Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện những quy định liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
3.1.1 Chủ thể tham gia thương mại điện tử
Pháp luật hiện hành quy định chủ thể tham gia thương mại điện tử bao gồm: “Thương nhân, tổ chức, cá nhân Việt Nam; Cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam; Thương nhân, tổ chức nước ngoài có sự hiện diện tại Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập website dưới tên miền Việt Nam” theo Điều 2 Nghị định 52/2013/NĐ-CP. Theo đó, do bản chất thương mại điện tử mang tính chất phi biên giới nên điều kiện về “cư trú” đối với cá nhân nước ngoài hoặc “hiện diện thương mại” đối với tổ chức nước ngoài trở nên không phù hợp với thực tiễn giao lưu thương mại điện tử nói riêng cũng như không có sự phù hợp đối với những hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới điều chỉnh về thương mại điện tử. Một cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài muốn mua hàng hoặc muốn được cung ứng dịch vụ tại Việt Nam thông qua thương mại điện tử nhưng bị loại trừ tư cách pháp lý về chủ thể dẫn đến nhiều vấn đề pháp lý phát sinh trên thực tế. Nhất là khi chủ thể mang yếu tố nước ngoài sẽ cân nhấc có nên tham gia vào giao dịch hay không khi bản thân mình không được bảo vệ bằng những quy phạm pháp luật nội địa. Do đó, pháp luật về thương mại điện tử hiện hành cần có những sự bổ sung về chủ thể, theo đó những chủ thể nào có năng lực theo quy định pháp luật dân sự đều có thể tham gia giao dịch thương mại điện tử. Ngoài ra, một cách quy định khác như tại Điều 2 Luật Giao dịch điện tử Singapore không quy định cụ thể hay loại trừ tư cách chủ thể của bất kỳ chủ thể nào tham gia giao dịch thương mại điện tử. Mà thông qua đó, pháp luật giao dịch điện tử Singapore đưa ra những cách thức và tiêu chí nhằm xác định tư cách chủ thể và xem xét liệu pháp luật nước mình có hay không sự điều chỉnh đối với những giao dịch do những chủ thể này thực hiện trong một giao dịch thương mại điện tử. Và do vậy, để phù hợp và cần thiết trong trường hợp này là nên mở rộng tư cách chủ thể của các bên tham gia trong giao dịch thương mại điện tử, khi mà sự dịch chuyển hàng hoá giữa các quốc gia không còn bó buộc trong lãnh thổ biên giới cố định mà đã trở nên toàn cầu – “phẳng” hơn bao giờ hết.
3.1.2 Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Pháp luật về thương mại điện tử hiện hành chỉ quy định trường hợp “Thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng” tại Điều 15 Nghị định 52/2013/NĐ-CP được áp dụng đối với cách thức giao dịch duy nhất là đặt hàng qua trang thương mại trực tuyến website. Nhận thấy, trong chế định giao kết và đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện trong một hợp đồng truyền thống nói chung và một hợp đồng thương mại điện tử nói riêng thì thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng trở nên khá phổ biến và được các bên tham gia biết đến. Bởi có sự phân biệt giữa một đề nghị giao kết và lời mời đề nghị giao kết về khả năng chịu trách nhiệm pháp lý, ràng buộc khi bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị giao kết. Không những vậy, thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng còn trở nên gần gũi hơn với những thuật ngữ “invitation to make offer”, “invitation to treat” được tìm thấy phần lớn trong những văn bản pháp luật nước ngoài, kể cả những công ước thương mại mà trong khuôn khổ bài viết cũng đã đề cập đến. Do vậy, không có bất kỳ lý do gì để một thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng chỉ được áp dụng đối với cách thức thương mại điện tử được thực hiện thông qua trang bán hàng trực tuyến website. Vì vậy, việc sửa đổi thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng ở phần chung và được áp dụng cho toàn bộ cách thức thương mại điện tử như: ứng dụng di động, email, fax,… là điều mà pháp luật nước ta cũng nên bổ sung nhằm có sự đồng bộ với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới, và tạo được nền tảng pháp lý rõ ràng cho các bên được thực hiện trong quá trình giao kết một hợp đồng thương mại điện tử.
