Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam về phòng, chống bạo lực gia đình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vấn đề bạo lực gia đình, đặc biệt là hành vi bạo lực đối với trẻ em trong giai đoạn hiện nay đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng và đã trở thành mối quan tâm lớn, không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia hay một vùng lãnh thổ. Tại Việt Nam, tình hình trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực vẫn còn xảy ra, thậm chí ngay trong chính môi trường thân thiết nhất của các em là gia đình. Theo số liệu của Tổng Cục cảnh sát -Bộ Công an, từ năm 2002 đến nay số vụ xâm hại trẻ em, số đối tượng phạm tội và số trẻ em bị xâm hại có chiều hướng gia tăng. Thông tin từ đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em cũng cho biết, trong 3 năm (2006-2008) trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực trong gia đình tăng gấp 3 lần so với mười năm trước đó. Một kết quả thống kê khác cho thấy từ năm 2008 đến 2010, bình quân một năm cả nước có khoảng 3000-4000 vụ bạo lực trẻ em, một số vụ gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nhiều trẻ bị chính cha mẹ, người thân thực hiện hành vi xâm hại, bạo lực. Cụ thể trong năm 2008, số trẻ em bị xâm hại, bạo lực là 1.613 em; năm 2009 là 1.805 em. Trong năm 2010, theo báo cáo giám sát của Hội đồng nhân dân 46/63 tỉnh, thành phố, thì có 1.245 em bị bạo lực, xâm hại [44].
Trong thực tế, con số bạo hành trẻ em có lẽ còn cao hơn, nhưng vì nhiều lý do khách quan nên chưa được phơi bày trước công luận. Điều đó cho thấy sự gia tăng đến chóng mặt của hành vi bạo lực không chỉ là vấn đề của từng gia đình mà nó đã trở thành vấn nạn của toàn xã hội. Khi quyền trẻ em bị xâm phạm một cách nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển về tâm sinh lí, tình cảm và nhân cách của trẻ em, gây cho các em sự mặc cảm, thù hằn với xã hội. Nhiều nghiên cứu thực tế cho thấy bạo lực gia đình đã gây ra những hệ luỵ từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu như đứa trẻ chứng kiến bạo lực trong gia đình hay là nạn nhân của bạo lực gia đình, thì sau này khi trưởng thành có thể trở thành người gây ra bạo lực trong chính gia đình của mình.
Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình thông qua việc ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp liên quan như: Hiến pháp năm 2013; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Bộ luật Dân sự 2005; và đặc biệt là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007. Những văn bản này đã góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực về nhận thức trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta. Tuy nhiên, tình trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều thay đổi mà lại có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng của vụ việc.
Bạo hành trước hết ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ thể chất của trẻ hoặc nguy hại hơn, khiến trẻ có thể bị nguy hiểm đến tính mạng, trẻ không thể phát triển về thể chất một cách bình thường. Ngoài ra, bạo lực gia đình đối với trẻ em không chỉ gây đau đớn thể xác mà còn để lại di chứng khá nặng nề và lâu dài về mặt tinh thần, tâm lý và sự phát triển nhân cách của trẻ. Trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình có thể có hành vi ứng xử lệch lạc như thiếu tự tin, rụt rè, lo sợ,… hoặc trở lên hung dữ, thường sử dụng bạo lực trong việc xử lý các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội, cả hiện tại và trong tương lai.
Chính vì vậy mà việc nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, tìm ra những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng những quy định này trên thực tế; từ đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật với vấn đề bảo vệ quyền trẻ em, nhằm bảo vệ quyền của trẻ trong gia đình trước các hành vi bạo lực là rất cần thiết.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam về phòng, chống bạo lực gia đình” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
Trước khi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 ra đời, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu tới vấn đề này thường chỉ dừng ở những nghiên cứu về mặt xã hội, những nghiên cứu về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình thường chỉ được nhắc đến trong các nghiên cứu về hôn nhân gia đình. Từ khi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ra đời, những nghiên cứu pháp lý về vấn đề này đã xuất hiện trên nhiều báo, tạp chí bởi tính thời sự cấp thiết của nó. Tuy nhiên, những nghiên cứu một cách hệ thống, có trọng tâm về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình chưa nhiều. Hiện tại có thể kể tới một số Luận văn thạc sĩ luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội:”Luật phòng chống bạo lực gia đình với việc hạn chế ly hôn do bạo lực gia đình” của tác giả Nguyễn Thị Lệ (Hà Nội, 2010); Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu hành vi bạo lực gia đình – nguyên nhân, giải pháp hạn chế” của tác giả Nguyễn Thị Bình (Hà Nội, 2010); Luận văn thạc sỹ luật học: “Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” của Đinh Thị Hồng Minh (Hà Nội, 2011). Những công trình này đã nghiên cứu một số khía cạnh cụ thể của việc phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu về vấn đề bảo vệ quyền trẻ em trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và đưa ra những giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình trong pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, xem xét đánh giá thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trước tình trạng bạo lực gia đình.
