Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự và kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự

3.1.1. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chế định giải quyết việc dân sự

Trong những năm gần đây, số lượng các loại việc dân sự được người yêu cầu Tòa án giải quyết tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy tính ưu việt của thủ tục giải quyết việc dân sự trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhiều chuyển biến tích cực, chế định giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự ngày càng khẳng định được vị thế và tầm quan trọng của mình.

  • Bảng 3.1: Thống kê số lượng các loại việc dân sự Tòa án nhân dân đã giải quyết từ năm 2020 đến năm 2024

Các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý quan trọng để đương sự có thể thực hiện quyền yêu cầu và Tòa án có thể vận dụng linh hoạt nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự một cách nhanh gọn, tiết kiệm được cả về thời gian, công sức và chi phí tố tụng của Nhà nước cũng như của các đương sự, bảo đảm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Về lập pháp, để ghi nhận một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ hoặc công nhận cho mình quyền về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động trong đời sống hàng ngày, pháp luật hiện hành cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận về sự kiện pháp lý đó. Chế định giải quyết việc dân sự được xây dựng trong Bộ luật tố tụng dân sự là một loại hình thủ tục tố tụng dân sự đặc biệt. Qua khảo sát, nghiên cứu thực tiễn giải quyết các loại việc dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, tác giả nhận thấy chế định giải quyết việc dân sự đã quán triệt tinh thần của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW: “Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh…” “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự…”. Vì vậy, việc áp dụng chế định giải quyết việc dân sự đã đạt được những kết quả sau:

Thứ nhất, chế định giải quyết việc dân sự góp phần giảm tải cho Tòa án trong công tác xét xử các vụ việc dân sự.

Việc lựa chọn giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự làm cho vụ việc lẽ ra phải giải quyết theo trình tự, thủ tục vụ án như trước đây theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì nay sẽ được giải quyết nhanh chóng, kịp thời hơn bằng trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự. Bởi lẽ, khi có tranh chấp phát sinh các bên đương sự đều phải đối mặt với những nguy cơ bất lợi mà họ phải gánh chịu như án phí phải trả cho Tòa án cao hơn so với việc dân sự nhất là đối với những loại vụ án về tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có giá ngạch quy định tại khoản 2, 3 và 4 Mục I trong Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án [39] mà lẽ ra họ có thể chỉ phải trả một khoản tiền rất nhỏ là lệ phí theo quy định tại khoản 1 Mục 2 Danh mục này; thời hạn giải quyết kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên, chẳng hạn như việc ly hôn thời hạn giải quyết theo trình tự, thủ tục vụ án dân sự là 4 tháng hoặc có thể kéo dài đến 6 hoặc 8 tháng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự và trong khoảng thời gian này tình trạng vợ chồng vốn dĩ đã không còn tình cảm cộng thêm khoảng thời gian dài như vậy sẽ dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và hậu quả không chỉ dừng lại ở khía cạnh vật chất mà còn ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của con trẻ… thay vì nếu họ tự nguyện thỏa thuận cùng nhau giải quyết được các vấn đề về việc ly hôn, tài sản và chăm sóc nuôi dưỡng con và chỉ yêu cầu Tòa án công nhận cho họ việc thuận tình ly hôn theo thủ tục giải quyết việc dân sự Tòa án không cần phải đưa vụ án ra xét xử, không cần phải thực hiện các thủ tục tố tụng khác như nghiên cứu hồ sơ, lấy lời khai của các bên, thu thập thêm tài liệu chứng cứ khác, thời hạn ngắn hơn, Tòa án không cần phải mở phiên tòa, do một Thẩm phán giải quyết đã giảm tải cho Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự bởi trình tự thủ tục mềm dẻo, đơn giản mang lại hiệu quả thiết thực cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, rút ngắn được thời gian, công sức, kinh phí cho Nhà nước và nhân dân, giảm đáng kể về công việc đối với cơ quan tiến hành tố tụng mà vẫn bảo đảm được quyền, lợi ích của các đương sự

Thứ hai, chế định giải quyết việc dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường, giải quyết các yêu cầu về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại một cách nhanh chóng không phải như trước đây theo trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự rườm rà, thời gian giải quyết kéo dài có thể từ 4 đến 8 tháng giúp cho các Thẩm phán nói riêng cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung có thể tập trung tốt nhất vào các vụ việc phức tạp hơn và theo đó tránh xáo trộn các quan hệ xã hội của các bên góp phần ổn định nền kinh tế thị trường. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Thứ ba, với trình tự, thủ tục giải quyết đơn giản, nhanh chóng đã tạo thuận lợi cho người dân có thể tiếp cận với Tòa án, trong cuộc sống hàng ngày phát sinh những tranh chấp mà có thể tự giải quyết được bằng con đường hòa giải, thỏa thuận mà không phải khởi kiện ra Tòa và để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp họ chỉ cần yêu cầu Tòa án công nhận cho mình một số quyền và nghĩa vụ về dân sự, Hôn nhân và gia đình hoặc kinh doanh thương mại theo đó tuân thủ nguyên tắc “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” góp phần bảo đảm ổn định trật tự xã hội.

Thứ tư, với các quy định trình tự, thủ tục đơn giản, nhanh chóng chế định giải quyết việc dân sự góp phần nâng cao hiệu suất công tác xét xử của Tòa án, kịp thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và Thẩm phán có thể tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi được giao, làm tăng thêm tinh thần trách nhiệm, buộc họ phải thận trọng, cân nhắc khi thụ lý giải quyết việc dân sự mà vẫn bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Tuy vậy, qua khảo sát thực tiễn giải quyết việc dân sự cũng cho thấy vẫn còn có những hạn chế, vướng mắc. Trong những năm gần đây, số lượng các việc dân sự được Tòa án thụ lý, giải quyết trong tổng số vụ việc dân sự được Tòa án thụ lý, giải quyết chiếm một tỷ lệ nhỏ, chưa đáng kể. Một phần nguyên nhân của tình trạng này là các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự còn chưa rõ ràng, cụ thể, chưa thực sự là một thủ tục đơn giản, thiếu tính mềm dẻo dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau do đó, thay vì yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự đối với một số trường hợp nhưng đương sự lại làm đơn khởi kiện giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự, nhất là các vụ việc về Hôn nhân và gia đình và chúng tôi xin trình bày một số hạn chế, bất cập cụ thể tại phần tiếp theo sau đây.

3.1.2. Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện chế định giải quyết việc dân sự Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

