Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với việc bảo vệ quyền trẻ em và một số giải pháp, kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình nhằm bảo vệ quyền trẻ em

Từ ngày 01/07/2008 Luật phòng chống bạo lực gia đình có hiệu lực và bắt đầu đi vào cuộc sống. Những tưởng từ đây, người dân sẽ nhận thức được hành vì bạo hành gia đình từ đó tạo tiền đề cho cuộc sống được hạnh phúc và vẹn tròn hơn. Nhưng một nghịch lý hoàn toàn khác lại diễn ra, số vụ bạo lực gia đình không những không thuyên giảm mà còn có xu hướng tăng mạnh với mức độ và tính chất nghiêm trọng hơn và rất nhiều vụ việc đã chuyển sang mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đặc biệt, vấn đề bạo lực gia đình giữa cha mẹ với con là khá phổ biến nhưng chưa được xã hội nhìn nhận một cách đúng đắn. Đó thường là những hành động “dạy bảo” con cái, xuất phát từ quan niệm “yêu cho roi cho vọt” và giáo dục cần phải nghiêm khắc. Rất nhiều ông bố bà mẹ coi việc đánh đập, chửi mắng con cái khi chúng mắc lỗi là cần thiết để chúng nhận ra sai lầm và sửa chữa; hay coi việc mạt sát, trách móc là động lực để chúng phấn đấu. Trên thực tế, cách làm này phần nào phù hợp với tâm lý người Việt và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi những chuẩn mực tiến bộ về quyền con người đã và đang được phổ biến trên thế giới thì những tư tưởng, cách làm này cần phải được loại bỏ.

Ở nước ta, rất nhiều vụ bạo lực gia đình đối với trẻ em diễn ra trong thời gian dài mới được công luận và pháp luật can thiệp. Một số vụ việc điển hình như:

Ông Nguyễn Hữu Thuyên (sinh năm 1971, ở thôn Đức Hậu, xã Đức Hoà, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) đã nhiều lần đánh đập và hành hạ con mình là Nguyễn Thị Thuý (sinh năm 1999) một cách dã man. Do cháu Thuý còn nhỏ, chưa ý thức được mọi việc trong sinh hoạt hàng ngày nên thường nghịch ngợm, ham chơi, Thuyên bực mình và hay đánh cháu.

Khi cháu Thuý mới lên 6 tuổi, Thuyên đã dùng kìm bẻ 2 răng cửa của cháu Thuý. Sau đó, Thuyên lại cắt những miếng cao su từ dép tông ra nhét vào 2 lỗ tai cháu Thuý làm cháu bị đau tai và chảy mủ. Tuy nhiên, mãi đến ngày 14/6/2011, cơ quan cảnh sát điều tra mới phát hiện, nhập cuộc và đưa cháu Thuý đi khám tại bệnh viện Sóc Sơn. Kết quả của lần đi khám này là: lấy được 1 miếng cao su trong tai cháu. Không những vậy, trong khoảng thời gian từ tháng 5 – 6/2011, Thuyên thường dùng xích sắt dùng để xích chó xích tay chân cháu Thuý vào chân giường. Quá sợ hãi người cha tàn ác, cháu Thuý đã phải bỏ nhà đi. Trưa ngày 2/6/2011, do sợ bị bố đánh đập và xích chân tay nên đã cùng em trai đi khỏi nhà. Khi hai chị em cháu Thuý đi đến khu vực thôn Xuân Kỳ, xã Đông Xuân, huyện Sóc Sơn thì một số người dân thấy hai cháu bé đi lang thang, đã hỏi số điện thoại và điện cho gia đình đến đón về. Tuy nhiên, trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, khi thấy bố đến đón, mặt Thuý tái mét, không dám theo bố về mà chỉ ôm gốc cây ngồi khóc. Thấy vậy, Thuyên bỏ đi, sau đó quay lại cùng một sợi dây xích và xích tay cháu Thuý vào phía sau xe máy định lôi cháu về. Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Tức giận trước hành vi vô nhân tính của Thuyên, một số người dân đã can ngăn không cho Thuyên xích tay cháu. Sau đó, một cặp vợ chồng tốt bụng sống ở gần đó đã đưa cháu Thuý vào nhà, cho cháu ăn uống. Khoảng 15h cùng ngày, Thuyên và em trai đến nhà anh Đức đón cháu Thuý. Tại bản kết luận giám định pháp y ngày 21/7/2011 của Trung tâm pháp y Hà Nội, cháu Thuý bị thủng màng nhĩ 2 bên, gãy trên lồi cầu xương cánh tay phải di chứng vẹo khuỷu tay, mất 2 răng cửa. Cháu Thuý bị tổn hại 18% sức khoẻ. Ngày 15/3, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử phúc thẩm xét về hành vi hành hạ con và cố ý gây thương tích. Tại phiên toà phúc thẩm, xét thấy bị cáo không có bất cứ tình tiết giảm nhẹ nào, toà đã tuyên y án sơ thẩm đối với Thuyên: 18 tháng tù về tội hành hạ con và 36 tháng tù về tội cố ý gây thương tích [41]

