Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 ra đời và có hiệu lực thi hành đã góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đáp ứng được nhu cầu chính đáng của vợ, chồng và góp phần củng cố chế độ Hôn nhân và Gia đình. Bên cạnh những thành tựu đạt được, một số quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân còn quy định chưa cụ thể, thiếu hướng dẫn chi tiết dẫn đến việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất. Ngoài ra, cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội của đất nước đã làm cho các quan hệ tài sản của vợ chồng ngày càng phức tạp nên việc áp dụng vào thực tiễn các quy định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bộc lộ nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý. Đó là:
3.1.1 Những vướng mắc trong quy định của pháp luật
Luật Hôn nhân và Gia đình đã quy định khá chi tiết về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhưng trên thực tế việc giải quyết các vụ việc này cũng gặp nhiều khó khăn, có nhiều vướng mắc cần phải giải quyết. Chẳng hạn như việc xác định lý do chính đáng để chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là rất khó khăn, hay việc căn cứ vào nguyên tắc nào để chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, dựa vào công sức đóng góp hay dựa vào các nguyên tắc khác? Điều này chưa được pháp luật hiện hành quy định cụ thể.
Thứ nhất, “lý do chính đáng khác” để vợ chồng chia tài sản chung chưa quy định đầy đủ. Lý do chính đáng thì rất nhiều, nhưng pháp luật hiện hành lại không giải thích, cũng như không có quy định cụ thể về “lý do chính đáng”. Trên thực tế có rất nhiều vợ chồng có mâu thuẫn cá nhân và không thỏa thuận được nên yêu cầu chia tài sản chung nhưng không muốn chấm dứt hôn nhân. Tuy nhiên, trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn chi tiết chưa hướng dẫn chi tiết về lý do này.
Ví dụ, Chị Vương Thị Hạnh và anh Nguyễn Văn Nhiên kết hôn với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị Hạnh về sống chung với gia đình chồng. Chưa đầy một năm thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau. Quá trình chung sống hai người có một người con chung tên là Nguyễn Minh Tâm, sinh ngày 15/9/2001. Sự việc đã được chính quyền địa phương động viên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Anh Nhiên nhất quyết đòi ly hôn với chị Hạnh, còn chị Hạnh thì không đồng ý ly hôn nhưng có yêu cầu chia tài sản chung.
Về tài sản chung của vợ chồng: chị Hạnh khai gồm tư trang ngày cưới 10 chỉ vàng 24K; tiền 3.000.000 đồng cộng thêm tài sản riêng của chị số tiền 2.000.000 đồng và 3 chỉ vàng 24K. Toàn bộ tài sản trên hai vợ chồng gom vào mở tiện mua bán phụ tùng xe gắn máy do anh Nhiên quản lý. Ngoài ra chị Hạnh còn đưa anh Nhiên số tiền 2.000.000 đồng để anh Nhiên mua chiếc xe gắn máy Trung Quốc mà anh Nhiên đang chạy. Còn anh Nhiên thì thừa nhận tài sản anh đang quản lý như chị Hạnh khai là đúng. Duy chỉ có chiếc xe máy Trung Quốc anh đang chạy, chị Hạnh khai có đưa 2.000.000 đồng để hùn mua là không có, đây là tài sản riêng của anh. Do mâu thuẫn gay gắt không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu xin ly hôn, chia tài sản chung và hoàn lại phần tài sản riêng của chị Hạnh như chị Hạnh yêu cầu. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/DSST ngày 17/9/2002 của Tòa án nhân dân huyện C.K đã tuyên bố chấp nhận yêu cầu xin chia tài sản chung của chị Hạnh căn cứ theo điều 29 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Tòa án nhân dân huyện C.K đã tuyên xử buộc anh Kiên thanh toán cho chị Hạnh 5 chỉ vàng 24K, số tiền 1.500.000đ trong khối tài sản chung của vợ chồng. Đồng thời thanh toán tiếp cho chị Hạnh 3 chỉ vàng 24K và 2.000.000đ là tài sản riêng của chị Hạnh. Tổng cộng là 8 chỉ vàng 24K và 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm ngang đồng). Bác yêu cầu của chị Hạnh cho rằng có đưa 2.000.000 đồng tiền góp vào mua xe gắn máy với anh Nhiên.
Khi chị Hạnh và anh Nhiên không đồng ý với nên đã có đơn kháng cáo không đồng ý với toàn bộ quyết định của án sơ thẩm nên yêu cầu tòa án xem xét lại. Tại Bản án số 04/DSPT ngày 15/1/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh TV không có thay đổi nhiều về nội dung so với bản án sơ thẩm trước đó. Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của chị Hạnh và yêu cầu anh Nhiên phải thanh toán cho chị Hạnh số tiền 3.000.000 đồng trong khối tài sản chung của vợ chồng. Đồng thời thanh toán tiếp cho chị Hạnh 3 chỉ vàng 24K và 2.000.000 đồng là tài sản riêng của chị Hạnh. Tổng cộng anh Nhiên phải thanh toán cho chị Hạnh 8 chỉ vàng 24K và 5.000.000 đồng.
Qua vụ việc trên cho thấy, việc giải quyết của cơ quan tòa án tại hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên là chưa thực sự chính xác, bởi cả hai bản án đều lấy lý do chia tài sản chung do vợ chồng mâu thuẫn không thể hàn gắn được và có yêu cầu chia tài sản chung. Vậy, dẫn chiếu theo quy định của pháp luật hiện hành, lý do chị Hạnh đưa ra có phù hợp hay không? Trong khi đó, anh Dũng lại có đơn xin ly hôn và không muốn chia tài sản chung, cơ quan tòa án lại không xem xét đến nguyện vọng chính đáng này. Bởi vậy, cả hai bản án này chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của anh Dũng.
Trên thực tế, bên cạnh lý do vợ chồng mâu thuẫn không thể hàn gắn được và yêu cầu chia tài sản chung để ở riêng, còn có một số lý do khác Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết cho vợ chồng. Chẳng hạn như trường hợp của bà Tô Thị Niển và ông Huỳnh Văn Chi. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Bà Tô Thị Niển và ông Huỳnh Văn Chi chung sống với nhau trên 44 năm và sinh được 11 người con chung, hiện còn sống 9 người, có gia đình ở riêng 6 người, còn lại 3 người sống chung với ông bà. Cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc. Đến năm 1995 thì phát sinh mâu thuẫn, bà cho rằng ông Chi hà hiếp, đánh đạp bà, từ đó bà Niên bỏ nhà ra đi cho đến năm 2001. Vì ông bà lớn tuổi không làm đơn xin ly hôn mà chỉ yêu cầu chia tài sản chung của bà Niển và ông Chi. Tài sản chung của vợ chồng ông bà gồm có: 01 căn nhà trên; 01 căn nhà dưới 03 căn tất cả là đòn tay cột kèo bằng cây dầu, lợp lá; đất ruộng 25.580 m2 đã cho anh Bóng trước đây hết 5.580m2, còn lại 20.000m2; đất trồng cây hàng năm 4.820 m2; đất trồng cây lâu năm 3.620m2.
Tại bản án số 27/DSST ngày 21/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện D.H đã chấp nhận chia tài sản chung của vợ chồng ông Chi, bà Niển. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Niển và ông Chi, ông Chi đồng ý giao cho bà Niển được hưởng 10.000m2 đất trồng lúa tại thửa 674 trong diện tích chung 25.580 m2; buộc ông Chi giao cho bà Niển được quyền sử dụng 4.820 m2 đất trồng cây lâu năm; buộc ông Chi giao cho bà Niển số tiền 2.892.000 đồng trị giá một nửa căn nhà giao cho ông Chi được quyền sở hữu.
Việc Tòa án nhân dân huyện D.H giải quyết như trên là đúng đắn, tuân thủ quy định của pháp luật về xác định lý do chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và phù hợp với mong muốn chính đáng của ông Chi và bà Niển, đảm bảo tính bền vững của gia đình.
