Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đánh giá chung về kết quả thực thi các quy định pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam qua các thời kỳ
2.1.1. Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ
Cũng như nhiều nước trên thế giới, việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam là một vấn đề pháp lý phổ biến trong quá trình thực thi bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam, tuy nhiên số lượng các vụ việc liên quan đến Nhãn hiệu nổi tiếng giải quyết ở cấp độ Cục Sở hữu trí tuệ và Tòa án, cũng như các yêu cầu về việc công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của chủ sở hữu nhãn hiệu không nhiều, vì vậy việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm, chuyên môn, khả năng nhận định, thừa nhận các chứng cứ… Như trên đã trình bày, trước khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành, pháp luật Việt Nam không có tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng, tuy nhiên không vì thế mà Nhà nước từ chối việc đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng cũng như công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của các chủ sở hữu. Bởi lẽ, một mặt Việt Nam đã là thành viên của Công ước Paris nên cần tôn trọng Điều 6bis, mặt khác việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng cũng là một yêu cầu khách quan đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu, người tiêu dùng và lợi ích công cộng trong thời kỳ đổi mới phát triển kinh tế thị trường. Trong thời kỳ trước khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ, đã có một vài vụ việc tiêu biểu mà cơ quan có thẩm quyền đã đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng trên nền tảng quy định tại Điều 6bis Công ước Paris, kết hợp với đánh giá và nhận định chủ quan của người thực thi, vì vậy một số vụ việc có xu hướng định tính, cũng như chưa thực sự có cơ sở, chứng cứ vững chắc khi đánh giá công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, chẳng hạn một số vụ việc sau đây:
- Vụ “McDonald’s” năm 1992:
Năm 1992, Cục Sở hữu trí tuệ đã ra quyết định từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu “McDonald’s” đã được nộp bởi tập đoàn OPHIX GROUP có trụ sở tại Úc đối với thức ăn nhanh, dịch vụ ẩm thực và các sản phẩm thực phẩm tiêu dùng nhanh khác.
Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng “McDonald’s” là một Nhãn hiệu nổi tiếng đối với các sản phẩm và dịch vụ thức ăn nhanh không những tại Hoa Kỳ mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới sau khi đánh giá các chứng cứ. Vì vậy, nhãn hiệu này được công nhận là nổi tiếng tại Việt Nam mặc dù chưa từng được đăng ký và sử dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, các lập luận của Cục Sở hữu trí tuệ mặc dù về mặt lý thì khá hợp lý nhưng đối với bên bị từ chối là thiếu thuyết phục vì các tiêu chí đánh giá chưa có cơ sở pháp lý cụ thể, bởi lẽ, ở thời điểm hiện tại, Điều 6bis của Công ước Paris không có quy định cụ thể các tiêu chí để đánh giá một Nhãn hiệu nổi tiếng. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
- Vụ “SHANGRI-LA” năm 1995:
Năm 1995, một vụ kiện liên quan đến bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng được Cục Sở hữu trí tuệ giải quyết theo yêu cầu của Công ty Shangri-La International Hotel Management Ltd (sau đây gọi tắt là SLIH) đề nghị hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 304 cho nhãn “SHANGRI-LA” sử dụng cho dịch vụ khách sạn và nhà hàng của Công ty Liên doanh Phú Thọ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ việc này phát sinh khi SLIH nộp đơn yêu cầu công nhận “SHANGRI-LA” là Nhãn hiệu nổi tiếng cho dịch vụ khách sạn (thuộc nhóm 42). Tuy nhiên, đơn yêu cầu này đã bị cơ quan có thẩm quyền từ chối trước đó vì Công ty Liên doanh Phú Thọ đã đăng ký nhãn hiệu trùng và cho nhóm 42. Chính vì vậy, SLIH yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ đăng ký nhãn hiệu “SHANGRI-LA” đã cấp cho Công ty Liên doanh Phú Thọ căn cứ theo Điều 6bis của Công ước Paris và đưa ra các bằng chứng chứng minh danh tiếng của nhãn hiệu cũng như uy tín của SLIH trên thế giới, bao gồm các tài liệu, giấy tờ thể hiện thời hạn, phạm vi, quy mô, mức độ sử dụng và quảng cáo nhãn hiệu; văn bằng bảo hộ nhãn hiệu “SHANGRI-LA” của SLIH ở các nước trên thế giới, báo cáo doanh thu các năm. Đồng thời, SLIH cũng căn cứ vào nguyên tắc chung trong bảo hộ nhãn hiệu đó là cấm tuyệt đối việc đăng ký nhãn hiệu nếu đơn xin đăng ký có mục đích không lành mạnh. Căn cứ vào các chứng cứ được cung cấp, Cục Sở hữu trí tuệ đã đi đến quyết định hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của Công ty Liên doanh Phú Thọ. Có thể thấy, trong vụ việc này, Cục Sở hữu trí tuệ đã gián tiếp công nhận nhãn hiệu SHANGRI-LA là Nhãn hiệu nổi tiếng đối với dịch vụ khách sạn. Trong quyết định này Cục Sở hữu trí tuệ nhấn mạnh: “Với quan điểm bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, hỗ trợ chính sách đầu tư của Chính phủ Việt Nam, thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chúng ta cần thể hiện rằng trên thực tế, quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam được cấp cho chủ sở hữu thực sự của nhãn hiệu, chứ không cấp cho bất kỳ ai mạo danh không những gây thiệt hại cho môi trường đầu tư mà còn xâm hại đến chính sách của Chính phủ”. Như vậy, qua vụ việc này, có thể thấy, việc đánh giá để công nhận nhãn hiệu SHANGRI-LA có hệ thống các chứng cứ tương đối đơn giản và chưa thật sự đủ để chứng minh danh tiếng của nhãn hiệu này trong khi tiêu chí đánh giá lại không được đưa ra. Tuy nhiên bằng một nhận định hướng về bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu, người tiêu dùng và chính sách của Nhà nước được coi như là cơ sở quyết định đến việc ban hành quyết định hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của Công ty Liên doanh Phú Thọ, ở chiều ngược lại là công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của SLIH.
2.1.2. Sau khi có Luật Sở hữu trí tuệ Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Từ năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành đã bổ sung đáng kể hành lang pháp lý ở mức độ cần thiết để thúc đẩy hiệu quả trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam. Ở giai đoạn này, Nhãn hiệu nổi tiếng dần trở thành một vấn đề pháp lý quen thuộc so với thời kỳ trước, và do đó việc đánh giá, cũng như công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng đã nâng cao sự cẩn trọng, xem xét kỹ lưỡng nhiều khía cạnh, đặc biệt, ngoài cơ quan chuyên môn về Sở hữu trí tuệ thì đã có sự tham gia của Tòa án trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng. Trong giai đoạn này, có một số vụ việc dưới đây đã chứng tỏ bước phát triển trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam:
- Vụ “X-MEN” năm 2005:
Công ty Marvel Charaters Inc, Hoa Kỳ, gọi tắt là nguyên đơn, là một công ty sản xuất phim hoạt hình nổi tiếng toàn thế giới với việc sở hữu bản quyền tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó có X-Men, tác phẩm về các nhân vật đột biến gen có kỹ năng siêu phàm được đông đảo công chúng yêu thích. Nguyên đơn cũng đồng thời là chủ sở hữu nhãn hiệu X-Men đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam đối với sản phẩm thuộc nhóm 9, 15, 22 và 28 từ năm 1994. International Household Products Co. Ltd (Công ty TNHH Hàng gia dụng Quốc tế), gọi tắt là bị đơn, đã nộp đơn xin đăng ký “nhãn hiệu X-MEN, hình” vào năm 2003 cho các sản phẩm hóa mỹ phẩm gia dụng thuộc nhóm 3. Cục Sở hữu trí tuệ đã chấp nhận và cấp bảo hộ đối với nhãn hiệu của bị đơn với Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 63481 ngày 08/06/2005 mặc dù đã nhận đơn khiếu nại của nguyên đơn vào ngày 04/04/2005.