3.1.2.1. Về nguyên tắc giải quyết việc dân sự

Như trên đã phân tích trên đây, theo quy định tại Điều 311 khi giải quyết việc dân sự, Tòa án trước hết áp dụng những quy định tại Chương XX Phần thứ năm của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết. Đồng thời, Tòa án cũng áp dụng những quy định khác của Bộ luật nhưng không trái với những quy định tại Chương XX để giải quyết các việc dân sự như thời hạn xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, thủ tục thụ lý đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử…để giải quyết những việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ví dụ: đối với các quy định tại Chương XIII về thủ tục hòa giải, mặc dù tại Điều 10 quy định “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Song, do bản chất việc dân sự là không có yếu tố tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự nên không cần tiến hành thủ tục hòa giải vì vậy có áp dụng hay không áp dụng quy định tại Chương XIII về hòa giải đối với loại việc dân sự về Hôn nhân và gia đình, hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo quy định tại Điều 88 và 90 LHN&GĐ về công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án tiến hành hòa giải và khi giải quyết thuận tình ly hôn thì vẫn tiến hành hòa giải, nếu các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu công nhận ly hôn mặc dù có tranh chấp về nuôi dưỡng con chung và tài sản nhưng Tòa án lại hòa giải thành thì Tòa án sẽ ra Quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của vợ chồng về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự về nuôi con, chia tài sản [27]. Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành là một chứng cứ để Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Chỉ áp dụng hòa giải trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự với bản chất của vụ án dân sự là có tranh chấp về quyền và lợi ích của các bên đương sự, do đó, pháp luật quy định cần phải áp dụng hòa giải để các bên đương sự từ đó có thể thương lượng, thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp… giúp cho Tòa án tiến hành giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho Nhà nước mà vẫn bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên đương sự. Còn đối với việc dân sự mà ở đó khi chủ thể tham gia chỉ có một bên là người yêu cầu và bên kia là Tòa án – cơ quan có thẩm quyền giải quyết nên không áp dụng hòa giải vì không phù hợp và không cần thiết. Đối với việc dân sự liên quan đến Hôn nhân và gia đình chẳng hạn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn – chúng tôi cho rằng bản chất của yêu cầu này đã thể hiện ý chí thuận tình trong đó đã chứa đựng sự thỏa thuận, tự nguyện về việc ly hôn từ hai bên đương sự, không có tranh chấp… do đó không nên đặt ra thủ tục hòa giải. Nếu tiến hành hòa giải với mục đích là hòa giải đoàn tụ nhưng các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu thuận tình ly hôn thì lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành hay biên bản về sự thuận tình ly hôn đều là không phù hợp vì không đúng mục đích của việc hòa giải [3, tr. 43-45]. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Với những quan điểm như trên dẫn đến một thực tế là một số Tòa án địa phương khi giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn đã tiến hành mở phiên họp xét đơn yêu cầu mà không cần tiến hành thủ tục hòa giải nhưng một số Tòa án địa phương vẫn tiến hành thủ tục hòa giải trước khi mở phiên họp xét đơn yêu cầu để các đương sự đoàn tụ nhưng các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu và Thẩm phán mở phiên họp xét và ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Như vậy, cùng một quy định của pháp luật nhưng đã áp dụng không thống nhất trong thủ tục giải quyết việc dân sự liên quan đến Hôn nhân và gia đình, một số Tòa án đối với loại việc dân sự vẫn tiến hành hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự và một số Tòa án không tiến hành hòa giải. Nhìn từ góc độ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự thì hòa giải trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc đó, theo đó, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ, việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù có quan điểm cho rằng đã là việc dân sự thì đương nhiên không có hòa giải như đã nêu ở trên, ví dụ đối với yêu cầu công nhận sự thuận tình ly hôn thì việc kết hôn là tự nguyện thì ly hôn với sự thuận tình của cả hai bên vợ, chồng cũng thể hiện ý chí thống nhất trong việc chấm dứt hôn nhân và bảo đảm nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các bên Tòa án giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn đó mà không cần phải tiến hành hòa giải. Nhưng theo chúng tôi thì mặc dù cả hai bên đều có yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn nhưng với mục đích xây dựng pháp luật về Hôn nhân và gia đình là tạo sự bền vững của giá trị gia đình, tạo sự ổn định của xã hội bởi lẽ gia đình là tế bào của xã hội thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải, và trong nhiều trường hợp do được Thẩm phán thụ lý giải quyết giải thích, phân tích đúng sai trong quan hệ của họ… mà họ đã tự nguyện rút yêu cầu, trở lại đoàn tụ chung sống góp phần ổn định xã hội và nhất là trẻ em. Riêng đối với trường hợp các bên trong quan hệ hôn nhân trái pháp luật cùng tự nguyện thỏa thuận hủy kết hôn trái pháp luật nhưng các bên có con chung và tài sản chung thì việc hòa giải lại là cần thiết, Tòa án tiến hành hòa giải để các bên có thể thỏa thuận được về vấn đề nuôi con, tài sản chung và nếu các bên thỏa thuận được về những vấn đề này thì Tòa án công nhận việc thỏa thuận về tài sản và việc nuôi con giữa các đương sự trong Quyết định hủy kết hôn trái pháp luật. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng trên thực tiễn, trước mắt khi xây dựng Nghị quyết hướng dẫn giải quyết việc dân sự quy định tại Phần thứ năm cần phải hướng dẫn cụ thể về Điều 311 và cần thiết hướng dẫn cụ thể đối với những loại việc dân sự nào thì Tòa án tiến hành hòa giải khi xây dựng dự án sửa đổi toàn diện đối với Bộ luật tố tụng dân sự.

3.1.2.2. Về đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Hiện nay do chưa có văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết việc dân sự do đó, việc ban hành một mẫu đơn thống nhất là chưa thực hiện được dẫn đến thực tiễn giải quyết hầu hết các Tòa án cấp sơ thẩm đã tự đưa ra mẫu đơn, không thống nhất về hình thức cũng như nội dung đơn. Theo quy định tại Điều 311 thì nguyên tắc chung là áp dụng các quy định khác không trái với các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm Bộ luật tố tụng dân sự và một trong những nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 của Bộ luật tố tụng dân sự là “Mọi hoạt động tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự” [22] và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐTP ngày 03/12/2024 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung thì để bảo đảm cho việc làm đơn khởi kiện đúng và thống nhất, Toà án yêu cầu người khởi kiện làm đơn khởi kiện theo mẫu… ban hành kèm theo Nghị quyết này, tuy nhiên vấn đề đặt ra là có thể áp dụng tất cả các mẫu trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự để áp dụng cho thủ tục giải quyết việc dân sự không. Trong quá trình nghiên cứu luận văn chúng tôi được biết hiện nay mỗi Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tự đưa ra một mẫu đơn của riêng Tòa án đó, được gọi là “Đơn yêu cầu giải quyết việc gia đình”, theo đó sẽ được áp dụng linh hoạt tùy vào từng trường hợp. Nếu trường hợp cả hai bên thật sự tự nguyện thuận tình ly hôn và thỏa thuận được cả ba mối quan hệ thì Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự, nếu trường hợp trước khi làm đơn cả hai bên tự nguyện thuận tình ly hôn nhưng sau khi thụ lý một bên thay đổi hoặc phát sinh tranh chấp về con và tài sản thì Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự..chúng tôi cho rằng đây cũng là một cách áp dụng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và bảo đảm “an toàn” trong khi chưa có hướng dẫn. Theo chúng tôi, đối với thủ tục giải quyết việc dân sự mang tính tố tụng đặc thù thì cần phải ban hành một số mẫu riêng kèm theo hướng dẫn cụ thể như mẫu đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, quyết định giải quyết việc dân sự…giúp cho Tòa án thuận lợi hơn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết.

3.1.2.3. Về thụ lý đơn yêu cầu

Điều 311 quy định đối với thủ tục giải quyết việc dân sự thì trước hết Tòa án áp dụng những quy định tại Chương XX và đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật tố tụng dân sự không trái với những quy định của Chương XX để giải quyết việc dân sự. Như vậy, việc thụ lý đơn yêu cầu cũng như về tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự không được quy định cụ thể tại Chương XX do đó, theo tinh thần quy định tại Điều 311 thì việc thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cũng sẽ được áp dụng theo các quy định tại Điều 171 về thụ lý vụ án của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu luận văn và thực tiễn áp dụng chúng tôi nhận thấy từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2016 có hiệu lực cho đến nay do chưa ban hành văn bản hướng dẫn về trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự do đó còn có sự lúng túng và nhiều ý kiến khác nhau về thủ tục thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án nhân dân và đòi hỏi cũng cần phải có hướng dẫn áp dụng thống nhất.

3.1.2.4. Về thủ tục ly hôn với người bị Tòa án tuyên bố mất tích Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Đối với việc ly hôn mà có một bên là người đã được Tòa án tuyên bố mất tích thì theo quy định tại khoản 2 Điều 89 LHN&GĐ năm 2012 và hướng dẫn tại Điểm b.2 Mục 8 Nghị quyết số 02/2012/NĐ-HĐTP ngày 23-12-2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của LHN&GĐ năm 2012 thì người vợ hoặc người chồng đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, sau khi bản án của Tòa án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân đối với các trường hợp này, do không có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết nên vẫn tiến hành thủ tục thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trú trong khi người đó đã bị Tòa án tuyên bố mất tích và thủ tục thông báo đó phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của Trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu. Quy định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là cần thiết để Tòa án có cơ sở giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc giải quyết vụ án ly hôn đối với họ. Tuy nhiên, vướng mắc phát sinh từ quy định này là mặc dù Tòa án đã tuyên bố người đó mất tích nhưng vẫn phải thực hiện một thủ tục đầy đủ về thông báo tìm kiếm người vắng mặt và chi phí để thực hiện việc thông báo, nhắn tin là không nhỏ, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (khoảng trên 1 triệu đồng). Thời gian qua, Nhà nước đã có chế độ, chính sách hỗ trợ những đối tượng gặp khó khăn như: trợ giúp pháp lý miễn phí, miễn, giảm tiền án phí dân sự, góp phần tạo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia tố tụng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, đối với các chi phí về nhắn tin tìm người vắng mặt để giải quyết vụ án… đến nay chưa có quy định miễn, giảm. Bởi vậy, không ít trường hợp ở những vùng sâu, vùng xa, người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn do không đủ điều kiện để thực hiện việc thông báo theo quy định của pháp luật, đương sự đã phải rút đơn yêu cầu xin ly hôn do không thực hiện được thủ tục này và một số Tòa án cho rằng không đủ cơ sở để giải quyết yêu cầu xin ly hôn của người đó, như vậy, đặt ra vấn đề là có nên nhất thiết phải thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt khi mà người đó đã bị Tòa án tuyên bố mất tích hay không?