Một vụ việc khác cũng khiến dư luận phẫn nộ, đó là việc cậu bé Vũ Văn Đ. (13 tuổi), hiện học lớp 7, trường THCS xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng bị chính bố đẻ của mình là Vũ Văn Hiệu (54 tuổi) lột trần truồng, người không mảnh vải – trói vào cột điện ven đường trước cửa nhà dưới cái rét 15 độ C (ngày 21/3/2013). May thay, Đội Thanh tra giao thông số 3, Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng đi làm nhiệm vụ qua nhìn thấy cảnh tượng liền quay xe lại. Các cán bộ thanh tra giao thông khuyên giải ông bố không được dạy con như thế và yêu cầu đưa cậu bé vào nhà mặc quần áo lại. Ông này liền giải thích sở dĩ phải lột truồng con ra rồi đem trói vào cột điện trước cửa nhà là nhằm “giáo dục, răn đe, doạ…” cho xấu hổ với mọi người, bạn bè để con ông không dám bỏ học đi chơi điện tử nữa [41]

Một vụ việc khác cũng rất thương tâm được phản ánh trên báo Công an thành phố, đó là việc em Châu Văn Phúc Thiên (sinh năm 1999) bị cha mẹ ruột đánh đến chấn thương ở thôn Đắc Nhơn 2, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận. Điều đáng nói vụ việc xảy ra vào đúng ngày Quốc tế thiếu nhi 1-6. Trước đó, suốt nhiều ngày, Thiên đã bị mẹ xích vào cửa bằng sợi dây dài khoảng 3 mét, với ba ổ khoá. Cứ mỗi lần rượu vào là ông Châu Văn Tuấn (sinh năm 1972, bố Thiên) lại lôi em ra đánh đập. Khoảng 13 giờ ngày 1-6-2012, bà Tô Thị Hồng Vân (sinh năm 1976, mẹ Thiên) trước khi đi làm lại tiếp tục xích con vào cửa. 15 phút sau, ông Tuấn uống rượu say về bắt đầu hành hạ Thiên, đến mức bà Vân phải nhờ người cầu cứu công an xã. Đại uý Đinh Đoàn Tư – Đội tuyên truyền, Phòng Công tác chính trị, Công an Ninh Thuận, một trong những người thực hiện đoạn phóng sự trên, phát sóng trên hai kênh truyền hình VTV và ANTV – cho biết: “Chúng tôi không thể hình dung tại sao lại có những người cha, người mẹ tàn ác như thế!” [45] Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Tại Đắk Nông cũng xảy ra trường hợp hy hữu: người cha bắt hai cậu con trai bò giữa phố vì chúng nghiện game, không chịu học hành tử tế. Ông này tâm sự: “Tôi thà mang tiếng ác, chỉ mong các con nên người”. Không chỉ ở các tỉnh mà tại một số thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh cũng từng xảy ra những trường hợp đau lòng. Bé T.T.M ở quận 9 bị cha đẻ dùng ống nước quất tới tấp lên người vì trót lấy trộm tiền trong ống heo và hay đi chơi quậy phá. Vì mê game mà một cậu bé 13 tuổi phải đeo tấm bảng ghi dòng chữ “Tôi là thằng ăn cắp” ở quận Tân Bình [46]

Một bé khác cũng bị cha đẻ bạo hành tàn nhẫn là Bùi Xuân Thuận (10 tuổi, ở huyện An Dương, Hải Phòng). Bé bị chính bố đẻ của mình là Bùi Xuân Phong hành hạ. Hoàn cảnh của Thuận rất thương tâm, mồ côi mẹ từ khi 6 tuổi. Người cha bỏ nhà đi lang bạt, để mặc anh em Thuận cho bà nội nuôi nấng. Từ khi người cha Bùi Xuân Phong có vợ mới, hai anh em Thuận phải xa rời vòng tay bà nội để về sống cùng với cha và mẹ kế. Thuận đã phải chịu sự đánh đập dã man nhiều lần trong suốt một thời gian dài. Người bố tàn ác đã bắt Thuận cởi trần truồng, dùng dây điện có lõi đồng quật tới tấp vào người khiến toàn thân bé Thuận tím đen, chằng chịt sẹo. Tàn nhẫn hơn, thậm chí Phong còn bắt con trai của hắn phải ăn… phân [48]

Một vụ việc thương tâm khác cũng xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh là vụ cháu Trịnh Nguyễn Thành Đức (sinh năm 2010) bị cậu ruột đánh đập dã man, bắt đi ăn xin. Mới 3 tuổi nhưng cháu Đức đã bị người thân bắt đi lang thang đầu đường xó chợ xin ăn. Những đêm không xin được, cháu không dám về căn nhà trọ. Cháu Đức vẫn thường xuyên bị cậu bạo hành với nhiều vết thương chằng chịt.

Ngày 30/10, cơ quan chức năng P.Tân Hưng (Q.7, Thành phố Hồ Chí Minh) tổ chức giải cứu cháu bé Trịnh Nguyễn Thành Đức (sinh năm 2010) sau khi phát hiện cháu bị người thân đánh đập tàn nhẫn. Cơ quan chức năng phát hiện vùng lưng, mông cháu bé chằng chịt những vết thương ngang dọc nghi bị đánh bằng roi. Hai mắt cháu tím bầm. Phần cổ, đùi và chân loang lổ vết châm bằng điếu thuốc đang cháy. Cháu bé cho biết mình tên là Trịnh Nguyễn Thành Đức, vết thương trên đùi là do người cậu ruột châm điếu thuốc đang hút dở.