Sau đó, nguyên đơn đã khiếu nại yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của bị đơn dựa trên các lập luận và bằng chứng sau: X-MEN là Nhãn hiệu nổi tiếng thế giới vì nhân vật X-MEN đã được sử dụng liên quan đến một nhóm siêu anh hùng có tên X-MEN trong hàng loạt truyện và phim hoạt hình nổi tiếng phát hành lần đầu tiên tại Hoa Kỳ năm 1963 và liên tục được giới thiệu đến công chúng trong hàng loạt truyện và phim hoạt hình vào năm 1992, 2000, 2003 và 2006 làm cho dấu hiệu X-MEN trở nên phổ biến và quen thuộc trên thế giới. Đồng thời X-MEN là tài sản quan trọng của Marvel trong lĩnh vực truyền thông, giải trí cũng như gắn liền với nhiều loại hàng hóa, dịch vụ liên quan đến loạt nhân vật siêu anh hùng có tên X-MEN trong thương mại quốc tế. Vì vậy, việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu X-MEN và biểu tượng của bị đơn đã gây nhầm lẫn đến nhãn hiệu của nguyên đơn đơn theo pháp luật hiện hành Việt Nam cũng như Điều 6bis Công ước Paris. Đồng thời, nguyên đơn cho rằng bị đơn đã đăng ký và sử dụng nhãn hiệu X-MEN không lành mạnh vì bị đơn đã biết đến danh tiếng nhãn hiệu X-MEN của Marvel. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Mặc dù, nguyên đơn đã cố gắng chứng minh nhãn hiệu của mình là nổi tiếng thông qua: (1) thời gian và phạm vi sử dụng nhãn hiệu, (2) doanh thu trên phạm vi toàn thế giới của Marvel từ việc cấp giấy phép sử dụng nhãn hiệu X-MEN trong thời hạn năm năm từ 2001 đến 2005 và (3) đăng ký và được bảo hộ đối với nhãn hiệu X-MEN tại 51 quốc gia nhưng Cục Sở hữu trí tuệ vẫn cho rằng chứng cứ và thông tin do Marvel cung cấp là không đủ chứng minh sự nổi tiếng của nhãn hiệu này, hay nói cách khác Cục Sở hữu trí tuệ đã từ chối công nhận X-MEN là Nhãn hiệu nổi tiếng của Marvel từ đó làm cơ sở để hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đã được cấp cho bị đơn. Sau đó mặc dù nguyên đơn đã khiếu nại đến Bộ KHCN để yêu cầu xem xét lại Quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ, tuy nhiên Bộ KHCN đã quyết định bác khiếu nại và giữ nguyên Quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ vì nguyên đơn đã không đủ chứng cứ chứng minh X-MEN là Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam, cụ thể nguyên đơn đã không thể cung cấp những bằng chứng để chứng minh rằng người tiêu dùng Việt Nam đã thật sự biết đến nhãn hiệu X-MEN hoặc sản phẩm mang nhãn hiệu X-MEN một cách phổ biến và rộng rãi, kể cả trong phạm vi khu vực công chúng có liên quan.
Không đồng ý với quyết định của Bộ KHCN, Công ty Marvel đã khởi kiện Cục Sở hữu trí tuệ ra Tòa án về việc ra quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “X-MEN, hình” cho Công ty TNHH Hàng gia dụng quốc tế, và đơn khởi kiện đã được Tòa Hành chính Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hành chính vào ngày 29/03/2013.
Sau khi xem xét ý kiến của các bên, Hội đồng xét xử đã ra Bản án sơ thẩm số 03/2013/HCST ngày 29/03/2013 theo đó căn cứ vào Điều 785 Bộ luật dân sự 1995, Điều 6.1.e.h, 2d Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ để bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Marvel Characters, Inc về việc đề nghị hủy Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “X-MEN, hình” cho Công ty TNHH Hàng gia dụng quốc tế, với nội dung: “Thực chất, công ty Marvel chưa chứng minh được nhãn hiệu của mình là nhãn hiệu nổi tiếng. Người tiêu dùng Việt Nam cũng chưa biết sản phẩm nào của Công ty Marvel trong nhóm sản phẩm “hóa mỹ phẩm ứng dụng” nên không thể gây nhầm lẫn. Vì vậy có cơ sở kết luận Công ty TNHH Hàng gia dụng quốc tế không lợi dụng uy tín, khai thác bản quyền của Công ty Marvel”. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Mặt khác, Tòa lập luận rằng tại thời điểm Công ty TNHH Hàng gia dụng quốc tế nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “X-Men, hình” ngày 27/06/2003 thì Công ty Marvel chưa đăng ký nhãn hiệu “X-Men” tại Việt Nam với nhóm 03. Tại Hoa Kỳ, là nước mà Công ty Marvel mang quốc tịch thì Công ty Marvel cũng chưa được chứng nhận sở hữu nhãn hiệu “X-Men” với sản phẩm thuộc nhóm 03 cho các sản phẩm hoá mỹ phẩm gia dụng. Theo đó, Công ty TNHH Hàng gia dụng quốc tế có quyền đăng ký nhãn hiệu “X-Men, hình” với các sản phẩm thuộc nhóm 3. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Công ty Marvel là không có cơ sở chấp nhận. Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2013/HCST ngày 29/03/2013 không bị kháng cáo nên đã có hiệu lực pháp luật.