3.1.3 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Thứ nhất, Điều 13 của Nghị 52/2013/NĐ-CP quy định: “Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với một người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao kết”. Như đã phân tích ở phần trên, việc áp dụng hệ thống thông tin tự động hoặc trí tuệ nhân tạo vào giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử đang ngày được áp dụng phần lớn và phổ biến trên thực tế. Theo đó, một cá nhân có thể truy cập trang bán hàng trực tuyến, gởi lời đề nghị giao kết hợp đồng, được hệ thống tự động chấp nhận đề nghị giao kết và thực hiện việc thanh toán trực tuyến ngay chính trên trang bán hàng. Có thể thấy, pháp luật hiện hành về thương mại điện tử chỉ quy định về việc hợp đồng không bị phủ nhận pháp lý về mặt hình thức, thông qua cách diễn đạt của điều luật. Tuy nhiên vấn đề năng lực chủ thể được xem xét như thế nào đều chưa được làm rõ, bởi việc sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc hệ thống chấp nhận từ động được áp dụng như một bên chủ thể trong trường hợp này. Do vậy, theo quan điểm người viết thì “Hợp đồng giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với một chủ thể tham gia giao dịch điện tử hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý về hình thức và nội dung chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao kết”. Theo đó, nếu có những vấn đề liên quan đến nội dung hợp đồng không phù hợp với những quy định pháp luật hiện hành, bao gồm những vấn đề liên quan đến năng lực chủ thể có sử dụng hệ thống thông tin tự động hoặc trí tuệ nhân tạo trong giao kết, thì bên nại ra vấn đề có nghĩa chứng minh sự không phù hợp đó theo những nguyên tắc nền tảng của pháp luật tố tụng, và từ đó, cơ quan tài phán sẽ xem xét liệu nội dung đó có phù hợp hay không thông qua những công cụ vô hiệu hợp đồng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia. Và do vậy, việc công nhận sự chấp nhận tự động như một ngoại lệ điển hình về năng lực chủ thể trong trường hợp thương mại điện tử có sử dụng hệ thống chấp nhận tự động hoặc trí tuệ nhân tạo như một phần của việc giao kết hợp đồng.
Thứ hai, về hình thức của chấp nhận đề nghị giao kết trong thương mại điện tử. Theo đó, nghị định về thương mại điện tử hiện hành chỉ quy định duy nhất hình thức của việc chấp nhận đề nghị giao kết đối với những trường hợp mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được thực hiện thông qua trang bán hàng trực tuyến website, theo Điều 19.1 của Nghị định 52/2013/NĐ-CP. Không chỉ vậy, pháp luật thương mại điện tử còn quy định về hình thức chấp nhận trong trường hợp này phải được thực hiện “dưới hình thức phù hợp để thông tin có thể lưu trữ, in và hiển thị tại hệ thống thông tin của khách hàng”. Và do vậy, pháp luật về thương mại điện tử cần có những sự điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tiễn giao lưu thương mại của những chủ thể trên thực tế. Theo đó, hình thức chấp nhận đề nghị giao kết trong hợp đồng thương mại điện tử được thực hiện bởi bất kỳ hình thức nào, miễn sao hình thức đó phù hợp và được truyền đạt đến người đề nghị giao kết. Ngoài ra, tại Điều 11 Luật Giao dịch điện tử Singapore cũng cùng cách lý giải trên khi vừa thừa nhận phương tiện điện tử trong giao dịch, lại vừa tạo điều kiện cho các bên tham gia giao dịch được lựa chọn phương thức chấp nhận bằng quy định: “Phương tiện điện tử được sử dụng như một phương thức cấu thành nên hợp đồng do vậy hợp đồng không bị phủ nhận giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành chỉ vì phương tiện điện tử được sử dụng cho mục đích đó”. Vì vậy, việc sử dụng hình thức của chấp nhận đề nghị cần nên mang tính chất tuỳ nghi, tạo điều kiện cho các chủ thể được thực hiện giao dịch bằng mọi phương thức miễn phù hợp với luật định mà giao địch đó vẫn được diễn ra mà không vi phạm những quy định cấm của pháp luật. Ngoài ra, pháp luật về thương mại điện tử cũng nên có sự điều chỉnh hình thức của việc chấp nhận lời đề nghị giao kết như là một quy phạm chung cho tất cả các hình thức thương mại điện tử thay vì quy định hiện hành chỉ áp dụng đối với hình thức thương mại điện tử được thực hiện thông qua kênh bán hàng trực tuyến website. Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