Qua hai bản án trên cho thấy lý do vợ chồng có mâu thuẫn hoặc vợ chồng lớn tuổi không muốn ly hôn để yêu cầu chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại là rất phổ biến. Ngoài hai lý do trên, thực tế vợ chồng có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vì lý do một bên vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình và đem tài sản chung cho người khác, hoặc trường hợp vợ chồng có hành vi phá tán tài sản (nghiện hút, cờ bạc, rượu chè,…), đây là những lý do chính đáng tòa án cần xem xét để chấp nhận yêu cầu của vợ chồng, đảm bảo duy trì đời sống chung của gia đình. Liên quan nội dung này, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan có quy định nếu có những lý do chính đáng sau đây thì có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bao gồm: “vợ hoặc chồng gây ra những mất mát tài sản không hợp lý cho tài sản chung hoặc tình trạng có thể dẫn đến phá hủy tài sản chung hay do quản lý kém hoặc thiếu đạo đức mà việc duy trì cộng đồng tài sản sẽ gây phương hại cho người kia” [2]. Vì vậy, pháp luật hiện hành cần đưa ra hướng dẫn cụ thể về việc xác định lý do chính đáng để tạo điều kiện cho vợ chồng thực hiện quyền tài sản của bản thân. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Thứ hai, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không quy định cụ thể về nguyên tắc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên thông qua cách giải quyết của Tòa án các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã cho thấy đều áp dụng nguyên tắc chia đôi phần tài sản mà vợ chồng có yêu cầu chia. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được các thẩm phán vận dụng dựa trên nguyên tắc chia đôi khi ly hôn nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa vợ chồng đối với tài sản chung. Khi áp dụng nguyên tắc chia đôi cần được hiểu là khi một bên vợ (chồng) được chia một phần tài sản trong khối tài sản chung thì người vợ (chồng) còn lại cũng được chia một phần tương ứng trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác. Do vậy để tránh sự tùy tiện của tòa án khi giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và đảm bảo quyền bình giữa vợ và chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, luật cần bổ sung nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tương tự Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, cụ thể là việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa và chồng.
Thứ ba, một trường hợp thực tế xảy ra là nếu vợ chồng lấy lý do chia tài sản chung do có mâu thuẫn nên tòa án giải quyết cho vợ chồng được chia.
Sau khi chia tài sản chung, mỗi người sống riêng mỗi nơi và không còn quan tâm đến lợi ích của các thành viên trong gia đình. Điều này mặc nhiên thừa nhận chế định ly thân hay không? Trên thực tế, hiện tượng ly thân tồn tại khá phổ biến do sự thay đổi về tư duy và những biến động của thị trường. Vì vậy, hiện tượng này được rất nhiều người quan tâm và chia sẽ trên các diễn đàn và các phương tiện truyền thông khác.
Khi mâu thuẫn vợ chồng đi đến căng thẳng, mọi nỗ lực hòa giải hầu như bế tắc thì ý định ly hôn xuất hiện. Nhiều người nảy sinh tâm lý giải quyết càng nhanh càng tốt, không muốn kéo dài tình trạng căng thẳng, bầu không khí gia đình ô nhiễm đầu độc con cái, để lại nhiều di hại. Tuy nhiên do nhiều lý do vướng mắc như con cái, tài sản, danh tiếng mà nhiều gia đình chỉ dừng ở ly thân. Xu hướng này đang xuất hiện ngày càng nhiều tại các khu vực thành thị [51].
Một cuộc điều tra do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ [3]. Kết quả điều tra cũng cho thấy: Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Số lượng các vụ án ly hôn tăng theo các năm có thể do quan niệm xã hội đối với vấn đề ly hôn không nặng nề như trước. Ba nguyên nhân chính về ly hôn là: mâu thuẫn về lối sống, ngoại tình và kinh tế khó khăn [3, tr.21].
Theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu vợ chồng có sống ly thân thì tài sản của mỗi bên tạo ra vẫn đương nhiên được xem là tài sản chung của vợ chồng vì nó được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Vậy giả sử có trường hợp hai vợ chồng sống ly thân nhưng một bên không chịu lao động và có hành vi phá tán tài sản, còn một bên ra sức lao động để tạo ra của của thì xử lý như thế nào? Quy định này của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ chồng. Mặt khác, nhiều vấn đề khác nảy sinh khi vợ chồng sống ly thân, chẳng hạn như việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái, khi người vợ mang thai trong thời gian sống ly thân được giải quyết như thế nào? Đây là một vướng mắc từ chính những quy định của pháp luật cần được dự liệu phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội.
Thứ tư, đối với quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung chưa được pháp luật hiện hành ghi nhận. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chung của gia đình, đặc biệt là con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động, hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật,… Sau khi tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, về mặt pháp lý quan hệ nhân thân không chấm dứt nhưng quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã thay đổi. Trong một vài trường hợp mục đích của hôn nhân không thực hiện được.Việc pháp luật cho phép vợ chồng có thể chia tài sản chung mà không quy định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một điều cần được xem xét lại. Giả sử, với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng thỏa thuận chia toàn bộ tài sản chung, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó cuộc sống chung của vợ chồng, lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Trách nhiệm của vợ chồng với con cái sẽ được xử lý như thế nào?… Pháp luật đã quy định: “Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng” (khoản 2, Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình), do vậy không nên đặt ra một quy định quá “mở” như Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình đã ghi nhận; không nên cho phép vợ chồng được phân chia phần tài sản chung dùng cho nhu cầu của gia đình và thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng; nên quy định phương án cụ thể về việc đóng góp chi phí cho đời sống chung của gia đình tương tự như quy định của Bộ luật Dân sự Pháp [27].
Thứ năm, hiện nay pháp luật hiện hành chưa ghi nhận hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu. Điều này gây khó khăn cho việc xác định trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với người thứ ba có liên quan, đặc biệt là khi có tranh chấp xảy ra. Có nhiều trường hợp đã lợi dụng việc chia tài sản chung để trốn tránh việc thanh toán nghĩa vụ với người khác. Chẳng hạn: Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Trước đây, chị V có cho bà Nguyễn Thị C. vay tiền. Đến hạn, chị V yêu cầu bà C. thanh toán tiền cho chị V nhưng do bà này không thanh toán nên chị V đã gửi đơn khởi kiện, yêu cầu bà C. thanh toán tiền nợ. Tòa án đã xét xử, tuyên bà C. có nghĩa vụ thanh toán cho chị V số tiền nợ và lãi suất quá hạn. Bản án có hiệu lực pháp luật và chị V làm đơn yêu cầu Thi hành án bằng cách phát mại tài sản là miếng đất diện tích 10 ha. Cơ quan Thi hành án cho biết năm 2003 vợ chồng bà C. có lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung với nội dung: Chồng bà C. được toàn quyền quản lý sử dụng phần đất nói trên. Do đó, Cơ quan Thi hành án không thể kê biên khối tài sản này được [50].
Trong trường hợp trên, để chứng minh thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng bà C nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản đối với chị V là rất phức tạp, nếu tòa án tuyên bố là vô hiệu thì sẽ căn cứ cơ sở pháp lý nào để giải quyết nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của chị V? Một trường hợp khác cũng khó xác định trách nhiệm của vợ chồng khi vợ chồng đầu tư kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Theo quy định tại Điều 141 Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Tính chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản là một trong những hạn chế của chủ doanh nghiệp. Giả sử trong trường hợp người chồng thành lập doanh nghiệp, nhưng hoạt động không có hiệu quả, dẫn đến thua lỗ. Để trốn tránh việc trả nợ cho các chủ nợ, hai vợ chồng đã thỏa thuận chia tài sản chung cho người vợ được hưởng phần lớn tài sản. Sau khi thỏa thuận chia có hiệu lực, chủ nợ yêu cầu trả nợ thì người chồng không có đủ tài sản riêng để thanh toán vì lúc này các thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu tài sản cho người vợ đã thực hiện xong. Vậy, trong trường hợp này, làm thế nào để đảm bảo lợi ích cho các chủ nợ?