- Vụ “CAMEL” năm 2009:
Nhãn hiệu “CAMEL” là tranh chấp phát sinh giữa Công ty Japan Tobacco Corp. (sau đây gọi tắt là nguyên đơn) và C.A.M.E.L Electronic Devices Co.Ltd (sau đây gọi tắt là bị đơn). Ngày 20/07/2005, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận số 64916 đối với nhãn hiệu “M CAMEL” cho sản phẩm thiết bị điện tử thuộc nhóm 09 và 11 của Công ty C.A.M.E.L. Nguyên đơn đã khiếu nại với Cục Sở hữu trí tuệ để yêu cầu hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của bị đơn vì cho rằng nhãn hiệu “M CAMEL” là nhãn hiệu gây nhầm lẫn với nhãn hiệu CAMEL của nguyên đơn. JT đã viện dẫn rằng CAMEL là Nhãn hiệu nổi tiếng được sử dụng cho sản phẩm thuốc và nhiều loại sản phẩm khác và đã được đăng ký bảo hộ trên 180 quốc gia, bán tại 50 quốc gia trên toàn thế giới. Ở thời điểm hiện tại, nhãn hiệu này được xếp hạng 6 trong số các Nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới trong nhiều năm và đã được thừa nhận là Nhãn hiệu nổi tiếng tại nhiều quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Indonesia, Đức…. Cục Sở hữu trí tuệ đã căn cứ vào các chứng cứ, thông tin về nhãn hiệu của nguyên đơn để đối chiếu với các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng và công nhận nhãn hiệu “CAMEL” của nguyên đơn là Nhãn hiệu nổi tiếng sau khi đã xem xét: (1) Nhãn hiệu được sử dụng liên tục từ năm 1913, (2) Nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ trên 180 quốc gia (trong đó có 5 Giấy chứng nhận được cấp và bảo hộ cho 5 nhóm sản phẩm ở Việt Nam), (3) Sản phẩm mang nhãn hiệu được bán trên 50 quốc gia và trong các khu vực miễn thuế của nhiều quốc gia khác bao gồm Việt Nam, (4) Doanh thu hàng năm lên đến 600 triệu USD và được xếp hạng 6 trong danh sách các nhãn thuốc lá nổi tiếng nhất trên thế giới, (5) Nhãn hiệu được quảng bá và khuyến mại trên nhiều kênh khác nhau như tạp chí, trang web, và các tên miền được sử dụng trên internet. Trên cơ sở kết quả công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, mặc dù bị đơn có khiếu nại ngược nhưng Cục Sở hữu trí tuệ vẫn bảo lưu quan điểm và việc công nhận nhãn hiệu CAMEL của nguyên đơn là nổi tiếng là cơ sở để hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của bị đơn bằng Quyết định số 2007/QĐ-SHTT ngày 14/10/2009. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Nhìn chung hệ thống hành pháp của Việt Nam mà cụ thể là việc công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng thông qua thủ tục hành chính tại Cục Sở hữu trí tuệ đã đạt được những kết quả quan trọng trong các vụ việc tranh chấp liên quan đến Nhãn hiệu nổi tiếng, sự đánh giá cẩn trọng, xem xét một cách toàn diện, đầy đủ các tiêu chí đánh giá cần thiết là yếu tố quyết định đến một kết luận công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng phù hợp với thực tế khách quan, thuyết phục các bên. Đặc biệt, thông qua những vụ việc này, các vấn đề lý luận và vấn đề pháp lý giữa quy định và vận dụng về đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng đã được giải quyết. Có thể thấy công tác đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam từ sau khi có Luật Sở hữu trí tuệ đến nay đạt được những kết quả khả quan do những nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, sự phát triển và bùng nổ của công nghệ thông tin, đặc biệt là môi trường internet để tạo cầu nối nhanh, rẻ và dễ dàng cho các chủ thể kết nối và biết đến các Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Người tiêu dùng Việt Nam cũng như cơ quan chức năng có thể tìm hiểu các thông tin về một nhãn hiệu hoặc một sản phẩm mang nhãn hiệu mà họ muốn tiêu dùng, kiểm chứng thông tin… chỉ bằng cách sử dụng các công cụ tìm kiếm hiệu quả của Google, Yahoo hay Microsoft… trên mọi thiết bị có kết nối internet.
Hai là, mức độ nhận thức của người tiêu dùng, các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm đến Nhãn hiệu nổi tiếng cũng như ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng nói chung và đánh giá, công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng đã có sự chuyển biến tích cực trong vài năm trở lại đây. Hiện nay, người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan quản lý hiểu hơn về Nhãn hiệu nổi tiếng, từ đó góp phần duy trì mức độ nhận biết của người tiêu dùng đối với Nhãn hiệu nổi tiếng. Đồng thời các doanh nghiệp cũng đã nhận thức rõ hơn vai trò và giá trị của NHNT, từ đó tôn trọng những Nhãn hiệu nổi tiếng của các doanh nghiệp khác và tự hoạch định những chiến lược phát triển nhãn hiệu, thương hiệu của riêng mình. Chính vì vậy, việc lợi dụng uy tín, danh tiếng của Nhãn hiệu nổi tiếng trong việc đăng ký, sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với Nhãn hiệu nổi tiếng có xu hướng giảm.
Ba là, việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng để thực thi bảo hộ quyền đối với Nhãn hiệu nổi tiếng mặc dù thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước, tuy nhiên hiện nay đã có sự tham gia, hỗ trợ, đóng góp đáng kể của các cơ quan báo chí, truyền thông, các Hiệp hội ngành hàng, nghề nghiệp, các tổ chức xã hội khác, đặc biệt là WIPO. Việc các bên tham gia trong quá trình đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng đã giúp cơ quan Nhà nước có những quyết định khách quan, công bằng và phù hợp với thực tiễn.
Tóm lại, với sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ, pháp luật Việt Nam về đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng đã có những thành công quan trọng. Đầu tiên là nhận diện một Nhãn hiệu nổi tiếng, thứ hai là các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng, thứ ba là hệ thống các tài liệu có thể được xem xét, thứ tư là cơ quan có thẩm quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng và cuối cùng là sử dụng kết quả công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng để thực thi bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, đánh giá và công Nhãn hiệu nổi tiếng trong thời điểm nay đã bắt đầu bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập cần có những giải pháp điều chỉnh phù hợp.
2.2. Những vướng mắc trong đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
2.2.1. Dưới góc độ cơ sở lý luận
Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ đã đưa ra định nghĩa Nhãn hiệu nổi tiếng có vẻ khá dễ hiểu và có tính bao quát về bản chất của Nhãn hiệu nổi tiếng, tuy nhiên quy định này, dưới góc độ thực thi lại gặp nhiều khó khăn do không rõ ràng, thiếu cụ thể; đặc biệt là chưa thể hiện đầy đủ bản chất của Nhãn hiệu nổi tiếng về mặt lý luận cũng như quy định của TRIPs. Định nghĩa này cần kết hợp với các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 75 để hỗ trợ trong việc giải thích định nghĩa. Tuy nhiên các tiêu chí này vẫn còn nghiêng về định tính hơn là định lượng một cách cụ thể và chi tiết. Vì vậy, việc áp dụng các quy định này trên thực tiễn có thể phụ thuộc vào quan điểm đánh giá chủ quan, không thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền, từ đó không chỉ gây khó khăn với chủ sở hữu nhãn hiệu khi hiểu và vận dụng mà còn đối với cả cơ quan có thẩm quyền khi cần công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng.