3.1.2.5. Về ngày mất tích của người bị yêu cầu là mất tích trong quyết định tuyên bố một người là mất tích

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là mất tích khi mà người đó biệt tích hai năm liền trở lên, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết, thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó hoặc ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng, hoặc ngày đầu tiên của năm tiếp theo quy định tại Điều 78 Bộ luật dân sự. Theo đó, cách tính thời hạn được tính trên cơ sở người có quyền, lợi ích liên quan hoặc những người thân thích của người biệt tích nhớ rõ và có bằng chứng chứng minh đúng ngày, tháng, năm có tin tức cuối cùng của người biệt tích. Tuy nhiên, cho đến nay do không được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng dân sự, cũng như chưa có văn bản hướng dẫn về việc phải ghi cụ thể ngày, tháng, năm mất tích theo quy định của Điều 78 Bộ luật dân sự trong phần quyết định tại Quyết định tuyên bố một người mất tích nên thông thường trong Quyết định giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích đã có nhiều Tòa án nhân dân không ghi rõ ngày mất tích, ví dụ: Quyết định giải quyết việc dân sự số 23/QDDS ngày 20-11-2018 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích của Tòa án nhân dân huyện BĐ đối với Thiếu tá Nguyễn Văn A là quân nhân chuyên nghiệp nhập ngũ năm 1983 tại Ban quản lý dự án X – Bộ Quốc phòng.

Theo nội dung Quyết định này thì ngày 7-9-2015 anh A đã đi khỏi cơ quan và gia đình đến nay chưa thấy về mặc dù cơ quan và gia đình đã tiến hành nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức hay địa chỉ liên lạc của anh A. Ngày 7-9-2018 Ban quản lý X – Bộ Quốc phòng có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện BĐ tuyên bố mất tích đối với anh Nguyễn Văn A. Tại quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm về yêu cầu tuyên bố một người mất tích của Tòa án nhân dân huyện BĐ đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu tuyên bố mất tích của Ban quản lý dự án X – Bộ Quốc phòng đối với anh Nguyễn Văn A và tuyên bố anh Nguyễn Văn A mất tích. Quyết định sơ thẩm trên bị kháng cáo bởi gia đình anh Nguyễn Văn A. Ngày 25-4-2019 tại Quyết định phúc thẩm dân sự về tuyên bố một người mất tích của Tòa án nhân dân tỉnh H căn cứ vào Khoản 1 Điều 78 Bộ luật dân sự, Khoản 3 Điều 26, Điều 161, Điều 280, Điều 311; Điều 318 Bộ luật tố tụng dân sự đã giữ nguyên quyết định sơ thẩm và tuyên bố Nguyễn Văn A mất tích. Với việc áp dụng các quy định trên Tòa án cấp phúc thẩm đã ra Quyết định tuyên bố anh Nguyễn Văn A là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên điều đáng nói ở đây là cả hai quyết định sơ thẩm và phúc thẩm tại phần quyết định đều không tuyên về thời hạn mất tích của anh Nguyễn Văn A được tính từ thời điểm nào. Từ việc không ghi rõ thời điểm mất tích của anh Nguyễn Văn A chúng tôi nhận thấy sẽ có hai cách tính về ngày mất tích của anh A như sau:

  • Theo quy định tại Điều 78 Bộ luật dân sự thì thời điểm mất tích của anh Nguyễn Văn A được tính từ ngày 7-9-2015;
  • Căn cứ vào Quyết định phúc thẩm dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh H ngày 25-4-2019 thì thời điểm mất tích của anh Nguyễn Văn A được tính từ ngày 25-4-2019. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Như vậy, với hai cách tính như trên, chúng tôi cho rằng việc không ghi rõ thời điểm mất tích tại phần quyết định của các quyết định trên sẽ dẫn đến khó khăn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Cùng một người mất tích mà xuất hiện hai thời điểm mất tích khác nhau, cách nhau 4 năm, như vậy sẽ tác động rất lớn đến hậu quả pháp lý của việc một người bị Tòa án tuyên bố mất tích về tài sản và quan hệ nhân thân của người mất tích.

Tương tự như vậy, đối với yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, tại Công văn số 349/2023/QĐ-GĐT ngày 10-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội gửi Viện khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao trao đổi về nghiệp vụ cũng đã nêu một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các việc dân sự tuyên bố một người là đã chết liên quan đến việc xác định ngày chết của người được Tòa án tuyên bố là đã chết. Tòa án thụ lý việc dân sự và tuyên bố ông Nguyễn Văn H là đã chết, song việc xác định ngày ông Nguyễn Văn H chết đã phát sinh ba quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng ngày chết của ông Nguyễn Văn H là ngày Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quan điểm thứ hai cho rằng ngày chết của ông Nguyễn Văn H là ngày biết tin tức cuối cùng của ông H và quan điểm thứ ba cho rằng ngày chết của ông Nguyễn Văn H là ngày sau năm năm kể từ ngày có tin tức cuối cùng của ông H, như vậy cùng một sự việc có ba quan điểm giải quyết khác nhau. Viện khoa học xét xử đã có Công văn số 215/KHXX ngày 21-6-2024 trả lời trao đổi nghiệp vụ, theo đó ngày chết của ông Nguyễn Văn H phải được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 78 Bộ luật dân sự là ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó.

Việc chứng minh đúng ngày, tháng, năm có tin tức cuối cùng của người biệt tích có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định ngày mất tích là ngày nào để trên cơ sở đó Tòa án ra Quyết định tuyên bố một người là mất tích kể từ ngày tháng năm đó và việc tuyên bố cụ thể ngày, tháng, năm mất tích đó sẽ gắn liền với hậu quả pháp lý của việc một người bị Tòa án tuyên bố mất tích liên quan đến tài sản và quan hệ nhân thân của người biệt tích.Việc tuyên bố một người là mất tích có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó góp phần đảm bảo lợi ích của các chủ thể liên quan. Việc xác định đúng điều kiện và hậu quả pháp lý của các tuyên bố này là cơ sở để đảm bảo công bằng về quyền và lợi ích cho các chủ thể, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả những quy định của pháp luật trong việc tuyên bố cá nhân mất tích. Do đó, để bảo đảm thống nhất pháp luật khi giải quyết việc dân sự về tuyên bố một người mất tích, một người là đã chết chúng tôi cho rằng cần thiết phải có văn bản hướng dẫn cụ thể trong toàn ngành về quyết định của Tòa án đối với một người mất tích hoặc một người là đã chết tại Quyết định tuyên bố một người mất tích, là đã chết, theo đó cần phải ghi rõ, cụ thể thời điểm mất tích của người bị mất tích hoặc thời điểm chết của người bị coi là đã chết được tính từ ngày, tháng, năm nào để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