Mặc dù Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã quy định các trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được phép yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là vô hiệu, nhưng chưa quy định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đó. Do vậy, đã nảy sinh vấn đề sau khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì chế độ tài sản chung của vợ chồng sẽ được khôi phục lại như thế nào? Việc thực hiện các nghĩa vụ tài sản của vợ chồng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ là như thế nào? Thiết nghĩ, đây cũng là các vấn đề cần được quan tâm làm rõ, tránh tình trạng xây dựng pháp luật chưa hoàn thiện.
Thứ sáu, pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành quy định thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chưa thống nhất. Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định: “Trong trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản” [4]. Như vậy có thể hiểu rằng nếu nội dung này không được xác định trong văn bản thì cũng không làm mất đi tính hợp pháp của nó, bởi thời điểm có hiệu lực pháp định là thời điểm lập văn bản, mặc dù khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định trong văn bản thỏa thuận phải ghi rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung. Bên cạnh đó, văn bản thỏa thuận chia tài sản chung sẽ không có hiệu lực trong trường hợp văn bản thỏa thuận đó bắt buộc phải được công chứng. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Ngoài ra, nếu vợ chồng tự thỏa thuận và thực hiện lập văn bản chia tài sản nhưng không ghi rõ thời điểm có hiệu lực thì thời điểm này được xác định tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản [4]. Điều này đã tạo ra một lỗ hổng lớn, tạo điều kiện cho vợ chồng trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ riêng với người khác. Chẳng hạn như trong trường hợp hai vợ chồng thành lập một doanh nghiệp tư nhân nhưng đứng tên một bên. Khi doanh nghiệp này rơi vào tình trạng khó khăn, thua lỗ kéo dài, số nợ phải trả quá lớn nhưng không có khả năng thanh toán, họ đã lập văn bản thỏa thuận chia tài sản chung và ghi thời gian thỏa thuận việc chia trước đó một thời gian dài, và theo quy định trên thì thời gian được ghi nhận trong văn bản này chính là thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung. Vì vậy, pháp luật hiện hành cần phải quy định thống nhất về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận.
Thực tiễn cho thấy còn rất nhiều nội dung thiếu sót, bất hợp pháp từ trong quy định của pháp luật thực định, do đó thiếu cơ sở pháp lý để đảm bảo thực hiện các quyền của vợ chồng về tài sản, ảnh hưởng đến việc quyết định của tòa án khi giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
3.1.2 Những vướng mắc từ thực tiễn cần pháp luật điều chỉnh Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Trên địa bàn cả nước hiện nay, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng xảy ra không nhiều, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa phương. Địa phương tập trung nhiều yêu cầu thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chủ yếu ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Trà Vinh,.. Một số tỉnh, thành còn lại số lượng vụ việc rất ít, hoặc không có trường hợp nào.
Chẳng hạn tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, số lượng thụ lý yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân rất ít. Một phần do sự tác động của nền kinh tế thị trường vào đời sống gia đình tại đây chưa lớn, một phần ảnh hưởng tâm lý của người dân nên nhu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa nhiều. Có thể thấy điều này qua bảng số liệu cụ thể về yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế sau [42]:
Qua bảng thống kê số liệu trên cho thấy, yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân diễn ra trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế là rất ít. Trong số những vụ việc trên, có một số vụ đã bị Tòa án nhân dân các cấp đình chỉ giải quyết do nhiều nguyên nhân khác nhau nên việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng không thể thực hiện được. Điều này xuất phát từ đặc điểm của tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đây là nơi tồn tại triều đại phong kiến cuối cùng của nước ta nên những ảnh hưởng mang nặng tư tưởng của một thời vẫn còn tồn tại trong một số bộ phận gia đình, tính gia trưởng vẫn còn in sâu trong tư tưởng của nam giới – phần lớn được xem người làm chủ trong gia đình. Vì vậy, rất ít cặp vợ chồng muốn yêu cầu chia tài sản khi hôn nhân đang tồn tại, họ rất sợ dư luận “dèm pha, chê cười”, sợ ảnh hưởng đến cuộc sống chung của gia đình, đặc biệt ảnh hưởng tâm lý con cái của họ. Thêm vào đó, điều kiện kinh tế ở đây chưa phát triển nhiều như một số tỉnh thành khác, hoạt động đầu tư kinh doanh hoạt động chưa mạnh mẽ nên chưa tạo ra nhiều cơ hội để vợ chồng mở rộng đầu tư kinh doanh.
Một số tòa án khác khi giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vẫn gặp một số vướng mắc từ thực tiễn cần được pháp luật điều chỉnh. Chẳng hạn, tòa án chưa thống nhất trong việc xác định nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng để giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc giải quyết chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân khi vợ chồng yêu cầu chia vì mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với người khác, quyền yêu cầu của người thứ ba có liên quan chưa được quan tâm,… Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Ví dụ: Vụ việc của Ông Đặng Thành Phát và bà Huỳnh Thị Nga. Hai ông bà kết hôn vào năm 1974 và có 4 người con chung. Tài sản chung của ông bà gồm 01 lò bánh mì, 01 giường ngủ, 01 bàn dài, 01 quạt điện, 01 máy kole 7 và một số dụng cụ làm bánh mì. Năm 1998 ông Phát bị khởi tố hình sự và phải đi tù giam, bà và các con ở nhà xây dựng 01 nhà tường lầu trên diện tích 108,4m2 đất của mẹ ông Phát ủy quyền cho bà sử dụng, tọa lạc tại thị trấn Càng Long. Bà Nga cho rằng sau khi ra tù, ông Phát có vợ lẽ thường bỏ nhà đi nên bà yêu cầu trọn quyền hưởng nhà đất và lò bánh mì nói trên là tài sản của bà và các con bà. Ông Phát cũng đồng ý với lời khai của bà và đồng ý giao hết tài sản bà Nga khai trên cho bà Nga và các con ông trọn quyền sở hữu.
Tại bản án số 62/2005/DSST ngày 04/05/2005 của Tòa án nhân dân huyện C.L đã chấp nhận yêu cầu của bà Nga. Tuy nhiên ngày 27/6/2005 VKSND tỉnh TV đã kháng nghị bản án nói trên. Vì cho rằng vào năm 1991 ông Phát bị khởi tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, tại bản án hình sự phúc thẩm số 1110/HSPT ngày 27/10/1992 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử buộc ông Phát bồi thường cho Phòng Công an huyện C.L 56.391 kg gạo tương đương với 113.157.000 đồng. Năm 1998 ông Phát ra tù trước thời hạn, cơ quan thi hành án tiến hành cưỡng chế kê biên nhà đất nói trên để đảm bảo thi hành án, ông Phát nói nhà đất đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của bà Nga và bà Nga khởi kiện tranh chấp tài sản trong thời kỳ hôn nhân với ông Phát. Vì vậy, bản án số 20/2005/DSPT ngày 19/9/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh TV đã bác đơn yêu cầu của bà Nga, không công nhận thỏa thuận chia tài sản chung của bà Nga và ông Phát.