Theo phản ánh của người dân địa phương, họ thường thấy cháu Đức lang thang ngoài đường, có hôm đói lả. Ngày nào không có tiền, cháu phải đi thâu đêm, không dám về nhà vì sợ người thân đánh.

Cháu Đức ở với mẹ ruột là Trịnh Thị Tuyết Nở (sinh năm 1991) và bà ngoại Trần Thị Nguyệt tại một căn trọ nhỏ cuối con hẻm số 108, đường Lê Văn Lương, phường Tân Hưng, quận 7, TPHCM. Đó là phòng trọ lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm và ngổn ngang rác rưởi. Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Chồng chị Nở đang chấp hành án tù. Chị cũng không rõ chồng ngồi tù vì tội gì, chỉ biết chồng hay uống rượu say, quậy phá và hành hung người khác. Cuộc sống rất khó khăn, hàng ngày Nở đi làm thuê tại một tiệm bánh mì. Đồng tiền công ít ỏi không đủ nuôi sống gia đình nên Nở giao 2 đứa con cho em trai là Trịnh Đắc Hoà dẫn đi lang thang xin ăn. Bà Nguyệt biết chuyện nhưng xem đó là chuyện bình thường bởi không có những đồng tiền các cháu kiếm được thì gia đình không biết lấy đâu ra tiền mua gạo. Nói về những vết thương trên người cháu Đức, Nở thật thà cho biết là do chính em trai mình là Trịnh Đắc Hoà và em họ là Đặng Tấn Cường (sinh năm 2001) gây ra. Nguyên nhân đánh cháu Đức là do ép đi xin tiền nhưng cháu không nghe lời. Hoà khai đã cầm cây dài 50 cm đánh vào mông và vào chân của cháu. Hoà còn lấy tay tát, dùng gối đập vào mặt cháu làm bầm tím hai con mắt. Còn Cường dùng điếu thuốc đốt cháy chích vào khắp người Đức. Sau đó, Hoà và Cường rủ nhau đi chơi điện tử, bỏ mặc cháu Đức quằn quại trong đớn đau [47].

Đau xót hơn là vụ bé gái 6 tuổi bị chính cha dượng thực hiện hành vi xâm phạm tình dục. Kẻ thực hiện hành vi bạo lực trên là Đỗ Thanh Nhàn (sinh năm 1975, huyện Bình Châu, Tây Ninh) đã lợi dụng lúc vợ là chị N.T.H (sinh năm 1977) vắng nhà để hãm hiếp cháu N.T.M.D khi cháu mới tròn 6 tuổi. Theo hồ sơ vụ án, sáng 8/4, chị có đám giỗ người bà con ở xa nên phải đi, để lại bé D ở nhà với cha dượng. Bé D đi vệ sinh xong xả nước không được nên gọi cha dượng vào giúp. Nghe tiếng gọi, tên Nhàn chạy vào xả nước giúp bé rồi bắt bé ngồi im để hắn giao cấu. Bé D không dám kêu la, chỉ đến khi thấy bé ra nhiều máu nên gã mới gọi vợ về đưa bé đi cấp cứu.

Ngày 17/8/2013, Hội đồng xét xử sơ thẩm Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên phạt bị cáo Nhàn mức tù chung thân với hành vi “hiếp dâm trẻ em” [49]

Một vụ án khác cũng gây phẫn nộ trong dư luận, cũng là vụ cha dượng hãm hiếp con riêng của vợ bên bờ kênh. Theo cáo trạng, ngày 19/11/2012, Trần Văn Phụng (39 tuổi, ngụ ở huyện Cù Lao Dung, Sóc Trăng) với hàng xóm nhậu từ sáng đến trưa. Về đến nhà, cha dượng kêu bé Nguyễn Thị Huyền T (10 tuổi) đi cào hến. Cào được một lúc, T lên bờ thì bị Phụng ôm ngang hông để giở trò đồi bại. Ngày 29/11/2012 bé T mách mẹ là bà Lê Thị Hồng Xương. Bà lập tức báo trưởng ấp liên hệ với công an để tố cáo hành vi thú tính của chồng. Ngày 25/1, Phụng bị Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng phạt 14 năm tù về tội “hiếp dâm trẻ em” [49].

Hay đau đớn hơn là vụ ông ngoại 7 lần hiếp dâm cháu gái. Nạn nhân là cháu Hà Thị Lan mới được 6 tuổi. Ngày 18/11 công an huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Ngân Văn Chuyên (62 tuổi) về tội “hiếp dâm trẻ em”. Theo đó, cách đây vài năm ông Chuyên lấy vợ hai là bà ngoại của cháu Lan. Lợi dụng mối quan hệ thân thiết trong gia đình, suốt thời gian dài, từ tháng 9/2013, mỗi khi cháu Lan sang chơi, thú tính nổi lên, ông Chuyên đã nhiều lần thực hiện hành vi hiếp dâm với cháu. Sau mỗi lần như vậy, Chuyên lại cho cháu bánh kẹo, hoa quả và dặn không được nói với bất kì ai. Sự việc bị phát hiện khi cháu Lan vô tình kể lại chuyện ông ngoại thường hay quan hệ với mình cho chị gái là Hà Thị Nương (13 tuổi) nghe thì sự việc mới vỡ lẽ [49]. Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Những vụ việc trẻ em bị bạo hành đang được các phương tiện truyền thông đăng tải ngày càng gia tăng khiến nhiều người không khỏi giật mình hoang mang. Người ta thắc mắc, tại sao ngày càng có nhiều ông bố, bà mẹ lại có thể nhẫn tâm đối xử với con ruột của mình một cách tồi tệ và mất nhân tính đến như vậy.