3.1.2.6. Về cơ chế chuyển việc dân sự sang vụ án dân sự trong thực tiễn giải quyết các vụ việc về hôn nhân gia đình Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự thì chỉ có quy định việc nhập hoặc tách trong vụ án dân sự, còn cơ chế chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự trong trường hợp phát sinh tranh chấp trong quá trình giải quyết việc dân sự thì hiện nay vẫn đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Nhiều ý kiến cho rằng đối với những yêu cầu dân sự mà có phát sinh tranh chấp để giải quyết theo đúng các quy định của pháp luật thì cần phải tách nội dung có tranh chấp để chuyển sang vụ án dân sự, do đó đã phát sinh những hạn chế nhất định, chẳng hạn như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hoặc yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn… khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, trong đơn nêu rõ sự tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên nhưng sau đó trong quá trình giải quyết lại phát sinh tranh chấp…đã gây không ít lúng túng cho một số Tòa án, phải ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự, xóa sổ thụ lý giải quyết việc dân sự và hướng dẫn cho đương sự nếu còn yêu cầu giải quyết cần phải làm đơn khởi kiện theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự và bắt đầu lại thủ tục khởi kiện từ ban đầu theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2024 ngày 03-12-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự: nếu các bên thay đổi sự thoả thuận (một phần hoặc toàn bộ) bằng một thoả thuận mới thì Toà án tiếp tục giải quyết việc dân sự theo thủ tục chung; nếu một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận (một phần hoặc toàn bộ), nhưng không thoả thuận được về vấn đề đã được thoả thuận trước đó và có tranh chấp, thì được coi như đương sự rút đơn yêu cầu. Toà án căn cứ vào Điều 311 và điểm c khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Trong trường hợp này Toà án cần giải thích cho đương sự biết nếu họ vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì phải khởi kiện vụ án theo thủ tục chung. Với hướng dẫn trên, các Toà án đã vận dụng để ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự dẫn đến thực tiễn áp dụng không bảo đảm kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, do đó Tiến sĩ Trần Anh Tuấn cho rằng hướng dẫn trên là chưa thực sự hợp lý, “cần đơn giản hóa các quy định về thủ tục để giải quyết nhanh chóng hơn các yêu cầu của đương sự vì trong đó chứa đựng những mối quan hệ pháp luật có mối liên quan mật thiết với nhau, và việc tách ra để giải quyết theo hai loại thủ tục khác nhau có thể gây kéo dài thời gian giải quyết các yêu cầu của đương sự hoặc không bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của họ” [33] chẳng hạn đối với yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật thuộc loại việc dân sự quy định tại khoản 1 Điều 28, nếu trong trường hợp có tranh chấp về tài sản chung vợ chồng, tranh chấp về nuôi con thì các quan hệ này có được giải quyết luôn trong việc hủy hôn nhân trái pháp luật mà Tòa án đang thụ lý giải quyết không hay phải tách thành hai loại: theo trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự hủy kết hôn trái pháp luật và theo trình tự giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp con cái và tài sản theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 27. Vấn đề này hiện nay đang tồn tại hai quan điểm [8]. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tòa án cần phải tách thành hai loại vụ và việc dân sự để giải quyết, theo đó, Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 28 về yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật và thụ lý giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 27 đối với hai quan hệ tranh chấp về nuôi con và tranh chấp về tài sản. Quan điểm thứ hai cho rằng: Tuy hai loại vụ việc khác nhau, nhưng thực tiễn giải quyết thì yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật thường xảy ra trước, được Tòa án thụ lý giải quyết theo loại việc dân sự nhưng trong quá trình giải quyết phát sinh tranh chấp về nuôi con và tài sản chung vợ chồng, do đó Tòa án giải quyết luôn trong việc hủy hôn nhân trái pháp luật và yêu cầu đương sự nộp bổ sung tiền tạm ứng án phí để giải quyết về việc nuôi con và tài sản chung vợ chồng mà không cần phải hướng dẫn đương sự khởi kiện thành một vụ án riêng, bởi đây là hai loại việc khác nhau nhưng có mối liên quan mật thiết với nhau và việc tách ra để giải quyết theo hai loại thủ tục khác nhau có thể gây kéo dài thời gian giải quyết các yêu cầu của đương sự hoặc không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp một cách kịp thời nếu một trong các bên đương sự lại có kháng cáo về phần quan hệ hôn nhân trái pháp luật…Hoặc đối với các loại yêu cầu mà pháp luật quy định giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự quy định tại các điều 26, 30 và Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự sẽ làm mất quyền khởi kiện của các bên đương sự vì hết thời hiệu khởi kiện. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Với những quan điểm khác nhau như trên Tiến sĩ Trần Anh Tuấn cho rằng sẽ là hợp lý hơn nếu có văn bản hướng dẫn pháp luật theo hướng trong quá trình Toà án giải quyết việc dân sự mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có tranh chấp thì Toà án sơ thẩm sẽ yêu cầu đương sự nộp bổ sung tiền tạm ứng án phí theo vụ án dân sự và sau đó ra quyết định áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự để giải quyết yêu cầu có tranh chấp. Sau khi ra quyết định này, Thẩm phán căn cứ vào các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để tiếp tục tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ đối với yêu cầu có tranh chấp, nếu hoà giải không thành thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm [33]. Tuy nhiên, quan điểm này về bản chất vẫn hướng đến tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2024 ngày 03/12/2024, bởi theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì thủ tục giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự phải được thụ lý giải quyết theo đúng trình tự của từng thủ tục từ khi vào sổ thụ lý đơn cho đến khi ra Quyết định, Bản án…theo đó, khi có cá nhân, cơ quan, tổ chức có đơn yêu cầu, đơn khởi kiện gửi đến Tòa án thì sau khi xem xét nội dung đơn Tòa án sẽ thụ lý nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và vào sổ thụ lý, nếu là vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 26, 28 và Điều 30 thì vào sổ thụ lý đối với việc dân sự; nếu là vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 25, 27, 29 và Điều 31 thì vào sổ thụ lý đối với vụ án dân sự… do đó, khi một vụ việc dân sự đã được thụ lý trong sổ thụ lý việc dân sự nếu trong quá trình giải quyết phát sinh tranh chấp mà Tòa án xét thấy cần phải giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự thì theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án đó cần phải được Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự, do đó, Tòa án phải áp dụng theo đúng hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2024 ngày 03-12-2024 đình chỉ giải quyết việc dân sự, đồng thời xóa sổ thụ lý việc dân sự đó, hướng dẫn đương sự làm đơn khởi kiện vụ án dân sự, Tòa án sẽ xem xét, vào sổ thụ lý vụ án dân sự thì Tòa án mới có căn cứ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự…và như vậy cũng vẫn tồn tại những hạn chế như trên đã phân tích.

Hoặc có quan điểm cho rằng xuất phát từ nguyên tắc khi giải quyết các yêu cầu về Hôn nhân và gia đình cần phải giải quyết cùng một lúc ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ vợ chồng về nhân thân, quan hệ con chung và quan hệ về tài sản chung vợ chồng, do đó, khi giải quyết các vụ, việc về Hôn nhân và gia đình thì nên chăng ngay từ khi nhận đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án cần xem xét nội dung đơn yêu cầu và yêu cầu các bên xác định ngay tại thời điểm nộp đơn đã thể hiện được đầy đủ việc cả hai vợ, chồng cùng tự nguyện đi đến thỏa thuận được cả ba mối quan hệ đó và chỉ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn hay không hay chỉ đưa ra yêu cầu Tòa án công nhận về thỏa thuận ly hôn và con chung còn các vấn đề khác không yêu cầu Tòa án giải quyết… Theo đó, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự, bảo đảm áp dụng đúng, thống nhất quy định của pháp luật, nhanh chóng, đơn giản và sẽ giải quyết được những vướng mắc nêu trên. Và từ quan điểm này dẫn đến một vướng mắc hiện nay về đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nói chung và đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn nói riêng, hiện nay về mẫu các loại đơn trên vẫn chưa được ban hành để áp dụng thống nhất và trong quá trình nghiên cứu luận văn chúng tôi được biết hiện nay mỗi Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tự đưa ra một mẫu đơn của riêng Tòa án đó, được gọi là “Đơn yêu cầu giải quyết việc gia đình”, theo đó sẽ được áp dụng linh hoạt tùy vào từng trường hợp. Nếu trường hợp cả hai bên thật sự tự nguyện thuận tình ly hôn và thỏa thuận được cả ba mối quan hệ thì Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự, nếu trường hợp trước khi làm đơn cả hai bên tự nguyện thuận tình ly hôn nhưng sau khi thụ lý một bên thay đổi hoặc phát sinh tranh chấp về con và tài sản thì Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự…chúng tôi cho rằng đây cũng là một cách áp dụng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và bảo đảm “an toàn” trong khi chưa có hướng dẫn. Tuy nhiên, theo chúng tôi, để bảo đảm một trong những nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 Bộ luật tố tụng dân sự: Mọi hoạt động tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2023 và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐTP ngày 03/12/2024 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung thì để bảo đảm cho việc làm đơn khởi kiện đúng và thống nhất, Toà án yêu cầu người khởi kiện làm đơn khởi kiện theo mẫu… ban hành kèm theo Nghị quyết này; Toà án phải niêm yết công khai tại trụ sở Toà án mẫu đơn khởi kiện và hướng dẫn sử dụng mẫu đơn khởi kiện… do đó chúng tôi cho rằng trước mắt cần ban hành mẫu đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn trong Nghị quyết hướng dẫn thủ tục giải quyết việc dân sự bên cạnh việc ban hành mẫu đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và có hướng dẫn cụ thể đối với từng loại đơn yêu cầu. Với việc ban hành mẫu đơn và hướng dẫn sử dụng mẫu đơn chi tiết, cụ thể như trên hy vọng sẽ giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn như đã nêu, bảo đảm nguyên tắc quyền tự định đoạt, phù hợp với xu hướng cải cách tư pháp, đơn giản hóa các quy định về thủ tục tố tụng, mà còn tạo điều kiện tốt nhất cho người dân có thể tiếp cận công lý và ngày càng nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người dân. Tương tự như vậy đối với đơn yêu cầu về xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án và các yêu cầu khác về dân sự (khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự); các yêu cầu về kinh doanh thương mại tại (khoản 4 Điều 30) và các yêu cầu khác về lao động (khoản 3 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự), đây là các loại việc sẽ phát sinh trong thực tế đời sống, được Bộ luật tố tụng dân sự dự tính trong tương lai mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án công nhận các thỏa thuận đó.