Chẳng hạn, đối với tiêu chí “Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo” được giải thích bởi Thông tư số 01/2007 khi hướng dẫn về các tài liệu để chứng minh Nhãn hiệu nổi tiếng bao gồm: “số liệu khảo sát người tiêu dùng biết đến nhãn hiệu thông qua mua bán, sử dụng và quảng cáo, tiếp thị”. Vậy với phương pháp khảo sát, trong trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu, bên thứ ba tiến hành khảo sát thì tỷ lệ phần trăm số lượng tiêu dùng đạt được bao nhiêu thì nhãn hiệu được xem là nổi tiếng? Có thể thấy pháp luật không có các quy định nhằm xác định số lượng người được khảo sát và tỷ lệ nhận biết nhãn hiệu trong số người được khảo sát. Thực trạng này ở Việt Nam cũng tương tự như tại Trung Quốc và Nhật Bản, khi mà các chỉ tiêu định lượng cụ thể không được xác định rõ để làm cơ sở kết luận đáp ứng tiêu chí. Trong khi đó, tham khảo pháp luật tại một số nước Châu Âu, chẳng hạn tại Đức, nếu kết quả khảo sát cho thấy có từ 80% trở lên số người được khảo sát nhận biết về nhãn hiệu thì nhãn hiệu sẽ được đánh giá là “rất nổi tiếng”, còn nếu chỉ có từ 40% trở lên thì nhãn hiệu đó được đánh giá là “nổi tiếng”. Ở Italy, một nhãn hiệu sẽ chỉ được đánh giá là Nhãn hiệu nổi tiếng nếu có ít nhất 70% số người được khảo sát quen thuộc và nhận biết được nhãn hiệu. Còn tại Pháp, khi kết quả khảo sát cho thấy có từ 20% số người được khảo sát trở lên quen thuộc với nhãn hiệu thì nhãn hiệu có thể được đánh giá là Nhãn hiệu nổi tiếng. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Việc công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng khi xem xét các tiêu chí đánh giá nêu tại Điều 75 có cần thiết phải xem xét tất cả tám tiêu chí hay không? Thỏa mãn bao nhiêu tiêu chí được xem là thỏa mãn điều kiện để được công nhận là Nhãn hiệu nổi tiếng? Trong khi đó, như đã nghiên cứu, pháp luật Trung Quốc quy định khó rõ ràng về vấn đề này, theo đó không được bỏ qua bất cứ tiêu chí nào đã quy định, nhưng không có nghĩa là bằng chứng chứng minh Nhãn hiệu nổi tiếng phải có và phải thỏa mãn đầy đủ tiêu chí đó. Trong quá trình đánh giá công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá toàn diện mọi tiêu chí đã quy định theo nguyên tắc không có điều kiện tiên quyết nào được đặt ra để buộc nhãn hiệu thuộc đối tượng xem xét là nổi tiếng phải đáp ứng tất cả các tiêu chí đó.
Về thẩm quyền công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, như trên đã trình bày, ngoài Cục Sở hữu trí tuệ và Tòa án nhân dân, Thông tư 11/2015 còn quy định một hệ thống cơ quan có thẩm quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng một cách chung chung là “cơ quan xử lý vi phạm”. Tuy nhiên, cơ quan xử lý vi phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Việt Nam có rất nhiều, bao gồm thanh tra chuyên ngành, quản lý thị trường… Liệu có phải tất cả các cơ quan này đều có quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng? Đồng thời giá trị pháp lý của quyết định công nhận một nhãn hiệu là Nhãn hiệu nổi tiếng từ cơ quan thực thi hành chính, thậm chí là cơ quan có vị trí pháp lý thấp hơn Cục Sở hữu trí tuệ có được công nhận và đảm bảo thực thi bởi các cơ quan Nhà nước khác có liên quan không? Kinh nghiệm của Trung Quốc về hệ thống cơ quan đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng có thể là một nguồn tham khảo khi quy định cụ thể về vấn đề này.
Về các trường hợp cần xem xét để đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể, theo cách hiểu của một số quy định liên quan trong bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng và thông qua thực tiễn các vụ việc, việc yêu cầu công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng đặt ra trong các trường hợp: (1) Phản đối đăng ký nhãn hiệu hoặc yêu cầu hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu nếu dấu hiệu đó trùng hoặc tương tự với NHNT, (2) Có hành vi xâm phạm quyền đối với Nhãn hiệu nổi tiếng, ví dụ như đăng ký, sử dụng các tên miền trùng hoặc tương tự với Nhãn hiệu nổi tiếng, sản xuất, phân phối hàng hóa, cung cấp dịch vụ trùng hoặc tương tự với Nhãn hiệu nổi tiếng… Các trường hợp đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu tại Việt Nam hiện nay cũng tương đồng với pháp luật một số quốc gia đã nghiên cứu như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, đây có phải là hai trường hợp duy nhất, nếu chủ sở hữu nhãn hiệu không vì hai lý do trên vẫn muốn được cơ quan có thẩm quyền công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng thì yêu cầu này có được thụ lý?
Ngoài ra, vấn đề về trình tự, thủ tục đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng vẫn chưa được quy định cụ thể để các cơ quan có thẩm quyền có một quy trình đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng hiệu quả, minh bạch, đảm bảo tính khách quan.
2.2.2. Dưới góc độ thực tiễn thực thi Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Thứ nhất, sự phân định thẩm quyền của các cơ quan trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam không thống nhất và chồng chéo, vấn đề này đã được phản ánh thông qua quy định của Thông tư 11/2015.
Thứ hai là vai trò của Tòa án nhân dân trong các vụ việc liên quan đến đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, hầu hết các vụ việc này đều dừng lại tại Cục Sở hữu trí tuệ mà chưa có sự tham gia của Tòa án vào các vụ việc, trong khi đó nâng cao vai trò của cơ quan tư pháp trong lĩnh vực này là xu thế chung ở các quốc gia phát triển, thậm chí nhiều quốc gia trên thế giới còn thành lập Tòa án chuyên trách về Sở hữu trí tuệ như tại Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Anh.. để nâng cấp chất lượng giải quyết các vụ việc cần chuyên môn sâu như đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng.
Thứ ba, bảo hộ các Nhãn hiệu nổi tiếng là một vấn đề mà Việt Nam có kinh nghiệm non trẻ so với nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, điều đó tất yếu dẫn đến sự hạn chế về chuyên môn và năng lực thực thi xử lý của đội ngũ cán bộ, công chức có thẩm quyền phụ trách các vụ việc cần phải đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, đặc biệt là những vụ việc phức tạp về tính chất, cũng như quy mô bằng chứng, chứng cứ.
Thứ tư, cơ chế phối hợp và hợp tác giữa các cơ quan trong hệ thống bộ máy thực thi quyền Sở hữu trí tuệ đối với Nhãn hiệu nổi tiếng chưa đạt hiệu quả cao.
Thứ năm, ý thức pháp luật và nhận thức của cộng đồng về Nhãn hiệu nổi tiếng nhìn chung còn chưa cao.
Các chủ sở hữu Nhãn hiệu nổi tiếng, trong nhiều trường hợp không có nền tảng hoặc nhận thức đầy đủ về phạm vi quyền hạn của họ có được khi sở hữu Nhãn hiệu nổi tiếng, điều này dẫn đến hạn chế trong việc chủ động, nỗ lực cung cấp các chứng cứ để cơ quan chức năng có thể đánh giá các tiêu chí và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng. Vẫn còn tồn tại thực trạng việc xâm phạm đến Nhãn hiệu nổi tiếng do hành vi vô tình của bên xâm phạm khi không có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ về Nhãn hiệu nổi tiếng hoặc nhận thức về các nguyên tắc pháp luật trong bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng nói chung còn hạn chế.
Ngoài ra ở góc độ cộng đồng xã hội, một thực trạng phổ biến trong tâm lý tiêu dùng tâm lý ở Việt Nam là người tiêu dùng có xu hướng vừa muốn lựa chọn sản phẩm thông qua giá cả hợp lý vừa muốn được sử dụng những sản phẩm có tên tuổi trên thị trường. Điều này tạo cơ hội cho các sản phẩm hàng giả, hàng nhái Nhãn hiệu nổi tiếng xuất hiện hoặc sản phẩm lợi dụng uy tín và danh tiếng của Nhãn hiệu nổi tiếng để trục lợi. Các chủ sở hữu Nhãn hiệu nổi tiếng khi đó phải thực hiện các biện pháp pháp lý để bảo vệ nhãn hiệu của mình gây tốn kém chi phí trong công tác thực thi.
