Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam – kiến nghị và hướng hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam hiện nay

2.1.1. Thực trạng đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Hiện nay, với sự phát triển của hoạt động sáng tác, sáng tạo, vai trò của các sản phẩm trí tuệ trong cuộc sống không ngừng gia tăng, cùng với đó, nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng được nâng cao. Các chủ thể này đã tích cực sử dụng các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có việc đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Đối với việc đăng ký quyền tác giả, theo quy định hiện hành thì Cơ quan đăng ký và cấp Giấy chứng nhận đăng ký là Cục bản quyền tác giả thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. Ghi nhận từ số liệu báo cáo chính thức cho thấy số lượng Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được cấp trong giai đoạn từ 2006 đến 2015 như sau:

Tuy nhiên, đối với tác phẩm kiến trúc, theo số liệu từ website chính thức của Cục Bản quyền tác giả, từ năm 2006 đến nay số lượng đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc còn khá khiêm tốn so với việc đăng ký quyền tác giả đối với các đối tượng khác, nếu không muốn nói là rất ít, cụ thể: Bảng 2: Số liệu tác phẩm kiến trúc đăng ký quyền tác giả.

Qua đó, có thể thấy tình hình đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc nhìn chung tuy có tăng mỗi năm nhưng vẫn chỉ là một con số hết sức khiêm tốn so với tình hình thiết kế và xây dựng vô cùng sôi động diễn ra hằng ngày. Tóm lại, những số liệu thống kê cho thấy tình hình đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc còn hết sức khiêm tốn, chưa phản ánh được tình hình thực tế sôi động cũng như còn có nhiều sự nhầm lẫn giữa tác phẩm kiến trúc với các loại bản vẽ quy định lần lượt tại điểm i và điểm k khoản 1 điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Việc đăng ký quyền tác giả của các tác phẩm kiến trúc còn rất ít, mặt khác sự thờ ờ thiếu quan tâm của các tổ chức nghề nghiệp cũng là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến thực trạng này. Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã gặp trực tiếp Kiến trúc sư Nguyễn Trường Lưu – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Tp.HCM và Thư ký – Trưởng ban đối ngoại của Hội Kiến trúc sư Việt Nam về số lượng các tác giả đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc cũng như vấn đề quyền tác giả trong đội ngũ kiến trúc hiện nay thì đều nhận được câu trả lời tương tự nhau là không biết hoặc chưa hề nghe qua !!!.

Nhìn chung, việc đăng ký quyền tác giả của các tác phẩm kiến trúc còn hạn chế cũng là điều dễ hiểu, bởi chính tính đặc thù của quyền tác giả điều đó làm nảy sinh nhiều vấn đề tranh chấp liên quan đến tác phẩm kiến trúc mà ở đó việc tác phẩm có đăng ký quyền tác giả được xem như là một lợi thế trong cuộc chiến pháp lý.

2.1.2. Thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc – Các trường hợp tranh chấp điển hình

Theo ghi nhận tại Cục Bản quyền tác giả cũng như tại Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả, đến thời điểm này tuy có nhiều vụ khiếu nại, khởi kiện về quyền tác giả nhưng hầu hết chỉ liên quan đến các loại hình tác phẩm khác như tác phẩm âm nhạc, tác phẩm văn học… mà rất ít khiếu nại, khởi kiện trong lĩnh vực tác phẩm kiến trúc.

Cụ thể theo Báo cáo số 184/BC-BVHTTDL ngày 21 tháng 9 năm 2016 về việc Tổng kết mười năm thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thì số vụ khiếu nại, tố cáo về quyền tác giả, quyền liên quan tại Cục bản quyền tác giả được thống kê nhưng không có con số nào liên quan đến tác phẩm kiến trúc.

“Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy, từ ngày 01/7/2006 đến ngày 30/9/2015, Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết được 328 vụ việc trong tổng số 363 vụ việc đã thụ lý bao gồm vụ việc dân sự và kinh doanh – thương mại, vụ án hành chính tranh chấp Sở hữu trí tuệ về Quyền tác giả và quyền liên quan và vụ án hình sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về Quyền tác giả, QLQ trong đó chỉ có khoảng 100 vụ việc liên quan đến quyền tác giả”.

Trong đó, số vụ tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc còn hạn chế hơn, mới dừng lại ở một vụ việc nhỏ lẻ. Tuy nhiên, trên thực tế ghi nhận một vài trường hợp tranh chấp có liên quan đến tác phẩm kiến trúc nhưng vì một vài lý do nào đó, các bên đương sự không khiếu nại lên Cục Bản quyền tác giả cũng không khởi kiện tại Tòa án, nếu có chỉ vài trường hợp cá biệt. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Dưới đây xin được nêu ra một vài ví dụ điển hình:

2.1.2.1 Tranh chấp quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Đây cũng là một vụ án hiếm hoi về tranh chấp quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc được đem ra xét xử theo thủ tục tố tụng tòa án.

  • Trường hợp thực tế thứ 1

“Tranh chấp quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc nhà cổ”

  • a) Tóm tắt vụ việc

Công trình xây dụng tại Doanh trại Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng gồm các hạng mục nhà ăn, cổng tam quan, nhà lục giác, kết cấu gỗ và cảnh quan sân vườn do Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng là chủ đầu tư, Công ty Tường Phát là nhà thầu thiết kế và thi công, theo Hợp đồng kinh tế số 79/2011/HĐ-XD ngày 1/6/2011 và Hợp đồng số 90/2011/HĐ-XD ngày 1/6/2011. Để thi công công trình, Công tỵ Tường Phát đã lập các bản vẽ thiết kế các hạng mục cổng tam quan, nhà lục giác và nhà ăn kết cấu gỗ.

Ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Công ty CP làng mộc Văn Hà (trụ sở tại H.Điện Bàn, Quảng Nam) và ông Lê Văn Vĩnh (Tổng giám đốc Vinahouse (H.Điện Bàn, Quảng Nam) đã khởi kiện cho rằng việc Công ty Tường Phát thiết kế và thi công các công trình trên đã xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc của tác giả Vĩnh và tác giả Minh, gồm:

  • Bản vẽ thiết kế Nhà ngũ gian tứ hạ, được Cục bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 1475 ngày 3/06/2011;
  • Bản vẽ thiết kế Nhà vọng nguyệt lục giác, được Cục bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả sổ 1469 ngày 3/06/2011;
  • Bản vẽ thiết kế Cổng tam quan cổ lầu, được Cục bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 1470 ngày 3/06/2011;
  • Bản vẽ thiết kế Khu nhà rường Việt Nam, được Cục bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 1693 ngày 30/6/2011. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Công ty Tường Phát thừa nhận có tham khảo các bản vẽ thiết kế nói trên để lập hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công các hạng mục: cổng tam quan, nhà lục giác và nhà ăn kết cấu gỗ tại doanh trại Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng, nhưng không thừa nhận có hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc nói trên.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Các bản vẽ thiết kể trên của tác giả Minh và Vĩnh là các tác phẩm kiến trúc, thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo điểm i khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ.

Báo cáo kết luận giám định ngày 31/12/2012 của Kiến trúc sư Phan Đức Hải (Tổng Thư ký Hội Quy hoạch phát triển đô thị TP.Đà Nẵng) đối với các bản vẽ thiết kế của Công ty Tường Phát, so sánh với các bản vẽ thiết kế của ông Vĩnh, kết luận:

  • Bản vẽ nhà ăn Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng do Công ty Tường Phát thiết kế và bản vẽ thiết kế Nhà ngũ gian tứ hạ của Ông Vĩnh rất giống nhau.
  • Bản vẽ Nhà lục giác, cổng Tam quan cổ lầu của Công ty Tường Phát và Bản vẽ Nhà vọng nguyệt lục giác, cổng Tam quan cổ lầu của ông Vĩnh, về hình thái kiến trúc có giống nhau, nhưng thể hiện kích thước và chi tiết khác nhau.

Báo cáo kết luận giám định ngày 31/12/2012 của Kiến trúc sư Hải đối với các bản vẽ thiết kế của Công ty Tường Phát, so sánh với các bản vẽ thiết kế của ông Minh kết luận:

  • Mặt bằng tổng thể xây dựng Khu nhà ăn Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng do Công ty Tường Phát thiết kế rất giống với bản vẽ mặt bằng tổng thể và phối cảnh Khu nhà rường Việt Nam của tác giả Minh;
  • Bản vẽ nhà ăn của Công ty Tường Phát và bản vẽ nhà năm gian hai chái của tác giả Minh giống nhau;
  • Bản vẽ Nhà lục giác, cổng tam quan do Công ty Tường Phát thiết kế và Nhà lục giác, Cổng Tam quan, Khu nhà rường Việt Nam của tác giả Minh về hình thái kiến trúc giống nhau, nhưng về cách thể hiện, kích thước, chi tiết có khác nhau.

Mặc dù có những điểm khác nhau về mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, nhưng báo cáo kết luận giám định cho thấy các bản vẽ thiết kế của Công ty Tường Phát giống với các bản vẽ thiết kế của các tác giả ông Vĩnh và ông Minh. Đặc biệt, việc tổ chức tổng thể mặt bằng, bố trí ba công trình kiến trúc Nhà ăn, Nhà lục giác, cổng Tam quan và hệ thống sân vườn cảnh quan rất giống với bản vẽ mặt bằng tổng thể, bản vẽ chi tiết các hạng mục công trình nhà năm gian hai chái, Nhà lục giác cổ lầu, Cổng Tam quan và phối cảnh Khu nhà rường của tác giả Minh. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Qua Báo cáo kết luận giám định, cùng với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ có thể xác định Công ty Tường Phát đã có hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc của các tác giả Vĩnh và Minh khi thiết kế và thi công các công trình tại Doanh trại Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng, hành vi xâm phạm quy định tại khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ: “Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”.