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện chế định giải quyết việc dân sự Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

3.2.1. Kiến nghị về sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Ngày 28/11/2025 tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” [24], như vậy, theo quy định của Hiến pháp được hiểu Tòa án sẽ xét xử theo hai thủ tục gồm: thủ tục thông thường là xét xử tập thể, quyết định theo đa số như hiện hành và thủ tục rút gọn được xét xử bởi một Thẩm phán giống như hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới quy định về thủ tục xét xử rút gọn trong tố tụng dân sự như: Canada, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,…

Nhận định rõ về nhu cầu cấp thiết trong việc giải quyết các tranh chấp tiêu dùng bằng thủ tục rút gọn, Luật Bảo vệ người tiêu dùng số 59/2022/QH12 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17-11-2022, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2023 là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức ghi nhận việc giải quyết tranh chấp dân sự về bảo vệ người tiêu dùng (một trong những loại tranh chấp dân sự) bằng thủ tục rút gọn. Theo đó, Khoản 2 Điều 41 Luật này ghi nhận:

Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

  1. Cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện;
  2. Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
  3. Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng [21].

Ngày 19-6-2026 Luật Phá sản số 51/2026/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 01/7/2026 có hiệu lực ngày 1-1-2027 cũng ghi nhận việc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo thủ tục rút gọn, cụ thể Điều 105 quy định như sau: Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Những trường hợp Tòa án nhân dân giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn gồm:

  1. Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 5 của Luật này mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản;
  2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không còn tài sản để thanh toán chi phí phá sản.
  3. Trường hợp Tòa án nhân dân xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết về việc Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.
  4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Tòa án nhân dân thông báo theo quy định tại Khoản 2 Điều này, Tòa án nhân dân xem xét, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản đối với những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này hoặc tiếp tục giải quyết theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết… [25].

Như vậy, việc quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự không còn là tương lai xa nữa mà cần thiết phải được đưa vào nội dung sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự trong thời gian sắp tới theo Nghị quyết số 70/2026/QH13 của Quốc hội điều chỉnh chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, năm 2026 và Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2027. Theo đó, chúng tôi cho rằng những vướng mắc và lúng túng giữa việc áp dụng thủ tục việc dân sự hay vụ án dân sự như đã nêu tại phần trên sẽ được nghiên cứu khi tiến hành sửa đổi toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự theo tinh thần Hiến pháp năm 2025 là Tòa án xét xử theo thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn, theo đó đối với một số vụ án có đủ điều kiện như vụ án có giá trị tranh chấp thấp hoặc một số việc dân sự có sự thỏa thuận, tự nguyện giữa các bên sẽ được xét xử theo trình tự, thủ tục rút gọn, và trên cơ sở đó xây dựng cơ chế có thể chuyển vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn sang xét xử theo thủ tục thông thường đối với một số trường hợp nhất định như các vụ án đang thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn nhưng phát sinh tính chất phức tạp hoặc trường hợp Tòa án xét thấy cần phải thu thập chứng cứ mà thời gian giải quyết sẽ kéo dài không bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… và khi tiến hành sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự toàn diện cần phải thiết kế một Chương riêng quy định về thủ tục rút gọn giải quyết những yêu cầu về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm Bộ luật tố tụng dân sự. Qua nghiên cứu và khảo sát thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự tại các Tòa án cho thấy một số loại việc dân sự có đủ điều kiện có thể áp dụng thủ tục rút gọn cụ thể như sau: Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục rút gọn:

  1. Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
  2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.
  3. Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
  4. Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.
  5. Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
  6. Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
  7. Các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định.

Những yêu cầu về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục rút gọn:

  1. Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
  2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
  3. Yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
  5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
  6. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.

3.2.2. Một số kiến nghị hướng dẫn áp dụng các quy định trong Phần thứ năm về thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Như đã đề cập ở phần trên, việc hoàn thiện chế định giải quyết việc dân sự đã được chúng tôi nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung theo thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 45/2025/QH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII năm 2025 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2026 bổ sung Dự án sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự. Điều này có nghĩa là phải mất một thời gian khá lâu nữa để Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua. Trong khi đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã có hiệu lực từ ngày 01-01-2024, nhưng đến nay Nghị quyết hướng dẫn một số quy định trong Phần thứ năm về thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự theo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự vẫn chưa được ban hành. Do đó, trong phạm vi của một luận văn cao học, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một số nội dung cần phải hướng dẫn trong Nghị quyết nêu trên cụ thể như sau:

3.2.2.1. Về nguyên tắc giải quyết việc dân sự có áp dụng thủ tục hòa giải hay không

Như trên đã phân tích, các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự đã được quy định tại Phần thứ năm và theo quy định tại Điều 311 quy định nguyên tắc chung là đồng thời áp dụng các quy định khác không trái với các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự để giải quyết việc dân sự, tuy nhiên, hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu và cách áp dụng khác nhau về quy định tại Điều 311 khi áp dụng trong thực tiễn tại các Tòa án nhân dân nhất là đối với vấn đề hòa giải khi giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Vấn đề này chúng tôi đã phân tích khá kỹ với nhiều quan điểm khác nhau ở phần trên của luận văn và cũng đã đưa ra một số đề xuất, tuy nhiên, đó cũng mới chỉ là quan điểm cá nhân mà chưa được hướng dẫn chính thức tại một văn bản nào, do đó, chúng tôi đề nghị cần phải được hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể như sau:

Khi giải quyết việc dân sự quy định tại Điều 1 Nghị quyết này, Toà án trước hết áp dụng những quy định chung tại Chương XX Phần thứ năm của Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng những quy định khác của Bộ luật tố tụng dân sự không trái với quy định tại Chương XX Phần thứ năm của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết. Những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự không trái với những quy định tại Chương XX này là những điều luật đã được quy định tại các chương khác của Bộ luật này, không mâu thuẫn với những quy định tại Chương XX và được áp dụng để giải quyết việc dân sự.

  • Những quy định khác không trái với quy định tại Chương XX Phần thứ năm của Bộ luật tố tụng dân sự, ví dụ như sau:

Ví dụ 1: Quy định về quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của đương sự trong vụ án dân sự tại Điều 58 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2023 cũng được áp dụng cho việc giải quyết việc dân sự.

Ví dụ 2: Chương XX không quy định về thủ tục nhận đơn yêu cầu và thời hạn để xem xét thụ lý đơn yêu cầu, vì vậy quy định về thủ tục nhận đơn khởi kiện tại Điều 167 của Bộ luật tố tụng dân sự cũng được áp dụng cho việc nhận đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Những quy định khác của Bộ luật tố tụng dân sự được quy định tại các chương khác của Bộ luật này nhưng trái với quy định tại Chương XX này thì không được áp dụng để giải quyết việc dân sự.

Ví dụ: Theo quy định tại Chương XIII của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành hoà giải vụ án dân sự. Nhưng việc dân sự là việc không có tranh chấp, không cần tiến hành hoà giải, trừ trường hợp công nhận thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2012. Nếu áp dụng quy định tại Chương XIII để tiến hành hoà giải việc dân sự là trái với quy định của Chương XX Bộ luật tố tụng dân sự.

3.2.2.2. Về đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự

Như phân tích trên đây, hiện nay do chưa có văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết việc dân sự do đó, việc ban hành một mẫu đơn thống nhất là chưa thực hiện được dẫn đến thực tiễn giải quyết hầu hết các Tòa án cấp sơ thẩm đã tự đưa ra mẫu đơn, không thống nhất về hình thức và không có hướng dẫn cách thức viết đơn. Theo quy định tại Điều 311 thì nguyên tắc chung là áp dụng các quy định khác không trái với các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên vấn đề đặt ra là có thể áp dụng tất cả các mẫu trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự để áp dụng cho thủ tục giải quyết việc dân sự không. Theo chúng tôi vẫn có thể áp dụng các mẫu trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự nhưng đối với thủ tục giải quyết việc dân sự mang tính tố tụng đặc thù thì cần phải ban hành một số mẫu riêng kèm theo hướng dẫn cụ thể như mẫu đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, quyết định giải quyết việc dân sự…giúp cho Tòa án thuận lợi hơn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một số mẫu cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, về đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự

Khi xét thấy cần yêu cầu Toà án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thì việc đầu tiên để tham gia tố tụng tại Tòa án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải làm đơn yêu cầu và nội dung đơn yêu cầu phải được thực hiện theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết và cần phân biệt như sau:

Đối với cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn yêu cầu. Tại mục tên, địa chỉ của người yêu cầu trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của cá nhân đó. Đồng thời ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Đối với cá nhân là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi không mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình, thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn yêu cầu về việc có liên quan đến hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự đó. Tại mục tên, địa chỉ của người yêu cầu trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của cá nhân đó. Đồng thời ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Đối với cá nhân là người chưa thành niên (trừ trường hợp được hướng dẫn tại Điểm b Khoản 1 Điều này), người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì người đại diện hợp pháp của họ (đại diện theo pháp luật) có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn yêu cầu. Tại mục tên, địa chỉ của người yêu cầu trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó. Đồng thời ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Trường hợp cá nhân khởi kiện là người không biết chữ, không nhìn được, hoặc có các nhược điểm khác về thể chất mà không thể tự mình làm đơn yêu cầu, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn yêu cầu. Người làm chứng ký xác nhận việc yêu cầu và nội dung đơn yêu cầu.