2.3. Đề xuất hoàn thiện Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
2.3.1. Các nguyên tắc đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng
Do sự khác biệt về lịch sử, trường phái pháp luật cũng như trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau ở các quốc gia nên mỗi mô hình bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng nói chung và công tác đánh giá để công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tạo nên tính đa dạng, gồm cả những ưu điểm và hạn chế. Đây là kinh nghiệm và là nguồn tài liệu tham khảo phong phú để nhà làm luật tiếp thu, chọn lọc trong quá trình xây dựng một quy chế pháp lý phù hợp với bối cảnh thực tiễn của Việt Nam. Qua nghiên cứu quy định trong các Điều ước quốc tế, các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia điển hình, kể cả Việt Nam, về vấn đề này cho thấy đã có nhiều quy định. Tuy nhiên các nguyên tắc vẫn còn quy định rải rác ở nhiều nội dung khác nhau, vì vậy cần tập hợp lại để hệ thống hóa các nguyên tắc nên được tham chiếu khi sửa đổi, bổ sung các quy định về đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, cụ thể:
Một là, cần xây dựng một định nghĩa Nhãn hiệu nổi tiếng thể hiện được đầy đủ bản chất của Nhãn hiệu nổi tiếng:
Bởi lẽ để đánh giá, từ đó công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng thì trước tiên phải nhận biết được các thuộc tính thể hiện đúng bản chất của một Nhãn hiệu nổi tiếng hay nói cách khác đó là những dấu hiệu để phân biệt một Nhãn hiệu nổi tiếng với một nhãn hiệu thông thường. Như đã nghiên cứu về khái niệm Nhãn hiệu nổi tiếng, Nhãn hiệu nổi tiếng là một tình trạng đặc biệt của nhãn hiệu, trong đó điểm khác biệt cơ bản so với nhãn hiệu thông thường là tính chất, mức độ trong mối liên hệ giữa người tiêu dùng với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó. Do đó, một định nghĩa Nhãn hiệu nổi tiếng cần phản ánh đầy đủ bản chất của mối liên hệ này, đó là nhãn hiệu được biết đến rộng rãi và phạm vi được biết đến của người tiêu dùng có liên quan. Tính chất của việc được biết đến của nhãn hiệu thể hiện ở mức độ nhận biết của người tiêu dùng có liên quan đối với nhãn hiệu, còn phạm vi biết đến của người tiêu dùng có liên quan thể hiện phạm vi địa lý mà nơi nhãn hiệu đó được biết đến, đó chính là giới hạn trong phạm vi trong một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Khoản 20 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ, đề cập đến định nghĩa nhãn hiệu được đánh giá là ngắn gọn, cô đọng và phản ánh được đồng thời hai khía cạnh khách quan là tính chất của việc nhãn hiệu được biết đến và phạm vi biết đến của người tiêu dùng: “là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”. Tuy nhiên, về mặt phạm vi biết đến của người tiêu dùng chưa phù hợp với bản chất về lý luận của Nhãn hiệu nổi tiếng như đã nghiên cứu và quy định của Hiệp định TRIPs, đó là: “được biết đến rộng rãi bởi bộ phận người tiêu dùng có liên quan”. Nếu theo định nghĩa của Luật SHTT thì được hiểu rằng, nhãn hiệu được đánh giá để công nhận nổi tiếng phải là nhãn hiệu được biết đến bởi toàn bộ người tiêu dùng, nghĩa là mọi người tiêu dùng mà không phân biệt giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, xu hướng tiêu dùng… và những yếu tố khác quyết định đến việc lựa chọn tiêu dùng sản phẩm. Điều này có phạm vi quá rộng so với khái niệm người tiêu dùng có liên quan. Người tiêu dùng có liên quan có thể lấy cách hiểu của pháp luật nhãn hiệu Trung Quốc mà tác giả cho là tương đối cụ thể, theo đó, người tiêu dùng có liên quan được hiểu là nhóm người tiêu dùng có liên quan đến một chủng loại hàng hóa/dịch vụ nhất định mang nhãn hiệu, nhà sản xuất hoặc cung ứng hàng hóa/dịch vụ đó, người bán và những người khác có tham gia hoặc có liên quan đến kênh phân phối hàng hóa, dịch vụ đó.
Thứ hai, xây dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng đảm bảo có thể đưa đến kết luận hoặc khẳng định được mức độ nhận biết rộng rãi cũng như uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đó đối với người tiêu dùng có liên quan:
Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định tám tiêu chí được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng. Trong khi đó Bản khuyến nghị WIPO chỉ đưa ra sáu tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng nhưng về cơ bản, có thể thấy các tiêu chí quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ nằm trong phạm vi khuyến nghị của WIPO, đồng thời các tiêu chí đánh giá của Luật Sở hữu trí tuệ nhằm hướng đến việc xem xét mức độ nhận biết của người tiêu dùng như tiêu chí số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8 và uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đó đối với người tiêu dùng có liên quan ở tiêu chí số 5.
Tuy nhiên, việc quy định một cách cụ thể, rõ ràng các tiêu chí nêu trên như thế nào để đảm bảo tính khả thi đánh giá, tránh việc gây nhầm lẫn giữa các tiêu chí khi vận dụng cũng như gây khó khăn cho các chủ sở hữu cung cấp chứng cứ chứng minh, đồng thời không đưa ra các tiêu chí đánh giá quá nghiêng về định tính là vấn đề cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện. Chẳng hạn khi xem xét tiêu chí số 1: “Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo” có khả năng gây hiểu nhầm rằng bằng chứng cung cấp phải thể hiện được con số cụ thể số lượng người tiêu dùng biết đến, điều này hầu như không thể thực hiện. Ngoài ra, việc quy định số lượng như vậy sẽ có xu hướng dẫn đến suy luận rằng tiêu chí này phải được đo đếm bằng con số cụ thể người tiêu dùng thực tế đã biết hoặc thừa nhận Nhãn hiệu nổi tiếng. Tương tự như vậy, đối với tiêu chí 3: “Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp”, ngoài việc có khả năng gây hiểu nhầm thì không nên được xếp nó vào một tiêu chí, mà đây nên là một loại tài liệu phục vụ cho việc đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng để chứng minh “mức độ biết đến bởi bộ phận người tiêu dùng có liên quan” theo Bản khuyến nghị WIPO.
Ngoài ra, trong đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng để đảm bảo tính khách quan thì các tiêu chí đánh giá cần đảm bảo không mơ hồ hoặc nghiêng về định tính. Điều này thể hiện qua sáu tiêu chí đánh giá trong Bản khuyến nghị WIPO không có từ, cụm từ nào đề cập đến “uy tín” như một tiêu chí đánh giá, trong khi tiêu chí số 5 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu”. Việc đưa ra tiêu chí này thiếu khả thi khi đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng trên thực tiễn, bởi lẽ rất khó tìm thấy bằng chứng vừa cụ thể vừa phù hợp để chủ sở hữu nhãn hiệu chứng minh với cơ quan có thẩm quyền là nhãn hiệu của họ có uy tín trên thị trường. Về mặt lý luận thì có “danh tiếng” và “uy tín” được coi là yếu tố quyết định để công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng, tuy nhiên yếu tố này này chỉ có thể là một kết luận tất yếu sau khi cơ quan có thẩm quyền đã xem xét, đánh giá các chứng cứ một cách toàn diện, đầy đủ. Điều này có nghĩa là, tính chất có “danh tiếng” và “uy tín” của nhãn hiệu chỉ có thể được khẳng định từ kết quả đánh giá các tiêu chí, chứ không phải dùng bằng chứng để chứng minh một cách trực tiếp. Quan điểm này phù hợp với Đại hội đồng WIPO và Đại hội đồng Công ước Paris, khi hai cơ quan này đều nhất trí rằng: “Khi ra quyết định công nhận một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét đến mọi tiêu chí đánh giá một cách thận trọng mà từ đó có thể suy luận rằng nhãn hiệu đang xem xét là nổi tiếng”.
