân nói riêng. Qua nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài, tác giả xin đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân:

Thứ nhất, nên quy định thống nhất lại Điều 586 bộ luật dân sự 2015 về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân. Cần sửa đổi khoản 1 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 thành “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”.

Thứ hai, bổ sung quy định đối với trường hợp cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại phải tự bồi thường thiệt hại mà không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại thì phải xử lý như thế nào?

Nên bổ sung quy định về tính lãi suất đối với khoảng thời gian mà người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa bồi thường, hoặc bồi thường chưa đủ, chẳng hạn lãi suất bồi thường chậm này sẽ tính bằng với lãi suất cơ bản của ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Quy định bổ sung này sẽ thúc đẩy khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đảm bảo quyền và lợi ích của người bị thiệt hại.

Thứ ba, thời điểm xác định độ tuổi và tài sản nên được quy định rõ ràng.

Như đã phân tích ở mục 2.2.1, để đảm bảo nguyên tắc thiệt hại được bồi thường toàn bộ và kịp thời, theo tác giả nên quy định xác định độ tuổi vào thời điểm gây thiệt hại, nhằm tạo điều kiện cho nạn nhân sớm được bồi thường. Bởi càng xét tuổi muộn thì khả năng áp dụng chế định này càng ít và do đó người bị thiệt hại không có nhiều cơ hội yêu cầu áp dụng chế định mà chúng ta đang nghiên cứu để quy trách nhiệm cho cha, mẹ của người gây thiệt hại khi người gây thiệt hại không có hay không có đủ tài sản. Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Còn đối với việc xác định tài sản, nên xác định tại thời điểm bồi thường là hợp lý nhất. Bởi nếu xác định tài sản tại thời điểm có hành vi trái pháp luật như đối với việc xác định độ tuổi thì phải quay lại quá khứ để xác định tài sản, điều này là rất khó khăn. Mặt khác, mục đích cuối cùng là để người bị thiệt hại được bồi thường, nên quan trọng là tại thời điểm giải quyết bồi thường, người có nghĩa vụ bồi thường có khả năng về tài chính hay không.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung quy định điều chỉnh trong trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại mà còn cha, mẹ, đồng thời đang được giám hộ.

Cần sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên còn cha, mẹ, đồng thời có người giám hộ gây ra, để tạo tính thống nhất, chặt chẽ với các trường hợp còn lại. Đồng thời tránh gây ra mâu thuẫn giữa khoản 2 và khoản 3 của Điều 586 bộ luật dân sự 2015.

Thứ năm, cần quy định rõ ràng hậu quả pháp lý trong trường hợp người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại.

Nên quy định chi tiết khi đối tượng này gây thiệt hại mà vẫn còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; Cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ thì cha, mẹ vẫn phải bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con mình gây ra.

Trong trường hợp người được giám hộ không còn cha, mẹ; không xác định được cha, mẹ hoặc có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đồng thời người giám hộ lại chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì ai sẽ là người bồi thường thiệt hại? Cần đưa ra quy định cụ thể về thứ tự người nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp này.

Thứ sáu, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý cần được quy định là trách nhiệm liên đới của cả hai bên nhà trường và cha, mẹ. Tránh tình trạng phó thác việc giáo dục trẻ em cho một bên nào. Bởi vậy, khoản 1 Điều 599 cần bổ sung thành: “Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học và cha, mẹ phải liên đới bồi thường thiệt hại xảy ra”.

Đối với trường hợp cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường (khi trường học, bệnh viện, pháp nhân khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý) tại quy định tại khoản 3 Điều 599 bộ luật dân sự 2015, nên bổ sung theo hướng dẫn chiếu quay lại áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 586 bộ luật dân sự 2015 để xác định rõ khi nào trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cha, mẹ, và khi nào trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về người giám hộ.

Thứ bảy, trường hợp người phải bồi thường chết sau khi gây thiệt hại thì phải xử lý như thế nào.