3.1.4 Huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Pháp luật về thương mại điện tử hiện hành cũng như pháp luật dân sự nền tảng quy định việc huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng phải kèm theo điều kiện. Theo đó 02 điều kiện để huỷ bỏ đề nghị tuân thủ đúng cách thức theo quy định luật đó chính là: (i) Việc huỷ bỏ đề nghị giao kết phải được thể hiện trong đề nghị được gởi đến bên được đề nghị; (ii) Huỷ bỏ phải được thực hiện trước khi bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị giao kết. Tuy vậy, trong thực tiễn giao lưu thương mại điện tử, nhất là cách thức mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được thực hiện qua trang bán hàng trực tuyến website hoặc ứng dụng di động. Bên bán hàng, cung ứng dịch vụ thường cho phép người tiêu dùng, bên gia nhập vào hợp đồng được phép huỷ bỏ đề nghị giao kết như một sự thay đổi ý định và không kèm bất kỳ điều kiện nào khác. Do vậy, pháp luật về thương mại điện tử hiện hành nên bổ sung điều kiện về huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng đối với cách thức giao dịch mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được thực hiện thông qua trang bán hàng trực tuyến hoặc ứng dụng điện thoại như một ngoại lệ trong chế định đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết. Bởi suy cho cùng, những giao dịch được tiến hành từ phía người tiêu dùng, đa phần là những giao dịch giá trị nhỏ, và đối tượng của hợp đồng thương mại điện tử trong trường hợp này phục vụ những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Về lý thuyết, những hợp đồng có giá trị nhỏ thì rủi ro cũng tỉ lệ thuận tương ứng và dường như là không đáng kể. Do vậy, người tiêu dùng hoặc khách hàng thường không quan tâm đến những vấn đề pháp lý ràng buộc, mà vấn đề được quan tâm trong những trường hợp như thế này là chất lượng sản phẩm hoặc cách thức phục vụ có đảm bảo được nhu cầu của chính người tiêu dùng hay không. Vậy nên, việc huỷ bỏ đề nghị giao kết nếu được thừa nhận như một ngoại lệ trở nên phù hợp với cách thức của những chủ thể tiến hành giao dịch trên thị trường. Ngoài ra còn tạo điều kiện cho những giao dịch thương mại điện tử mang tính chất tiêu dùng, thiết yếu được thực hiện thông qua thương mại điện tử ngày càng trở nên phổ biến bởi sự tiện lợi của nó. Không dừng lại ở đó, thuật ngữ “cooling-off period” được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới được áp dụng nhằm cho phép người tiêu dùng, khách hàng được huỷ bỏ giao dịch thương mại trực tuyến trong một khoảng thời gian nhất định. Và trong trường hợp này, người tiêu dùng được hoàn trả hàng hoá, được nhận lại số tiền đã thanh toán. Lẽ dĩ nhiên người tiêu dùng, khách hàng sẽ phải chịu chi phí đối với việc thay đổi ý định của mình, chẳng hạn như chi phí vận chuyển hàng hoá, chi phí thanh toán,… Và vì vậy, việc tham khảo thuật ngữ “cooling-off period” trong pháp luật thực định hiện hành khiến pháp luật về thương mại điện tử trở nên gần gũi hơn đối với cách thức giao dịch của các chủ thể trên thực tế cũng như đối với những hệ thống pháp luật khác trên thế giới. Mặc khác cũng tạo được một nền tảng pháp lý đầy đủ thúc đẩy giao dịch thương mại điện tử được diễn ra ngày càng phổ biến hơn.