Việc tòa án cấp sơ thẩm giải quyết tại bản án số 62/2005/DSST nêu trên là chưa thực sự khách quan. Bởi thẩm phán chỉ mới căn cứ vào lời khai của hai vợ chồng để giải quyết yêu cầu của bà Nga, mà chưa tìm hiểu chính xác nguồn gốc tài sản đang có tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, tòa án cấp phúc thẩm đã chính xác trong việc xác định nguồn gốc tài sản của vợ chồng nên đã chấp nhận kháng nghị số 04/KN-VKS.P5 ngày 27/6/2005 của VKSND tỉnh TV và bác yêu cầu của bà Nga, không công nhận thỏa thuận của bà Nga và ông Phát về việc giao cho bà Nga trọn quyền sử dụng diện tích 108,4m2 đất thửa số 58 và quyền sở hữu nhà một trệt, một lầu trên đất nói trên và một lò bánh mì tọa lạc tại thị trấn C.L, huyện C.L, tỉnh TV. Với nội dụng tại bản án phúc thẩm số 20/2005/DSPT nêu trên đã giúp ngăn chặn việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của ông Phát.
Một trường hợp khác là vụ việc của ông Bùi Văn Vân và Nguyễn Thị Minh Trang. Ông bà kết hôn và chung sống từ năm 1985, ông bà có hai người con chung và có tài sản chung là căn nhà số 542 đường số 25 (Ngô Tất Tố), khu phố Cư Xá Mới, thị trấn Kiên Lương, huyện KL, tỉnh KG. Đây là tài sản chung của hai người nhưng công sức đóng góp tạo dựng phần của ông là chính, vì ông làm trong công ty xi măng Hà Tiên II đã hơn 25 năm, được công ty hóa giá và tiền bạc ông đóng góp vào nhiều hơn vợ để mua căn nhà. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Ông bà thỏa thuận chia căn nhà thành ba phần, ông hưởng hai phần và bà Trang một phần. Trị giá căn nhà thỏa thuận là 233.910.245 đồng. Ngoài ra bà Trang có nợ bà Châu Ngọc Điệp số tiền là 168.672.500 đồng và 1.950 USD. Ông Điệp xác nhận vợ ông có nợ bà Điệp và ông dự định hỗ trợ với vợ ông trả nợ cho bà Điệp nhưng bà Điệp lại yêu cầu vợ chồng ông trả nợ quá khắt khe (không thương lượng thỏa thuận được) nên ông yêu cầu chia tài sản chung để vợ ông có phần tiền riêng trả nợ cho bà Điệp. Bà Điệp không đồng ý vì cho rằng việc bà Trang vay tiền ông Vân cũng biết, nhưng nay ông yêu cầu chia tài sản chung là trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên bà yêu cầu ông Vân bà Trang phải cùng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà, sau đó số dư còn lại ông Vân bà Trang có yêu cầu chia thì chia.
Ngoài ra ông Vân bà Trang còn nợ Ngân hàng Sài Gòn Thương tín số tiền 27.500.000 đồng cộng lãi phát sinh; nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn KL số tiền 21.000.000 đồng cộng lãi phát sinh; nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện KL số tiền 4.500.000 cộng lãi phát sinh.
Tại bản án số 20/2008/HNGĐ-ST ngày 9/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện KL đã tuyên công nhận yêu cầu chia tài sản chung của ông Vân, bà Trang và chia số tiền 233.910.245 đồng (giá trị căn nhà) theo thỏa thuận cho ông bà; ông Vân được chia số tiền là 155.940.169 đồng và bà Trang được chia số tiền 77.970.081 đồng. Đồng thời trong bản án này bác yêu cầu của Ngân hàng Sài Gòn Thương tín, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn KL, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện KL về việc yêu cầu ông Vân bà Trang phải thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ mới chia tài sản chung; bác yêu cầu của bà Điệp về việc không đồng ý chia tài sản chung của ông Vân bà Trang.
Ngày 17/4/2008 bà Điệp làm đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét buộc cả hai vợ chồng bà Trang, ông Vân có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà, vì nợ bà Trang vay dùng vào việc chi dùng chung của vợ chồng; nay vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung và cho rằng nợ này là nợ riêng của bà Trang là do hai vợ chồng muốn tẩu tán tài sản không muốn trả nợ cho bà. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Ngày 23/6/2008 Tòa án nhân dân tỉnh KG đã đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhận thấy trước thời điểm vợ chồng ông Vân xin chia tài sản chung, bà Điệp đã khởi kiện bà Trang đòi số tiền bà Trang còn thiếu trong hợp đồng vay tài sản. Tại bản án số 143/2007/DSPT ngày 22/5/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh KG đã tuyên buộc bà Trang có nghĩa vụ trả nợ cho bà Điệp tiền vốn và lãi là 168.672.500 đồng và 1.950 USD. Trong tờ cam kết trả nợ vào ngày 22/1/2006 và ngày 4/6/2006 ông Vân cùng ký tên vào hai tờ cam kết trả nợ. Nhận thấy yêu cầu của bà Điệp buộc ông Vân phải có nghĩa vụ cùng bà Trang thực hiện nghĩa vụ trả nợ là không đúng với trình tự xét xử và không đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bà Điệp đã xuất trình biên bản xác minh tài sản để kê biên thi hành bản án số 143/2007/DSPT ngày 22/5/2007 của thi hành án huyện KL xác lập, có vợ chồng ông Vân ký tên xác định căn nhà là tài sản chung của vợ chồng và khi hòa giải thi hành án vợ chồng ông Vân yêu cầu trả nợ lần đầu cho bà Điệp là 80.000.000 đồng, số tiền còn lại trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ nhưng bà Điệp không đồng ý. Tại phiên tòa phúc thẩm ông bà trình bày thêm nếu và Điệp đồng ý thỏa thuận này thì ông bà cùng nhau trả nợ cho bà Điệp và không yêu cầu chia tài sản nữa nhưng bà Điệp không đồng ý. Do đó bản án số 21/2008/HNGĐ-PT đã chấp nhận đơn kháng cáo của bà Điệp, sửa bản án số 20/2008/HNST ngày 9/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện KL, bác yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Trong vụ việc này có thể thấy việc giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh KG là đúng đắn, phù hợp với quy định của pháp luật bởi căn nhà là tài sản chung của ông Vân bà Trang tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Việc bà Trang vay tiền của bà Điệp, ông Vân cũng biết và cũng đã thừa nhận. Vì vậy, việc ông Vân và bà Trang yêu cầu xin chia tài sản chung trong thời kỳ hôn là do không thỏa thuận được việc trả nợ cho bà Điệp nên yêu cầu chia này không được chấp nhận là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Trong thực tiễn xét xử, có một số trường hợp do không xác định được “lý do chính đáng khác” là lý do như thế nào nên các tòa án giải quyết không thống nhất. Cùng một lý do yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân yêu cầu tòa giải quyết, có tòa án đồng ý cho chia tài sản chung, có tòa án lại không đồng ý. Điều này, xuất phát từ tâm lý chủ quan của người thẩm phán khi giải quyết vụ việc cũng như quy định của pháp luật chưa đề cập nên tạo ra tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất.
Ví dụ vụ việc của ông Lâm Văn Bảy và bà Mai Thị Song ở thị xã TV. Hai ông bà cưới nhau năm 1956 có chung 10 người con (5 trai, 5 gái), tất cả đều trưởng thành. Trong quá trình chung sống ông bà tạo lập một số tài sản chung. Hiện nay đã bán một số đất, còn lại một căn nhà tường và 1.320m2 đất thửa 528, tờ bản đồ số 7 do ông Bảy và thửa 545 diện tích 2.488m2 do Lâm Quang Tùng (con trai ông Bảy) đứng tên sử dụng. Bà Song cho rằng ông Bảy đã tự ý lấy đất chung của vợ chồng chia cho các con trai nên bà yêu cầu chia đôi tài sản trên để ra sống riêng. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Tại bản án số 95/2005/DSST ngày 20/10/2005 của Tòa án nhân dân thị xã TV đã cho rằng yêu cầu của bà Song là chưa có cơ sở để chấp nhận toàn bộ. Tòa án nhân dân thị xã TV đã cho rằng ông bà sống chung trên 50 năm và đã có con chung, tài sản chung. Trong việc phân chia của ông, bà không đồng đều giữa con trai và con gái, từ đó ông bà mâu thuẫn và bà Song ra cất nhà ở riêng. Mục đích của bà Song xin chia không vì đầu tư kinh doanh hoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng theo quy định của Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên không thể phân chia theo yêu cầu của bà. Do đó bản án của Tòa án nhân dân thị xã TV đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Song. Vì vậy, chúng tôi nhận thấy Tòa án nhân dân thị xã TV đã không khách quan, chưa xem xét hợp lý yêu cầu của các đương sự nên không đảm bảo được quyền định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung.