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và xã hội về việc thực hiện chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em ở nước ta cho thấy, số lượng vụ xâm hại trẻ em bị cơ quan chức năng phát hiện hàng năm càng ngày càng tăng với những con số giật mình. Năm 2009 là 3.000 vụ đến năm 2011 đã tăng lên hơn 7.000 vụ. Đây là theo con số thống kê các vụ việc bị phát hiện, được đưa ra ánh sáng, bị xử lý, còn con số thực sự có thể lớn hơn rất nhiều [48]

Kết quả khảo sát của một tổ chức phi chính phủ có tên gọi CSAGA tại 8 tỉnh, thành trên cả nước cũng cho thấy, có đến 90% số người được hỏi trả lời là “có nghe đến Luật Phòng, chống bạo lực gia đình”, trong đó tỷ lệ nam giới là 92% và tỷ lệ nữ giới là 87%. Như vậy, có thể thấy, phần đa người dân vẫn chưa nắm rõ được các nội dung chi tiết của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nên đã dẫn đến việc hiểu rất mơ hồ Luật [42].

Một nghiên cứu khác do Viện nghiên cứu thanh thiếu niên tiến hành tại 6 tỉnh ở miền Bắc và miền Trung với 1.240 em học sinh tại các trường tiểu học và trung học cơ sở cho thấy, 46% nói rằng bố mẹ chúng thường xuyên phạt bằng cách này hay cách khác nếu chúng có lỗi. Có 50% em trả lời cha mẹ thỉnh thoảng có phạt. Trong đó 26% em bị phạt bằng hình thức đánh, 65% em bị mắng chửi và 10% bị các hình phạt khác. Tuy nhiên, 45% em cho rằng các em bị phạt một cách bất công và 72% em trả lời chúng rất buồn khi bị đánh phạt và 28% nói rằng rất giận bố mẹ [15, tr.12]

Từ các thống kê trên cho thấy sự hiểu biết của người dân về vấn đề bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với trẻ em còn rất hạn chế. Nếu đề cập đến các hành vi như đánh đập, mắng chửi trong gia đình thì họ dễ dàng nhận ra nhưng với bạo lực gia đình thì khái niệm này dường như chỉ dành cho các nhà chuyên môn. Vấn đề bạo lực gia đình đối với trẻ em ở nước ta đã tồn tại từ rất lâu. Trong nhận thức của người dân đây vẫn được coi là vấn đề riêng tư của mỗi nhà và có xu hướng giải quyết theo quan niệm không “vạch áo cho người xem lưng”. Không chỉ người dân mà ngay cả một số cán bộ xã, ấp nhiều nơi cũng quan niệm bạo lực gia đình là chuyện riêng của từng nhà. Đa số quan niệm rằng việc cha mẹ mắng chửi con cái không phải là hành vi bạo lực, một số khác lại quan niệm đánh đập ở mức độ nghiêm trọng chứ còn như vài cái bạt tai hoặc đánh vài roi cũng không phải là bạo lực.

Khi hỏi quan điểm của người dân về giáo dục con cái với câu nói “yêu cho roi cho vọt”, có 12,2% số người được hỏi đồng ý với chuyện sử dụng đòn roi trong giáo dục con cái; 34,4% cho rằng “ôtuỳ mức độ” mà có thể đánh đòn [15, tr.13]. Như vậy, có thể thấy trong quan niệm của người dân vẫn còn theo quan điểm giáo dục bằng vũ lực. Do đó, cần phải tổ chức nhiều hoạt động nhằm nâng cao nhận thức bình đẳng, ưu tiên quyền bảo vệ trẻ em. Trẻ em phải được coi là những công dân thực sự trong mỗi gia đình và xã hội. Thay đổi nhận thức phải bắt đầu từ các bậc làm cha, làm mẹ.

Phân tích thực trạng trên cho thấy sự thiếu hiểu biết của người dân về pháp luật liên quan đến bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với trẻ em nói riêng còn rất hạn chế. Đa số người dân hiểu biết về pháp luật thông qua phương tiện chủ yếu là thông tin đại chúng. Điều này cho thấy công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về lĩnh vực này có hiệu quả chưa cao. Rất nhiều người chưa hiểu đầy đủ, đa số cho rằng chỉ có sự hành hạ về thể xác mới cấu thành bạo lực do tính chất nghiêm trọng của nó gây ra. Bên cạnh đó, công tác bảo trợ cho trẻ em còn nhiều khó khăn và chưa thật đồng bộ. Đây có thể là lý do khiến nhiều vụ bạo hành trẻ em không bị phát hiện và xử lý một cách triệt để. Với từng vụ riêng lẻ, người ta sẽ giải quyết bằng cách khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam khẩn cấp những người vi phạm. Nhưng đó chỉ là biện pháp mang tính tình thế đối với từng vụ việc cụ thể. Trên bình diện tổng thể, các tổ chức, đoàn thể phải có trách nhiệm tích cực hơn, cùng góp tay giải quyết tận gốc tình trạng nhức nhối này. Hiện nay, có rất nhiều trẻ em ở vùng sâu vùng xa phải lao động nặng nhọc quá sức, bị đánh đập, bỏ đói nhưng chưa thực sự được xã hội quan tâm. Vấn đề ở đây không phải chỉ trừng trị, mà quan trọng hơn là tuyên truyền, giáo dục, làm thay đổi nhận thức của mỗi cá nhân, mỗi gia đình.