  • b) Ý kiến pháp lý

Việc Công ty Tường Phát cho rằng đơn vị không xâm phạm quyền tác giả là không đúng, bởi lẽ, trong điều kiện độc lập sáng tạo các bản vẽ thiết kế thì không thể tạo ra các bản vẽ có sự giống nhau như kết luận giám định đã nêu. Thực tế, trước khi thiết kế và thi công, Công ty Tường Phát có tham khảo các bản vẽ của tác giả Vĩnh và Minh. Hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty Tường Phát đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả các tác phẩm kiến trúc: Bản vẽ thiết kế Nhà ngũ gian tứ hạ, Bản vẽ thiết kế Nhà vọng nguyệt lục giác, Bản vẽ thiết kế cổng tam quan cổ lầu và Bản vẽ thiết kế Khu nhà rường Việt Nam. Do đó, yêu cầu của đồng nguyên đơn buộc Công ty Tường Phát chấm dứt hành vi xâm phạm quyền tác giả là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với khoản 1 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ.

Về yêu cầu của nguyên đơn buộc tháo dỡ công trình xây dựng: Công trình do Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng là chủ đầu tư, được xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Mặc dù, Công ty Tường Phát có hành vi xâm phạm quyền tác giả, nhưng việc các đồng nguyên đơn yêu cầu buộc Công ty Tường Phát tháo dỡ công trình xây dựng theo hướng sửa đổi các chi tiết, thay đổi kiến trúc tổng thể là không phù hợp với các quy định về biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ. Do đó, không thể chấp nhận yêu cầu này của các đồng nguyên đơn.

Từ đó quyết định: Buộc Công ty Tường Phát chấm dứt hành vi sao chép tác phẩm kiến trúc để thiết kế và thi công công trình xây dựng mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc sau: Tác phẩm kiến trúc của tác giả Vĩnh gồm: Bản vẽ thiết kế Nhà ngũ gian tứ hạ, được Cục Bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 1475 ngày 3/6/2011; Bản vẽ thiết kế Nhà vọng nguyệt lục giác, được Cục Bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 1469 ngày 3/6/2011; Bản vẽ thiết kế Cổng tam quan cổ lầu, được Cục Bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 1470 ngày 3/6/2011. Tác phẩm kiến trúc của tác giả Minh gồm: Bản vẽ thiết kế Khu nhà rường Việt Nam, được Cục bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 1693 ngày 30/6/2011. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Văn Hà, Ông Minh, ông Vĩnh về buộc Công ty Tường Phát tháo dỡ công trình xây dựng khu nhà ăn tại Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng theo hướng sừa đổi các chi tiết, thay đổi kiến trúc tổng thể.

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả là tác phẩm văn học, khoa học, báo chí, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng… Trong đó, tác phẩm kiến trúc là một đối tượng được bảo hộ. Trong vụ án này, đối tượng tranh chấp là các bản vẽ thiết kế đã được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả nên Tòa án xác định đây là đối tượng được bảo hộ là có căn cứ. Đối tượng của các bản vẽ thiết kế này bao gồm: Nhà ngũ gian tứ hạ, Nhà vọng nguyệt lục giác, cổng tam quan cổ lầu, Khu nhà rường Việt Nam là các công trình xây dựng, là tác phẩm kiên trúc. Công ty Tường Phát là nhà thầu thiết kế và thi công Công trình xây dựng tại Doanh trại Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng gồm các hạng mục nhà ăn, cổng tam quan, nhà lục giác kết cấu gỗ và cảnh quan sân vườn, dù có những điểm khác nhau về mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, nhưng theo báo cáo kết luận giám định thì các bản vẽ thiết kế của Công ty Tường Phát giống với các bản vẽ thiết kế của các tác giả Vĩnh và Minh. Do đó, Tòa án đã xác định Công ty Tường Phát đã có hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc của các tác giả Vĩnh và Minh khi thiết kế và thi công các công trình tại Doanh trại Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng là có căn cứ pháp luật.

2.1.2.2. Tranh chấp không gian kiến trúc Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

  • Trường hợp thực tế số 2

“Tranh chấp tác phẩm thiết kế không gian kiến trúc giữa Phở 24 và Phở 5 Sao”.

  • a) Tóm tắt vụ việc

Năm 2003, khi gây dựng thương hiệu Phở 24 tại TPHCM, Công ty phở 24 đã đăng ký bảo hộ độc quyền thương hiệu này tại Cục Sở hữu trí tuệ. Thương hiệu này cũng được đăng ký độc quyền tại nhiều nước trên thế giới như: Anh, Mỹ, Canada và các nước tham gia thỏa ước Madrid.

Cuối năm 2006, Công ty Phở 24 cũng đăng ký và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 2868/2006/QTG đối với tác phẩm “Bản vẽ thiết kế chi tiết về mô hình cửa hàng phở 24” dưới dạng “bản vẽ”.

Trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận có kèm theo hình ảnh chi tiết về cách bài trí, thiết kế biển hiệu và nội thất trong các tiệm phở. Trong đó có hai loại mô hình (phương án) dành cho hai loại không gian rộng và không gian hẹp. Từ ngoài đi vào có một quầy làm phở dành cho một đầu bếp mặc trang phục đỏ, đội mũ và tạp dề trắng. Tất cả bàn ghế, sơn tường và quầy rượu trong các cửa hàng đều cùng màu sắc và cách bố trí sắp xếp giống nhau: bàn gỗ kính chữ nhật, một ghế dài và ghế đẩu, màu đen cánh gián, sơn tường màu xanh cốm. Hệ thống đèn trang trí đều được treo trên khu bàn ăn, mỗi đèn gồm hai bóng đèn lồng màu sáng đặt song song. Toàn bộ 52 tiệm trong hệ thống Phở 24 đều bố trí sắp xếp và thiết kế như nhau.

Sau đó, trên thị trường xuất hiện Phở 5 Sao, cách bài trí nội thất, màu sơn tường và tông màu của bàn ghế, quầy rượu, đèn trang trí, cách ăn mặc của ông đầu bếp đều giống hệ thống Phở 24. Cách trang trí biển hiệu quảng cáo các tiệm phở cũng dùng màu xanh cốm pha màu xanh lá rất giống với Phở 24. Trừ logo, cách thiết kế, sắp đặt, bài trí của Phở 5 sao giống Phở 24 đến khó phân biệt. Nếu không nhìn vào logo trên bảng hiệu, khách hàng có thể nhầm tưởng đây chính là Phở 24 hoặc nếu không cũng phán đoán đây là “hai anh em con chú con bác”. Đại diện Công ty cổ phần sản xuất – thương mại – dịch vụ Phở Hai Mươi Bốn tỏ ra rất bức xúc và phát biểu với giới báo chí rằng sẽ khiếu nại lên Cục Bản quyền để bảo vệ bản quyền đối với không gian kiến trúc trong hệ thống cửa hàng của mình. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Bà Hoàng Thị Ánh Nga, Giám đốc DN tư nhân Kim Tài (sở hữu hệ thống Phở 5 sao khẳng định): “Chúng tôi xây dựng thương hiệu riêng và cũng đã đăng ký độc quyền thương hiệu Phở 5 sao tại Cục Sở hữu trí tuệ. Ngoài ra màu sắc trang trí và biển hiệu cũng đậm hơn của Phở 24, phong cách phục vụ và trang phục của nhân viên cũng khác (màu đỏ). Việc bài trí nhà hàng thì có thể học hỏi từ nhiều nước khác nhau hoặc từ trong nước. Cụ thể chúng tôi đã học hỏi từ không gian của phố cổ Hà Nội. Điều này pháp luật cũng không cấm. Đây cũng thiết kế phong cách cổ điển xen hiện đại tạo không khí ấm cúng, thân mật theo tiêu chí phở phong cách Việt Nam của phở truyền thống có nguồn gốc từ Hà Nội và Nam Định.

Tuy nhiên vụ việc đến nay tạm lắng xuống và không rõ được xử lý ra sao, nhưng dù sao nó là vụ việc tranh chấp quyền tác giả khá thú vị đặt ra nhiều câu hỏi và ấn đề pháp lý mới mẻ trong việc khai thác thương hiệu trong thời kỳ hội nhập.

  • b) Ý kiến pháp lý

Để giải quyết tranh chấp này, trước hết cần giải quyết hai vấn đề: tác phẩm thiết kế không gian kiến trúc bên trong công trình – hay còn gọi là thiết kế nội thất -có phải là tác phẩm kiến trúc không; và việc thực hiện, bố trí, sắp xếp không gian này trên thực tế có phải là một hình thức thể hiện của tác phẩm kiến trúc không? Từ đó có thể giải đáp được vấn đề một chủ thể “sao chép” không gian kiến trúc của một chủ thể khác rồi thực hiện bố trí, sắp xếp giống như vậy có phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc không?