Từ ba bản án trên cho thấy việc giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc kháng cáo, giải quyết nhiều lần. Một số điểm vướng mắc từ thực tiễn chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần pháp luật điều chỉnh là:
Thứ nhất, Tòa án các cấp chưa xác định đúng căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tòa án các cấp chỉ mới căn cứ vào lời khai và thỏa thuận của vợ chồng để ra quyết định công nhận sự thỏa thuận chia tài sản chung. Tòa án chưa hợp lý khi chưa xem xét kỹ nguồn gốc tài sản của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng để ra quyết định phù hợp. Vì vậy, trong một số trường hợp đã tạo cơ hội cho vợ chồng có thể trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ như trường hợp của ông Đặng Thành Phát và bà Huỳnh Thị Nga.
Thứ hai, do việc xác định căn cứ nguồn gốc tài sản không chính xác nên dẫn đến Tòa án đã bỏ qua việc tìm hiểu nguyên nhân của yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Trong ba vụ án thì có hai vụ có kháng cáo và bị tòa phúc thẩm xử không công nhận thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng vì việc chia tài sản chung đều nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ dân sự với người thứ ba có quyền lợi liên quan. Điều này cho thấy việc giải quyết của tòa án chưa thực sự khách quan, và công tâm.
Thứ ba, cả ba vụ án trên được giải quyết theo trình tự sơ thẩm cũng như phúc thẩm đều chưa quan tâm đến quyền lợi của các thành viên trong gia đình sau khi chia tài sản chung. Trong các bản án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không thấy có điểm nào đề cập đến quyền lợi của các con, cũng như đời sống chung của vợ chồng sau khi chia. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung đối với nhau và đối với đời sống chung của gia đình không được đề cập. Do vậy, việc thực hiện các nghĩa vụ đối với vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình hoàn phụ thuộc vào thỏa thuận của vợ chồng, vào lương tâm, trách nhiệm của cha mẹ với con cái. Vì vậy, pháp luật cần thiết phải dự liệu quy định về nội dung này để đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ chồng và các thành viên còn lại trong gia đình.
Thứ tư, cùng một lý do là vợ chồng có mâu thuẫn nhưng có tòa án xét cho chia, nhưng có tòa án không xem đây là lý do chính đáng để quyết định chia tài sản chung, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất của cơ quan tòa án như trường hợp của ông Bảy và bà Song. Vì vậy, luật cần hướng dẫn chi tiết về “lý do chính đáng khác” là lý do nào để tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong thực tiễn phải giải quyết nhiều lần qua nhiều cấp khác nhau. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, một phần do các quy định của pháp luật chưa phù hợp, một phần do việc áp dụng pháp luật chưa chính xác. Vì vậy bên cạnh việc ban hành các quy định nhằm hoàn thiện luật Hôn nhân và Gia đình, phải không ngừng nâng cao chất lượng của thẩm phán và đội ngũ ngành Tòa án để những phán quyết của tòa án thực sự khách quan và đúng pháp luật.
3.1.3 Một số vấn đề tồn tại cần giải quyết trong việc công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Với mục đích xã hội hóa hoạt động công chứng nên số lượng cơ quan có thẩm quyền công chứng ngày càng tăng nhanh và quy mô khác nhau nên số lượng các văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được công chứng cũng khác nhau ở từng cơ quan, văn phòng, đặc biệt là các văn phòng công chứng hoạt động theo hình thức doanh nghiệp tư nhân. Riêng tại Hà Nội, theo thống kê của Sở Tư pháp đến tháng 5 năm 2012, toàn thành phố có 68 tổ chức hành nghề công chứng, gồm mười phòng công chứng trực thuộc Sở Tư pháp (được gọi là phòng công chứng công) và 58 văn phòng công chứng (công chứng tư) với 183 công chứng viên. Mạng lưới các phòng công chứng, văn phòng công chứng phủ hầu khắp các quận, huyện, thị xã của thành phố [20]. Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể công chứng hoặc không cần thủ tục này, ngoại trừ một số văn bản thỏa thuận yêu cầu phải có công chứng theo quy định của pháp luật liên quan đến việc chia tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất,… Thực tế cho thấy có rất nhiều trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được vợ chồng thỏa thuận bằng văn bản và công chứng tại các cơ quan công chứng có thẩm quyền. Số lượng văn bản này tại các văn phòng công chứng ngày càng tăng, chủ yếu diễn ra tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này xuất phát từ việc những ưu điểm mà nó đem lại, chủ yếu do chi phí công chứng thấp, được giải quyết nhanh chóng chỉ với thủ tục đơn giản, đặc biệt số lượng văn phòng công chứng được cấp phép hoạt động ngày càng tăng nên tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại. Hầu hết vợ chồng yêu cầu công chứng thỏa thuận chia tài sản chung thực hiện tại các văn phòng Công chứng chủ yếu để phân chia tài sản là bất động sản và tài sản gắn liền với đất. Chẳng hạn trường hợp của ông Vũ Hồng Linh và bà Bùi Thúy Hạnh tại Hà Nội. Ông Linh và bà Hạnh tạo lập được hai khối bất động sản tại số 13, và số 61 Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội. Tháng 9 năm 2008 ông Linh và bà Hạnh đã yêu cầu Văn phòng Công chứng Hà Nội chứng nhận thỏa thuận phân chia tài sản là một khối bất động sản và tài sản gắn liền với đất tại số 61, phố Yên Phụ, tây Hồ, Hà Nội. Tại văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng, quyển số 01/TP/CC/VBTT của Văn phòng Công chứng Hà Nội đã chứng nhận thỏa thuận giữa hai người, bà Hạnh được toàn quyền quản lý, sử dụng, cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất theo thỏa thuận của ông bà. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Thực tế cũng có trường hợp vợ chồng thực hiện thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không phải là bất động sản mà là một số tiền nhất định. Ví dụ trường hợp bà Đoàn Thị Hoa và ông Nguyễn Ngọc Văn tại Hà Nội. Tháng 4 năm 2010 ông bà có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của hai vợ chồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam để có một số tiền nhất định và thỏa thuận giao cho bà Hoa số tiền này, nhưng đến tháng 9 năm 2011 ông bà vẫn chưa thanh toán được. Ngày 26 tháng 9 năm 2011, tại văn bản thỏa thuận số 09112181/VBTT, quyển số 3 của Văn phòng Công chứng Mỹ Đình đã chứng nhận thỏa thuận của hai người trong đó xác nhận bà Hoa có nghĩa vụ giao cho ông Văn số tiền một trăm triệu đồng, đồng thời bà Hoa có nghĩa vụ thanh toán mọi khoản nợ gốc, nợ lãi và các nghĩa vụ khác theo Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam.
Tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, thông qua số liệu thống kê tại Văn phòng công chứng số 1 của tỉnh cho thấy, từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2012 chưa có bất kỳ trường hợp nào yêu cầu công chứng thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, còn bản cam kết thỏa thuận tài sản riêng đã có đến 27 trường hợp chỉ trong 6 tháng đầu năm 2012 [49], cam kết tài sản chung của vợ chồng không có trường hợp nào. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện dưới những hình thức khác nhau, như văn bản cam kết tài sản riêng. Điển hình như trường hợp của ông Đỗ Dương T và bà Lê Thị Ánh N. Tháng 5 năm 2012, hai vợ chồng ông bà đã có đơn yêu cầu chứng nhận số tiền được nhận từ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Đỗ Như B và bà Lê Thị H. Tại văn bản cam kết tài sản riêng, quyển số 02TP/CC-SCC-/HĐGD của Văn phòng công chứng số 1 tỉnh Thừa Thiên – Huế đã chứng nhận với nội dung số tiền nhận chuyển nhượng là tài sản riêng của bà N. Tuy nhiên, trên thực tế số tiền này có nguồn gốc từ tài sản chung của vợ chồng ông bà, về bản chất đây là trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng được lập dưới hình thức văn bản cam kết tài sản riêng. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Qua số liệu thống kế trên, chúng tôi nhận thấy hai vấn đề: Thứ nhất, số lượng các vụ việc về thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có chiều hướng tăng nhanh. Điều này cho thấy nhu cầu của vợ chồng muốn có tài sản riêng nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh và nghề nghiệp của bản thân. Thứ hai, vợ chồng thực hiện thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được công chứng không chỉ được thực hiện dưới văn bản này mà còn dưới dạng nhiều văn bản khác như cam kết tài sản riêng của vợ hoặc chồng, hợp đồng tặng cho, ủy quyền. Bởi lẽ, hiện nay Luật thuế thu nhập cá nhân và quy định về Lệ phí trước bạ không quy định cụ thể về thủ tục cũng như những điều kiện ưu tiên, miễn giảm đối với trường hợp vợ chồng đăng ký lại tài sản sau khi chia tài sản chung đã vô tình khiến cho tình trạng vợ chồng “né tránh” làm văn bản thỏa thuận chia tài sản chung và thực hiện các giao dịch giả dưới các hình thức khác diễn ra ngày một nhiều. Bên cạnh đó, trong quá trình tìm hiểu tại các văn phòng công chứng chúng tôi nhận thấy có sự đa dạng về văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Mỗi một văn phòng công chứng đều đưa ra một mẫu riêng theo ý kiến chủ quan của đơn vị mình. Trong đó có rất nhiều nội dung quan trọng không được ghi nhận trong văn bản, chẳng hạn như lý do chia tài sản chung, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung đối với đời sống chung của gia đình mà chỉ cam kết một cách chung chung là việc chia đó không nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản đối với người thứ ba,… Chẳng hạn như văn bản thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa vợ chồng ông Khang và bà Yến được công chứng tại văn phòng công chứng Miền Bắc ngày 05/03/2011 theo số công chứng 05/2011/CCMB/VBTT, quyển số 01TP/CC-SCC/TSVC. Trong văn bản chỉ nêu tài sản chung được chia bao gồm quyền sử dụng đất của ba thửa đất, trong đó có một nhà ba tầng đang được thế chấp tại Ngân hàng. Tài sản này đều được chia cho bà Yến. Bà Yến được toàn quyền sở hữu đối với ba tài sản này; có trách nhiệm trả toàn bộ nợ gốc, lãi, phí cho Ngân hàng và thực hiện thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm và có quyền và nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký quyền tài sản, thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật để trở thành chủ sở hữu duy nhất đối với khối tài sản mà bà được hưởng. Vậy nếu trong trường hợp ông Khang có nghĩa vụ dân sự riêng với người khác thì thực hiện như thế nào? Điều này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba có liên quan đến nghĩa vụ dân sự riêng của ông Khang nhưng sau khi ông Khang không còn tài sản để đảm bảo khả năng thanh toán. Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy khi văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được công chứng thì xem như việc chia tài sản đã hoàn thành, mà không cần phải tiến hành các thủ tục niêm yết công khai. Sau khi chia xong, vợ chồng đã tiến hành các giao dịch dân sự với người thứ ba có liên quan bằng tài sản riêng của mình, trong khi đó người thứ ba không hề biết việc vợ chồng đã thỏa thuận phân chia tài sản chung. Nếu trong trường hợp phát sinh các nghĩa vụ thanh toán mà tài sản riêng của vợ chồng đó không thanh toán đầy đủ thì sẽ rất bất lợi cho họ. Vì vậy, thiết nghĩ Luật Hôn nhân và Gia đình cần bổ sung theo hướng sau khi văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được công chứng và chứng thực thì phải tiến hành niêm yết công khai, đồng thời nên xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được công chứng và công khai trên trang thông tin điện tử ở các văn phòng công chứng. Có như vậy mới đảm bảo được quyền lợi của người thứ ba trong các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ chồng, đồng thời tránh các hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra. Với những hạn chế tồn tại nêu trên liên quan đến hoạt động công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã làm cho hiệu quả của văn bản thỏa thuận này đem lại trên thực tế không cao. Vì vậy, cần thiết phải bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Để giải quyết các tranh chấp về tài sản một cách có hiệu quả, trước tiên phải xác định tài sản chung của vợ chồng một cách chính xác. Vì vậy, hoàn thiện các quy định của pháp luật về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng là vấn đề rất cần thiết.
Thứ nhất, cần quy định thống nhất căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc của tài sản. Tuy nhiên, luật lại chưa quy định cụ thể hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng hay tài sản chung? Sự thiếu sót này nên đã có nhiều quan điểm trái ngược nhau. Có quan điểm cho rằng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó mà không phải là tài sản chung của vợ chồng [9, tr.248]. Ngược lại có quan điểm cho rằng không nên xem tất cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng là tài sản chung mà chỉ những hoa lợi, lợi tức phát sinh trên tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức đó có được do sự đóng góp công sức của vợ chồng mới được coi mà tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác [46, tr.90]. Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai, việc xem xét không phải tất cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung là hoàn toàn hợp lý. Ngoài ra, để phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, cần sửa đổi khoản 2 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP theo hướng thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng nếu thu nhập đó có nguồn gốc hoặc liên quan đến phần tài sản được chia, ngược lại thì được xem là tài sản chung của vợ chồng. Phần tài sản chung và các hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản chung chưa chia, những tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung hoặc những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận sẽ là tài sản chung của vợ chồng.
Thứ hai, đối với việc xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sau đó khôi phục chế độ tài sản chung. Hiện nay, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không quy định, tuy nhiên Điều 9 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP có hướng dẫn về việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi đã chia. Quy định như vậy có tạo sự chồng chéo giữa các văn luật quy phạm pháp luật hay không? Có quan điểm cho rằng cần xóa bỏ quy định này vì không cần thiết [46, tr.96]. Theo quan điểm của chúng tôi, việc khôi phục chế độ tài sản chung là cần thiết vì việc định đoạt tài sản riêng, tài sản chung là quyền của mỗi người, pháp luật đã cho phép vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì cần thiết quy định cho phép họ được khôi phục phần tài sản đã được chia. Tuy nhiên quy định tại Điều 9 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP chỉ mới dừng lại ở việc cho phép vợ chồng có quyền thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng mà chưa dự liệu được hậu quả pháp lý sau khi vợ chồng thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung. Do vậy, pháp luật Hôn nhân và Gia đình cần bổ sung quy định về hậu quả pháp lý của việc khôi phục chế độ tài sản chung đối với trường hợp vợ chồng thỏa thuận khôi phục một phần tài sản đã chia trong thời kỳ hôn nhân thì phần tài sản này sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, phần còn lại không khôi phục vẫn thuộc tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng. Trường hợp yêu cầu khôi phục toàn bộ tài sản chung đã chia thì sẽ khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng.
- Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, con chung và đời sống chung sau khi chia tài sản chung
Theo quy định của pháp luật, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất nên vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung mà không phụ thuộc vào nguồn gốc cũng như công sức đóng góp của vợ chồng vào khối tài sản chung. Tuy nhiên trên thực tế sau khi đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Chính vì vậy, pháp luật cần có những điều chỉnh cụ thể như sau: Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Thứ nhất, pháp luật cần bổ sung quy định cụ thể về việc xác định nhu cầu của gia đình.