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
- Nghiên cứu những quy định của luật phòng chống bạo lực gia đình với vấn đề bảo vệ quyền trẻ em
- Nghiên cứu tình hình thực tế áp dụng pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với việc bảo vệ quyền trẻ em như: bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em, vấn đề xử lý vi phạm quyền trẻ em, hiệu quả của việc áp dụng pháp luật phòng chống bạo lực gia đình nhằm bảo vệ quyền trẻ em trong thực tế.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề bảo vệ quyền trẻ em trước hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em, chủ yếu quy định trong pháp luật phòng chống bạo lực gia đình. Luận văn làm rõ ảnh hưởng, tác động và hiệu quả của các quy định của pháp luật Phòng, chống bạo lực gia đình đối với việc bảo vệ quyền trẻ em trong thực tiễn đời sống.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người gây ra bạo lực là những người đã thành niên và có mối quan hệ thân thích trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Do đó, đề tài chỉ xem xét nạn nhân của bạo lực gia đình là trẻ em chứ không xem xét dưới góc độ trẻ em là người gây ra bạo lực cho các thành viên khác trong gia đình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trên quan điểm tiếp cận hệ thống, toàn diện. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp; thống kê, so sánh; diễn dịch, quy nạp và các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: điều tra xã hội học, khảo sát thực tiễn.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trước hành vi bạo lực gia đình.
- Chương 2. Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình với việc bảo vệ quyền trẻ em.
- Chương 3. Thực trạng thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với việc bảo vệ quyền trẻ em và một số giải pháp, kiến nghị.
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trước hành vi bạo lực gia đình.
1.1. Khái niệm chung về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
1.1.1 Khái niệm trẻ em, quyền trẻ em
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền trẻ em được chế định chủ yếu trong Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (Convention on the Rights of the Child) và 2 nghị định thư không bắt buộc bổ sung CRC được thông qua năm 2000 (Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, Nghị định thư về sự tham gia của trẻ em trong xung đột vũ trang). Trong đó khái niệm “Trẻ em” được xác định là những người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, đây là một điều luật mở cho các quốc gia thành viên. Theo đó, các quốc gia thành viên có thể quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với quy định của CRC. Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
Việt Nam một trong những nước đầu tiên tham gia ký CRC (ngày 28-2-1990). Quyền trẻ em được quy định trong Hiến pháp năm 1946 (trực tiếp là các Điều 14, 15 và được hàm chứa trong một số điều khác), và trong tất cả các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992, gồm cả lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2001 và Hiến pháp năm 2013. Quyền trẻ em được thể chế hoá trong nhiều bộ luật và luật, mà tập trung là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
Theo quy định tại Điều l, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi. Khái niệm này phần nào có thể bao hàm được cả khái niệm trẻ em của Công ước và của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc gia.
Khái niệm “Quyền”, hiểu theo nghĩa tiếng Việt, là cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành…, khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại. Về khái niệm khoa học, “Quyền” là nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một xã hội nhất định. Khái niệm “Quyền” chỉ liên quan đến hành động – mà cụ thể là liên quan đến tự do hành động, nghĩa là thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thể xác, thoát khỏi tình trạng bị ép buộc hay bị can thiệp bởi những người khác . Đối với mỗi cá nhân , quyền là sự thừa nhận về mặt đạo đức đối với một sự chọn lựa tích cực – được tự do hành động theo lý trí, vì các mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bị cưỡng ép. Đối với những người xung quanh, các quyền của cá nhân đó không áp đặt nghiã vụ nào lên những người xung quanh ngoại trừ một quyền phủ quyết: họ không được vi phạm các quyền của cá nhân đó.
Công ước về quyền trẻ em gồm 54 điều khoản trong đó nêu bật bốn nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em xuyên suốt toàn bộ Công ước, bao gồm:
- Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo thực hiện tất cả các quyền trẻ em.
- Trẻ em có quyền xác lập, thể hiện ý kiến riêng của mình và quyền đó phải được tôn trọng.
- Dành những lợi ích đẹp nhất cho trẻ
- Những điều khoản trong Luật Quốc gia hoặc quốc tế có lợi hơn đối với trẻ em so với những điều khoản trong Công ước sẽ được áp dụng.
Trên cơ sở những nguyên tắc trên, quyền trẻ em bao gồm 4 nhóm quyền:
Nhóm quyền sống còn: Quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, tiền đề cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con người. Bảo vệ quyền này của trẻ cần dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Các quyền này cần phải được thực hiện ngay không chậm trễ vì trẻ rất dễ bị tổn thương. Khi những nguy cơ đe doạ quyền sống còn của trẻ như: gây ra những tai nạn thương tích, những tổn thương do người lớn đem lại, thiếu sự chăm sóc yêu thương và hỗ trợ của gia đình, bị phân biệt đối xử. Những nguy cơ đe doạ tới sự sống còn của trẻ em là rất nhiều và có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, cộng đồng và quốc gia nào, kể cả ngay tại gia đình. Tất cả chúng ta phải có trách nhiệm đảm bảo quyền được sống ở mức cao nhất có thể được.