Những sự việc ngược đãi thương tâm liên tục xảy ra một lần nữa khiến chúng ta phải đặt ra câu hỏi về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội. Tình trạng bạo lực, xâm hại trẻ em đang có xu hướng nghiêm trọng, phức tạp và đã trở thành một vấn đề xã hội cấp bách hơn bao giờ hết.

3.2. Một số bất cập trong quá trình thực thi pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Qua nghiên cứu, chúng ta có thể thấy rằng nhiều quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là khó thực thi.

Thứ nhất, đó là vấn đề áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc (người có hành vi bạo lực gia đình bị cấm đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m). Biện pháp này do các cơ quan thẩm quyền của Nhà nước ra quyết định, nhưng việc giám sát thực hiện lại được giao cho người đứng đầu cộng đồng dân cư (trưởng thôn, làng, bản ấp, tổ trưởng dân phố…) phân công người giám sát thực hiện (Điều 22). Về nguyên tắc, cơ quan nhà nước nào ra quyết định thì cơ quan đó phải có trách nhiệm theo dõi, bảo đảm cho quyết định của mình được thi hành. Hoạt động giám sát của các tổ chức xã hội, dân cử chỉ có vai trò hỗ trợ và giám sát. Thời hạn cấm tiếp xúc chỉ có ba ngày là chưa hợp lý. Khoảng cách cấm tiếp xúc 30m sẽ được thực thi trong thực tế như thế nào? Bằng cách nào tổ trưởng dân phố giám sát và kết luận là người bị cấm tiếp xúc đã vi phạm khoảng cách 30m này?

Thứ hai, Luật cũng chưa thực sự tạo được cơ sở pháp lý an toàn cho người tố giác, cung cấp thông tin về bạo lực gia đình. Do vậy, trong thực tế có nhiều người biết về hành vi bạo lực gia đình nhưng lại không dám khai báo vì sợ “đụng chạm”, sợ bị trả thù hay sợ ảnh hưởng đến tình làng nghĩa xóm.

Thứ ba, quy định về “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” được ghi nhận tại Điều 30 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là “cá nhân, tổ chức có uy tín, khả năng và tự nguyện giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cộng đồng dân cư” và “Cá nhân, tổ chức thông báo về việc nhận làm địa chỉ tin cậy, nơi đặt địa chỉ tin cậy với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đặt địa chỉ tin cậy. Tuỳ theo điều kiện và khả năng thực tế, địa chỉ tin cậy ở cộng đồng tiếp nhận nạn nhân bạo lực gia đình, hỗ trợ, tư vấn, bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết”. Như vậy, có thể hiểu “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” là nơi tạm lánh tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định cho nạn nhân bạo lực gia đình, đó có thể là nhà người nào đó tin cậy trong cộng đồng dân cư, có khả năng che chở bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân bạo lực. Do đó, vấn đề về thái độ, sự nhiệt tình, có trách nhiệm đối với nạn nhân bạo lực cũng cần đặt ra. Bên cạnh đó, hiện vẫn chưa có cơ chế rõ ràng về việc hỗ trợ kinh phí cho “Địa chỉ tin cậy cộng đồng”. Mặc dù xây dựng “Địa chỉ tin cậy cộng đồng” là do khả năng và tự nguyện của cá nhân, tổ chức nhưng cũng nên có sự hỗ trợ về kinh phí từ phía nhà nước để tăng cường hiệu quả cho hoạt động này. Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Thứ tư, về nguồn nhân lực, cán bộ thực hiện nhiệm vụ thi hành việc phòng, chống bạo lực gia đình thường là kiêm nhiệm nên nếu chỉ yêu cầu họ tự nguyện, tự giác thì rất khó. Do đó phải có chính sách rõ ràng về trợ cấp thu nhập cho họ.

Thứ năm, quy định Nhà tạm lánh bộc lộ những băn khoăn về tính khả thi của mô hình này, khi mà phương thức hoạt động, cách thức tổ chức chưa được quy định rõ và quy định có tính bị động – người bị bạo hành phải trốn. Nhà nước mới chỉ dừng lại ở việc khuyến khích thành lập những cơ sở tạm lánh và những quy định về việc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của những cơ sở này còn chung chung, thiếu cụ thể. Ví dụ: Khoản 2, Điều 19 NĐ 08/CP quy định việc hỗ trợ kinh phí cho cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình được thực hiện theo kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình do Uỷ ban nhân dân các cấp lập; kinh phí hỗ trợ được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của các cấp dành cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Kinh phí này được xác định căn cứ vào quy mô, hiệu quả hoạt động của cơ sở, số nạn nhân bạo lực gia đình được trợ giúp hàng năm. Nếu chỉ dừng lại ở quy định như vậy thì rất khó để xác định được nguồn kinh phí hỗ trợ cho những cơ sở tạm lánh là bao nhiêu. Hơn nữa, khi trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình thì sẽ tiếp cận Nhà tạm lánh như thế nào? Trong trường hợp cha là người gây bạo lực với trẻ thì mẹ có thể yêu cầu cho con tạm lánh, hay trường hợp mẹ gây bạo lực thì cha có thể yêu cầu tạm lánh. Tuy nhiên, nếu cả cha và mẹ đều có hành vi bạo lực với con thì đứa trẻ có thể tự yêu cầu tạm lánh hay không? Hay người trưởng thành khác trong gia đình sẽ thực hiện quyền yêu cầu này? Ngoài ra, trẻ em vẫn là đối tượng phụ thuộc vào cha mẹ nên việc người ngoài đưa các em vào nơi tạm lánh mà không có sự đồng ý của cha, mẹ thì có vẻ không phù hợp. Trong tình huống này rất cần sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Như vậy, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nên quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền trẻ em có thể yêu cầu tách trẻ em ra khỏi cha mẹ khi bị cha mẹ bạo lực xâm hại đến tính mạng, sức khỏe.