3.2 THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
3.2.1 Minh bạch thông tin trong hợp đồng thương mại điện tử
Như đã phân tích ở phần trên, pháp luật nền tảng về thương mại điện tử chính là Luật GDĐT 2005 đã không có bất kỳ quy định nào nhằm khẳng định việc minh bạch thông tin trong hợp đồng thương mại điện tử như một nghĩa vụ chính hoặc nghĩa vụ cơ bản trong quá trình thực hiện hợp đồng. Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành dù chưa có sự phân loại chính thức việc không minh bạch thông tin trong hợp đồng cấu thành một “vi phạm cơ bản – a fundamental breach of contract” như cách xác định truyền thống của pháp luật hợp đồng Anh Mỹ hoặc trong nhiều công ước về thương mại mà CISG là một ví dụ điển hình cho việc xác định đó. Tuy vậy, thông qua những cơ chế về vô hiệu hợp đồng, pháp luật Việt Nam đã đưa ra cách giải quyết tương đối giống với việc xác định vi phạm cơ bản liên quan đến việc minh bạch thông tin trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Theo đó, việc không minh bạch thông tin được xem là một vi phạm cơ bản thì bên còn lại trong hợp đồng được quyền áp dụng cơ chế huỷ bỏ hợp đồng theo những quy định tồn tại trong nguồn luật nước ngoài, tương tự như việc yêu cầu cơ quan xét xử tuyên bố hợp đồng vô hiệu khi tồn tại việc không minh bạch dẫn đến nhầm lẫn hoặc lừa dối trong giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam đang dừng lại ở câu chuyện giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên liên quan trong quá trình thực hiện giao dịch. Do vậy, pháp luật về thương mại điện tử cần có những sự điều chỉnh, bổ sung về nghĩa vụ minh bạch, cung cấp thông tin trong hợp đồng thương mại điện tử và nghĩa vụ này được xem như một nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia. Theo đó, nếu một bên vi phạm nghĩa vụ này thì bên còn lại được quyền áp dụng cơ chế huỷ bỏ hợp đồng theo quy định pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bản thân mình. Tương tự, một quy định rõ ràng sẽ tạo được tâm lý tuân thủ từ các bên tham gia so với hệ quả pháp lý từ quá trình tố tụng kéo dài khiến cho các bên sử dụng những cơ chế phi chính thức khác, đó cũng là vấn đề mà hệ thống pháp luật Việt Nam đang đối mặt phải trong quá trình đi tìm lại lợi ích, công bằng từ phía cơ quan xét xử của người dân nói chung và của người tiêu dùng, khách hàng trong những trường hợp quyền lợi bản thân bị xâm phạm xảy ra. Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
3.2.2 Hợp đồng mẫu, điều khoản bất cân xứng và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật thương mại điện tử và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay chưa làm rõ được cơ chế vô hiệu hợp đồng trong trường hợp hợp đồng mẫu thương mại điện tử chứa đựng những điều khoản bất cân xứng, điều khoản bất lợi cho người tiêu dùng, chẳng hạn như: Điều khoản loại trừ trách nhiệm của bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ; Điều khoản giải thích hợp đồng có lợi cho bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ; Điều khoản loại trừ trách nhiệm bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ; hoặc Điều khoản hạn chế quyền khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng,… Và như đã phân tích ở trên, về nguyên tắc pháp luật hợp đồng nền tảng, không chỉ vì một điều khoản không có hiệu lực dẫn đến việc vô hiệu cả một hợp đồng. Tuy nhiên, do bản chất thương mại điện tử đặc thù nhằm tạo điều kiện cho người tiêu dùng được huỷ bỏ giao dịch, pháp luật thương mại điện tử nên quy định về việc vô hiệu toàn bộ như một ngoại lệ, một