Về tác phẩm thiết kế không gian kiến trúc bên trong công trình, như đã phân tích, pháp luật hiện hành không quy định rõ thừa nhận hay không thừa nhận, nên thực tiễn pháp lý vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các bên theo các quan điểm khác nhau. Một số quan điểm cho rằng cách bài trí trong tiệm phở không phải là công trình kiến trúc. Vì công trình kiến trúc phải là mô hình nhà ở hoặc tượng đài v.v… Trang trí nội thất không phải là đối tượng được bảo hộ nếu không gắn với yếu tố khác trong công trình xây dựng. Tuy nhiên, như đã phân tích, tác phẩm kiến trúc không thể chỉ là nhà ở hay tượng đài, không thể chỉ là hình dáng bên ngoài mà còn có thể là các không gian chức năng bên trong công trình, sự bố trí, sắp xếp và trang trí các không gian chức năng đó. Các không gian này rõ ràng gắn liền với công trình xây dựng và là một phần không thể thiếu – phần bên trong của công trình xây dựng. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Vì vậy, không có lý do gì một không gian kiến trúc lại không được bảo hộ dưới danh nghĩa tác phẩm kiến trúc. Trở lại trường hợp vụ tranh chấp không gian Phở 24, bỏ qua một số yếu tố không thuộc về kiến trúc như thiết kế biển hiệu, trang phục của ông đầu bếp, nhân viên…, các yếu tố còn lại như cách bố trí sắp xếp không gian quầy làm phở, không gian quầy rượu, không gian khu vực ăn uống, cách sắp xếp bàn ghế, bóng đèn… hội đủ các yếu tố của một tác phẩm thiết kế không gian kiến trúc.

Cần lưu ý là các vật dụng như bàn ghế, bóng đèn… bản thân nó không phải là tác phẩm kiến trúc, nếu được bảo hộ thì không phải dưới danh nghĩa tác phẩm kiến trúc mà có thể dưới danh nghĩa tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và/hoặc kiểu dáng công nghiệp. Do đó, về mặt quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, việc sao chép và sử dụng những vật dụng hoàn toàn trùng lắp không phải là hành vi vi phạm, nhưng trên thực tế sự sao chép không chỉ dừng lại ở đó mà còn bao gồm cả sao chép không gian kiến trúc, tức là cách bố trí, sắp xếp và liên kết các vật dụng bàn ghế, bóng đèn… với nhau thì đó chính là hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, ngay cả khi tác phẩm thiết kế không gian kiến trúc được xem là tác phẩm kiến trúc, thì việc quy định tác phẩm kiến trúc chỉ là các loại bản vẽ như quy định của pháp luật hiện hành đã vô hình chung làm hạn chế quyền của người sáng tạo. Trong trường hợp này, cái bị sao chép không phải là bản vẽ được bảo hộ mà lại là không gian kiến trúc thực tế không được bảo hộ, cho nên hành vi sao chép không gian kiến trúc thực tế lại không phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Điều này tạo ra một nghịch lý là các bản vẽ có thể dễ dàng bảo quản, giữ bí mật thì được bảo hộ, còn không gian kiến trúc thực tế mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không có cách nào ngăn cản người khác tiếp cận, nhất là đối với các công trình công cộng, thì lại không có các quy định ngăn cấm sự sao chép. Đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng, chỉ cần tiếp cận một, hai lần, là đã có thể thực hiện lại một không gian kiến trúc trùng lắp. Như vậy là, không gian kiến trúc là cái vừa dễ tiếp cận, dễ sao chép lại vừa không có các quy phạm pháp luật cần thiết để bảo vệ nó. Cuối cùng, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đã không có được các cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thiết nghĩ, trong trường hợp này, chỉ cần pháp luật có sự điều chỉnh các quy định của mình cởi mở hơn, hợp lý hơn thì quyền và lợi ích của những người sáng tạo đã được bảo vệ triệt để hơn, môi trường hoạt động sáng tạo cũng như hoạt động kinh doanh thương mại vì thế mà cũng trong sạch và lành mạnh hơn. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

2.1.2.3 Tranh chấp tác phẩm tạo hình gắn liền với tác phẩm kiến trúc

  • Trường hợp thực tế số 3

“Tranh chấp tác giả tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm tỉnh An Giang”.

  • a) Tóm tắt vụ việc

Năm 2003, Ban quản lý các khu du lịch tỉnh An Giang giao cho Ban quản tự chùa Phật Lớn làm chủ đầu tư xây dựng công trình tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm, còn gọi là Thiên Cấm Sơn, thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Kinh phí thực hiện là 3 tỉ đồng với sự tham gia của các kiến trúc sư, các nghệ nhân và các công nhân. Công ty cổ phần Nam Long (Cần Thơ) đã được chọn làm nhà thầu và thi công xây dựng công trình này với sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư Lữ Trúc Phương và nghệ nhân – điêu khắc gia Thụy Lam. Công trình tượng Phật Di Lặc được xây dựng trên đỉnh núi Cấm cao trên 700m so với mực nước biển. Bức tượng được thiết kế cao trên 33m, rộng 30m với những kiến trúc độc đáo: tượng lớn tương đương toà nhà 10 tầng từ trên đỉnh núi, bên trong thiết kế như một hang động, có thang máy, hai vai tượng có hai dòng thác chảy xuống… Mọi người có thể nhìn ngắm thiên nhiên từ đỉnh núi thông qua các vị trí tai, mũi, miệng, rốn, lưng… của bức tượng.

Tháng 5/2007, Công ty cổ phần Nam Long đã được trao giấy chứng nhận “Đơn vị thực hiện tượng Phật Di Lặc lớn nhất Việt Nam”. Đặc biệt trên giấy chứng nhận ngoài chữ ký của Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam còn có chữ ký của Viện trưởng Viện Sở hữu trí tuệ Việt Nam Nguyễn Văn Viễn với vai trò Thường trực Hội đồng tư vấn. Sau đó Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam nhận được thông tin nghệ nhân – điêu khắc gia Thụy Lam khiếu nại việc trao giấy chứng nhận cho Công ty Nam Long là không đúng vì ông mới là tác giả, là người có công thiết kế và thực hiện công trình từ đầu đến khi hoàn thành.

Vụ tranh chấp nói trên tuy không phải là tranh chấp trực tiếp quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, nhưng cũng đặt ra một vấn đề pháp lý khá thú vị có liên quan đến vấn đề quyền tác giả đối với tác phẩm tạo hình gắn liền với tác phẩm kiến trúc.

  • b) Ý kiến pháp lý

Bỏ qua các yếu tố tranh chấp liên quan đến việc công nhận kỷ lục của Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam, lập luận của nghệ nhân – điêu khắc gia Thụy Lam rằng ông là tác giả vì đã có công thiết kế và thực hiện công trình từ đầu đến khi hoàn thành đã làm nảy sinh một tranh cãi pháp lý thú vị xung quanh việc tượng Phật Di Lặc như mô tả ở trên có phải là tác phẩm kiến trúc không và ai là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc này.

Một điều không thể tranh cãi rằng bản thân tượng Phật Di Lặc, nếu chỉ là một khối đá đặc không được khoét rỗng bên trong, không có sự bố trí sắp xếp các không gian bên trong thì chắc chắn không phải là tác phẩm kiến trúc. Lúc đó tượng phật này được xem như là một tác phẩm tạo hình được thể hiện bởi màu sắc, hình khối, bố cục…và nghệ nhân tạo ra nó được công nhận và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm tạo hình. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Tuy nhiên tượng Phật Di Lặc này không phải chỉ là một khối đá đặc mà còn được khoét rỗng và bố trí các không gian bên trong như có thang máy, có hai dòng thác chảy xuống từ hai vai tượng, có những vị trí để người xem từ bên trong tượng có thể đứng nhìn ngắm không gian bên ngoài… Đây có thể xem như trường hợp một tác phẩm tạo hình gắn liền với một công trình kiến trúc đã được đề cập đến bởi Công ước Berne. Vấn đề còn lại là, bản thân phần kiến trúc của công trình kiến trúc gắn liền với tác phẩm tạo hình này có thuộc phạm vi bảo hộ của tác phẩm kiến trúc hay không, tức là nó có mang tính sáng tạo về mặt hình thức thể hiện không hay chỉ đơn thuần trùng lắp với nội dung sáng tạo? Có nghĩa là, việc sắp xếp bố trí các không gian bên trong tượng, các khu chức năng thang máy, thác nước, nơi ngắm cảnh… có mang tính sáng tạo về mặt hình thức không, hay chỉ là hình thức thể hiện ra bên ngoài mà nội dung bên trong của nó bắt buộc phải có?

Trong trường hợp cách thức bố trí sắp xếp và các không gian bên trong của tượng có hình thức sáng tạo đặc biệt không đơn thuần chỉ chứa đựng nội dung thì đây là một tác phẩm tạo hình gắn liền với tác phẩm kiến trúc. Tuy nhiên, ngay cả khi phần kiến trúc không đáp ứng điều kiện bảo hộ thì ít nhất đây cũng là một tác phẩm tạo hình được bảo hộ quyền tác giả. Trong mối quan hệ đó, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì Ban quản tự chùa Phật Lớn với tư cách chủ đầu tư là chủ sở hữu quyền tác giả, kiến trúc sư Lữ Trúc Phương và nghệ nhân – điêu khắc gia Thụy Lam có thể là tác giả, đồng tác giả đối với phần sáng tạo của riêng mình. Công ty cổ phần Nam Long chỉ là đơn vị thi công, dựa vào các bản vẽ để thể hiện lại tác phẩm không giữ một vai trò gì trong mối quan hệ quyền tác giả này. Tất nhiên, việc này hoàn toàn độc lập không liên quan đến kỷ lục “Đơn vị thực hiện tượng Phật Di Lặc lớn nhất Việt Nam” mà Công ty Nam Long được công nhận.