Thứ sáu, quy định về biện pháp phạt tiền cũng bộ lộ bất cập. Mức phạt tiền được quy định tại NĐ 167/2013/NĐ-CP chưa thực sự hợp lý, thiếu tính răn đe bởi mức xử phạt nhìn chung là thấp. Ví dụ như: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi cưỡng ép người khác tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác (Điều 55) hay phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi cưỡng ép thành viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích dục (Điều 52); Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thường xuyên đe doạ bằng bạo lực để buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ (Điều 57). Mặt khác, trong nhiều trường hợp biện pháp này có thể trở thành “con dao hai lưỡi”, khiến tình trạng bạo lực nghiêm trọng hơn: người có hành vi bạo lực vì phải nộp phạt mà trút giận lên nạn nhân bằng những hành vi bạo lực kinh khủng hơn, tinh vi hơn.

Các hành vi bạo lực về tinh thần trong gia đình ngày càng xảy ra phổ biến và khó lường. Không như các hành vi bạo lực về mặt thể xác dễ biểu lộ ra bên ngoài để xã hội có thể lên án và can thiệp, các hành vi áp bức về mặt tinh thần thường rất kín, thường thì nạn nhân sợ hãi âm thầm chịu đựng một mình.

Tóm lại, quá trình thực thi luật Phòng, chống bạo lực gia đình gặp phải không ít bất cập, hướng dẫn thi hành luật chưa cụ thể, chưa tới được những người làm việc trực tiếp ở cơ sở, chưa có kế hoạch tổng thể và phân bổ ngân sách rõ ràng cho việc thực thi luật ở địa phương, nâng cao năng lực, đào tạo nhân lực về bạo lực gia đình và áp dụng luật còn yếu, chưa có đánh giá một cách hệ thống về hiệu quả thi hành luật.

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Phòng chống bạo lực gia đình nhằm bảo vệ quyền trẻ em Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

3.3.1 Quy định về biện pháp cấm tiếp xúc

Việc quy định về việc cấm tiếp xúc trong một thời gian giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực là cần thiết để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân, để hai bên có thời gian cân nhắc về hành động của mình và cũng là để giáo dục người có hành vi bạo hành về tội lỗi của họ. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này yêu cầu có sự đồng ý của nạn nhân hoặc người giám hộ (thường là một thành viên khác trong gia đình), là chưa khả thi. Bởi vì bản chất của những mối quan hệ trong gia đình là gắn bó thân thiết và bền chặt, nếu một người có ý từ bỏ, ra ngoài sống thì mối liên hệ giữa các thành viên thường bị cho rằng sẽ trở nên lỏng lẻo và khó chấp nhận. Hơn nữa, với những nạn nhân bị bạo lực là trẻ em, do bị phụ thuộc nhiều vào người lớn trong gia đình, đặc biệt là cha và mẹ, nên dù bị đối xử tàn nhẫn nhưng các em vẫn có thể nín nhịn, tiếp tục sống chung với người có hành vi bạo lực. Do đó, việc quy định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc phải có sự đồng ý của nạn nhân mặc dù rất thoả đáng khi để nạn nhân tự cân nhắc, quyết định theo tình cảm và ý thức của họ, nhưng khi nạn nhân là trẻ em thì chưa có cơ chế thực hiện rõ ràng để bảo vệ trẻ em tránh những hành vi bạo lực nguy hiểm có thể xảy ra.

Bên cạnh đó, quy định về một trong những điều kiện áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc chưa thật hợp lý: Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc, nơi ở này bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà nạn nhân bạo lực gia đình tự nguyện chuyển đến ở. Rõ ràng trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình tiếp tục phải chịu thiệt thòi: các em bị làm tổn thương, và để tránh những tổn thương này trẻ em bị buộc phải rời khỏi nhà của mình. Quy định như vậy bộc lộ sự bất hợp lý: khi nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình là trẻ em thì rất khó khăn cho các em khi phải chuyển đến một nơi ở mới, xa cách những người thân khác trong gia đình, các em sẽ khó tiếp nhận được chuyện này và thậm chí sự cách ly đó còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đối với tâm lý và tình cảm của trẻ em. Pháp luật nên quy định ngược lại, đó là người thực hiện hành vi bạo lực gia đình mới là đối tượng phải bị cách ly vì bản thân họ đã vi phạm pháp luật.