cơ chế chính thức nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng khi người tiêu dùng nhận thấy được những bất lợi cho bản thân thông qua những điều khoản bất công từ việc thực hiện hợp đồng. Theo đó, việc vô hiệu toàn bộ hợp đồng thương mại điện tử còn được xem như một cách thức gián tiếp quy định đối với trường hợp “cooling-off period”. Bên cạnh đó, pháp luật thương mại điện tử cũng có thể bằng quy phạm tuỳ nghi, giao quyền cho người tiêu dùng hoặc khách hàng được lựa chọn cơ chế vô hiệu sao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện giao dịch của chính bản thân mình. Theo đó, quy phạm tuỳ nghi đưa ra 02 sự lựa chọn cho người tiêu dùng chính là: Vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần hợp đồng (chỉ vô hiệu những điều khoản bất công). Và thông qua đó, việc vô hiệu một phần cũng nhằm tạo điều kiện cho các bên được khắc phục những lỗi tồn tại trong hợp đồng và được thực hiện tiếp giao dịch theo đúng tinh thần của nguyên tắc thiện chí trong thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, ở vị thế của pháp luật nói chung, việc một quy định thúc đẩy hoặc tạo điều kiện cho giao dịch trong thực tế được diễn ra so với việc không thừa nhận hoặc loại trừ, làm cho giao dịch đó không thể được thực hiện được thì với vai trò của mình, pháp luật cần có những sự điều chỉnh nhằm thúc đẩy sự phát triển của những giao dịch và như một cách gián tiếp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
3.2.3 Bảo mật thông tin khách hàng và trách nhiệm của bên nắm giữ thông tin Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Pháp luật hiện hành nước ta hiện nay chưa có quy định chính thức về quyền riêng tư, quyền đối với dữ liệu cá nhân như một chế định luật hoặc một lĩnh vực pháp luật theo cách phân chia pháp luật truyền thống. Mà thông qua đó, quyền riêng tư hoặc quyền đối với dữ liệu cá nhân hiện nay đang được quy định một cách rải rác ở những văn bản khác nhau khi có pháp luật có nhu cầu điều chỉnh về việc bảo mật thông tin của khách hàng hoặc người tiêu dùng. Theo đó, pháp luật nước ta cần có những sự bổ sung không chỉ trong lĩnh vực thương mại điện tử mà ở hầu hết những lĩnh vực pháp luật khác có liên quan, chẳng hạn như: ngân hàng, bảo hiểm, mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ,… bằng một quy định nền tảng bởi nhu cầu về việc bảo vệ thông tin cá nhân là quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Việc cụ thể hoá quyền riêng tư, quyền đối với thông tin cá nhân thông qua quy định chung nhất có thể thực hiện ở pháp luật dân sự truyền thống. Ngoài ra, để cụ thể hoá những nội dung chi tiết quyền riêng tư, quyền đối với dữ liệu cá nhân, pháp luật dân sự cần mở rộng phạm vi điều chỉnh quyền riêng tư như cách GDPR điều chỉnh, bằng quy định chung nhất như: “Dữ liệu cá nhân bao gồm bất kỳ thông tin liên quan nào được xác định hoặc nhằm xác định một cá nhân”. Bên cạnh đó, những nội dung của quyền đối với dữ liệu cá nhân mà GDPR điều chỉnh, chẳng hạn như: Dữ liệu truy cập trực tuyến, những dữ liệu xác định di truyền, sinh lý của cá nhân, dữ liệu xác định một chủ thể cá nhân bao gồm mã số thuế, mã số định danh, địa chỉ nhà, số điện thoại, địa chỉ mail,… Có thể thấy, bằng một quy phạm định nghĩa bao quát nhất và việc liệt kê những nội dung bao gồm nhưng không giới hạn như cách GDPR thực hiện khiến pháp luật với vai trò chủ đạo trở nên gần gũi và có thể dự liệu được hầu hết mọi trường hợp diễn ra trên thực tế trong trường hợp có vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền riêng tư hoặc quyền đối với dữ liệu cá nhân.