2.2. Nguyên nhân Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Từ tình hình thực tiễn nêu trên, thử đi tìm một vài nguyên nhân cũng như giải pháp cho vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, ta thấy các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng nói trên như sau:

  • Cơ sở xác lập quyền

Như đã phân tích, quyền tác giả nói chung cũng như quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc nói riêng được xác lập ngay khi tác phẩm được hình thành dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký hay không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, việc đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc, do đó có thể nói việc đăng ký quyền tác giả không mang ý nghĩa xác lập quyền như đối với lĩnh vực sở hữu công nghiệp, vì vậy đa phần những người sáng tạo, chủ thể quyền chưa thấy hết sự cần thiết của việc đăng ký xác lập quyền.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng dù không mang ý nghĩa xác lập quyền nhưng việc đăng ký quyền tác giả lại mang một ý nghĩa hết sức quan trọng: giá trị chứng cứ trong trường hợp phát sinh tranh chấp. Thông thường đối với một tranh chấp dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự, các đương sự phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, lập luận của mình. Tuy nhiên trong trường hợp một bên đã đăng ký quyền tác giả thì khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến tác phẩm, bên đã đăng ký tác phẩm được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh, nghĩa là họ chỉ cần cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả mà không cần phải cung cấp thêm bất cứ tài liệu nào chứng minh mình là chủ thể quyền, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Ngược lại bên kia phải đưa ra chứng cứ chứng minh tác phẩm không thuộc về người đăng ký hoặc không do người đã đăng ký sáng tạo ra. Nếu không chứng minh được điều này, quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc vẫn đương nhiên thuộc về người đã đăng ký.

  • Thủ tục và chi phí đăng ký quyền tác giả

So với đăng ký xác lập quyền trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, thủ tục và chi phí khi đăng ký quyền tác giả tương đối đơn giản, thông thoáng, nhanh chóng và tiết kiệm hơn. Các mẫu tờ khai đăng ký có thể tìm thấy trên website chính thức của Cục Bản quyền tác giả trực thuộc Bộ Văn hóa thể, Thể thao và Du lịch. Thời gian được cấp Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền là “Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người nộp đơn. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn”50 và khoảng từ một đến hai tháng trên thực tế. Nghĩa là việc đăng ký quyền tác giả tuy nhanh hơn nhiều so với việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp nhưng trên thực tế cũng lâu gấp khoảng từ hai đến bốn lần so với luật định. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Bên cạnh đó việc đăng ký quyền tác giả gặp phải những khó khăn nhất định. Trước hết là về thủ tục. Trên thực tế, trường hợp đơn giản tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, hồ sơ gồm có Tờ khai, bản sao giấy chứng minh nhân dân của người nộp đơn và bản sao tác phẩm. Nhưng trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, thì hồ sơ ngoài các tài liệu nêu trên còn có: bản sao chứng minh nhân dân hoặc bản sao có công chứng, chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của chủ sở hữu; hợp đồng giao việc giữa chủ sở hữu và tác giả; giấy chứng nhận quyền sở hữu do tác giả lập xác nhận tư cách của chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Thứ hai là về chi phí: Thông tư 29/2009/TT-BTC ngày 10/02/2009 quy định mức thu chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan thì mức thu/giấy chứng nhận đối với một tác phẩm văn học, sách giáo khoa giáo trình, tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác (gọi chung là loại hình tác phẩm viết), tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc, nhiếp ảnh là 100.000 đồng, trong khi đó mức phí đối với tác phẩm kiến trúc lại lên đến 300.000 đồng. Trong khi thủ tục xem xét để cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm là như nhau, nghĩa là chỉ xem xét về mặt hình thức chứ không xem xét về mặt nội dung như các đối tượng sở hữu công nghiệp, thì chi phí của chúng lại khác nhau. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho việc đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc bị hạn chế. Mặc dù thông tư nói trên đã có những tiến bộ so với thông tư ban hành trước đó nhưng trên thực tế vẫn vướng phải sự vô lý khi có tính phân biệt các tác phẩm được đăng ký.

  • Cơ sở pháp lý vừa thiếu lại vừa yếu

Hiện nay các quy phạm pháp luật liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc có thể được đánh giá là vừa thiếu vừa yếu. Về tác phẩm kiến trúc, luật chưa có định nghĩa rõ ràng thế nào là tác phẩm kiến trúc, các tiêu chí để xác định cái nào là tác phẩm kiến trúc cái nào không, phần nào của tác phẩm kiến trúc được bảo hộ phần nào không. Trên thực tế chúng ta đã gặp phải sự lúng túng và bất nhất trong việc xác định tác phẩm thiết kế nội thất có được đăng ký quyền tác giả dưới danh nghĩa tác phẩm kiến trúc hay không. Sự lúng túng và bất nhất này không chỉ từ phía những người sáng tạo mà còn từ phía những người làm công tác pháp luật cũng như làm công tác cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Hạn chế thứ hai về mặt pháp luật là hiện nay chỉ mới có bản vẽ được công nhận là tác phẩm kiến trúc. Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 và Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan cũng như Thông tư liên tịch số 04/2003/TTLT/BVHTT-BXD đã phủ định sạch trơn những điểm tiến bộ trong Thông tư liên bộ số 1314 TTLB/XD-VH ngày 23/07/1991 của liên bộ Bộ Xây dựng – Bộ văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc và chọn cho các nhà quản lý một cách làm “dễ”, ít nhiều gây bức xúc trong giới kiến trúc sư nói riêng và dư luận có liên quan nói chung.

Đại diện cho tiếng nói chung của giới kiến trúc sư, kiến trúc sư Ngô Huy Giao trong bài viết “Làm gì để chống nạn ô nhiễm kiến trúc” đăng trên tạp chí Người Xây dựng số tháng 1+2 năm 2008 bức xúc: “Chỉ có thể gọi là tác phẩm kiến trúc khi công trình đã xây dựng – nhưng cơ quan bảo hộ quyền tác giả (thuộc Bộ Văn hóa Thông tin, nay là bộ VH,TT và DL) chỉ cho chúng ta quyền tác giả trên bản vẽ (!!!). Có thể ví như bộ tiểu thuyết ở dạng bản thảo, tác phẩm điện ảnh trên kịch bản …

Ngay cả những vấn đề đã được quy định trong luật cũng không thống nhất, mâu thuẫn và loại trừ nhau gây nên sự khó khăn không đáng có cho các bên liên quan trong thực tiễn. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Thứ nhất là về các trường hợp ngoại lệ đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, vừa quy định một trong các trường hợp ngoại lệ là “chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó” thì ngay sau đó lại tuyên bố rằng “các quy định trên không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính”. Điều này tạo nên sự lúng túng, không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, xác định và xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả, làm cho hệ thống bảo hộ quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc nói riêng càng thêm kém hiệu quả, thiếu nghiêm minh.

Thứ hai là nếu như tại điểm k khoản 1 điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 chỉ quy định về “bản họa đồ, sơ đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học” thì tại điều 18 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 lại giải thích rằng “bản họa đồ, sơ đồ, bản vẽ quy định tại điểm k khoản 1 điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, các loại công trình khoa học và kiến trúc”. Chưa bàn đến tính hợp pháp của việc Nghị định lại có những quy định vượt xa hơn luật, chỉ nói đến công tác thực tiễn thì những người ban hành Nghị định này đã tự làm khó mình và làm khó luôn cả những người sáng tạo trong lĩnh vực kiến trúc khi cùng là các bản vẽ kiến trúc thì có thể được bảo hộ dưới hai loại hình tác phẩm khác nhau là tác phẩm kiến trúc và bản vẽ liên quan đến kiến trúc, trong khi đó trong Nghị định hay các văn bản khác cũng không có dòng nào phân định rõ sự khác nhau giữa hai loại hình tác phẩm này, trường hợp nào thì là tác phẩm kiến trúc, trường hợp nào thì là bản vẽ liên quan đến kiến trúc. Từ đó dẫn đến tình trạng rối loạn, các tác phẩm cùng loại cái thì đăng ký dưới danh nghĩa tác phẩm kiến trúc, cái thì đăng ký dưới danh nghĩa bản vẽ liên quan đến kiến trúc làm cho việc đăng ký trở nên thiếu thống nhất và việc thống kê cũng gặp nhiều khó khăn. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Từ sự thiếu và yếu của cơ sở pháp lý nói trên dẫn đến tình trạng các tác phẩm kiến trúc cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người sáng tạo, người đầu tư được bảo hộ không triệt để. Rất nhiều tranh chấp xảy ra cho dù người trong cuộc tỏ ra rất bức xúc nhưng họ lại thiếu hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đó là chưa kể chúng ta còn thiếu rất nhiều các quy định cũng như các cơ quan chuyên trách về bảo hộ và thực thi quyền tác giả, bản thân hệ thống toà án chưa đủ năng lực xét xử và thực thi về quyền tác giả. Kinh nghiệm xét xử và kiến thức chuyên môn về tác giả của các thẩm phán còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, khiến cho một số bản án của toà án chưa đảm bảo chất lượng như kỳ vọng. Có trường hợp Tòa án còn phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do cần chờ kết quả trả lời của các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và các cơ quan chuyên môn. Thủ tục xét xử tại toà án còn rườm rà và kéo dài, gây tốn kém về thời gian, tiền bạc và công sức của người theo đuổi vụ kiện. Điều này cũng gây ra tâm lý của người dân e ngại không muốn khởi kiện các vụ tranh chấp, xâm phạm quyền tác giả.