Ngoài ra, khi áp dụng biện pháp này, theo tôi trong một số trường hợp không cần đến sự yêu cầu hay đồng ý của nạn nhân. Ví dụ: trường hợp hành vi bạo lực gây tổn hại hết sức nghiêm trọng tới sức khoẻ, danh dự của nạn nhân; hành vi lặp lại nhiều lần; người có hành vi đã được giáo dục mà tiếp tục vi phạm…và trường hợp nạn nhân là trẻ em. Bởi lẽ theo tâm lý thông thường của trẻ em thì chúng không bao giờ muốn bị tách ra khỏi cha, mẹ và người thân của mình. Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ thì không nhất thiết cần sự đồng ý của trẻ trong trường hợp cách ly người có hành vi bạo lực và trẻ em là nạn nhân của bạo lực.

3.3.2 Quy định về hình thức phạt tiền khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Nghị định 167/2013/NĐ-CP đã đưa ra những chế tài cần thiết đối với người thực hiện hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, quy định về hình thức phạt tiền của Nghị định này còn chưa thực sự hợp lý, bởi mức xử phạt nhìn chung là thấp, không có tính răn đe. Do vậy, tôi cho rằng có thể bỏ chế tài phạt tiền, thay vào đó là chế tài lao động công ích trong xử lý vi phạm hành chính trong phòng, chống bạo lực gia đình. Biện pháp này có tính khả thi cao hơn vì nó có ý nghĩa giáo dục tích cực với người có hành vi bạo lực, đồng thời không ảnh hưởng tới quyền lợi của nạn nhân. Hơn thế nữa, biện pháp này còn có giáo dục tích cực đối với những cá nhân khác: họ không muốn phải chịu hình thức xử phạt công khai, có nhiều người biết tới như vậy, nên sẽ cố gắng tránh bằng cách không thực hiện hành vi vi phạm. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng biện pháp này còn khá mới ở Việt Nam, nên có thể quy định một cách mềm dẻo: chỉ áp dụng bắt buộc với người có hành vi tái phạm; tính thời gian lao động công ích tương đương với số tiền phạt; tiến hành lao động công ích trong các cơ sở kinh tế nhất định. Tuy nhiên, nếu đã bị áp dụng hình thức xử phạt này thì không được cho phép thay thế bằng phạt tiền để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

3.3.3 Quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Qua nghiên cứu, chúng ta thấy được các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thuộc thẩm quyền xử lý của rất nhiều cơ quan, tuy nhiên, chính quyền cấp cơ sở đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình vì đây là cấp gần dân nhất. Có thể nói, chính quyền cơ sở là nơi nắm bắt, quản lý mọi hoạt động diễn ra trên địa bàn mình quản lý, nhưng trong thực tiễn thì đã có rất nhiều hành vi bạo lực gia đình xảy ra trong thời gian dài mà chính quyền không biết và không có biện pháp xử lý, can thiệp kịp thời dẫn đến những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Do đó, pháp luật cần phải quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền cơ sở cũng như trách nhiệm pháp lý đối với họ khi họ không hoàn thành nhiệm vụ.

Thực tiễn bạo lực gia đình ở Việt Nam cho thấy: việc thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình để nâng cao sự hiểu biết, từ đó thay đổi nhận thức về vấn đề là hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng dường như chưa được chú ý đúng mức. Các nhà làm luật đã mất nhiều công sức để xây dựng các quy định này nhưng lại không quy định cơ chế cho việc thực thi trên thực tế, mà chỉ quy định chung chung trong Chương 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình về trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong thi hành Luật. Vì vậy, theo chúng tôi, cần quy định chi tiết hơn về vấn đề này. Cụ thể: cần quy định việc tuyên truyền này như là một trách nhiệm thường xuyên của một cơ quan, tổ chức cụ thể ở từng địa phương, từng cơ sở (Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em; Uỷ ban Vì sự tiến bộ phụ nữ; Hội phụ nữ; Tổ dân phố…).

Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình là một trong những hành vì bị cấm theo quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Những hành vi này của cơ quan, người có thẩm quyền chính là một trong những nguyên nhân khiến tình trạng bạo lực gia đình không được cải thiện: người có hành vi bạo lực không bị xử lý càng hung hăng, cho là mình đúng; nạn nhân càng sợ sệt, không dám phản ứng; những người xung quanh thấy thế càng có lý do để thờ ơ, không quan tâm, thậm chí có thể cho rằng mình cũng có thể làm như vậy. Ảnh hưởng của hành vi này là rất nghiêm trọng và nguy hiểm. Tuy nhiên, khi xem xét NĐ 167/2013/NĐ-CP thì không thấy bất cứ một hình thức xử phạt nào cho những hành vi này, dù tất cả những hành vi bị cấm khác đều bị xử lý theo những mức độ khác nhau. Điều này là hoàn toàn vô lý và cần phải được sửa đổi. Do đó, chúng tôi cho rằng cần phải quy định chặt chẽ hơn trách nhiệm của các cơ quan tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình: hành vi vi phạm cần phải bị xử lý; nhưng sự thờ ơ, thiếu quan tâm, vô trách nhiệm cũng cần có những chế tài thích đáng. Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Có thể nhận thấy không một ban ngành đơn lẻ hay một cấp nào có thể giải quyết được triệt để một vấn đề xã hội nhạy cảm, phức tạp như bạo lực gia đình. Bởi vậy cần có kế hoạch chung về nâng cao năng lực, và các hoạt động triển khai, rõ ràng về vai trò và trách nhiệm, cũng như có quy trình và định hướng quan điểm can thiệp thống nhất giữa các ban ngành.

3.3.4 Nâng cao trách nhiệm, nhận thức của các thành viên gia đình trong việc bảo vệ quyền trẻ em

Cha, mẹ và những thành viên khác trong gia đình cần tăng cường giáo dục cho các em kỹ năng bảo vệ bản thân và mạnh dạn tố cáo hành vi bạo lực trong gia đình.

Các thành viên trong gia đình cần nâng cao ý thức trách nhiệm đối với công tác phòng, chống bạo lực gia đình bằng cách quan tâm sát sao đến trẻ em; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, ngăn chặn sớm hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em.

Các thành viên trong gia đình cần nhận thức đúng đắn về sự nghiêm trọng của hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em. Cần kiên quyết xoá bỏ tư tưởng bao che, dấu giếm đối với thành viên gia đình có hành vi bạo lực đối với trẻ em, đặc biệt là hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Có như vậy thì hành vi bạo lực đối với trẻ mới được ngăn chặn kịp thời và tránh tái diễn lặp đi lặp lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của trẻ.

Tóm lại, để Luật Phòng, chống bạo lực gia đình sớm đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng trong cộng đồng thì bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, cần phải kết hợp thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung vào các giải pháp như: tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền về Luật Phòng, chống bạo lực gia đình nhằm nâng cao nhận thức tiến tới chuyển đổi hành vi của các tầng lớp nhân dân về bạo lực gia đình; làm tốt công tác bảo vệ, hỗ trợ trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình; trang bị cho các em vũ khí để tự bảo vệ mình; đẩy mạnh phong trào “Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”; xử lý nghiêm người có hành vi bạo lực gia đình; thực hiện việc lồng ghép chương trình phòng chống bạo lực gia đình, trong chương trình kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các cấp, các ngành; tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần sớm tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn liên quan đến lĩnh vực phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em; nghiên cứu ban hành quy chế phối hợp trong chỉ đạo, điều hành, tạo điều kiện để mọi trẻ em được thực hiện đầy đủ các nhóm quyền cơ bản của mình và để bảo vệ trẻ em khỏi bị bạo lực, xâm hại, tạo hành lang pháp lý cần thiết cho việc triển khai, thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương trong lĩnh vực này.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ra đời mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề phòng, chống bạo hành và là cơ sở pháp lý thống nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, trong đó đặc biệt quan trọng là trẻ em, vì đối tượng này rất dễ trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình. Nhiều nội dung tiến bộ trong luật như: Quy định cụ thể về định nghĩa và các hành vi bị coi là bạo lực, xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong vấn đề quản lí chuyên trách về bạo lực gia đình, xác định các biện pháp đặc thù trong ngăn ngừa bạo lực, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân, giáo dục và xử lí kẻ bạo hành… chắc chắn sẽ được phát huy để tạo những kết quả đáng kể trong việc phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tiến bộ đó vẫn còn tồn tại không ít những bất cập trong quá trình thực thi pháp luật. Tình trạng ngược đãi, xâm hại tình dục, bạo lực đối với trẻ em vẫn ở mức cao và gây bức xúc trong dư luận xã hội; Các hành vi xâm hại tình dục, bạo lực, trừng phạt trẻ em ngày càng phức tạp, tính chất nghiêm trọng, báo động về sự suy đồi đạo đức. Thực thi pháp luật, ý thức chấp hành các quy định của luật pháp chưa nghiêm; hình thức xử lý đối với người có hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em còn chưa kịp thời và còn nương nhẹ; nhiều trường hợp bị bỏ qua, không có tác dụng răn đe hoặc giáo dục dẫn đến một bộ phận cán bộ có chức năng bảo vệ trẻ em làm việc thiếu trách nhiệm, người dân còn coi thường pháp luật, trong đó có pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em.

Luật phòng, chống bạo lực gia đình chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi các quy định của luật là hợp lí và có tính khả thi nếu không nó sẽ chỉ mang tính hình thức và nạn bạo lực gia đình sẽ còn tiếp diễn và những đứa trẻ trong gia đình vẫn là những đối tượng phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của vấn nạn này. Chính vì vậy, hoạt động phòng chống bạo lực gia đình là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự chung tay góp sức của các ngành, các cấp và các tầng lớp nhân dân để xây dựng những gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, trẻ em được sống trong môi trường gia đình hạnh phúc.

Để thực hiện mục tiêu nêu trên đòi hỏi Chính phủ phải triển khai đồng bộ các hoạt động từ việc truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bảo vệ trẻ em, nâng cao năng lực cán bộ, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, xây dựng các mô hình trợ giúp trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và tăng cường theo dõi, giám sát đánh giá. Trung ương và địa phương phải bố trí kinh phí, kiện toàn đội ngũ cán bộ, cộng tác viên và thiết lập cơ chế bảo vệ quyền trẻ em phù hợp với hoàn cảnh kinh tế – xã hội của nước ta. Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464