Nếu như ở trên đề cập đến hướng hoàn thiện quyền đối với thông tin cá nhân bởi những quy phạm định nghĩa thì việc chi tiết hoá những quyền năng cụ thể của quyền riêng tư, quyền đối với thông tin cá nhân cũng là điều pháp luật cần có những sự bổ sung. Một số quyền năng cụ thể liên quan đến quyền đối với dữ liệu cá nhân như: Quyền được thông báo về việc sử dụng thông tin cá nhân; Quyền yêu cầu xoá bỏ thông tin cá nhân – Quyền lãng quên; Quyền phản đối việc sử dụng thông tin cá nhân; Quyền được cải chính những thông tin sai lệch trong quá trình doanh nghiệp khai thác, sử dụng dữ liệu cá nhân; và những quyền năng khác có liên quan mà GDPR đã tiếp cận nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người tiêu dùng. Do vậy, việc chi tiết hoá những quyền cụ thể đối với dữ liệu cá nhân cũng trở nên cần thiết và quan trọng trong giai đoạn hiện nay, nhất là công nghệ được áp dụng vào kinh tế ngày càng trở nên phổ biến và ranh giới giữa việc cung cấp thông tin đối lập với vấn đề bảo mật thông tin trở nên mong manh hơn bao giờ hết thì pháp luật cần có những công cụ nhằm cân bằng những sự đối lập đó nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia trong mối quan hệ thương mại điện tử.
3.2.4 Mức chế tài đối với hành vi vi phạm, đội ngũ thực thi pháp luật và vai trò của cơ quan tư pháp Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Xuyên suốt trong quá trình phân tích những điều khoản có liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử, thì câu hỏi được đặt ra là việc không thiếu vắng những quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh những hành vi vi phạm của các chủ thể tham gia thương mại điện tử, nhưng trên thực tế thì vai trò của pháp luật trở nên mờ nhạt và dường như đứng ngoài cuộc so với những cách thức, những lề lói kinh doanh của những bên tham gia trên thị trường. Do vậy, theo quan điểm của người viết, còn nhiều yếu tố và nguyên nhân khác khiến cho pháp luật đang dần trở nên trơ trước thời cuộc, nhưng chung quy có thể kể đến 03 nguyên nhân chủ yếu mà nếu khắc phục được những bất cập này sẽ khiến pháp luật trở nên hữu dụng hơn, và như một công cụ nhằm khiến các bên tham gia tuân thủ một lẽ tự nhiên của xã hội pháp quyền mà nhà nước ta đang kiên định theo đuổi.
Thứ nhất, mức chế tài đối với hành vi vi phạm. Thông qua những mức chế tài như đã phân tích trong những phần liên quan ở trên trong thương mại điện tử. Dễ nhận thấy được một điều mức xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi này còn mang tính chất tượng trưng, chưa đủ sức răn đe các chủ thể khi có hành vi vi phạm pháp luật. Đó là chưa kể đến mức phạt vi phạm trong trường hợp này so với giá trị hoặc lợi ích mà các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm có được lớn hơn khiến cho nhóm chủ thể này sẵn sàng thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho bản thân. Liệu một cơ chế phạt vi phạm dựa trên doanh thu của doanh nghiệp, như cách mà GDPR thực hiện hoặc pháp luật cạnh tranh Việt Nam tiếp cận từ nguồn pháp luật nước ngoài có khiến cho các bên tuân thủ hơn không? Và như một sự khẳng định lần nữa, một mức vi phạm không đủ sức răn đe so với nguồn lợi ích lớn hơn mà chủ thể có được do vi phạm thì pháp luật ở vị thế này đang thúc đẩy những hành vi thực hiện ngoài luật nhiều hơn so với câu chuyện tuân thủ pháp luật.