  • Các biện pháp xử lý hành vi vi phạm cũng không đủ sức răn đe:

Xử phạt hành chính với mức phạt tiền “1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả. 2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này”.

  • Về phương diện hình sự:

Bộ luật hình sự 1999, khoản 1 Điều 131 quy định “Truy cứu trách nhiệm hình sự và phạt tiền từ 20.000.000 đến 200.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 2 năm”. Đến Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 không những không bổ sung tích cực mà lại bỏ luôn điều luật này.

So với thù lao thiết kế trung bình đối với nhà phố thông thường từ 15.000.000 đến 30.000.000 đồng (tính theo hướng dẫn tại Công văn 1751/BXD-VP ngày 14/8/2007), và còn cao hơn nhiều đối với nhà biệt thự, công trình công nghiệp hay công cộng, rõ ràng các biện pháp chế tài nói trên hoàn toàn không cân xứng với tính chất và mức độ của hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

  • Ý thức pháp luật và đặc điểm nghề nghiệp Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Một số cá nhân sáng tạo cũng như chủ sở hữu còn chưa có ý thức pháp luật đúng đắn và đầy đủ về lĩnh vực quyền tác giả còn khá mới mẻ này. Một số khác lại nghĩ các quy tắc xử sự trong trường hợp này chưa cần thiết phải được điều chỉnh bởi pháp luật mà chỉ bằng các quy tắc đạo đức nghề nghiệp là đủ. Một kiến trúc sư chân chính có lòng tự trọng và tôn trọng nghề nghiệp của mình hiếm khi sao chép ý tưởng của người khác, càng không bao giờ thực hiện hành vi sao chép hình thức thể hiện tác phẩm kiến trúc của người khác. Chỉ cần một hành vi sao chép sáng tác của người khác, nhất là những sáng tạo độc đáo hoặc nổi tiếng, thì không cần bất cứ một chế tài pháp lý nào, hành vi đó đã ngay lập tức bị những người trong ngành phát hiện, phê phán, lên án, tẩy chay. Sự nghiệp sáng tạo đôi khi cũng chấm dứt ngay lập tức từ hành vi đó.

Tuy nhiên xã hội ngày nay là xã hội vận hành theo quy luật của nền kinh tế thị trường và các quy tắc xử sự cần phải được điều chỉnh đồng thời bằng cả quy phạm đạo đức nghề nghiệp lẫn quy phạm pháp luật. Các quy phạm đạo đức nghề nghiệp ngày càng trở nên không đủ sức điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quyền tác giả, nhất là đối với quan hệ giữa các chủ sở hữu quyền tác giả với nhau – những chủ thể mà các quy phạm đạo đức nghề nghiệp không thể điều chỉnh được. Đã đến lúc cần thiết lập một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ đồng thời với việc tăng cường, nâng cao ý thức pháp luật cho các chủ thể quyền để họ vừa có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình vừa tránh xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

2.3. Giải pháp, kiến nghị và hướng hoàn thiện Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

2.3.1. Giải pháp

Từ những nguyên nhân nói trên, cần phải đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những điểm tích cực, khắc phục những điểm hạn chế trong vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc trong thời gian vừa qua, nhằm xây dựng nên một môi trường sáng tạo kiến trúc lành mạnh với hành lang pháp lý là các quy định bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc hoàn chỉnh và hợp lý. Các giải pháp nói trên được chia thành hai nhóm chính:

Nhóm giải pháp thứ nhất, cũng là nhóm giải pháp quan trọng nhất, là vấn đề hoàn thiện pháp luật. Pháp luật cần được hoàn thiện ở cả các quy phạm pháp luật quy định trực tiếp về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc và các quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Đối với các quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh vấn đề quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, cần có sự rà soát, phối hợp giữa các ban ngành có liên quan đồng thời với sự tham khảo ý kiến tâm tư nguyện vọng của các chủ thể sáng tạo nhằm đưa ra các quy định rõ ràng, thống nhất trong cách hiểu và cách áp dụng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Trong quá trình hoàn thiện pháp luật cũng nên tham khảo quy định của một số nước có hệ thống pháp luật tiên tiến, cũng như phải đảm bảo sự phù hợp giữa các quy định của pháp luật quốc gia với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Quan trọng nhất là tạo nên một hành lang pháp lý an toàn, xuyên suốt và đồng bộ khiến các chủ thể sáng tạo an tâm thực hiện tốt công việc của mình. Các quy phạm cần phải được sửa đổi, bổ sung trong quá trình hoàn thiện pháp luật như: khái niệm tác phẩm kiến trúc, các hình thức thể hiện của tác phẩm kiến trúc, phạm vi bảo hộ tác phẩm kiến trúc, các chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc trong một số trường hợp thường gặp, các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc và các trường hợp ngoại lệ… Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Có thể nói, hệ thống pháp luật hiện nay ngày một hoàn thiện, dần điều chỉnh các chế tài tương xứng với hành vi vi phạm, ngày càng nhiều sự đổi mới trong công tác ban hành luật, cụ thể:

Liên quan đến hành vi vi phạm quyền tác giả, tại điểm a khoản 52 điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự năm 2017, có hiệu lực từ 01/01/2018 quy định “Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.

  • Hoặc có thể bị xử lý nặng hơn nếu

“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. Có tổ chức;
  2. Phạm tội 02 lần trở lên;
  3. Thu lợi bất chính 000.000 đồng trở lên;
  4. Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 000.000 đồng trở lên;
  5. Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên”

Trong trường hợp pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng”.

Từ đó cho chúng ta thấy về các quy phạm pháp luật khác có liên quan, cần phải tạo nên sự đồng bộ, san bằng độ vênh và sự mâu thuẫn nhau giữa các quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc với các quy định này như: các chế tài áp dụng đối với hành vi xâm phạm quyền ở các mức độ vi phạm hành chính và vi phạm hình sự, các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng… Ngoài ra cần quy định các thủ tục đăng ký quyền tác giả nhanh chóng, thông thoáng với chi phí hợp lý hơn cũng như xây dựng một hệ thống thực thi quyền vững mạnh, xuyên suốt, dễ tiếp cận và hiệu quả cao.

Nhóm giải pháp thứ hai nghiêng về các hoạt động nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho toàn thể cộng đồng xã hội nói chung, trong đó có các chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc như các tác giả và các chủ sở hữu quyền tác giả. Qua đó, các tác giả và chủ sỡ hữu quyền tác giả có đầy đủ nhận thức và khả năng để tự bảo vệ quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc của mình, đồng thời cũng biết tôn trọng quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc của người khác. Đồng thời trong quá trình hoạt động nghề nghiệp các kiến trúc sư cũng như các chủ đầu tư cũng cần phải nắm rõ các quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc để có những lưu ý, những thỏa thuận hợp lý trong giao kết hợp đồng tránh trường hợp tự mình hạn chế các quyền và lợi ích mà mình đáng được hưởng hoặc là tránh những rắc rối, tranh chấp phát sinh. Việc tuyên truyền nâng cao ý thức pháp luật này có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp thông qua nhiều kênh khác nhau như: các phương tiện thông tin đại chúng; các buổi tọa đàm, hội nghị, hội thảo; các tài liệu phổ biến kiến thức dưới dạng dễ hiểu, dễ nhớ; các khóa học ngắn hạn… Đây là hoạt động cần có sự đầu tư lâu dài cơ bản mới thấy được hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung thể hiện ở chỗ pháp luật khi hoàn thiện sẽ góp phần nâng cao ý thức pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

2.3.2. Hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

2.3.2.1 Hoàn thiện về đối tượng, chủ thể và nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Đối tượng của quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc là một trong những điểm đặc biệt quan trọng cần được hoàn thiện. Như đã phân tích, sự bất cập của các quy định hiện hành đã và đang góp phần không nhỏ vào thực trạng bảo hộ không triệt để, không hiệu quả các quyền và lợi ích chính đáng của người sáng tạo. Các quy định này nhất thiết phải được bàn bạc nghiên cứu sửa đổi càng sớm càng tốt theo hướng:

Định nghĩa hoặc nêu khái niệm rõ ràng thế nào là tác phẩm kiến trúc. Tác phẩm kiến trúc có thể được định nghĩa như các sáng tạo nhằm thiết kế hình dáng bên ngoài và/ hoặc bố trí sắp xếp không gian bên trong của một hoặc nhiều công trình xây dựng cũng như mối liên kết giữa chúng với nhau tạo thành một tổng thể nhất định. Có nghĩa là tác phẩm kiến trúc bao gồm cả các thiết kế kiến trúc theo nghĩa hẹp tức thiết kế công trình lẫn các thiết kế nội thất và thiết kế quy hoạch, thậm chí là thiết kế đô thị. Ngược lại các thiết kế về mặt kỹ thuật, kết cấu công trình là một phần không thể tách rời khỏi thiết kế kiến trúc nhưng không phải là tác phẩm kiến trúc, chúng không thể hiện được hình dáng bên ngoài hay không gian bên trong của công trình xây dựng. Công trình xây dựng không chỉ giới hạn ở các công trình dân dụng, công nghiệp như nhà phố, biệt thự, cao ốc, nhà xưởng… mà còn có thể là các công trình công cộng như đài tưởng niệm, quảng trường, rạp hát, sân vận động, một cây cầu, thậm chí là một con đường… Tất cả các đối tượng này đều có thể được bảo hộ dưới danh nghĩa là tác phẩm kiến trúc nếu chúng đáp ứng được hai điều kiện bảo hộ: hình thức sáng tạo không đơn thuần chỉ chứa đựng nội dung sáng tạo và có tính nguyên gốc.