Nhóm quyền bảo vệ: Quyền được bảo vệ là bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng. Nghiêm cấm lạm dụng trẻ em, bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ. Khi trẻ bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như tình trạng rối loạn, thiếu hụt, mất thăng bằng nghiêm trọng do những yếu tố bên ngoài tác động có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ em.
Nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ. Quyền được chăm sóc sức khoẻ, được học tập và phát triển năng khiếu. Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch
Nhóm quyền tham gia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên quan tới bản thân, quyền được lắng nghe và được kết giao hội họp. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã cụ thể hoá các nhóm quyền của trẻ em trong Công ước thành những quyền cụ thể sau: Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng
- Quyền sống chung với cha mẹ
- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự
- Quyền được chăm sóc sức khoẻ
- Quyền được học tập
- Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch
- Quyền được phát triển năng khiếu
- Quyền có tài sản
- Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.
Như vậy, quyền trẻ em chính là quyền của con người được cụ thể hoá cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống trẻ em. Đó là những đặc quyền tự nhiên của trẻ em được quy định trong pháp luật, đó là những quyền mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện. Quyền trẻ em chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những được hưởng các quyền mà còn trở thành chủ thể của chính các quyền đó.
1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền trẻ em
Bảo vệ quyền trẻ em trước hết là tôn trọng, đảm bảo cho các quyền trẻ em được thực hiện trong thực tế một cách đầy đủ; tạo điều kiện, cơ chế và cách thức phù hợp để trẻ em thực hiện được các quyền của mình, đồng thời phòng ngừa không để trẻ em bị thiệt thòi, không bị xâm hại đến các quyền đã được pháp luật thừa nhận. Bảo vệ quyền trẻ em có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, nhưng biện pháp bảo vệ bằng pháp luật là biện pháp có hiệu quả nhất.
Thứ hai, bảo vệ chăm sóc trẻ em còn là ngăn ngừa không để các em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như: bị mồ côi cha mẹ, khuyết tật, bị xâm hại tình dục, trở thành tội phạm vị thành niên, nghiện ma tuý, tệ nạn xã hội…
Thứ ba, cần phải có biện pháp xử lí các hành vi vi phạm quyền trẻ em. Có như vậy thì mới nâng cao được tính răn đe đối với những đối tượng có hành vi xâm phạm đến quyền của trẻ em.
Tóm lại, bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật là hệ thống các biện pháp, cách thức, cơ chế hoạt động được pháp luật quy định nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em được thực hiện, đồng thời bảo đảm có hiệu quả việc phòng ngừa, can thiệp, giải quyết tình trạng trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
1.2. Khái niệm chung về bạo lực gia đình đối với trẻ em Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
1.2.1 Khái niệm hành vi bạo lực gia đình và bạo lực gia đình đối với trẻ em
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ” [39]. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tuỳ theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em…
Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Quý – Đặng Vũ Cảnh Linh, thì bạo lực gia đình là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình” [34, tr. 27].
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình định nghĩa bạo lực gia đình là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Điều 1).
Như vậy, theo quan điểm của Luật phòng, chống bạo lực gia đình thì chỉ những hành vi được thực hiện với lỗi cố ý mới là hành vi bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình – theo luật Phòng, chống bạo lực gia đình là một khái niệm khá rộng, bao gồm các loại hành vi khác nhau và nhằm vào những nạn nhân khác nhau trong một gia đình, gây ra những tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế cho thành viên gia đình.
Tuỳ theo quan điểm và phương pháp tiếp cận, hiện có nhiều cách phân loại các hình thức bạo lực gia đình, nhưng thường tập trung ở bốn dạng cơ bản: bạo lực thân thể (bạo lực thể chất); bạo lực về tinh thần, tình cảm; bạo lực về kinh tế và bạo lực tình dục.
Bạo lực về thân thể (còn gọi là bạo lực về thể chất), gồm: xâm hại thân thể, đối xử tồi tệ về thể chất. Bạo lực về tinh thần và tình cảm: Là những hành vi nhằm hành hạ tâm lý bằng những lời đe doạ, sỉ nhục, chửi mắng, lăng mạ, hạ thấp nhân phẩm, bỏ rơi, lãng quên, không quan tâm… Hình thức bạo lực này gây hậu quả rất nghiêm trọng so với các dạng bạo lực khác nhưng khó phát hiện để can thiệp bằng luật pháp vì sự “vô hình” và thiếu chứng cứ. Bạo lực thể chất có thể dễ dàng nhận diện qua những thương tổn hiện trên thân thể, và cùng với thời gian vết thương ấy sẽ liền da, nhưng bạo lực tinh thần thì hậu quả của nó tiềm ẩn bên trong, kéo dài dai dẳng với nỗi đau giằng xé và hậu quả của nó thì không thể định lượng được, đó là vết thương lòng với những cảm xúc của sự vô vọng, không ai giúp đỡ. Bạo lực tình dục là hành vi quấy rối tình dục hoặc cưỡng ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn của trẻ em. Bạo lực về kinh tế gồm: thâu tóm về tài sản, cô lập và kiểm soát tài chính của trẻ em.
Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, bạo lực gia đình đối với trẻ em là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội một cách cố ý của một hoặc một số thành viên đã thành niên trong gia đình, gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với trẻ em, xâm phạm các quyền cơ bản của trẻ em.
1.2.2 Đặc điểm và các dạng hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
1.2.2.1 Đặc điểm:
Bạo lực gia đình để lại ký ức không dễ dàng xoá bỏ. Thực tế cho thấy, bạo lực gia đình có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, có thể quyết liệt và tàn bạo tới mức gây án, giết người, nhưng cũng có thể không hề có máu chảy, đòn roi mà chỉ là nước mắt và sự chịu đựng âm thầm. Các dạng bạo lực trên có thể xảy ra đối với bất kỳ thành viên nào trong gia đình, trong đó có trẻ em.
Đặc điểm cơ bản nhất mà ta có thể nhận thấy ở những dạng hành vi này đó là chủ thể thực hiện hành vi bạo lực là những người trưởng thành trong gia đình, có mối quan hệ thân thiết và gần gũi đối với trẻ. Hơn nữa, trẻ em lại là đối tượng phụ thuộc vào người lớn trong gia đình nên nếu trở thành nạn nhân của bạo lực thì bên cạnh tổn thương về thể xác, trẻ em còn phải gánh chịu những tổn thương tinh thần không gì bù đắp nổi. Mặc dù vậy nhưng các em vẫn không thể tự bảo vệ mình trước những hành vi bạo lực vì các em không có nơi nào để đi và cũng không thể nào nuôi sống bản thân mình do vẫn bị phụ thuộc.
Hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em thường có tính chất lặp đi lặp lại, bao gồm các hình thức lạm dụng, bạo hành khác nhau. Nó thường là việc lặp đi lặp lại một phương thức bao gồm nhiều hành động như đe doạ, tước đoạt về kinh tế, cô lập, lạm dụng, bạo hành về tinh thần hay tình dục. Bởi lẽ trong gia đình, trẻ em luôn là đối tượng bị phụ thuộc vào người lớn, phải nghe lời người lớn, các em còn quá nhỏ để có thể tự vệ trong những trường hợp bị bạo hành mà chỉ có thể im lặng chịu đựng. Vô hình chung, sự nhẫn nhịn chịu đựng đó lại tạo điều kiện cho người thực hiện hành vi bạo lực tiếp tục lặp lại hành vi của mình. Những hành vi mà kẻ gây ra bạo lực sử dụng đã khiến trẻ em bị tổn thương cả về thể chất và tinh thần. Ngoài ra còn có các hành vi khác dẫn đến tổn thương về tâm lý của trẻ Mặc dù những hành vi này không để lại những thương tật trên cơ thể của trẻ nhưng nó vẫn để lại những tổn thương sâu sắc trong tâm hồn các em.
Đặc biệt, những hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em rất khó được phát hiện để can thiệp kịp thời. Bởi lẽ các em thường hoảng sợ, lo lắng và không dám chia sẻ các thông tin về tình trạng của mình do các em đều có quan hệ ràng buộc bằng các mối quan hệ gia đình như: quan hệ với cha, mẹ -con; ông bà – cháu; hay cô, dì, chú, bác – cháu… Thường thì chỉ những người thân trong gia đình mới có thể phát hiện kịp thời hành vi bạo lực gia đình. Chỉ khi sự việc đã xảy ra nghiêm trọng thì mới được phát hiện bởi hàng xóm láng giềng hay những cơ quan chức năng. Hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em thường bị chính người lớn trong gia đình dấu giếm, bao che, nên không ai có thể can thiệp, giúp đỡ. Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
1.2.2.2 Các dạng hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em
- Có thể phân biệt một số dạng hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em như sau:
Bạo lực thân thể: Là hành vi cố ý gây ra thương tích trên cơ thể trẻ Bao gồm các hành động như đánh đập, đối xử tàn tệ, tra tấn hoặc những hành vi có mục đích khác của một hoặc nhiều thành viên đã trưởng thành trong gia đình gây ra thương tật cho trẻ em. Dạng bạo lực này có thể bao gồm việc sử dụng hung khí như que, gậy, dao hoặc kéo… Các hành vi bạo lực về thân thể đã xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của trẻ em, xâm phạm đến quyền được tôn trọng, được bảo vệ về thân thể, sức khoẻ, quyền sống còn của trẻ quy định tại Điều 6 CRC và Điều 14 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Bạo lực lao động hoặc kinh tế: là việc dùng sức mạnh để đe doạ, áp đặt hoặc lừa mị nhằm bóc lột lao động trẻ em, chiếm giữ và kiểm soát tài chính của một hoặc nhiều thành viên trưởng thành trong gia đình đối với trẻ em. Dạng bạo lực này đưa đến sự phân công lao động và hưởng thụ bất hợp lý giữa các thành viên trong gia đình. Bạo lực về lao động hoặc kinh tế đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền được bảo vệ, được chăm sóc sức khoẻ và quyền có tài sản của trẻ em được quy định tại Điều 32 CRC và Điều 15, Điều 19 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Bạo lực tâm lý: Là hành vi cố ý làm tổn thương tâm lý, tinh thần của trẻ Đó có thể là những lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khoẻ, tâm thần trẻ. Bao gồm các hành vi nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ tinh thần của trẻ em, như sử dụng những lời lẽ lăng mạ, chửi rủa, đe doạ hoặc hành vi vi phạm khác, kiểm soát và ngăn trẻ em tham gia vào các hoạt động xã hội. Bạo lực tâm lý cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo, hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, ý thích, thị hiếu riêng của trẻ em trong gia đình. Thực tế rất khó để xác định dạng bạo lực này vì những tổn hại của nó không thể hiện ra bên ngoài như bạo lực thể xác.