Thứ ba, trong quá trình đánh giá để công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá toàn diện mọi tiêu chí đã quy định nhưng không bắt buộc nhãn hiệu thuộc đối tượng xem xét là nổi tiếng phải có đầy đủ bằng chứng chứng minh thỏa mãn toàn bộ tiêu chí đó: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là khi đánh giá các tiêu chí này là có thể đưa đến kết luận hoặc khẳng định được mức độ nhận biết rộng rãi của người tiêu dùng có liên quan và uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đó đối với người tiêu dùng có liên quan. Như đã nghiên cứu, các tiêu chí cần xem xét đánh giá liệu một nhãn hiệu có phải là Nhãn hiệu nổi tiếng hay không theo quy định của Hiệp định TRIPs, Bản Khuyến nghị WIPO cũng như luật nhãn hiệu Trung Quốc phải được hiểu rằng chúng chỉ mang tính chất là tập hợp các tiêu chí cần phải được đánh giá một cách cẩn trọng, toàn diện, nghĩa là không được bỏ qua bất kỳ tiêu chí nào trong số đó nhưng không có nghĩa là bằng chứng chứng minh Nhãn hiệu nổi tiếng phải có và phải thỏa mãn toàn bộ tiêu chí đó. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quy định cụ thể nguyên tắc này, mặc dù ở góc độ lý luận cũng như trên thực tiễn được hiểu là các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng không phải là cố định và duy nhất. Các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng có thể được cơ quan công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng vận dụng một cách linh hoạt theo thực tế từng vụ việc. Thậm chí, cần hiểu rằng trong một số trường hợp đặc biệt, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng các tiêu chí khác dựa trên chứng cứ và lập luận do người nộp đơn đưa ra miễn sao các tiêu chí đó khi đánh giá sẽ cho thấy được mức độ nhận biết rộng rãi của người tiêu dùng có liên quan và uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đó đối với người tiêu dùng có liên quan, từ đó suy luận rằng nhãn hiệu đang xem xét là nổi tiếng.
Thứ tư, việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng chỉ được thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu trong các trường hợp do pháp luật quy định theo quy trình hoặc thủ tục đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng:
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc chung trong việc bảo hộ nhãn hiệu là đăng ký nhãn hiệu, hành vi đăng ký nhãn hiệu thể hiện sự chủ động của chủ sở hữu trong việc yêu cầu Nhà nước bảo hộ đối với nhãn hiệu của mình. Chính vì vậy, hơn ai hết, chính chủ sở hữu cũng như các chủ thể quyền Sở hữu trí tuệ phải tự chủ động trong việc bảo vệ nhãn hiệu của mình trước hết bằng các biện pháp dân sự như yêu cầu bên có hành vi xâm phạm tự chấm dứt hành vi xâm phạm đối với Nhãn hiệu nổi tiếng, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp các biện pháp dân sự không làm chấm dứt hành vi xâm phạm Nhãn hiệu nổi tiếng, pháp luật cho phép chủ sở hữu Nhãn hiệu nổi tiếng yêu cầu sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền là Tòa án và cơ quan hành chính về Sở hữu trí tuệ, thông qua việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của các cơ quan này để thực thi cơ chế bảo hộ đối Nhãn hiệu nổi tiếng. Vì lẽ đó, mà hiện nay pháp luật một số nước, chẳng hạn luật nhãn hiệu Trung Quốc như đã nghiên cứu có quy định rõ các trường hợp được công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng theo yêu cầu của chủ sở hữu, cụ thể là trong trường hợp có phát sinh tranh chấp liên quan đến việc đăng ký hoặc sử dụng nhãn hiệu. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, pháp luật về đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng cần mở rộng quyền yêu cầu đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng một cách chủ động của chủ sở hữu nhãn hiệu trong trường hợp không có bất kỳ tranh chấp nào đang diễn ra giữa chủ sở hữu Nhãn hiệu nổi tiếng với bên thứ ba, bởi lẽ đây được xem là một biện pháp tự bảo vệ để ngăn ngừa trước các hành vi xâm phạm đến Nhãn hiệu nổi tiếng của chủ sở hữu nên cần được xem xét bổ sung để đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu.
Việc thực hiện đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng cần phải theo một quy trình hoặc thủ tục do pháp luật quy định mà không có ngoại lệ với bất kỳ chủ thể nào khi yêu cầu hoặc thực hiện việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng. Điều này không những đảm bảo tính minh bạch, khách quan trong quá trình đánh giá mà còn có ý nghĩa trong việc chống lạm quyền trong hoạt động này, đặc biệt trong quá trình các cơ quan hành chính về Sở hữu trí tuệ thực hiện việc thẩm định hồ sơ đăng ký nhãn hiệu từ chối nhãn hiệu xin đăng ký dựa trên đánh giá hoặc áp đặt chủ quan rằng một nhãn hiệu có trước nào đó được xem là nổi tiếng. Chính vì chưa xác định rõ nguyên tắc này nên thực tiễn tại Việt Nam xuất hiện tình trạng tự công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng bằng quan điểm chủ quan mà không theo một quy trình hoặc thủ tục công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng để làm cơ sở từ chối các nhãn hiệu xin đăng ký. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Thứ năm, phân định cụ thể và không chồng chéo về thẩm quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của các cơ quan Nhà nước:
Đây là một vấn đề nghiêng về thủ tục, tuy nhiên có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền yêu cầu đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của các chủ thể có liên quan, đồng thời đây cũng là một vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng. Qua nghiên cứu một số nước, đặc biệt là pháp luật Trung Quốc, đã cho thấy việc phân định càng cụ thể về thẩm quyền của các cơ quan trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng đã giúp cho các vụ việc được giải quyết một cách cẩn trọng, thống nhất, ngăn ngừa tình trạng lạm quyền cũng như đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu Nhãn hiệu nổi tiếng và giá trị pháp lý của quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng. Trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, theo quan điểm phổ biến của các quốc gia theo hệ thống dân luật, như Nhật Bản, Trung Quốc thì Tòa án và cơ quan hành chính về Sở hữu trí tuệ là cơ quan có thẩm quyền. Việt Nam cũng theo quan điểm này, tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là ở hệ thống cơ quan hành chính là hệ thống cơ quan có nhiều cấp, đa lĩnh vực cùng tham gia, việc này khó tránh khỏi sự chồng chéo, không thống nhất trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng.