Tiêu chí để xác định “nhu cầu của gia đình” hiện nay chưa được pháp luật ghi nhân. Gia đình không chỉ là hai cá nhân đơn lẻ. mà còn nhiều thành viên khác nên nhu cầu của gia đình không chỉ nhu cầu riêng lẻ của vợ, chồng mà là nhu cầu của tất cả các thành viên trong gia đình. Để góp phần xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và ổn định quan hệ Hôn nhân và Gia đình, pháp luật cần phải đưa ra tiêu chí để xác định những nhu cầu cần thiết của gia đình. Nhu cầu của gia đình là những đòi hỏi tự nhiên của các thành viên trong gia đình bao gồm cả nhu cầu vật chất là tinh thần. Vì vậy, pháp luật cần dự liệu tiêu chí xác định nhu cầu của gia đình nhưng phải phù hợp với chuẩn mực, đạo đức xã hội và phù hợp các quy định của pháp luật có liên quan.
Thứ hai, về nghĩa vụ của gia đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về trường hợp này nên thực tế đã không đảm bảo được lợi ích của các thành viên trong gia đình. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để thực hiện nghĩa vụ dân sự với người khác hay vì lý do chính đáng, một số người đã không còn thực hiện các nghĩa vụ chung với gia đình, dẫn đến việc tranh chấp thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Tuy nhiên trên thực tế Tòa án không có căn cứ pháp lý để giải quyết nên vấn đề này còn bỏ ngõ, do vậy trong bản án về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thường không đề cập đến nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình sau khi chia. Do đó pháp luật cần bổ sung quy định về nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Việc hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để tòa án xác định cụ thể nghĩa vụ của mỗi bên vợ chồng liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ chung của gia đình.
- Về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, “chia đôi” tài sản chung của vợ chồng chỉ được áp dụng đối với trường hợp xin ly hôn, mà không quy định cho việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và chia tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng chết trước. Do đó, đối với yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tòa án có thể chia như thế nào cũng được, dẫn đến việc áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, không thống nhất. Vì vậy Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cần kế thừa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, dự liệu nguyên tắc chia đôi tài sản chung đối với cả ba trường hợp. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để việc áp dụng pháp luật giải quyết các yêu cầu của vợ chồng thống nhất, đảm bảo việc phân chia tài sản của vợ chồng một cách công bằng, khách quan, đảm bảo được nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng.
- Về việc công nhận của tòa án đối với việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và văn bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại có thể do vợ chồng tự thỏa thuận nhưng phải được cơ quan tòa án công nhận. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành quy định việc chia tài sản chung chỉ cần vợ chồng tự thỏa thuận với nhau mà không cần bất kỳ ai công nhận. Quy định này đã đem lại sự tự do tuyệt đối cho vợ chồng trong việc định đoạt tài sản chung, nhưng đồng thời cũng dẫn đến tình trạng thỏa thuận chia tài sản chung nhằm mục đích trốn tránh thực hiện dân sự với người khác.
Pháp luật hiện hành quy định vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì cũng có quyền khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng. Việc khôi phục chế độ tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng và phải được lập thành văn bản, mà không cần bất kỳ cơ quan nào công nhận, công chứng hay chứng thực. Do đó không thể có cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng sau khi chia. Để khắc phục tình trạng trên, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cần bổ sung quy định thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng như việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có thể thỏa thuận nhưng phải có sự công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cụ thể là Tòa án và cơ quan công chứng. Điều này sẽ hạn chế tối đa các hành vi vợ chồng lợi dụng việc chia tài sản chung để tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với người thứ ba có liên quan.
- Về việc xác định “lý do chính đáng khác”
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định ba lý do để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên “lý do chính đáng khác” lại quy định một cách chung chung, và chưa có hướng dẫn cụ thể. “Lý do chính đáng” là một quy định kế thừa từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 và được hướng dẫn chi tiết tại Điểm b, mục 3 Nghị quyết số 01/1988/NQ-HDDTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “trong khi hôn nhân tồn tại, Điều 18 cho phép chia tài sản của vợ chồng nếu có lý do chính đáng (như vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng, do đó một bên hoặc cả hai bên xin chia tài sản thì tài sản được chia như khi xử về ly hôn) [40]. Ngoài hướng dẫn trên tại Nghị quyết 01/1988/NQ-HĐTP thì không có bất kỳ một văn bản nào giải thích về lý do chính đáng. Thực tế cho thấy vợ chồng khi gặp một số lý do như vợ/chồng ngoại tình, mang tài sản cho người khác, hoặc một bên vợ hoặc chồng có hành vi phá tán tài sản, cờ bạc, nghiện hút, cá độ,.. thì người kia có yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc chia tài chung trong thời kỳ hôn nhân vì những lý do trên xuất phát từ lợi ích chính đáng của gia đình, quyền lợi của vợ chồng và của người thứ ba mà không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì việc thừa nhận việc chia tài sản chung của họ là cần thiết. Trong những trường hợp như trên, pháp luật cần thừa nhận việc thỏa thuận chia tài sản chung của họ cũng như quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, pháp luật cần có quy định hướng dẫn về các trường hợp được xem là có “lý do chính đáng” khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Về quyền khởi kiện của người thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng
Pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành chỉ công nhận quyền của vợ, chồng hoặc của cả hai vợ chồng yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Quyền khởi kiện của người thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng không được thừa nhận. Điều này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc luật định. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng đã cho thấy vướng mắc ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Bởi vì có trường hợp người vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản đó không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng không có thỏa thuận là các nghĩa vụ riêng đó chỉ do một bên thực hiện, và không yêu cầu tòa án chia tài sản chung nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự với người khác. Trong trường hợp này nếu không thừa nhận quyền khởi kiện của người thứ ba có liên quan để lấy tài sản chung đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ thì lợi ích của họ không được bảo đảm. Vì vậy, pháp luật Hôn nhân và Gia đình cần xem xét ghi nhận quyền khởi kiện của người thứ ba có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản chung của vợ chồng có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu việc khởi kiện này không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình người có nghĩa vụ. Vì vậy, cần thiết phải công nhận quyền khởi kiện của người thứ ba có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.
3.2.2 Những điều cần chú ý khi giải quyết việc chia tài chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Tại Toà án
Thông thường khi vợ chồng không thỏa thuận được về việc chia khối tài sản chung hợp nhất trong thời kỳ hôn nhân mới yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Tuy nhiên theo tìm hiểu của tác giả cho thấy, đa phần khi vợ chồng có yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi giải quyết tại tòa thì thường được giải quyết theo hướng vợ chồng tự thỏa thuận và xin rút yêu cầu chia hoặc theo hướng yêu cầu xin ly hôn và chia tài sản chung. Nguyên nhân một phần do ý thức người dân còn hạn chế, nhưng một phần xuất phát từ nhận thức chủ quan của cán bộ tòa án thụ lý yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Bởi vì họ nhận thấy các quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân còn thiếu, chưa hoàn thiện và khó áp dụng. Nếu thụ lý và giải quyết cho chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại có thể dễ kháng án kéo dài. Điều này là không đảm bảo với mong muốn chính đáng của nhiều cặp vợ chồng, không phù hợp với tinh thần điều luật quy định. Chính vì vậy, bên cạnh việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân cũng cần nâng cao trình độ nhận thức của cán bộ tòa án để giúp vợ chồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản chung hợp nhất, vừa đảm bảo tính hợp lý với yêu cầu thực tiễn vừa đảm bảo tính hợp pháp của quy định pháp luật.