Người có thẩm quyền chứng thực chứng nhận trước mặt người yêu cầu và người làm chứng theo quy định của pháp luật về chứng thực.

“Người làm chứng” quy định tại Khoản 3 Điều 164 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2023 phải là người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 57 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn yêu cầu. Tại mục tên, địa chỉ của người yêu cầu phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó. Đồng thời ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.

Trường hợp đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức thực hiện việc yêu cầu giải quyết việc dân sự thì tại mục “Tên, địa chỉ của người yêu cầu” sau khi ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, phải ghi họ tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó. Tại mục “Người yêu cầu” tại cuối đơn yêu cầu cần phải ghi tên của cơ quan, tổ chức, ghi chức vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức; người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức ký tên, ghi họ, tên của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và đóng dấu của cơ quan, tổ chức.

Trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức ủy quyền cho người khác thực hiện việc yêu cầu giải quyết việc dân sự thì tại mục “Tên, địa chỉ của người yêu cầu” sau khi ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, phải ghi họ tên, chức vụ của người đại diện theo ủy quyền của cơ quan, tổ chức đó, văn bản ủy quyền (số, ngày, tháng, năm) và chức danh của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức ủy quyền. Tại mục “Người yêu cầu” tại cuối đơn yêu cầu cần phải ghi tên của cơ quan, tổ chức, ghi dòng chữ “Người đại diện theo ủy quyền”; người đại diện theo ủy quyền ký tên, ghi họ, tên của người đại diện theo ủy quyền và đóng dấu của cơ quan, tổ chức. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Trường hợp Văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân thực hiện việc yêu cầu giải quyết việc dân sự phát sinh từ giao dịch do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập thì tại mục “Tên, địa chỉ của người yêu cầu” sau khi ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, phải ghi họ tên, chức vụ của người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân, văn bản ủy quyền (số, ngày, tháng, năm) và chức danh của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền. Tại mục “Người yêu cầu” tại cuối đơn yêu cầu cần phải ghi tên của pháp nhân, ghi chức vụ của người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân; người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân ký tên; ghi họ, tên của người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân. Đóng dấu của pháp nhân hoặc đóng dấu của Văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân.

Về khái niệm “người có liên quan” trong đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự hiện nay cũng đang có nhiều cách hiểu khác nhau, thế nào là “người có liên quan”? Cụm từ “người có liên quan” được sử dụng tại Điểm đ Khoản 2 Điều 312 và Điểm e Khoản 1 Điều 315, nhưng tại Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự lại sử dụng cụm từ “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”, như vậy, do có sự sử dụng thuật ngữ không thống nhất trong các điều luật mà dẫn đến cách hiểu khác nhau,

người có liên quan có được hiểu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không? Theo chúng tôi, người có liên quan trong điều luật này phải được hiểu là người phải có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc dân sự đang yêu cầu Tòa án giải quyết, bởi theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, cần phải hiểu người có liên quan là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đề nghị cần sửa đổi, bổ sung Điểm đ Khoản 2 Điều 312 và Điểm e Khoản 1 Điều 315 khi sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự theo chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII để bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ trong các quy định của Luật và trong việc áp dụng pháp luật, cụ thể như sau:

“Điều 312. Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự

  1. ..
  2. ..

Tên, địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có; “Điều 315. Quyết định giải quyết việc dân sự. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

  1. ..
  2. Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;… “.

Trước mắt chúng tôi đề xuất cần ban hành mẫu đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự kèm theo Nghị quyết hướng dẫn về thủ tục giải quyết việc dân sự theo đó tại phần hướng dẫn ghi rõ người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, cụ thể như sau:

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 01:

  • Ghi yêu cầu Tòa án giải quyết loại yêu cầu gì. Ví dụ: Về việc công nhận thuận tình ly hôn; Về việc yêu cầu văn bản công chứng vô hiệu; Về việc Tuyên bố một người mất tích…
  • Ghi tên Toà án ra nơi nộp đơn yêu cầu; nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thì cần ghi huyện gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện X, tỉnh H). Nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thì ghi rõ Toà án nhân dân tỉnh, (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh H).
  • Nếu người yêu cầu là cá nhân, thì ghi họ tên và địa chỉ của các nhân đó; nếu là cơ quan, tổ chức, thì ghi tên, địa chỉ trụ sở của cơ quan, tổ chức đó và người đại diện cơ quan tổ chức.
  • (5) (7) Ghi đầy đủ họ, tên và địa chỉ của Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của người có quyền và nghĩa vụ liên quan. (6) (8) (9) (10) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (3).
  • Ghi cụ thể nội dung yêu cầu Tòa án công nhận.
  • Ghi cụ thể tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn yêu cầu về số, ký hiệu, loại tài liệu… Ví dụ: Giấy chứng nhận kết hôn số 120, quyển số 02 của chồng Nguyễn Hữu A và vợ Lại Thị B do chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X ký ngày 20 tháng 9 năm 2026….
  • Ghi một số thông tin cần thiết cho việc yêu cầu của mình là có căn cứ và cần thiết. Ví dụ: Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, thì ngoài những tài liệu, chứng cứ nộp theo đơn yêu cầu, Người yêu cầu cung cấp thông tin về những hành động, cử chỉ, việc làm của người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự…
  • Nếu người yêu cầu là cá nhân hoặc tổ chức việc ký và ghi họ tên thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết số /2026/NQ-HĐTP ngày tháng năm 2026 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định trong Phần thứ năm về Thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự

Thứ hai, đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Như trên đã nêu về việc xác định việc dân sự hay vụ án dân sự trong thực tiễn giải quyết các vụ việc về Hôn nhân và gia đình hiện nay đang còn nhiều vướng mắc và quan điểm khác nhau, do đó, việc phân biệt thủ tục giải quyết vụ hay việc dân sự đối với yêu cầu ly hôn trong đó có yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn nhưng sau đó trong quá trình xét xử lại có thay đổi có ý nghĩa rất quan trọng đối với Tòa án để xác định thủ tục tố tụng khi áp dụng giải quyết. Hiện nay, do chưa ban hành mẫu và hướng dẫn cụ thể cách viết đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nên đối với các loại việc về Hôn nhân và gia đình các Tòa án nhân dân đã tự đưa ra mẫu đơn, dẫn đến nhiều mẫu đơn khác nhau và không có hướng dẫn cụ thể các nội dung cần ghi trong đơn để có căn cứ Tòa án xác định trường hợp nào thụ lý giải quyết theo thủ tục việc dân sự (khoản 2 Điều 28) và trường hợp nào thụ lý giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự (khoản 1 Điều 27), do đó, chúng tôi đề xuất ban hành mẫu đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn kèm theo Nghị quyết hướng dẫn về thủ tục giải quyết việc dân sự như sau:

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 02:

  • Ghi tên Toà án ra nơi nộp đơn yêu cầu; nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thì cần ghi huyện gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện X, tỉnh H). Nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thì ghi rõ Toà án nhân dân tỉnh, (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh H).
  • Ghi cụ thể nội dung thỏa thuận: Về con (cụ thể con thứ nhất do ai nuôi, con thứ hai do ai nuôi). Về nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng đối với các con (mức đóng góp; thời gian định kỳ đóng góp). Về tài sản chung vợ chồng (ghi rõ đã thống nhất thỏa thuận cụ thể các loại tài sản).
  • Ghi cụ thể tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn yêu cầu về số, ký hiệu, loại tài liệu… Ví dụ: Giấy chứng minh thư nhân dân ngày cấp, cơ quan cấp. Giấy chứng nhận kết hôn số 120, quyển số 02 của chồng Nguyễn Hữu A và vợ Lại Thị B do chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X ký ngày 20 tháng 9 năm 2026; Giấy khai sinh của các con, Giấy đăng ký quyền sử dụng đất, sở hữu nhà. ).
  • Ghi rõ không yêu cầu gì khác.
  • Chữ ký của vợ và chồng, ghi rõ họ tên.