Thứ sáu, quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng chỉ có giá trị giải quyết trong phạm vi một vụ việc cụ thể:
Điều này xuất phát từ những đặc điểm cơ bản của Nhãn hiệu nổi tiếng, sự nổi tiếng của một nhãn hiệu chỉ là một trạng thái tồn tại của nhãn hiệu đó và trạng thái này không đương nhiên có tính ổn định, bất biến và “vô thời hạn”, đồng thời nếu quy định một thời hạn hiệu lực cho một quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng thì vô hình chung có thể hiểu là pháp luật quá ưu ái cho chủ sở hữu Nhãn hiệu nổi tiếng mà bỏ qua quyền và lợi ích chính đáng của các bên khác, đặc biệt là những chủ thể có nhu cầu chính đáng và hợp lý trong việc đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu của mình. Tuy nhiên, nguyên tắc này có thể cân nhắc ngoại lệ trong trường hợp một nhãn hiệu đã được công nhận là nổi tiếng trong một vụ việc trước đó thì vẫn có thể sử dụng kết quả công nhận đó để giải quyết một vụ việc tương tự khác nếu các bên liên quan đều không có ý kiến phản đối, hoặc bất kỳ bên phản đối mà lý do và bằng chứng phản đối rõ ràng cho thấy là không đủ bổ trợ cho ý kiến phản đối, đây là quan điểm được ghi nhận trong pháp luật nhãn hiệu Trung Quốc như đã trình bày.
2.3.2. Các đề xuất cụ thể Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
2.3.2.1 Định nghĩa nhãn hiệu nổi tiếng
Khoản 20 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ có thể xem xét sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu có danh tiếng và uy tín được bộ phận người tiêu dùng có liên quan biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”.
Ngoài ra, để đồng bộ với định nghĩa mới về Nhãn hiệu nổi tiếng, Luật Sở hữu trí tuệ cần bổ sung quy định “bộ phận người tiêu dùng có liên quan”, theo đó “Bộ phận người tiêu dùng có liên quan bao gồm người tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đó, thương nhân sản xuất, kinh doanh, phân phối hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đó, người bán và những người khác có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đó”.
2.3.2.2. Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ có thể xem xét sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 75. Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
- Các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
- Mức độ biết đến nhãn hiệu của bộ phận người tiêu dùng có liên quan thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu, thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại hoặc bất kỳ hành vi, thông tin nào khác dẫn đến sự nhận biết nhãn hiệu.
- Thời gian, quy mô và khu vực địa lý của bất kỳ hoạt động sử dụng, xúc tiến thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
- Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu.
- Thời gian và khu vực địa lý mà nhãn hiệu đó đã đăng ký và/hoặc đã được nộp đơn đăng ký.
- Bằng chứng ghi nhận thành công của việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu liên quan đến nhãn hiệu của cơ quan có thẩm quyền. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
- Giá trị gắn liền với nhãn hiệu.
- Trong quá trình đánh giá để công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá các tiêu chí quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng không bắt buộc nhãn hiệu thuộc đối tượng xem xét là nổi tiếng phải có đầy đủ tài liệu, bằng chứng chứng minh đáp ứng toàn bộ các tiêu chí đó.
- Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng có thể xem xét các tiêu chí khác ngoài quy định tại Khoản 1 Điều này với điều kiện các tiêu chí đó khi đánh giá sẽ cho thấy được mức độ nhận biết rộng rãi của bộ phận người tiêu dùng có liên quan và uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đó đối với bộ phận người tiêu dùng có liên quan”.
2.3.2.3. Các trường hợp đánh giá, công nhận nhãn hiệu nổi tiếng và thẩm quyền, trình tự thủ tục thực hiện
Luật Sở hữu trí tuệ cần làm rõ về thẩm quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam, không nên quy định quá nhiều cơ quan có thẩm quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng để tránh sự chồng chéo, mà theo đó chỉ có cơ quan quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ cấp Trung ương – Cục Sở hữu trí tuệ trực thuộc Bộ KHCN và Tòa án nhân dân mới có thẩm quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam. Các cơ quan thực thi quyền Sở hữu công nghiệp, xử phạt hành chính trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp không có thẩm quyền đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, tuy nhiên sẽ có thẩm quyền trong việc tiếp nhận yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu nổi tiếng để chuyển hồ sơ cho Cục Sở hữu trí tuệ đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của Cục Sở hữu trí tuệ là cơ sở để các cơ quan thực thi xử lý hành vi vi phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu nổi tiếng của bên thứ ba.
Về thẩm quyền của Cục Sở hữu trí tuệ, trong các trường hợp sau đây, Cục Sở hữu trí tuệ xem xét các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng theo trình tự, thủ tục để ra quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng:
Trường hợp một bên phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu của bên kia kèm theo đề nghị công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng thì bên đó phải nộp đơn phản đối cho Cục Sở hữu trí tuệ nêu rõ lý do phản đối dựa trên quyền đối với Nhãn hiệu nổi tiếng của mình, đồng thời phải kèm theo tài liệu chứng minh nhãn hiệu là nổi tiếng theo Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ.
Trường hợp người nộp đơn khiếu nại không đồng ý với quyết định từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu của mình mà có yêu cầu công nhận nhãn hiệu bị từ chối là Nhãn hiệu nổi tiếng thì người nộp đơn phải nêu rõ trong đơn khiếu nại yêu cầu công nhận nhãn hiệu bị từ chối là Nhãn hiệu nổi tiếng kèm theo tài liệu chứng minh nhãn hiệu của mình là nổi tiếng theo Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ và đồng thời phải nộp đơn phản đối nếu nhãn hiệu có trước được sử dụng làm căn cứ từ chối vẫn đang trong tình trạng xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc nộp đơn yêu cầu hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu trong trường hợp nhãn hiệu có trước đã được đăng ký bảo hộ.
Trường hợp một bên yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng thì bên yêu cầu phải nộp yêu cầu công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng bằng văn bản và nộp kèm theo tài liệu chứng minh nhãn hiệu của mình là nổi tiếng theo Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng nổi tiếng theo yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu ngoài các trường hợp (1), (2) và (3) nêu trên.
Trường hợp Cục Sở hữu trí tuệ công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng trong các trường hợp (1), (2), (3) và (4) thì nhãn hiệu đó sẽ được ghi nhận vào Danh mục nhãn hiệu nổi tiếng được lưu giữ tại Cục Sở hữu trí tuệ và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Cục Sở hữu trí tuệ.
Về thẩm quyền của Tòa án nhân đối với việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, trong các trường hợp sau đây, Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo Bộ luật tố tụng dân sự xem xét các tiêu chí đánh giá Nhãn hiệu nổi tiếng để ra quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng:
- Tổ chức, cá nhân khởi kiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng của bên thứ ba theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.
- Tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận nhãn hiệu nổi tiếng trong vụ việc phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu hoặc hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu mà nhãn hiệu thuộc đối tượng của vụ việc đó đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận hoặc không công nhận là nổi tiếng.
- Tổ chức, cá nhân đang là nguyên đơn khởi kiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu của bị đơn nhưng bị đơn có yêu cầu phản tố nhãn hiệu của nguyên đơn là bản sao, bản bắt chước hoặc là bản dịch của nhãn hiệu có trước của bị đơn, dù không đăng ký hoặc có đăng ký tại Việt Nam, nhưng bị đơn cho rằng nhãn hiệu đó là nổi tiếng.
- Trường hợp Tòa án công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng trong các trường hợp (1), (2), (3) thì nhãn hiệu đó sẽ được ghi nhận vào Danh mục nhãn hiệu nổi tiếng được lưu giữ tại Cục Sở hữu trí tuệ và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Cục Sở hữu trí tuệ. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Tuy nhiên, với vai trò là cơ quan tư pháp, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chưa thành lập được Tòa án chuyên trách về Sở hữu trí tuệ, trong trường hợp chưa đủ điều kiện và nguồn lực chuyên môn để đánh giá thì Tòa án có thể đề nghị trưng cầu hoặc đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng từ Cục Sở hữu trí tuệ để từ đó làm cơ sở ban hành quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng.