Bạo lực tình dục: Là hành vi quấy rối tình dục, hoặc cưỡng ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn của trẻ em. Bao gồm các hành vi như hãm hiếp, cưỡng ép quan hệ tình dục; sử dụng những lời lẽ hoặc hành động nhằm kích động tình dục. Bạo lực tình dục là một dạng đặc biệt trong quan hệ giới tại gia đình. Hành vi bạo lực tình dục xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em được quy định tại Điều 34 CRC và Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
1.2.3 Hậu quả hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em
Tình hình bạo lực gia đình đối với trẻ em đang xảy ra khá phổ biến tại khắp các vùng miền trên cả nước. Hành vi bạo lực dưới nhiều dạng thức khác nhau đều để lại những hậu quả nặng nề về thể chất, sức khoẻ, tinh thần, kinh tế… đối với nạn nhân.
Trước hết, bạo lực gia đình gây tổn hại nghiêm trọng tới thể chất, để lại những tác động tiêu cực đến sức khoẻ của trẻ em. Bạo lực không chỉ khiến các em đau đớn về thể xác mà thậm chí còn gây ra những tổn thương nghiêm trọng khó có thể hồi phục như tàn tật suốt đời, suy giảm khả năng lao động, suy giảm sức khoẻ, thậm chí còn có thể tước đoạt sinh mạng của trẻ. Ngoài ra, những tác động tiêu cực này còn làm tăng thêm gánh nặng lên hệ thống y tế quốc gia.
Bên cạnh những vết thương về thân thể, bạo lực gia đình còn để lại những vết sẹo hằn sâu trong tâm lý các em khiến các em có những phản ứng tiêu cực, có thể gây nên những chấn thương tâm thần, có thể kéo dài suốt cả cuộc đời. Những đứa trẻ này thường lo lắng, bất an, khó hoà nhập cuộc sống, từ đó nảy sinh tư tưởng chán đời, học hành sa sút, dễ mắc các bệnh trầm cảm thậm chí dẫn đến tự tử. Các nhà xã hội học tiến hành một cuộc nghiên cứu trên 1000 trẻ em từ 10 -15 tuổi, ở cả nông thôn và thành thị về tâm lý cho thấy 67% trong các em có biểu hiện tâm lý bình thường, 33% còn lại có nhiều biểu hiện không ổn định về tâm lý, tinh thần. Nghiên cứu cũng cho thấy trong số 33% các em có biểu hiện bất thường về tâm lý thì 25% nguyên nhân là do gia đình cha mẹ không hạnh phúc, luôn gây nên những xáo trộn tâm lý các con [17]. Theo các nhà nghiên cứu, trẻ từ 5 đến 10 tuổi dễ bị tổn thương tinh thần nhất. Ở lứa tuổi này, trẻ hiểu tất cả mọi việc, nhưng do còn quá nhỏ và yếu đuối nên trẻ không thể làm được gì ngoài việc bắt buộc phải chứng kiến cảnh ẩu đả của cha mẹ xảy ra trước mắt mình. Hệ quả là sự suy sụp tinh thần, suy kiệt thể chất của trẻ, bởi những hình ảnh ấy tạo ra một ấn tượng kinh hoàng khó phai mờ trong trí não trẻ. Khi trưởng thành, chúng dễ trở thành người bị căng thẳng thần kinh, tính tình cục súc hoặc dễ mắc bệnh tật hơn những người lớn lên trong một gia đình yên ổn [43]. Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
Không chỉ vậy, hậu quả do bạo lực gia đình để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn trẻ, chi phối đến sự hình thành nhân cách sau này. Chưa có cơ sở khoa học để chứng minh chắc chắn nhưng qua theo dõi hiện tượng, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng: Những bé trai là nạn nhân của bạo lực gia đình trong một thời gian dài thì cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi tính cách của bố (người gây bạo lực). Nhiều đứa trẻ khi lớn lên cũng cục cằn, thô lỗ, thậm chí thô bạo với phụ nữ y như bố hoặc có đứa trẻ còn bạo hành với phụ nữ hơn bố. Với trẻ em gái, khi lớn thường sống khép kín, sợ đàn ông, sợ lấy chồng, mắc bệnh tự ti, trầm cảm, hoảng loạn về thần kinh… tức là các bé gái bị bạo lực từ bé sẽ khó hoà nhập với cộng đồng hơn. Cả bé trai và bé gái khi thường xuyên chứng kiến cảnh bạo hành trong gia đình hay là nạn nhân trực tiếp của bạo lực, làm trẻ cũng dễ có hành động bạo lực, học kém, dễ nảy sinh ý định tiêu cực, tâm lý và hoạt động thụ động, dễ mắc bệnh đau đầu, đau dạ dày và đau dây thần kinh theo kiểu tâm thần phân liệt. Nguy hiểm hơn, bạo lực gia đình chính là mảnh đất để ươm mầm những hành vi bạo lực trong tương lai, khi mà những đứa trẻ trưởng thành cũng có xu hướng sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình. Mặc dù khiếp sợ và căm ghét thói bạo hành của người cha, nhưng khi trưởng thành, những đứa con, đặc biệt là con trai, lại có xu hướng “lặp lại” cách cư xử bạo lực đó với người thân. Họ nói rằng, dường như họ không kiểm soát được hành vi của mình. Có lẽ đó là “di chứng” của tình trạng bạo lực gia đình đã in sâu vào tiềm thức và điều khiển hành vi của họ.
Ngoài ra, bạo lực gia đình còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới mối quan hệ bền vững giữa những thành viên trong gia đình. Mối quan hệ này vốn là quan hệ tình cảm thiêng liêng, ấm áp, khiến cho gia đình trở thành tổ ấm hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu tình cảm và vật chất cho các thành viên. Thế nhưng những hành vi bạo lực gia đình đã phá vỡ đi giá trị thiêng liêng ấy, làm ảnh hưởng, suy giảm uy tín của cha mẹ, người lớn đối với con cái trong việc giáo dục con, làm mất đi tôn ti trật tự trong gia đình, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình; thay vào đó là sự hoảng loạn, hoang mang và sợ hãi của những đứa trẻ khi trở thành nạn nhân của bạo lực. Nhiều em có xu hướng gia tăng những hành vi lệch chuẩn, hướng ra đường phố, đi tìm kiếm những thiếu hụt cả về vật chất lẫn tinh thần mà trẻ không có trong gia đình. Điều đó khiến cho số lượng trẻ em lang thang ngày càng tăng cao. Tình trạng trẻ “không gia đình” khiến các em dễ bị bóc lột, bị lạm dụng, bị lôi kéo vào những hoạt động phi pháp và dễ bị tổn thương về nhân cách.
Tóm lại, bạo lực gia đình đã xâm phạm nghiêm trọng các quyền của trẻ em, bao gồm quyền sống, quyền được bảo vệ và quyền phát triển.
1.2.4 Nguyên nhân hiện tượng trẻ em bị bạo hành trong gia đình Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em. Có thể phân thành 5 nguyên nhân chính:
Thứ nhất, là do quan niệm về cách thức giáo dục trẻ trong gia đình. Trẻ em là lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách với những đặc điểm tính cách riêng, chưa sáng suốt trong hành động và nhận thức, trẻ em thường dễ dàng mắc lỗi (nhất là khi so sánh với chuẩn mực của người lớn). Lỗi của các em có thể là lười học, ham chơi, chểnh mảng việc nhà, hỗn với người lớn, hành động thiếu suy nghĩ… Khi mắc lỗi, các thành viên lớn hơn trong gia đình tự cho mình quyền trừng phạt trẻ em. Một cái tát, một trận đòn hay những lời quát mắng không phải là hiện tượng hiếm thấy trong cách giáo dục của gia đình Việt Nam. Cha mẹ thường là người trực tiếp trừng phạt trẻ em và chiếm phần lớn các trường hợp đối tượng thường sử dụng bạo lực với trẻ. Trong khi đó, trẻ em là những đối tượng yếu đuối về mặt thể lực, các em còn quá nhỏ chưa có khả năng nhận thức và sử dụng những hình thức tự vệ. Hơn nữa, trẻ em lại có quan hệ phụ thuộc đối với người có hành vi bạo lực nên các em luôn ở vị thế yếu và không dám phản ứng lại bất cứ hành vi bạo lực nào. Người lớn trong gia đình cho rằng mình có quyền “dạy” con mà không ý thức rằng mình đang vi phạm pháp luật.