- Tại cơ quan Công chứng
Niêm yết công khai văn bản thỏa thuận chia tài sản chung cũng như văn bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Để đảm bảo lợi ích chính đáng của người thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, pháp luật Hôn nhân và Gia đình cần bổ sung thêm quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung và văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được niêm yết công khai tại nơi thường trú, tạm trú. như đối với thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Quy định cụ thể về thuế, lệ phí liên quan đến tài sản được chia khi vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Nhằm hạn chế tình trạng vợ chồng “né tránh” việc thực hiện các văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng đang diễn ra phổ biến trong thực tế, được thực hiện thông qua các hình thức văn bản khác như văn bản cam kết tài sản riêng, hợp đồng tặng cho, ủy quyền,… Các văn bản luật có liên quan, cụ thể là luật thuế thu nhập cá nhân hoặc văn bản hướng dẫn và Nghị định quy định về lệ phí trước bạ phải dự liệu thêm trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (đối với các tài sản là bất động sản, tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu) là trường hợp được miễn thuế, không phải nộp lệ phí trước bạ.
- Nâng cao ý thức pháp luật đối với đội ngũ Công chứng viên tại các văn phòng Công chứng
Thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật có thể công chứng, ngoại trừ một số thỏa thuận theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng thì phải công chứng. Hiện nay, đa số nhận thức người dân về pháp luật nói chung và pháp luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng chưa cao, nên chủ yêu khi có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đa phần đều rất e ngại phải thực hiện tại cơ quan công chứng. Để tránh sự phiền phức của các thủ tục hành chính, nhiều vợ chồng đã cam kết tài sản đó là tài sản riêng, mặc dù nguồn gốc tài sản là tài sản chung của vợ chồng [49]. Họ chưa thấy hết hậu quả của việc cam kết tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân nên khi có tranh chấp xảy ra các đương sự thường kháng cáo kéo dài. Do vậy, để tránh tình trạng đó xảy ra cũng như đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng, khi tiến hành các thủ tục công chứng có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, công chứng viên phải giải thích rõ cho vợ chồng để họ lựa chọn cách thức phù hợp với thực tế quan hệ tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy việc nâng cao ý thức pháp luật đối với đội ngũ công chứng viên là việc làm cần thiết để pháp luật nói chung và việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng được đảm bảo thực hiện.
3.2.3 Một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả việc chia tài chung trong thời kỳ hôn nhân
- Nâng cao trình độ, nâng lực của đội ngũ làm công tác giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Bên cạnh nhiều nguyên nhân khiến tình trạng xét xử các vụ việc về Hôn nhân và Gia đình nói chung và giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng gặp nhiều khó khăn, xét xử lại nhiều lần theo nhiều cấp khác nhau là do thiếu thẩm phán và trình độ thẩm phán còn chưa được nâng cao. Báo cáo của ngành tòa án về công tác xét xử nhiệm kỳ Quốc hội khóa 12 (từ ngày 01/10/2006 đến 01/10/2010) cho thấy án Hôn nhân và Gia đình giám đốc thẩm đã giải quyết 497 vụ, có 460 vụ hủy bản án và quyết định của Tòa án nhân dân các cấp. Thực trạng trên cho thấy cần thiết phải sửa đổi các quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình, đồng thời phải quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngành Tòa án nói chung và đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết vụ việc Hôn nhân và Gia đình nói riêng, trong đó có việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án. Ngành Tòa án cần có chiến lược lâu dài về quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ theo kịp sự phát triển của xã hội, đồng thời có cơ chế phối hợp với các cơ quan hữu quan khác có liên quan trong việc giải quyết án Hôn nhân và Gia đình nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng.
- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật hôn nhân và gia đình để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân
Một trong những lý do làm cho vụ việc bị kháng cáo, khiếu nại kéo dài và là do trình độ nhận thức của đương sự còn hạn chế. Có rất nhiều trường hợp tòa án các cấp đã giải quyết theo đúng quy định của pháp luật nhưng họ vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết đó nên đã làm cho vụ việc kéo dài. Do đó, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về Hôn nhân và Gia đình nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng là cần thiết. Công tác này phải được tiến hành thường xuyên và sâu rộng trong các cấp, các ngành, trong nhân dân, trong nhà trường và trong từng gia đình [35] để nâng cao ý thức của người dân tiến tới xây dựng văn hóa pháp lý trong nhân dân.
Bên cạnh đó cần thiết phải hoàn chỉnh các quy định pháp luật của các ngành luật khác để giữa các ngành luật có sự thống nhất, giúp việc áp dụng pháp luật được thống nhất, thuận tiện và dễ dàng hơn.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công chứng các thỏa thuận có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng tại văn phòng công chứng Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Hệ thống cơ sở dữ liệu này là tập hợp những thông tin về tình hình, kết quả và tình trạng của các thỏa thuận có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, bao gồm văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng như văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung. Hiện nay, nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân về vấn đề này là rất lớn. Vì vậy, mục tiêu chính của cơ sở dữ liệu này nhằm cung cấp hệ thống thông tin để nhiều người có thể tìm kiếm dữ liệu có liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng, từ đó giúp họ đưa ra quyết định có tham gia hay không vào các giao dịch dân sự với vợ hoặc chồng liên quan đến tài sản chung đó. Ngoài ra cơ sở dữ liệu này sẽ tăng cường khả năng tiếp cận thông tin về các quy định của pháp luật hiện hành, tăng tính minh bạch, công khai của văn bản thỏa thuận và thiết lập một cơ sở lịch sử về hệ thống thông tin liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.
Vì thế, giải pháp xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và công khai dữ liệu này trên trang thông tin tại các văn phòng công chứng về các thỏa thuận có liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng sẽ đóng góp rất tích cực cho công tác quản lý nhà nước, cho hoạt động công chứng và đem lại nhiều lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và nhà nước.
Trên đây là một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và Gia đình về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, giúp nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án trong điều kiện hiện nay.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Việc hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và Gia đình nói chung và quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói chung có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật Hôn nhân và Gia đình, tạo ra sự thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta. Đặc biệt xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã tác động rất lớn đến các quan hệ xã hội, quan hệ Hôn nhân và Gia đình nên tính chất của các quan hệ này ngày càng đa dạng và phức tạp. Vì vậy, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách để điều chỉnh kịp thời các quan hệ Hôn nhân và Gia đình, tạo môi trường pháp lý linh hoạt để đảm bảo mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững. Nhìn chung những quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn tương đối chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn, phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của vợ chồng và các bên có liên quan. Ngoài ra, các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản chung hợp nhất của vợ chồng một cách khách quan, đúng pháp luật, qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mỗi bên, các thành viên trong gia đình và của người thứ ba.
Tuy nhiên, xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển kéo theo sự thay đổi không những các quan hệ xã hội. Số lượng các vụ án về Hôn nhân và Gia đình nói chung và chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nói riêng ngày càng gia tăng với tính chất phức tạp hơn, gây ra không ít khó khăn cho quá trình giải quyết yêu cầu của các bên. Gần 12 năm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành nên một số quy định đến thời điểm này không còn phù hợp, một số còn chưa cụ thể, thiếu chi tiết dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình giải quyết, cộng thêm trình độ năng lực còn hạn chế của một số cán bộ chuyên trách công tác giải quyết về Hôn nhân và Gia đình đã kéo dài thời gian tranh chấp tài sản giữa vợ chồng. Vì vậy, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cần quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn để người dân dễ hiểu, những người thực thi pháp luật cũng dễ tiếp cận tạo ra sự áp dụng pháp luật thống nhất trên toàn quốc và góp phần đồng bộ hóa hệ thống pháp luật Việt Nam.
Tác giả mong muốn cùng với luận văn này và những công trình nghiên cứu khác có thể góp phần trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 trong thời gian tới, đồng thời trở thành công trình khoa học có ý nghĩa đối với công tác giảng dạy, nghiên cứu, áp dụng pháp luật cho các thế hệ sau về Hôn nhân và Gia đình. Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