Thừa nhận rằng tác phẩm kiến trúc có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức vật chất khác nhau như bản vẽ thiết kế, sơ đồ thiết kế, mô hình, sa bàn, công trình đã được xây dựng trên thực tế… và tất cả các hình thức thể hiện này của tác phẩm kiến trúc đều có thể được bảo hộ nếu chúng đáp ứng được các điều kiện bảo hộ nói trên. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Tất nhiên, với tính chất đặc thù của công trình xây dựng trên thực tế không phải chỉ có chức năng là hình thức thể hiện của một tác phẩm kiến trúc mà còn mang một chức năng khác quan trọng hơn là tài sản vật chất hữu hình của cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu quyền tác giả, mối quan hệ cũng như sự phân định giữa các quyền năng của các chủ thể quyền tác giả với nhau phải có những quy định riêng phù hợp. Ví dụ, hành vi của chủ đầu tư tác động vào công trình trên thực tế để sửa chữa do hư hỏng hoặc thay đổi một số nội dung thiết kế để xây dựng theo ý mình cần được quy định rõ không phải là hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Tuy nhiên trong trường hợp này cần phải có sự phân định rõ ràng đâu là phần sáng tạo của tác giả đâu là phần sáng tạo riêng của chủ đầu tư để không xâm hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Tóm lại, trong trường hợp hình thức thể hiện của tác phẩm kiến trúc là công trình xây dựng trên thực tế cần nhận thức rõ ràng rằng trước tiên và trên hết công trình xây dựng trên thực tế là tài sản vật chất hữu hình thuộc quyền sở hữu của chủ đầu tư, do đó không được tuyệt đối hóa quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc mà làm xâm hại đến quyền sở hữu tài sản vật chất của chủ đầu tư. Việc bảo hộ quyền tác giả đối với công trình xây dựng trên thực tế mang ý nghĩa quan trọng trong việc chống lại các hành vi sao chép từ bên thứ ba, nhưng không mang ý nghĩa chống lại các quyền sở hữu hợp pháp của chủ đầu tư cũng như quyền sử dụng các công trình công cộng của cộng đồng. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Trong mối quan hệ giữa chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả, pháp luật hiện hành tôn trọng quyền tự do bình đẳng thỏa thuận giữa các bên bằng quy định tại Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ rằng tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình hoặc tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Tuy nhiên trong trường hợp này pháp luật cũng cần khẳng định rõ rằng các thỏa thuận khác nếu có phải là những thỏa thuận theo hướng hạn chế quyền của chủ sở hữu và mở rộng quyền của tác giả, chứ không thể là các thỏa thuận ngược lại. Các quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản có thể thông qua thỏa thuận để thuộc về tác giả, nhưng các quyền nhân thân phi tài sản luôn phải được gắn liền với chính tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm và không thể bằng sự thỏa thuận để chuyển giao cho chủ sở hữu quyền tác giả được.

Đối với một số quy định pháp luật khác có liên quan, cần có sự rà soát, đối chiếu và sửa đổi cho phù hợp với tinh thần của các quy định nói trên. Cụ thể pháp luật về thi tuyển phương án kiến trúc phải công nhận và bảo hộ quyền tác giả cho tất cả các tác giả có phương án kiến trúc dự thi, chứ không phải chỉ bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc đoạt giải như quy định hiện hành. Mặt khác để tránh những tranh chấp phức tạp, cần quy định rõ trong trường hợp không có thỏa thuận khác thì quyền nhân thân và một số quyền tài sản thuộc về tác giả dự thi, tuy nhiên chủ đầu tư phải có một số quyền tài sản như quyền sao chép tác phẩm kiến trúc, quyền trưng bày, chụp ảnh, truyền đạt các tác phẩm kiến trúc trên các phương tiện thông tin đại chúng…

Về giá thiết kế xây dựng công trình, quy định áp dụng thêm hệ số k cho những công trình tiếp theo được xem như một quy định nhằm bảo vệ quyền của tác giả nhiều hơn quyền của chủ đầu tư. Trên thực tế, cho dù chủ đầu tư có xây bao nhiêu công trình giống nhau đi chăng nữa thì tác giả cũng chỉ mất một lượng đầu tư trí tuệ, thời gian và công sức như nhau cho một bộ bản vẽ mà thôi. Vì vậy quy định về hệ số k trong thiết kế kiến trúc đối với các công trình lặp lại cần phải được tuyên bố rõ ràng rằng hệ số này chỉ có ý nghĩa đối với việc định giá thiết kế trong thỏa thuận về chi phí ban đầu cũng như dự toán chi phí đầu tư chứ không có ý nghĩa trong việc ngăn cấm chủ đầu tư xây dựng những công trình lặp lại tiếp theo. Hay nói cách khác, việc áp dụng hệ số k không đương nhiên bị coi là một dạng thỏa thuận khác mà trong đó người chủ đầu tư tự nguyện từ bỏ một số quyền tài sản thuộc về mình, trong đó có quyền sử dụng tác phẩm kiến trúc (không giới hạn số lần sử dụng).

2.3.2.2. Hoàn thiện về bảo hộ và thực thi quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Đối với các quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc và các trường hợp ngoại lệ, trước hết cần loại bỏ mâu thuẫn giữa điểm h khoản 1 và khoản 3 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ bằng cách quy định rõ ràng rằng hành vi chụp ảnh, truyền hình tác phẩm kiến trúc được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh tác phẩm đó không bị coi là hành vi xâm phạm. Tất nhiên cần lưu ý rằng để được coi là không vi phạm thì hành vi nói trên phải đáp ứng các điều kiện khác như: tác phẩm được sử dụng phải là tác phẩm đã công bố; việc sử dụng tác phẩm không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm; và việc sử dụng không nhằm mục đích thương mại.

Bên cạnh đó, xem xét các trường hợp khác, ta thấy các trường hợp như tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu; trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại; sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu… cũng không ảnh hưởng gì đến quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm cũng như việc khai thác bình thường đối với tác phẩm. Vì vậy việc giới hạn như tại khoản 3 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ “không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc” là không cần thiết và nên bị loại bỏ.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định hành vi xâm phạm quyền tác giả là hành vi “công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả”. Ở đây cần lưu ý rằng trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, quyền công bố và phân phối tác phẩm thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả. Trong trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, quyền này cũng là do tư cách chủ sở hữu, chứ không phải do tư cách tác giả đem lại. Do đó quy định trên phải được sửa lại là “công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả”.

Về hệ thống đăng ký và thực thi quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, cần phải ban hành ngay những văn bản mới hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 100/2006/NĐ-CP, Nghị định 85/2011/NĐ-CP, trong đó có những quy định thống nhất, hợp lý và thông thoáng hơn, cụ thể như sau: Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Chỉ yêu cầu bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng minh nhân dân trong một vài trường hợp nghi ngờ cần xác minh làm rõ. Đa phần các trường hợp còn lại, người đăng ký không cần cung cấp các giấy tờ trên mà phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của những thông tin mình đưa ra. Đối với đăng ký quyền sở hữu công nghiệp, quy định tương tự cũng đang được áp dụng.

Chỉ yêu cầu Tờ khai đăng ký quyền tác giả trong đó có đầy đủ thông tin cần thiết là đủ. Không cần thiết phải có Giấy xác nhận quyền sở hữu và Hợp đồng giao việc trong trường hợp chủ đầu tư nắm giữ quyền sở hữu quyền tác giả còn người sáng tạo nắm giữ quyền tác giả. Chỉ đòi hỏi các giấy tờ trên khi hai bên có thỏa thuận khác. So sánh với đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp, thủ tục đăng ký cũng không đòi hỏi bất cứ giấy tờ nào tương tự như trên.

Chi phí đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc cũng phải được điều chỉnh ngang bằng với các loại hình tác phẩm khác.

Đối với các hình thức thể hiện dưới dạng không gian ba chiều, cần có quy định hướng dẫn thủ tục đăng ký như nộp ảnh chụp phối cảnh và ảnh chụp các mặt của tác phẩm để thay thế cho việc nộp công trình trên thực tế hay mô hình, sa bàn. Các quy định này cũng tương tự với những quy định trong trường hợp đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm tạo hình, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng hình khối ba chiều hay đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.

Ngoài ra cần có văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể thế nào là tác phẩm kiến trúc, thế nào là bản vẽ liên quan đến kiến trúc theo Điều 18 Nghị định 100 là sự phân biệt giữa chúng để quá trình đăng ký được dễ dàng, chính xác. Có thể giải thích rằng đây là những bản vẽ có liên quan đến kiến trúc nhưng phải là tác phẩm kiến trúc như bản vẽ kỹ thuật, bản vẽ kết cấu công trình… Nếu người sáng tạo ra nó muốn đăng ký bảo hộ quyền tác giả thì có thể đăng ký dưới dạng bản vẽ theo điểm k khoản Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên để tránh trường hợp Nghị định vượt xa hơn Luật, theo điểm k khoản Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ cũng cần phải bổ sung thêm từ “kiến trúc” vào sau cụm từ “bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học”. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Bên cạnh đó sớm thiết lập cơ quan đầu mối phối hợp trong phòng chống, xử lí có hiệu quả các hành vi xâm phạm tác quyền, trong đó Cục bản quyền tác giả và ngành tòa án giữ vai trò phối hợp quan trọng. Tăng cường quyền hạn của cơ quan thanh tra chuyên ngành trong xử lý các hành vi vi phạm quyền tác giả; Lập kế hoạch rà soát và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, thẩm phán theo hướng chuyên sâu về sở hữu trí tuệ. Hiện nay, đa số cán bộ, Thẩm phán của các Tòa án còn thiếu kiến thức có hệ thống về sở hữu trí tuệ, số cán bộ, Thẩm phán được đào tạo về sở hữu trí tuệ còn hạn chế. Do vậy, cần chú trọng xây dựng các mục tiêu và chương trình đào tạo có hệ thống để đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán ở các Tòa án hiện nay; đồng thời nghiên cứu, chuẩn bị cho việc thành lập Toà chuyên trách về sở hữu trí tuệ ; Tài sản quyền tác giả và quyền liên quan là loại tài sản đặc thù, khác biệt với các tài sản sở hữu công nghiệp của sở hữu trí tuệ, trong đó đặc biệt khác về cơ chế xác lập, thực thi bảo hộ…. Do vậy, về lâu dài cần tổ chức nghiên cứu xây dựng và ban hành riêng biệt Luật quyền tác giả, quyền liên quan.

Đồng thời cũng cần rà soát và sửa đổi các chế tài về dân sự, hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả trong lĩnh vực kiến trúc cũng cần phải được sửa đổi theo hướng nghiêm khắc hơn giống với những sửa đổi bổ sung của Bộ luật hình sự 2017 như đã đề cập, để tác dụng răn đe, ngăn ngừa được phát huy hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền được bảo vệ triệt để hơn.

2.3.3. Những vấn đề cần lưu ý để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc thông qua hợp đồng

Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, cũng như trong khi chờ đợi những quy định pháp luật hoàn thiện hơn, những người trong cuộc – các kiến trúc sư, các chủ đầu tư và các bên liên quan – cũng cần phải tự trang bị cho mình những kiến thức nhất định về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc để có thể tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh tình trạng vì thiếu hiểu biết mà thỏa thuận, ký kết những điều khoản hợp đồng tước mất các quyền và lợi ích mà lẽ ra mình được hưởng.

  • Vấn đề thứ nhất Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Khi giao kết hợp đồng thiết kế kiến trúc, người kiến trúc sư cần tránh những thỏa thuận không có lợi cho mình, đặc biệt là giao toàn bộ các quyền nhân thân cho chủ đầu tư, trong đó quan trọng nhất là quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Như đã phân tích, chủ đầu tư có quyền góp ý, sửa chữa… để công trình phù hợp với nhu cầu và sở thích của mình, tuy nhiên đối với những công trình công cộng, công trình lớn, công trình quan trọng, công trình nổi tiếng có liên quan mật thiết đến uy tín và danh tiếng của kiến trúc sư mà sự góp ý hay thay đổi của chủ đầu tư có thể tạo nên một công trình kỳ dị, chắp vá, phá hỏng cảnh quan môi trường, không tuân thủ theo các quy tắc chuyên môn trong thiết kế kiến trúc hay các quy chuẩn xây dựng do nhà nước ban hành, hoặc không đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn trong quá trình sử dụng, khai thác, vận hành…, kiến trúc sư cần kiên quyết bảo vệ ý kiến chuyên môn của mình, cũng là bảo vệ bản thân mình không bị mất uy tín cũng như không bị buộc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi có những rủi ro pháp lý phát sinh. Thỏa thuận về việc kiến trúc sư có quyền bảo lưu ý kiến chuyên môn trong một số trường hợp nhất định cần phải được ghi nhận vào hợp đồng dịch vụ thiết kế ngay từ đầu để tránh tình trạng tranh chấp về sau.

Ngoài ra, tuy quyền sử dụng, khai thác tác phẩm kiến trúc thường được thỏa thuận thuộc về chủ sở hữu, kiến trúc sư cũng cần lưu ý giữ lại cho mình một số quyền sử dụng trong một số trường hợp nhất định, ví dụ như quyền sử dụng các hình vẽ phối cảnh hay mặt đứng của công trình như một “bộ sưu tập” để giới thiệu với người khác về các công trình mà mình đã từng thiết kế. Trường hợp này bản vẽ phối cảnh hay mặt đứng thường không gây ảnh hưởng xấu đến an toàn của công trình như các bản vẽ mặt bằng hay sơ đồ kỹ thuật an ninh, điện, nước… nên việc thỏa thuận để sử dụng chúng trong trường hợp này cũng là một điều hợp lý, không gây bất kỳ một ảnh hưởng xấu nào đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Ngược lại, chủ đầu tư cũng cần giữ cho mình một số quyền quan trọng, đặc biệt là quyền công bố và sử dụng tác phẩm. Trong trường hợp đó, kiến trúc sư muốn giới thiệu tác phẩm của mình lên các tạp chí về nhà đẹp, hoặc gửi dự thi một số giải thưởng mà các tác phẩm cần phải được bộc lộ công khai phần lớn hoặc toàn bộ, cần phải có sự đồng ý của chủ đầu tư. Đây là điều quan trọng mà chủ đầu tư với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp tài sản hữu hình là công trình xây dựng cần phải lưu ý để bảo vệ tự do cá nhân, quyền riêng tư cũng như vì lý do an ninh đối với công trình của mình, đặc biệt là đối với các bản vẽ mặt bằng, mặt cắt công trình. Đối với các bản vẽ phối cảnh hay mặt đứng, tùy vào mục đích sử dụng mà chủ đầu tư có thể đồng ý cho tác giả một số quyền sử dụng nhất định. Đồng thời, trong trường hợp một thiết kế được sử dụng cho nhiều công trình lặp lại, hai bên có thể thỏa thuận về việc có áp dụng hệ số k trong khi tính chi phí thiết kế công trình không, tuy nhiên cần tuyên bố rõ trong hợp đồng rằng việc thừa nhận hệ số k không đồng nghĩa với việc chủ đầu tư từ bỏ quyền sử dụng tác phẩm của mình cho những công trình lặp lại phát sinh tiếp theo, nếu có.

  • Vấn đề thứ hai Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Khi giao kết hợp đồng thiết kế kiến trúc thông qua các tổ chức tư vấn thiết kế kiến trúc, cần lưu ý tuy đây là một bên trong hợp đồng dịch vụ thiết kế, có các quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc thực hiện hợp đồng dịch vụ thiết kế này nhưng lại không đóng vai trò gì trong vấn đề quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc. Kiến trúc sư cần bảo vệ quyền tác giả của mình khi giao kết hợp đồng lao động hoặc các hợp đồng khác tương tự với tổ chức tư vấn thiết kế kiến trúc, tránh tình trạng “bán đứt” tác phẩm cho công ty, tự từ bỏ một trong những quyền nhân thân quan trọng của mình là quyền đứng tên tác phẩm. Đây là tình trạng có thật trong một số công ty tư vấn thiết kế, nhất là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, tuy kiến trúc sư này mới là người trực tiếp lao động sáng tạo để thiết kế ra tác phẩm nhưng khi tác phẩm ra đời lại đặt dưới tên của một kiến trúc sư khác.

Về phía chủ đầu tư, cũng cần lưu ý các vấn đề tương tự như trong trường hợp giao kết hợp đồng thiết kế kiến trúc với cá nhân hành nghề độc lập. Ở đây cần tách bạch hai vai trò: vai trò tác giả của tác phẩm kiến trúc thuộc về kiến trúc sư và vai trò một bên giao kết hợp đồng thiết kế thuộc về công ty tư vấn thiết kế kiến trúc. Do đó các vấn đề liên quan đến quyền tác giả là mối quan hệ giữa kiến trúc sư với chủ đầu tư, còn các vấn đề khác thì lại là mối quan hệ giữa công ty với chủ đầu tư. Ví dụ chủ đầu tư có nghĩa vụ thanh toán cho công ty còn công ty có nghĩa vụ chịu trách nhiệm đối với những sai sót nếu có trong khi thiết kế cũng như chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có thiệt hại thực tế xảy ra cho chủ đầu tư phát sinh từ hợp đồng dịch vụ thiết kế.