Thứ hai, đội ngũ thực thi pháp luật. Nếu như ở trên đề cập đến mức chế tài đối với hành vi vi phạm, được xem là nguồn phát luật nội dung thì giờ đây việc xem xét vai trò của đội ngũ thực thực thi pháp luật nói riêng và của những người thi hành công vụ với vai trò quản lý nhà nước chuyên ngành nói chung, cũng trở nên cần thiết nếu muốn pháp luật như một công cụ cân bằng lợi ích và là sự lựa chọn như một cơ chế chính thức. Theo đó, có thể nhận thấy được đội ngũ thi hành công vụ chưa thực hiện được đúng và đầy đủ trách nhiệm cũng như vai trò của bản thân trong việc quản lý chuyên ngành. Một hệ thống pháp luật đầy đủ đến mức nào đi chăng nữa nhưng thông qua đội ngũ thực thi không minh bạch, không thực hiện được đúng trách nhiệm của mình cũng khiến pháp luật trở nên trơ trước thời cuộc và các bên liên quan. Một cơ chế về cán bộ, công chức và viên chức cứng rắn, chỉ dung chứa những người có trách nhiệm và thực hiện tốt được quyền lực công mà mình nhân danh mới khiến cho pháp luật trở nên gần gũi với người dân và khiến người dân sử dụng pháp luật như một cơ chế chính thức. Và những cơ chế phi chính thức trong lựa chọn, tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức như hiện nay cũng đặt ra nhiều vấn đề mà bộ máy nhà nước cần xem xét đến nếu như muốn phát triển bộ máy nhà nước và hệ thống kinh tế ổn định, bền vững.
Thứ ba, vai trò của cơ quan tài phán trong việc hoàn thiện pháp luật hiện hành. Có thể khẳng định, vai trò của cơ quan xét xử là vô cùng lớn và quan trọng nếu không muốn nói đây là những đội ngũ mang đầy đủ những quyền năng mà tất cả các học thuyết cũng như ở bất kỳ hệ thống luật quốc gia nào đều nhìn nhận vai trò làm luật, giải thích luật và sáng tạo luật trong quá trình thực hiện quyền tài phán của mình, cũng như việc đóng góp vào sự kém hoàn thiện của pháp luật thành văn, vốn dĩ luôn bị động so với sự vận động của những mối quan hệ kinh tế trong quá trình giao lưu thương mại. Tuy vậy, có thể nhận thấy một điều đội ngũ thẩm phán nước ta hiện nay còn hạn chế trong việc giải thích luật thông qua quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên liên quan. Bằng chứng cho thấy là phần “Xét thấy” hoặc “Nhận định của Toà án” của cơ quan xét xử hiện nay chưa giải thích được luật trong những tình huống cụ thể để giải quyết tranh chấp, như cách thực hiện của hệ thống tài phán nước ngoài vẫn thường làm nhằm lý giải những vấn đề pháp lý tồn tại. Mà câu chuyện giải quyết tranh chấp toà án nước ta hiện nay chỉ dừng lại ở câu chuyện áp dụng pháp luật nên dường như việc sáng tạo và giải thích luật trong ngần ấy thời gian chưa phát huy được vai trò vốn có của nó. Mặc khác, vai trò của thẩm phán hiện nay có bảo vệ được đầy đủ quyền lợi cho người cầu viện công lý hay chưa vẫn đang đặt ra nhiều thách thức khi mà người dân nước ta hiện nay đang sử dụng cơ chế phi chính thức nhiều hơn để bảo vệ chính bản thân mình trước quá trình tố tụng kéo dài nhưng quyền lợi chưa chắc được đảm bảo, khiến cho việc sử dụng cơ chế toà án như một công cụ bảo vệ lợi ích vẫn còn khá e dè trước sự tin tưởng của người dân nói chung và những người có quyền, lợi ích bị xâm phạm nói chung.