3.2.2.3. Về thụ lý đơn yêu cầu Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Theo quy định tại Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự đối với thủ tục giải quyết việc dân sự thì trước hết Tòa án áp dụng những quy định tại Chương XX và đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật tố tụng dân sự không trái với những quy định của Chương XX để giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, việc thụ lý đơn yêu cầu cũng như về tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự không được quy định cụ thể tại Chương XX cũng là một vấn đề đang còn có vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tại một số Tòa án nhân dân và cũng là vấn đề cần được Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối hướng dẫn để bảo đảm pháp luật được áp dụng thống nhất, theo đó, chúng tôi đề xuất cần áp dụng các quy định tại Điều 171 của Bộ luật tố tụng dân sự và được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 05/2024 để giải quyết; cụ thể như sau:

Trong trường hợp người yêu cầu không nộp tiền tạm ứng lệ phí trong thời hạn mười lăm (15) ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 171 của BLTTDS vì trở ngại khách quan, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 161 của Bộ luật dân sự, thời gian có trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn nộp tiền tạm ứng lệ phí.

Toà án phải ấn định cho người yêu cầu trong thời hạn bảy ngày làm việc, sau khi hết thời hạn mười lăm (15) ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, người yêu cầu phải nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí. Hết thời hạn này người yêu cầu mới nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí, thì giải quyết như sau:

  • Trường hợp chưa trả lại đơn yêu cầu, thì Thẩm phán tiến hành thụ lý việc dân sự.
  • Trường hợp đã trả lại đơn yêu cầu mà người yêu cầu chứng minh được là họ đã nộp tiền tạm ứng lệ phí đúng thời hạn quy định, nhưng vì trở ngại khách quan nên họ nộp biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí cho Toà án không đúng hạn, thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn yêu cầu, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành thụ lý việc dân sự theo thủ tục chung.
  • Trường hợp sau khi Toà án trả lại đơn yêu cầu người yêu cầu mới nộp tiền tạm ứng lệ phí và nộp biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí cho Toà án, nếu không vì trở ngại khách quan, thì được coi là nộp đơn yêu cầu lại. Toà án tiếp tục thụ lý việc dân sự.

Hết thời hạn bảy (07) ngày (được hướng dẫn tại Khoản 2 Điều này) mà người yêu cầu không nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí, thì Toà án thông báo cho họ biết về việc không thụ lý việc dân sự, với lý do là họ không nộp tiền tạm ứng lệ phí. Người yêu cầu có quyền nộp đơn yêu cầu lại và việc thụ lý việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết này.

Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn đó, Toà án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của họ.

Đối với những yêu cầu cụ thể được quy định tại các chương XXI, XXII, XXIII và XXIV Phần thứ năm của Bộ luật tố tụng dân sự có quy định cụ thể về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, thì áp dụng những quy định tại các chương đó về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

3.2.2.4. Về thủ tục ly hôn với người bị Tòa án tuyên bố mất tích

Như đã phân tích ở phần trên, đối với việc ly hôn mà có một bên là người đã được Tòa án tuyên bố mất tích hiện nay do không có hướng dẫn cụ thể do đó, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất tại các Tòa án khi giải quyết loại việc này. Theo chúng tôi, xuất phát từ quan điểm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người chồng hoặc người vợ bị tuyên bố mất tích bởi quyết định có hiệu lực của Tòa án nên khi giải quyết loại việc này vẫn cần thiết phải thực hiện thủ tục cấp, tống đạt, thông báo cho người chồng hoặc người vợ mặc dù đã được tuyên bố mất tích đó, bởi trong những trường hợp hy hữu họ có thể biết được hoặc trở về và việc thực hiện này là không vi phạm về thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chồng hoặc vợ bị tuyên bố mất tích bởi quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì chúng tôi nhận thấy: Quy định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là thủ tục cần phải thực hiện để Tòa án có cơ sở giải quyết đối với việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Thủ tục thông báo đó phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của Trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp Tuy nhiên, chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là do người yêu cầu chịu và chi phí để thực hiện việc thông báo, nhắn tin là không nhỏ, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (khoảng trên 1 triệu đồng) dẫn đến thực tế là đã có không ít trường hợp ở những vùng sâu, vùng xa, người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn do không đủ điều kiện để thực hiện việc thông báo theo quy định của pháp luật, đương sự đã phải rút đơn xin ly hôn với người vợ, người chồng người mất tích. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật khi giải quyết đối với trường hợp trên, chúng tôi đề nghị cần phải hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về công bố thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 328 Bộ luật tố tụng dân sự trong trường hợp người chồng hoặc người vợ yêu cầu ly hôn với người chồng hoặc người vợ đã bị tuyên bố mất tích theo hướng:

Theo yêu cầu của đương sự Tòa án thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.

3.2.2.5. Về ngày mất tích của người bị yêu cầu là mất tích trong quyết định tuyên bố một người là mất tích

Mặc dù vướng mắc về ngày mất tích của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đã được giải quyết tại Công văn số 215/KHXX ngày 21-6-2024 của Viện khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao như đã trình bày ở mục 3.1.1.8, tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc tại Tòa án nhân dân chúng tôi đề nghị cần phải đưa vào nội dung hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm về Thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự, theo đó, hướng dẫn khoản 3 Điều 332 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về quyết định tuyên bố một người mất tích theo hướng:

Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích; trong quyết định tuyên bố mất tích phải ghi rõ, cụ thể ngày, tháng, năm mất tích được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó.

3.2.2.6. Về chuyển việc dân sự được xét xử theo thủ tục giải quyết việc dân sự sang xét xử theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự đối với một số trường hợp nhất định Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Như đã trình bày ở phần trên, hiện nay đang tồn tại ba quan điểm giải quyết đối với các loại việc dân sự mà phát sinh tranh chấp, chúng tôi cho rằng cần phải nghiên cứu và giải quyết một cách triệt để, bởi trong mọi phương diện các quan điểm trên vẫn còn có những hạn chế, chẳng hạn đối với quan điểm thứ nhất nếu áp dụng Nghị quyết số 03/2024 ngày 03-12-2024 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và căn cứ vào Điều 311 và điểm c khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự, xóa sổ thụ lý việc dân sự và giải thích cho đương sự biết nếu họ vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì phải làm đơn khởi kiện vụ án lại từ đầu: Tòa án xem xét đơn khởi kiện, yêu cầu đương sự nộp án phí, Tòa án vào sổ thụ lý đơn… dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết, không bảo đảm kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, phức tạp hóa các thủ tục giải quyết vụ việc mà trong đó chứa đựng những mối quan hệ pháp luật có mối liên quan mật thiết với nhau… Hoặc làm mất quyền khởi kiện của các bên đương sự đối với các loại yêu cầu mà pháp luật quy định giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự quy định tại các điều 26, 30 và Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với quan điểm thứ hai về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự thuộc loại việc dân sự quy định tại khoản 1 Điều 28 vẫn phải tách thành hai loại: hủy việc kết hôn trái pháp luật theo trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 1 Điều 28 và giải quyết tranh chấp về con cái và tài sản theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 27, mặc dù có mối liên quan mật thiết với nhau nhưng vẫn phải tách ra để giải quyết theo hai loại thủ tục khác nhau theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dẫn đến không bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp một cách kịp thời nếu một trong các bên đương sự lại có kháng cáo về phần quan hệ hôn nhân trái pháp luật.

Đối với quan điểm thứ ba cho rằng trong quá trình Toà án giải quyết việc dân sự mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có tranh chấp thì Toà án sơ thẩm sẽ yêu cầu đương sự nộp bổ sung tiền tạm ứng án phí theo vụ án dân sự và sau đó ra quyết định áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự để giải quyết yêu cầu có tranh chấp. Sau khi ra quyết định này, Thẩm phán căn cứ vào các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để tiếp tục tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ đối với yêu cầu có tranh chấp, nếu hoà giải không thành thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Quan điểm này sẽ làm phát sinh một Quyết định áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự và có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và như vậy cũng không thể tránh khỏi việc kéo dài thời gian giải quyết vụ việc, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên nhất là đối với vụ án về Hôn nhân và gia đình.

Do đó, trước mắt để giải quyết vướng mắc trên trong thời gian tới khi mà Dự án sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự đang tiến hành triển khai theo chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII sẽ thông qua vào cuối năm 2027 và cũng còn phải một thời gian dài để ban hành văn bản hướng dẫn, do đó, chúng tôi đề xuất xây dựng cơ chế chuyển đổi từ việc dân sự sang vụ án dân sự theo hướng: Đối với những loại việc dân sự quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự như yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…trong quá trình giải quyết việc dân sự trước khi mở phiên họp mà có phát sinh tranh chấp thì Thẩm phán giải quyết việc dân sự không ra quyết định đình chỉ như hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2024 ngày 03-12-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mà tiến hành thu thập chứng cứ, yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ liên quan đến tranh chấp phát sinh, sau đó tiến hành hòa giải nếu hòa giải không thành Thẩm phán căn cứ tình hình vụ án đề nghị Chánh án Tòa án ra quyết định bổ sung hai Hội thẩm nhân dân theo đúng quy định của pháp luật và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời thông báo cho các bên đương sự biết và trong thông báo ghi rõ các đương sự không được quyền khiếu nại quyết định đưa vụ án ra xét xử bởi xuất phát từ chính việc phát sinh tranh chấp giữa các bên. Với trình tự thủ tục như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian giải quyết vụ việc, mặc dù phát sinh tranh chấp nhưng vẫn tạo được điều kiện cho đương sự được giải quyết nhanh chóng vụ việc, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự một cách kịp thời, ổn định xã hội và tránh sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật khi mà thực tế phát sinh nhưng luật chưa quy định.