Về trình tự, thủ tục đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng bởi Cục Sở hữu trí tuệ và Tòa án đều có thể áp dụng chung một thủ tục và có thể được quy định trong các văn bản dưới luật.
Cục Sở hữu trí tuệ và Tòa án thụ lý vụ việc yêu cầu đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng xem xét các các tài liệu chứng minh Nhãn hiệu nổi tiếng để đánh giá theo các tiêu chí được quy định tại Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ trên nguyên tắc không được quyết định tiêu chí nào trong các tiêu chí được quy định mang tính tiên quyết hoặc không được từ chối công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng chỉ vì lý do người yêu cầu công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng đã không đáp ứng toàn bộ các tiêu chí đó. Để chứng minh nhãn hiệu của mình là Nhãn hiệu nổi tiếng theo các tiêu chí đánh giá luật định, cơ quan có thẩm quyền xem xét các bằng chứng chứng minh sau đây: “(1) Tài liệu chứng minh quá trình sử dụng nhãn hiệu, trong đó bao gồm thông tin và bằng chứng về lịch sử ra đời, phạm vi sử dụng và khu vực địa lý mà nhãn hiệu đăng ký. Đối với nhãn hiệu chưa đăng ký thì tài liệu chứng minh quá trình sử dụng liên tục năm năm, đối với nhãn hiệu đã đăng ký thì tài liệu chứng minh quá trình sử dụng này không được ít hơn ba năm.
- Tài liệu chứng minh quá trình, chi phí và phạm vi địa lý của bất kỳ hoạt động xúc tiến thương mại cho nhãn hiệu.
- Tài liệu, bằng chứng chứng minh nhãn hiệu đã được công nhận nổi tiếng ở các quốc gia khác, nếu có.
- Tài liệu thông tin về giá trị gắn liền với nhãn hiệu.
Bất kỳ tài liệu, bằng chứng nào để cho thấy được mức độ nhận biết rộng rãi và uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đó đối với người tiêu dùng có liên quan, không giới hạn ở doanh thu/doanh số, thị phần, lợi nhuận, nộp thuế, giải thưởng trong và nước, vị trí, thứ hạng của nhãn hiệu do các tổ chức có uy tín công bố, báo cáo điều tra thị trường, báo cáo tài chính đã được kiểm toán, định hướng, chiến lược kinh doanh và phát triển nhãn hiệu của chủ sở hữu”.
Trong trường hợp, Cục Sở hữu trí tuệ và Tòa án công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng nhằm xử lý hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu nổi tiếng thì quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng được chuyển cho các cơ quan thực thi làm cơ sở ra quyết định xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với Nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
2.3.2.4. Giá trị pháp lý của quyết định công nhận nhãn hiệu nổi tiếng
Pháp luật về đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam cần hoàn thiện nguyên tắc xác định giá trị pháp lý của quyết định công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng của cơ quan có thẩm quyền, theo đó:
“Quyết định công nhận nhãn hiệu nổi tiếng của Cục sở hữu trí tuệ hoặc Tòa án chỉ có giá trị xử lý cho vụ việc đang xem xét, trừ các trường hợp sau:
Trong trường hợp bên khiếu nại, tố cáo hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng theo thủ tục hành chính mà đã có quyết định công nhận nhãn hiệu nổi tiếng của Cục sở hữu trí tuệ hoặc Tòa án trước thời điểm khiếu nại, tố cáo thì quyết định đó sẽ được áp dụng làm căn cứ giải quyết khiếu nại, tố cáo nếu bên bị yêu cầu xử lý hành vi vi phạm không có ý kiến phản đối hoặc có ý kiến phản đối nhưng bên bị yêu cầu xử lý hành vi vi phạm không thể cung cấp tài liệu hoặc bằng chứng thích hợp cho ý kiến phản đối đó.
Trong trường hợp tổ chức, cá nhân đang là nguyên đơn khởi kiện hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng của bị đơn theo thủ tục tố tụng dân sự mà nguyên đơn đã có quyết định công nhận nhãn hiệu nổi tiếng của Cục sở hữu trí tuệ hoặc Tòa án trước thời điểm khởi kiện thì quyết định đó được áp dụng để làm căn cứ giải quyết tranh chấp nếu bị đơn không có ý kiến phản đối hoặc có ý kiến phản đối nhưng bị đơn không thể cung cấp tài liệu hoặc bằng chứng thích hợp cho ý kiến phản đối đó”.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
Việc công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng không chỉ dựa trên các chứng cứ có số liệu cụ thể, rõ ràng mà còn phụ thuộc rất lớn đến những yếu tố định tính như “danh tiếng” và “uy tín”, để làm sao một Nhãn hiệu nổi tiếng được công nhận bởi cơ quan chức năng phản ánh đúng bản chất, giá trị và phù hợp với nhận thức của cộng đồng về vị trí của nhãn hiệu đó trong tâm trí của họ là một thách thức trong hoạt động lập pháp ở mỗi quốc gia. Vì vậy, đây là một lĩnh vực phức tạp về mặt nghiệp vụ, đòi hỏi sự chuyên môn và sự hiểu biết nhãn hiệu ở góc độ lý luận và thực tiễn phát triển của nhãn hiệu đó, chưa kể còn là một vấn đề nhạy cảm trong việc thực thi cơ chế bảo hộ đối với Nhãn hiệu nổi tiếng. Mặc dù Việt Nam cũng đã có những thành công nhất định trong việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng, tuy nhiên những kết quả đó còn khá khiêm tốn và đã dần bộc lộ nhiều bất cập, thiếu sót. Do đó nghiên cứu để tìm ra một giải pháp tốt cho việc đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam là một vấn đề trọng tâm trong bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng.
Với mục đích chính là tìm ra những giải pháp phù hợp cho thực trạng đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam. Để làm được điều này, ngoài việc nghiên cứu về cơ sở lý luận chung cũng cần có sự đánh giá về thực trạng pháp luật quốc tế cũng như một số quốc gia phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, để tìm ra một giải pháp pháp lý phù hợp còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như kinh nghiệm, lịch sử, bối cảnh của Việt Nam và cũng cần tham chiếu đến thực tiễn áp dụng để tổng kết, đánh giá. Đây là một quá trình dài, liên tục, vì vậy trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả đưa ra những giải pháp pháp lý trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết những vấn đề lý luận được thừa nhận rộng rãi nhưng luật Việt Nam chưa bám sát và các quy định ở thiết chế quốc tế cũng như trong pháp luật quốc gia khác quy định hợp lý, cụ thể hơn để đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về đánh giá và công nhận Nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam. Trong quá trình thực thi, tùy vào yêu cầu của bối cảnh, sự phát triển của các học thuyết pháp lý, các thiết chế pháp lý quốc tế cũng như kinh nghiệm, thực hành tốt từ các quốc gia mà có những sửa đổi, bổ sung phù hợp. Đó vừa là quá trình lâu dài, vừa cần sự đầu tư, quan tâm của Nhà nước, các nhà nghiên cứu, các tổ chức hợp tác phi chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về đánh giá và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