Nên quy định cụ thể đối với từng trường hợp như: Nếu người phải bồi thường chết mà không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản mà người này có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba thì pháp luật nên có quy định để người bị thiệt hại được trực tiếp yêu cầu bên bảo hiểm chi trả và Tòa án nên giải quyết cả quan hệ bảo hiểm đối với loại vụ việc này. Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Thứ tám, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người phải bồi thường rơi vào tình trạng không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi sau khi gây ra thiệt hại, hoặc khi gây thiệt hại, người này đang ở trong trạng thái này, tuy nhiên chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hay có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Thiết nghĩ cần bổ sung quy định để cha, mẹ, người giám hộ của người gây ra thiệt hại chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trước hết bằng tài sản của người gây thiệt hại, nếu người gây thiệt hại không đủ hoặc không có tài sản thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình, qua đó đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại.

Thứ chín, nên sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trong trường hợp người dùng chất kích thích gây ra.

Cần quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả trong trường hợp người có lỗi vô ý dùng chất kích thích làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại. Tức là khoản 2 Điều 596 bộ luật dân sự 2015 nên được sửa đổi theo hướng bỏ hai từ “cố ý” để đảm bảo sự phù hợp với căn cứ chung được quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật này.

Thứ mười, sửa đổi bổ sung quy định về người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ. Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Để bảo vệ người bị thiệt hại cũng như để quy trách nhiệm cho người thân của người mất năng lực hành vi dân sự, có lẽ nên theo hướng cho phép người bị thiệt hại yêu cầu tuyên bố người liên quan mất năng lực hành vi dân sự và việc tuyên bố mất năng lực này có tính hồi tố từ thời điểm người đó mất năng thực sự khả năng nhận thức. Từ việc hồi tố chúng ta có thể quy trách nhiệm cho người giám hộ đương nhiên để buộc họ phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu các điều kiện khác được đáp ứng. Với hướng này, chúng ta trách nhiệm hóa vai trò người thân của người không có khả năng nhận thức nhằm bảo vệ tốt hơn người này cũng như người bị thiệt hại.

Do việc quy trách nhiệm cho người khác người không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi phải thỏa mãn một số điều kiện nên có thể xảy ra trường hợp các điều kiện này không đáp ứng được. Theo tác giả, khi ấy người bị thiệt hại có thể quay sang yêu cầu người trực tiếp gây ra thiệt hại (tức người không thể hoặc không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi) bồi thường.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Sau khi phân tích, đánh giá về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, mà chủ yếu là bộ luật dân sự 2015, đối với chế định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân. Tác giả xin phép đề xuất những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân nói riêng. Đầu tiên, tác giả đã đưa ra phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế định này, cũng như nâng cao hiệu quả giải quyết những tranh chấp phát sinh về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trên thực tiễn.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân là một chế định ra đời khá sớm trong lịch sử phát triển của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại trong trường hợp họ phải chịu tổn thất từ những hành vi trái pháp luật của chủ thể khác gây ra. Vấn đề năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân được quy định tại bộ luật dân sự 2015 tuy đã có nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với pháp luật trước đó, nhưng qua quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy những quy định pháp luật về chế định này còn bộc lộ nhiều vướng mắc, thiếu tính thống nhất gây tình trạng khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn giải quyết các vụ việc liên quan, đặc biệt là làm cho các cơ quan có thẩm quyền lúng túng khi áp dụng các quy định của pháp luật, dẫn đến tốn kém về thời gian, sức khỏe, tiền bạc của các bên. Điều này đòi hỏi cần có sự sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật để phù hợp với thực tiễn. Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật dân sự Việt Nam, tác giả đã đưa ra những phương hướng, kiến nghị một số vấn đề nhằm hoàn thiện pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Trong quá trình nghiên cứu do năng lực và trình độ có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, mong quý thầy cô và bạn đọc có những phản hồi, bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464