3.2.3. Kiến nghị về bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán và tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

3.2.3.1. Thường xuyên bồi dưỡng hoặc định kỳ tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ cho Thẩm phán

Việc thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Thẩm phán là cần thiết. Đặc biệt, việc tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho các Thẩm phán về các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết việc dân sự sẽ đem lại hiệu quả tích cực cho việc giải quyết việc dân sự. Qua việc tập huấn, những vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự mà họ đã và đang vướng mắc sẽ được tháo gỡ cụ thể. Qua đó những vướng mắc, hạn chế được áp dụng vào công tác xét xử để giải quyết các vụ việc một cách nhanh chóng vừa bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật vừa kịp thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, tổ chức khi có yêu cầu tại Tòa án. Cũng qua các lớp tập huấn các Thẩm phán cùng bàn luận, trao đổi đưa ra những ý kiến góp ý xác thực vẫn còn vướng mắc hoặc chưa được hướng dẫn cần tiếp tục nghiên cứu đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn hoặc nêu ra những nội dung cần sửa đổi, bổ sung vào Dự án sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự trong thời gian tới.

3.2.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân về quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng tại Tòa án

Nâng cao trình độ, nhận thức pháp luật cho nhân dân góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án, bởi lẽ khi nhân dân nắm chắc pháp luật thì công tác xét xử, giải quyết án của Tòa án sẽ hiệu quả hơn tránh được án tồn đọng, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm cần phối hợp với chính quyền địa phương tích cực tổ chức các phiên tòa công khai tại địa phương qua đó nâng cao nhận thức pháp luật của người dân. Bởi mặc dù pháp luật tố tụng dân sự đã có quy định đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, tuy nhiên trên thực tế phần lớn các đương sự không biết được quyền này của mình nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, địa phương mà người dân có thu nhập thấp… Thực tế giải quyết án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm cho thấy phần lớn các vụ việc dân sự đã được Tòa án thụ lý giải quyết nhưng việc cung cấp chứng cứ từ phía các đương sự để chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng pháp luật còn rất hạn chế trong đó nguyên nhân chủ yếu là do khả năng nhận thức về pháp luật yếu. Điều này cho thấy, chỉ khi đạt được một trình độ pháp luật nhất định thì các quy định pháp luật về mới được sử dụng một cách có hiệu quả, mới phát huy được tác dụng trên thực tế. Do đó, việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử tại Tòa án.

Bên cạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Đài phát thanh, truyền hình, báo chí, mạng Internet.. là những phương tiện có có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải các thông tin pháp luật nói chung và các quy định về thủ tục tố tụng tại Tòa án trong việc giải quyết án dân sự nói riêng đến với nhân dân thì một biện pháp khác cũng góp phần nâng cao nhận thức pháp luật về pháp luật cho nhân dân có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay, đó là nhà nước cần phải chú ý hỗ trợ các tài liệu về pháp luật như các Bộ luật, Nghị định, văn bản hướng dẫn, báo chí và các ấn phẩm pháp luật khác miễn phí cho nhân dân. Ở mỗi phường, xã, thị trấn đều có xây dựng thư viện pháp luật, mở cửa vào các ngày hành chính trong tuần để nhân dân có thể tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu, qua đó trình độ pháp luật của nhân dân sẽ từng bước được cải thiện. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự bên cạnh những hiệu quả thiết thực, giúp cho các bên trong quá trình giải quyết việc dân sự được nhanh chóng, kịp thời, bảo vệ được quyền lợi của đương sự còn góp phần giảm tải công việc xét xử của Tòa án, nâng cao trình độ nhận thức pháp luật cho nhân dân, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán, hội thẩm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm pháp chế Xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định này trong việc giải quyết các việc dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập nên đã phần nào giảm hiệu quả của chế định giải quyết việc dân sự. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập đó có thể xuất phát từ nhiều lý do như: các quy định này còn mang tính khái quát, chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn cụ thể dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất trên thực tiễn tại Tòa án nhân dân và chưa kịp thời điều chỉnh được các quan hệ mới phát sinh trong cuộc sống. Các hạn chế, bất cập nêu trên đã góp phần làm giảm hiệu quả của chế định giải quyết việc dân sự trong việc giải quyết việc dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm thời gian qua.

Để bảo đảm chế định giải quyết việc dân sự thực sự phát huy được hiệu quả thì những hạn chế, bất cập từ việc áp dụng nó phải được đúc rút kinh nghiệm để tìm ra các giải pháp khắc phục. Các giải pháp, kiến nghị do chúng tôi đề xuất tại Chương 3 của luận văn được đúc rút từ kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn trong công tác xét xử các vụ, việc dân sự của ngành Tòa án trong những năm qua nên hy vọng sẽ có ý nghĩa thiết thực, kịp thời trong việc xây dựng Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về Phần thứ năm thủ tục giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự và mong muốn hơn nữa là góp phần hoàn thiện chế định giải quyết việc dân sự khi tiến hành sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự theo Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

Xét xử các vụ việc dân sự là vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người dân luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật tố tụng dân sự nói chung cũng như chế định giải quyết việc dân sự nói riêng nhằm đảm bảo xét xử khách quan, công bằng, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2016 được thông qua ngày 15/6/2016, sau hơn năm năm thi hành trên thực tiễn có thể nói bên cạnh những hiệu quả đã đạt được thì những hạn chế, bất cập, mâu thuẫn cũng ngày càng bộc lộ, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng, chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Để giải quyết được những vướng mắc, bất cập lớn, những vấn đề thực sự bức xúc, kịp thời đáp ứng được đòi hỏi của công tác xét xử trong ngành Tòa án nói riêng và nhu cầu của xã hội nói chung, ngày 29/3/2023 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 65/2023/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và có hiệu lực từ ngày 01/01/2024 theo đó, Luật số 65/2023/QH12 đã tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều tại các chương của Bộ luật tố tụng dân sự nói chung cũng như một số điều tại Phần thứ năm về thủ tục giải quyết việc dân sự nói riêng. Mặc dù vậy, do nhiều lý do khách quan trong thời gian sửa đổi, bổ sung nên Phần thứ năm về thủ tục giải quyết việc dân sự vẫn chưa tập trung sửa đổi, bổ sung được tất cả các quy định tại phần này, chưa giải quyết triệt để những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết việc dân sự tại Tòa án nhân dân cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030: “… Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định” [7]. Theo đó, tại Nghị quyết số 65/2023/QH12 ngày 29/3/2023 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã xác định:

Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao… phối hợp với các cơ quan hữu quan tiếp tục nghiên cứu các điều Khoản của Bộ luật tố tụng dân sự có vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự mà chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung để chuẩn bị phương án cho việc sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự [23].

Đến thời điểm này khi mà Hiến pháp vừa được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 28/11/2025 đã khẳng định về thủ tục rút gọn và cũng là xu hướng chung về hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới đã quy định về thủ tục xét xử rút gọn đối với một số loại vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng… Do đó, theo chúng tôi việc hoàn thiện chế định giải quyết việc dân sự cần thiết phải được nghiên cứu một cách sâu sắc, triệt để trong thời gian tới khi tiến hành sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự theo tinh thần Hiến pháp năm 2025 Tòa án xét xử theo thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn. Theo đó, đối với loại việc dân sự có bản chất là không có tranh chấp, do các bên thỏa thuận, chứng cứ rõ ràng và do một Thẩm phán giải quyết thì cần phải được hoàn thiện theo hướng thu hút vào Phần quy định về thủ tục rút gọn là hoàn toàn phù hợp với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu pháp luật, cũng như hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực pháp lý những năm gần đây.

Với phạm vi của một luận văn cao học và mục đích nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận , nội dung của chế định giải quyết việc dân sự và thực tiễn thực hiện chúng, qua đó nêu lên những vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cụ thể là Dự án sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự theo Chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII và trước mắt là xây dựng nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều quy định trong Phần thứ năm Thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự. Chúng tôi hy vọng những đề xuất, kiến nghị trong luận văn sẽ đáp ứng được yêu cầu đúng như tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030 đề ra. Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng

One thought on “Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự

  1. Pingback: Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464