Thứ hai, là do mặt trái của việc kinh tế phát triển quá nhanh nên nảy sinh tiêu cực xã hội, như: cha mẹ bị cuốn vào tệ nạn xã hội, nghiện hút, cờ bạc, rượu chè; cha mẹ mâu thuẫn hoặc ly hôn, lối sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm với con cái. Nhiều người lớn vì bế tắc, thất vọng, bất lực trong cuộc sống nên đã xả nỗi tức giận lên những đứa trẻ trong gia đình, khiến các em trở thành nạn nhân của những mâu thuẫn đó. Có rất nhiều trường hợp khi người chồng và người vợ có xung đột thì đứa trẻ lại là đối tượng chịu đựng sự dằn vặt đó (cả về thể chất và tinh thần). Ở gia đình hay dù ở môi trường nào, trẻ em cũng là nhóm yếu thế hơn cả về thể chất và vị trí xã hội nên rất dễ trở thành nạn nhân của bạo lực.
Thứ ba, là những lỗ hổng trong chính sách pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em, thiếu những điều khoản cụ thể trong việc xử lý vi phạm. Đặc biệt chưa có quy định cụ thể về bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng để tránh bị trả thù, chưa có quy định đặc biệt trong trường hợp nhận tố giác từ trẻ em. Đã có Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nhưng thực hiện chưa nghiêm túc. Các thủ tục và quy trình phòng ngừa, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại, bạo lực chưa được quy định rõ ràng, chưa được các cơ quan có trách nhiệm tích cực, chủ động thực hiện. Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
Thứ tư, nhận thức xã hội còn hạn chế. Sự nguy hại nhiều mặt do tình trạng xâm hại, bạo lực đối với trẻ em vẫn chưa được cảnh báo đúng mức. Công tác truyền thông, vận động, giáo dục, tư vấn bảo vệ trẻ em chưa được quan tâm cả về đầu tư, nguồn lực, trí tuệ và sự sáng tạo nên chưa đủ sức đề kháng trước sự xâm nhập ồ ạt của văn hoá bạo lực, khiêu dâm, tình dục. Kiến thức, trách nhiệm của những người chăm sóc trẻ, của gia đình và cộng đồng về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chưa cao. Thậm chí trẻ em bị bạo lực cũng không nhận biết được rằng quyền hợp pháp của mình đang bị xâm phạm và được pháp luật can thiệp, bảo vệ. Xét cho cùng thì sự thiếu hiểu biết này là của cả cộng đồng dân cư nói chung. Đối tượng bạo hành hầu như không cần che giấu hành vi bạo lực của mình và người dân chưa có phản ứng tích cực, trực tiếp trước hiện tượng bạo lực.
Thứ năm, nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em ngày càng gia tăng còn do các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội chưa nhận thức và thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình. Hệ thống bảo vệ trẻ em từ Trung ương đến địa phương vừa thiếu, vừa yếu. Một số cơ quan, tổ chức như công an, toà án, viện kiểm sát, uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em…cũng ít nhiều thực hiện nhiệm vụ về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em trong chức năng chung của cơ quan, tổ chức mình nhưng không chuyên trách và thường không can thiệp nếu không có ai yêu cầu, trình báo. Nếu so sánh giữa tỉ lệ thống kê số vụ bạo hành gia đình và số vụ bị xử lí thì có thể thấy chỉ những vụ việc tương đối nghiêm trọng mới bị các cấp chính quyền, cơ quan pháp luật, đoàn thể, công luận…can thiệp, với những biện pháp nhiều khi còn chưa đủ sức răn đe.
1.3. Sự cần thiết của luật Phòng chống bạo lực gia đình đối với việc bảo vệ quyền trẻ em trước hành vi bạo lực
Bạo lực gia đình đe doạ đến sự ổn định của gia đình và gây ảnh hưởng tiêu cực cho tất cả các thành viên trong gia đình, đặc biệt là là đối với trẻ em chứng kiến bạo lực cũng như các em là nạn nhân trực tiếp của hành vi bạo lực. Ngoài ra, bạo lực gia đình cũng ảnh hưởng đến sự an toàn, lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã hội. Vì lẽ đó, việc ban hành một văn bản pháp luật thích hợp nhằm phòng ngừa bạo lực gia đình và can thiệp một cách có hiệu quả khi bạo lực gia đình xảy ra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với trẻ em mà còn với toàn xã hội.