Về phía công ty tư vấn thiết kế kiến trúc, tuy không giữ bất kỳ vai trò trực tiếp nào trong mối quan hệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, nhưng lại là người chịu trách nhiệm trực tiếp trước khách hàng, trước chủ đầu tư về những thiệt hại nếu có xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng hay thiết kế, xây dựng công trình. Vì vậy, giữa kiến trúc sư trực tiếp thiết kế với công ty phải có một số sự ràng buộc nhất định như kiến trúc sư phải tuân thủ nghiêm ngặt một số quy chuẩn thiết kế do công ty đề ra hoặc phải sửa đổi một số chi tiết trong tác phẩm vì lý do an toàn trong thi công hay sử dụng công trình. Đồng thời cũng cần phải thỏa thuận rõ trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi tác nghiệp của kiến trúc sư, sau khi bồi thường thiệt hại cho khách hàng công ty có quyền yêu cầu các kiến trúc sư có liên quan và có lỗi bồi hoàn lại một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường, tùy theo tính chất và mức độ lỗi. Ngoài ra, trong mối quan hệ đối với chủ đầu tư, cũng tương tự như các trường hợp kiến trúc sư hành nghề độc lập, các công ty tư vấn thiết kế cũng cần đạt được thỏa thuận về một số trường hợp sử dụng hạn chế các tác phẩm do người của tổ chức mình thiết kế và thuộc quyền sở hữu của chủ đầu tư, để giới thiệu lên website của công ty, thực hiện các “bộ sưu tập” các công trình dưới tên công ty hay lập các bộ hồ sơ năng lực để dự thi các phương án thiết kế kiến trúc, với điều kiện bảo đảm được rằng quyền và lợi ích hợp pháp cũng như sự an toàn và tính riêng tư của chủ đầu tư không bị xâm hại.

  • Vấn đề thứ ba Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Đối với trường hợp thiết kế phương án kiến trúc dự thi, điều lệ của cuộc thi cũng có thể được hiểu như một dạng hợp đồng mẫu mà các bên dự thi phải tuân thủ. Do là hợp đồng mẫu nên các bên tham gia dự thi không có quyền thỏa thuận sửa đổi mà chỉ có quyền quyết định tham gia hay không mà thôi. Trong trường hợp này các bên dự thi cần lưu ý các điều khoản về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền tác giả của mình, cụ thể như bên dự thi phải giữ vai trò là tác giả có các quyền nhân thân phi tài sản đối với tác phẩm dự thi dù đoạt giải hay không đoạt giải; bên dự thi có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm dự thi, mọi trường hợp ban tổ chức hay chủ đầu tư có sự sửa chữa, cắt xén, thêm bớt… phải được sự đồng ý của tác giả dự thi; trong trường hợp hai bên không thống nhất được phương án sửa đổi tác phẩm dự thi ban đầu thì tác phẩm dự thi không đương nhiên thuộc về ban tổ chức hay chủ đầu tư để giao cho người khác làm tác phẩm phái sinh, mà phải thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hay chuyển quyền sử dụng tác phẩm kiến trúc…

Ngược lại phía ban tổ chức và chủ đầu tư cũng cần phải lưu ý ghi nhận vào điều lệ một số nội dung có lợi cho hoạt động của mình, cụ thể là ban tổ chức và chủ đầu tư đương nhiên có ít nhất một số quyền tài sản đối với các tác phẩm kiến trúc dự thi như sao chép tác phẩm kiến trúc ra thành nhiều bản để gửi cho ban giám khảo chấm thi; sao chép các tác phẩm dự thi để lưu giữ làm tài liệu nội bộ; trưng bày, chụp ảnh, truyền đạt các tác phẩm kiến trúc trên các phương tiện thông tin đại chúng để thông tin, quảng bá về cuộc thi… Đồng thời để tránh tranh chấp về sau cần lưu ý rằng tác phẩm đoạt giải không đương nhiên được chọn để xây dựng trên thực tế. Tương tự đơn vị có tác phẩm dự thi được chọn để xây dựng trên thực tế tuy có thể được ưu tiên nhưng cũng không đương nhiên là đơn vị được chọn để triển khai các bước tiếp theo nhằm xây dựng công trình đó. Tất nhiên trong trường hợp này ban tổ chức và chủ đầu tư muốn không rơi vào trường hợp vi phạm quyền tác giả của đơn vị dự thi có phương án được chọn, phải thông qua điều lệ cuộc thi tuyên bố rõ toàn bộ quyền tài sản trong đó có quyền làm tác phẩm phái sinh thuộc về chủ đầu tư hoặc phải tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hoặc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả với đơn vị dự thi có tác phẩm được chọn.

Tiểu kết chương 2

Luật sở hữu trí tuệ được ban hành năm 2005 và Luật sửa đổi, bố sung một số điều năm 2009 đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, trong đó có tranh chấp về tác quyền tại Việt Nam. Tuy nhiên, từ khi đạo Luật này có hiệu lực thi đến nay, tình hình giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả nói chung và tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc tại Tòa án chưa thực sự đáp ứng được kỳ vọng và yêu cầu của xã hội.

Số vụ việc còn quá hạn chế này cho thấy, các chủ thể còn e ngại việc khởi kiện ra Tòa án mà thay vào đó, họ chọn việc xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính. Xuất phát từ cơ sở pháp lý vừa thiếu lại vừa yếu, những bất cập của pháp luật về tố tụng đối với việc giải quyết các vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, và sự non kém về năng lực chuyên môn của các cán bộ xét xử, hệ quả là tòa án chưa thực sự trở thành kênh giải quyết thuyết phục, ưa chuộng đối với các tranh chấp về tác quyền. Vì vậy cần có những giải pháp tổng thể mang tính vĩ mô như xây dựng luật riêng về quyền tác giả; thiết lập tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ, thiết lập cơ quan đầu mối phối hợp trong phòng chống, xử lí có hiệu quả các hành vi xâm phạm tác quyền v.v… nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả và tăng hiệu lực thực thi trong thời gian tới ở Việt Nam.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, thì với vai trò kiến tạo không gian và môi trường sống cho con người, nghệ thuật kiến trúc ngày càng óng vai trò quan trọng của đời sống xã hội. Đã có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng mang ý nghĩa xã hội, nhân văn, bảo vệ môi trường, nhiều công trình tham dự và đạt giải cao của quốc tế. Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với các tác phẩm kiến trúc càng được xem trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập nền kinh tế toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, trên cơ sở nhận thức lý luận chung về các đặc thù cơ bản của tác phẩm kiến trúc so với các tác phẩm sáng tạo khác, luận văn đã nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc như đối tượng, phạm vi bảo hộ, chủ thể và nội dung quyền cũng như các hành vi, các trường hợp bị xem là vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, đặc biệt là vận dụng các cơ sở pháp lý, thực tiễn để giải quyết các vấn đề đó một cách khoa học nhất.

Trong quá trình đánh giá, nghiên cứu, xác lập các cơ sở pháp lý về sự liên hệ giữa quyền tác giả với các đặc điểm của tác phẩm kiến trúc với tư cách là đối tượng của quyền tác giả, luận văn đã cho thấy những tồn tại bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành, cũng như sự tồn tại độ lệch nhất định giữa pháp luật nước ta và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết tham gia, với pháp luật về quyền tác giả của một số quốc gia trên thế giới, giữa pháp luật về quyền tác giả với pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kiến trúc và xây dựng với các lĩnh vực pháp lý khác liên quan. Điều này cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc và điều chỉnh cho phù hợp.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhìn thấy thực trạng về bảo hộ và đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc còn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả hơn, chưa phản ánh đúng thực trạng của sự phát triển của ngành kiến trúc, xây dựng của Việt Nam hiện nay. Các tranh chấp có liên quan đến lĩnh vực kiến trúc ngày có xu hướng tăng và đa dạng nhưng hành lang pháp lý vẫn còn yếu và thiếu để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên. Nên việc đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc là điều hết sức cần thiết để ngăn ngừa và phòng chống các hành vi vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc qua đó góp phần ngăn chặn nạn ăn cắp bản quyền với đối tượng này trong thời gian sắp tới, tạo sân chơi và sự cạnh tranh nghề nghiệp lành mạnh trong giới Kiến trúc sư Việt Nam, nâng cao vị thế, tài năng của các Kiến trúc sư khi tham gia sân chơi toàn cầu.

Điều đáng mừng là khi luận văn này đang được bảo vệ thì Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 có hiệu lực từ ngày 10/04/2018 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, cụ thể tại Điều 15 của Nghị định đã công nhận công trình kiến trúc là tác phẩm kiến trúc, cũng như bổ sung thêm cụm từ “kiến trúc” vào phía sau “Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ quy định tại điểm k khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ 2005”. Việc Nghị định 22/2018 bổ sung một số nội dung quan trọng mà tác giả đã đưa vào khi thực hiện đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật trong luận văn đã phần nào ghi nhận công sức nghiên cứu của tác giả.

Trong quá trình thực hiện luận văn, với kiến thức hạn chế về nghề nghiệp, văn bản pháp lý điều chỉnh về lĩnh vực nghiên cứu không nhiều, quá trình sưu tầm dữ liệu cũng như khảo sát số liệu gặp nhiều khó khăn, có khi tưởng chừng như không có giải pháp để thực hiện, nên chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót, tuy nhiên bằng nổ lực bản thân và sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn khoa học Tiến sĩ Lê Văn Hưng, các thầy cô giáo khoa Luật – Trường ĐH Kinh tế Tp.HCM, Cục bản quyền tác giả – Văn phòng đại diện tại Tp.HCM, Trường Đại học Kiến trúc Tp.HCM, Hội kiến trúc sư Tp.HCM, Công ty Luật Nguyễn Huỳnh và Cộng Sự, các thành viên của Lớp Cao học Luật khóa 1, …tác giả đã hoàn thành luận văn, với hy vọng đóng góp một cách nhìn pháp lý toàn diện hơn để bảo vệ quyền tác giả đối tác phẩm kiến trúc./. Luận văn: Thực tiễn bảo quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464