Tóm lại, một sự thay đổi nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành không chỉ dừng lại ở khía cạnh sửa đổi hoặc điều chỉnh pháp luật nội dung. Mà thông qua đó, nhiều yếu tố khác như đội ngũ thực thi, đội ngũ tài phán, chế tài và những vấn đề khác có liên quan phải được thực hiện một cách đồng bộ mới mong đem lại được hiệu quả. Đó là chưa kể đến những thách thức về mặt đạo đức khiến pháp luật không được lựa chọn như một công cụ nhằm bảo vệ lợi ích của chính bản thân mỗi người bị xâm phạm. Và do vậy, pháp luật nước ta nói riêng cũng như những đội ngũ có liên quan, trong thời gian tới, còn phải thực hiện nhiều sự thay đổi, nếu như không muốn pháp luật vẫn luôn nằm ở ngoài cuộc sống của mỗi người dân, và một xã hội không thể ổn định để phát triển lâu dài do những giá trị chung nhất – thông qua công cụ pháp luật chưa được nhìn nhận và tuân thủ một cách đúng đắn.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Thương mại điện tử nước ta đang phát triển một cách nhanh chóng, chính vì vậy nhu cầu về một nền tảng pháp lý vững chắc tạo tiền đề cho các chủ thể được thực hiện giao dịch trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Việc tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử cũng mang bản chất tương tự khi chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế mà hệ thống quy phạm pháp luật thực định đang gặp phải cũng như dẫn chiếu với những cách thức làm ăn, buôn bán của người kinh doanh để có những sự cập nhật, bổ sung những quy phạm điều chỉnh cho phù hợp với cách thức kinh doanh trên thị trường.
Thông qua đó, pháp luật về thương mại điện tử đã có những sự điều chỉnh kịp thời đối với những vấn đề liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng. Điều đó còn được minh chứng thông qua pháp luật dân sự nền tảng điều chỉnh về hợp đồng, đã có những sự sửa đổi nhất định bằng việc thông qua BLDS 2015 và có hiệu lực áp dụng trên thực tế nhằm điều chỉnh những vấn đề có liên quan đến quá trình giao kết và thực hiện một hợp đồng thương mại điện tử. Tuy vậy, cũng còn tồn tại những điểm bất cập, những điểm hạn chế mà với vai trò pháp luật chuyên ngành, Luật GDĐT 2005, nghị định hướng dẫn, và những văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan vẫn chưa đề cập đến khiến cho các bên giao dịch không nhận được sự điều chỉnh trực tiếp.
Cùng với việc tìm hiểu đề tài giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam, người viết đã đề cập đến những vấn đề chủ yếu như: Hạn chế liên quan đến vấn đề đề nghị, chấp nhận đề nghị, sửa đổi hoặc huỷ bỏ một đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử; Những vấn đề có liên quan trong quá trình thực hiện hợp đồng như: Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, điều khoản bất cân xứng, quyền riêng tư và nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng,… Những vấn đề đó đã được trình bày trong mối tương quan với cách thức giao dịch của những chủ thể trên thị trường để thấy được những điểm tiến bộ và bất cập mà pháp luật hiện hành nước ta đang gặp phải.
Và cuối cùng, thương mại điện tử đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại nói chung và kinh tế công nghệ nói riêng – vốn đang phát triển bởi những sự tiện dụng và lợi ích mà nó mang lại. Thông qua luận văn, việc tìm hiểu những quy định pháp luật điều chỉnh như một cách để nhìn nhận lại, so sánh đối chiếu nhằm hoàn thiện pháp luật thực định nói chung cũng như đóng góp những góc nhìn cho người đọc nhằm bảo vệ được tốt hơn lợi ích của mình nếu bản thân mình có tham gia vào một quan hệ pháp luật thương mại điện tử. Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