Hầu hết các quốc gia đều có các văn bản pháp luật hành chính và hình sự mang tính chất toàn diện để xử phạt các hành vi bạo lực và lạm dụng, bao gồm cả bạo lực xảy ra trong gia đình. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người nhận thấy rằng bạo lực gia đình có nhiều khía cạnh rất đặc thù mà các thủ tục dân sự, hành chính và hình sự hiện hành không thể giải quyết hết. Nạn nhân của bạo lực gia đình là trẻ em thường gặp nhiều khó khăn trong việc trốn chạy khỏi thủ phạm và tiếp cận hệ thống pháp luật. Do bạo lực gia đình xảy ra trong bối cảnh của quan hệ riêng tư, mang tính liên tục, dễ lặp đi lặp lại nên chỉ bản thân các em khó có thể yêu cầu sự giúp đỡ, can thiệp của cảnh sát hoặc các cơ quan chức năng khác vì bị phụ thuộc vào thủ phạm. Hơn nữa, các cơ quan có thẩm quyền thường tỏ ra ngần ngại trong việc can thiệp vào các vụ việc bạo lực gia đình xuất phát từ quan niệm cho rằng bạo lực gia đình là việc riêng thuộc nội bộ mỗi gia đình. Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
Để khắc phục những khó khăn đó, cần phải có một văn bản pháp luật riêng về bạo lực gia đình, quy định những thủ tục mang tính gần gũi, dễ tiếp cận đối với nạn nhân, đáp ứng nhu cầu của những người bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt dễ bị tổn thương.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ra đời có mục đích ngăn chặn, phòng ngừa việc xảy ra hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em. Điều này hoàn toàn khác với các luật khác như luật Hành chính, luật Hình sự…chỉ quy định biện pháp xử lí khi đã có hành vi vi phạm quyền trẻ em xảy ra. Mục tiêu lớn nhất của Luật Phòng chống bạo lực gia đình là nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi bạo lực hoặc nguy cơ gây ra hành vi bạo lực gia đình, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể, đặc biệt là trẻ em – nạn nhân của bạo lực gia đình. Không chỉ đem lại sự an toàn tạm thời cho trẻ em mà việc hiểu biết những quy định về vấn đề này, nhận thức được tác động xấu của hành vi này tới những người xung quanh, đặc biệt là với trẻ em còn giúp các thành viên gia đình nâng cao khả năng tự bảo vệ bản thân và gia đình. Với trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình, là thành viên của gia đình có hành vi bạo lực thì việc phòng, chống bạo lực gia đình là một cách để đảm bảo quyền trẻ em, bảo đảm cho các em có một môi trường tốt cho sự phát triển nhân cách. Với những chủ thể gây ra bạo lực gia đình, việc được thông tin về hậu quả của bạo lực gia đình, về quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình, về những trách nhiệm phải gánh chịu vì hành vi bạo lực của mình… có tác động rất lớn trong giáo dục, răn đe thậm chí là cải tạo làm thay đổi nhận thức của họ.
Bên cạnh đó, Luật Phòng chống bạo lực gia đình tạo cơ sở pháp lý cho việc can thiệp kịp thời của các cá nhân, cơ quan, tổ chức để ngăn chặn hành vi bạo lực. Luật này góp phần xoá bỏ quan niệm bạo lực gia đình là chuyện nội bộ của từng nhà. Những quy định của Luật cũng góp phần không nhỏ trong công tác giáo dục và nâng cao nhận thức của cá nhân, gia đình và xã hội về trách nhiệm phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với trẻ em nói riêng.
Cuối cùng, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi bạo lực gia đình gây ra. Ví dụ như các biện pháp trợ giúp, tư vấn, chăm sóc, cấp cứu nạn nhân…Chúng ta có thể nhận thấy hầu hết nạn nhân của bạo lực gia đình đều mong muốn được bảo vệ trước việc tiếp tục bị bạo lực, bị lạm dụng và cần được hỗ trợ để giải quyết hậu quả của bạo lực. Đối với trẻ em là những đối tượng yếu đuối cả về thể chất và tinh thần thì nhu cầu này lại càng cấp thiết. Theo quy định của Luật Phòng chống bạo lực gia đình thì trách nhiệm hỗ trợ, tư vấn, chăm sóc, cấp cứu nạn nhân bạo lực là trẻ em, khắc phục hậu quả của bạo lực gia đình là bắt buộc đối với các cơ quan có thẩm quyền.
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình, trong đó có vấn đề bạo lực gia đình như Hiến pháp năm 2013, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính…Các quy định pháp luật tuy đã đề cập đến các biện pháp bảo vệ gia đình và phòng ngừa bạo lực gia đình, song xét một cách tổng quát, những quy định đó vẫn còn tản mạn ở nhiều văn bản pháp luật, thiếu tính cụ thể và chưa có những quy định pháp lý đặc thù. Các văn bản đó mới chỉ đưa ra các biện pháp xử lí sau khi đã xảy ra hành vi vi phạm pháp luật. Luật Phòng chống bạo lực gia đình không chỉ nhằm mục đích xử lý hành vi bạo lực mà còn nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hành vi bạo lực và giảm thiểu, khắc phục hậu quả đối với nạn nhân bạo lực, đặc biệt khi nạn nhân là trẻ em. Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình