Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền khai sinh, khai tử và thực trạng bảo đảm trong hoạt động công chứng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền khai sinh, khai tử

2.1.1. Quy định của pháp luật về quyền khai sinh

2.1.1.1 Pháp luật quy định về quyền khai sinh

Khai sinh là hành vi pháp lý do do chính quyền (Chủ tịch xã) xác nhận sự kiện sinh ra một công dân mới cho Nhà nước. Thông qua hành vi đăng ký khai sinh, hàng loạt các quyền nhân thân cơ bản của đứa trẻ đó đã được thực hiện. Kể từ thời điểm được đăng ký khai sinh đó, đứa trẻ từ một con người tự nhiên chính thức trở thành một chủ thể pháp luật, một công dân nằm trong sự bảo hộ của pháp luật với mối quan hệ qua lại về quyền và nghĩa vụ công dân giữa cá nhân đó với Nhà nước. Một trẻ em ra đời chỉ trở thành một chủ thể pháp luật, có được tư cách công dân của một quốc gia để tham gia vào các quan hệ pháp luật phát sinh ngay sau đó khi mà trẻ em ấy được cha mẹ hoặc người thân như ông bà, anh chị, người đang nuôi dưỡng của mình thực hiện việc đăng ký khai sinh trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chính vì vậy, Điều 7 Công ước về quyền trẻ em đã khẳng định rằng: “Trẻ em phải được đăng ký khai sinh ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể có quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc” [9]. Các dữ liệu trong giấy khai sinh là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, thể hiện vị trí hợp pháp của cá nhân đó trong xã hội. Thông qua giấy khai sinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá một cá nhân có khả năng, điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân sinh ra có quyền được khai sinh”, bên cạnh đó, quyền khai sinh khai tử được pháp luật về hộ quy định, BLDS năm 2015 một lần nữa khẳng định lại: “4. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định”. Có thể thấy trong tất cả các loại giấy tờ hộ tịch thì Giấy khai sinh có vị trí quan trọng đặc biệt. Đối với mỗi cá nhân, giấy khai sinh được coi là loại giấy tờ pháp lý quan trọng nhất mà mỗi cá nhân cần có ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời cho đến khi chết. Giấy khai sinh không chỉ là “giấy thông hành” vào đời của một đứa trẻ mà tồn tại về sau, giấy khai sinh luôn được cá nhân sử dụng để chứng minh nhân thân của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật như xin đi học, xin việc làm, làm chứng minh thư nhân dân… Có thể nói, quyền được khai sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một cá nhân riêng biệt, một chủ thể độc lập, một công dân bình đẳng với mọi công dân khác. Bản chất của việc ghi nhận các thông tin về cá nhân trên Giấy khai sinh chính là sự xác nhận các đặc điểm của một thể nhân, để từ đó có căn cứ phân biệt một thể nhân này với một thể nhân khác. Chính vì chứa đựng các thông tin cơ bản này mà về pháp lý, Giấy khai sinh được coi là “giấy tờ gốc” với ý nghĩa là cơ sở để xác lập các loại giấy tờ pháp lý về sau như: sổ hộ khẩu, học bạ, chứng minh nhân dân, các loại văn bằng chứng chỉ, giấy chứng nhận kết hôn… Trong quan hệ với các giấy tờ này, giấy khai sinh không chỉ là cái gốc để xác lập nên các giấy tờ đó mà trong trường hợp các thông tin về cá nhân thể hiện trên Giấy khai sinh và các giấy tờ cá nhân khác có sự khác biệt, không thống nhất thì Giấy khai sinh được coi là cơ sở pháp lý để điều chỉnh các giấy tờ cá nhân khác cho phù hợp với các nội dung trong Giấy khai sinh. Tuy nhiên, quyền được khai sinh không phải là quyền riêng của trẻ em mà là quyền của bất cứ cá nhân nào. Theo quy định của BLDS thì việc bảo đảm quyền đăng ký khai sinh cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Thực tế cho thấy không ít trường hợp việc không có giấy khai sinh lại là lý do đẩy người dân vào sự bế tắc vì không thể tham gia vào quan hệ pháp luật mà họ mong muốn. Ngoài ra, còn nhiều trường hợp các dữ liệu như họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh của một cá nhân không thống nhất giữa các hồ sơ tài liệu với giấy khai sinh thì cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh hồ sơ, tài liệu đó phải căn cứ vào Giấy khai sinh để điều chỉnh cho thống nhất.

Giấy khai sinh được đăng ký hợp pháp là giấy khai sinh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật về đăng ký hộ tịch được áp dụng theo thời gian có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật sau: Nghị định 764/TTG ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bản điều lệ đăng ký hộ tịch; Nghị định 04/CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ ban hành Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch; Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về Đăng ký hộ tịch; Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về Đăng ký và quản lý hộ tịch và Nghị định 06/2012/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực ngày 02/02/2012. Luật hộ tịch số 60/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014; Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch; Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hộ tịch và nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch.

Như vậy, kinh tế, văn hóa, xã hội đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước cũng như đảm bảo quyền của mỗi cá nhân. Với ý nghĩa như vậy, việc Nhà nước tổ chức quản lý, đăng ký khai sinh chính là sự bảo hộ đối với việc thực hiện các quyền con người. Điều này chỉ có trong các xã hội dân chủ, khi mà giá trị quyền con người được Nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm bảo hộ. Nhìn vào lịch sử có thể thấy, các triều đại phong kiến Việt Nam không tổ chức quản lý khai sinh vì mối quan hệ giữa Vua với các thần dân của mình là mối quan hệ một chiều, người dân chỉ có nghĩa vụ đối với triều đình, do đó, đối với Nhà nước phong kiến việc tổ chức đăng ký và quản lý việc sinh không được quan tâm. Trong tiến trình phát triển của xã hội, cách thức Nhà nước tổ chức thực hiện việc bảo đảm quyền khai sinh cho công dân được coi là thước đo giá trị của nền dân chủ xã hội.

2.1.1.2. Xác định thẩm quyền khai sinh Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Khoản 4 Điều 30 BLDS năm 2015 quy định “Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định”. Việc đăng ký khai sinh được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký hộ tịch dựa trên những nguyên tắc nhất định. Tại Điều 13 Luật hộ tịch quy định: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh”. Trong một số trường hợp đặc biệt, quyền đăng ký khai sinh như sau:

Thẩm quyền đăng ký khai sinh đối với trường hợp Đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi theo Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP đây là trách nhiệm của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, khi đó, phải có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo. Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.

Đối với trường hợp đăng ký Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ, tại Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì thẩm quyền đăng ký khai sinh trong trường hợp này là của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều 15; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

Trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ: Người yêu cầu đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch và văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ. Phần khai về cha, mẹ của trẻ được xác định theo cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Đối với trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về cư trú tại Việt Nam: Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của trẻ em có cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là công dân Việt Nam, thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài mà chưa được đăng ký khai sinh.

Đăng ký khai sinh đối với trường hợp trẻ em tại khu vực biên giới: Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới đăng ký khai sinh cho trẻ sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó còn mẹ hoặc cha là công dân nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú (Điều 17 nghị định 123/2015/NĐ-CP).

Trường hợp đăng ký lại khai sinh: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn.

2.1.1.3. Nội dung quyền khai sinh

Nội dung đăng ký khai sinh được quy định tại Điều 14 Luật Hộ tịch 2014, theo đó, nội dung đăng ký khai sinh bao gồm:

  • Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;
  • Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;
  • Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai

Trong đó, việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Nội dung đăng ký khai sinh quy định tại khoản 1 Điều này là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó.

Theo quy định tại Điều 26 nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định, nội dung đăng ký khai sinh phụ thuộc vào hồ sơ đăng ký lại khai sinh gồm các giấy tờ sau đây:

  1. Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;
  2. Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó;
  3. Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha -con, mẹ – con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký khai sinh trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký khai sinh, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại khai sinh như quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Trường hợp người yêu cầu có bản sao Giấy khai sinh trước đây được cấp hợp lệ thì nội dung đăng ký khai sinh được ghi theo nội dung bản sao Giấy khai sinh; phần khai về cha, mẹ được ghi theo thời điểm đăng ký lại khai sinh.

Trường hợp người yêu cầu không có bản sao Giấy khai sinh nhưng hồ sơ, giấy tờ cá nhân có sự thống nhất về nội dung khai sinh thì đăng ký lại theo nội dung đó. Nếu hồ sơ, giấy tờ không thống nhất về nội dung khai sinh thì nội dung khai sinh được xác định theo hồ sơ, giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chính thức hợp lệ đầu tiên; riêng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì nội dung khai sinh được xác định theo văn bản của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

  • Về nội dung đăng ký khai sinh trong trường hợp đăng ký lại:

Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có giấy tờ theo quy định tại khoản 4 Điều 26 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 1, khoản 2 Điều 9 của Thông tư này thì nội dung đăng ký lại khai sinh được xác định theo giấy tờ đó.

Trường hợp hiện tại thông tin về cha, mẹ, bản thân người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có thay đổi so với nội dung giấy tờ cấp trước đây thì người đó có trách nhiệm xuất trình giấy tờ chứng minh việc thay đổi. Nếu việc thay đổi thông tin là phù hợp với quy định pháp luật thì nội dung đăng ký lại khai sinh được xác định theo thông tin thay đổi; nội dung thông tin trước khi thay đổi được ghi vào “Phần ghi chú những thay đổi sau này” tại mặt sau của Giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong Sổ đăng ký khai sinh.

Ví dụ: Trong bản sao Giấy khai sinh của Nguyễn Văn A cấp năm 1975 ghi họ tên cha là Nguyễn Văn B, sinh năm 1950, quốc tịch Việt Nam. Nhưng hiện nay người cha đã thôi quốc tịch Việt Nam, nhập quốc tịch Đức, thay đổi họ tên là Nguyen Henry, thì khi đăng ký lại khai sinh cho Nguyễn Văn A, người đi đăng ký phải xuất trình Quyết định của Chủ tịch nước cho thôi quốc tịch Việt Nam và giấy tờ chứng minh việc có quốc tịch Đức, việc thay đổi họ tên của người cha; phần khai về người cha trong Giấy khai sinh được ghi như sau: “Họ tên cha: Nguyen Henry, sinh năm 1950, quốc tịch Đức”. “Phần ghi chú những thông tin thay đổi sau này” tại mặt sau của Giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong Sổ đăng ký khai sinh ghi rõ: Người cha thay đổi họ tên và quốc tịch từ Nguyễn Văn B, quốc tịch Việt Nam, thành Nguyen Henry, quốc tịch Đức.

Tại thời điểm đăng ký lại khai sinh, nếu địa danh hành chính đã có sự thay đổi so với địa danh ghi trong giấy tờ được cấp trước đây thì xác định và ghi theo địa danh hành chính hiện tại; việc thay đổi địa danh hành chính được ghi vào “Phần ghi chú những thay đổi sau này” tại mặt sau của Giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong Sổ đăng ký khai sinh. Ví dụ: Nơi sinh, quê quán trong bản sao Giấy khai sinh trước đây của Nguyễn Văn A là “Vĩnh Thịnh, Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú”; hiện tại đã thay đổi địa danh huyện và tỉnh là Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc thì ghi nơi sinh, quê quán theo địa danh hành chính hiện tại là: “Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc”. “Phần ghi chú những thông tin thay đổi sau này” tại mặt sau của Giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong Sổ đăng ký khai sinh ghi rõ: Nơi sinh, quê quán thay đổi từ “Vĩnh Thịnh, Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú” thành “Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc”.

  • Các trường hợp đăng ký khai sinh lưu động Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Trường hợp trẻ em sinh ra mà cha mẹ bị khuyết tật, ốm bệnh không thể đi đăng ký khai sinh cho con; cha mẹ bị bắt, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù mà không còn ông bà nội, ngoại và người thân thích khác hoặc những người này không có điều kiện đi đăng ký khai sinh cho trẻ thì Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký khai sinh lưu động. Ngoài ra, căn cứ điều kiện thực tế của địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định tổ chức đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn lưu động.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm bố trí thời gian, kinh phí, nhân lực để thực hiện đăng ký hộ tịch lưu động theo quy định của pháp luật này với hình thức phù hợp, bảo đảm mọi sự kiện sinh, tử, kết hôn của người dân được đăng ký đầy đủ và tăng cường công tác quản lý hộ tịch tại địa phương.

2.1.1.4. Trình tự, thủ tục khai sinh

  • Thứ nhất, trình tự, thủ tục khai sinh mới

Theo Luật hộ tịch năm 2014, thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Điều 16, cụ thể:

Theo đó, thủ tục đăng ký khai sinh như sau:

  • Bước 1: Nộp hồ sơ

Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.

Công chức tư pháp – hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ.

Theo quy định tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP, việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:

Cá nhân đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP có nhu cầu đăng ký lại khai sinh nộp 01 bộ Hồ sơ đăng ký lại khai sinh đền Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh.

  • Căn cứ tại Điều 26 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:

Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;

Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó;

Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ trên thì còn phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha – con, mẹ – con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.

  • Bước 2: Tiếp nhận và xem xét hồ sơ

Nếu việc đăng ký lại khai sinh thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây: trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 16 Luật Hộ tịch 2014.

  • Điều 16 Luật hộ tịch 2014 thủ tục đăng ký khai sinh

Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp -hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.

Công chức tư pháp – hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh. [2, Điều 16]

Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây: công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký khai sinh trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký khai sinh, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại khai sinh như quy định tại Khoản 2 Điều 16 Luật Hộ tịch 2014.

  • Thủ tục đăng ký khai sinh trong một số trường hợp đặc biệt Thứ nhất, thủ tục đăng ký lại khai sinh

Theo quy định tại Điều 26 Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì Thủ tục đăng ký lại khai sinh được được thực hiện tương tự như quy định tại các Điều 26 của Nghị định này, cụ thể:

Hồ sơ đăng ký lại khai sinh gồm các giấy tờ sau đây:

  1. Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;
  2. Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó; Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
  3. Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha -con, mẹ – con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký khai sinh trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký khai sinh, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại khai sinh như quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Trường hợp người yêu cầu có bản sao Giấy khai sinh trước đây được cấp hợp lệ thì nội dung đăng ký khai sinh được ghi theo nội dung bản sao Giấy khai sinh; phần khai về cha, mẹ được ghi theo thời điểm đăng ký lại khai sinh.

Trường hợp người yêu cầu không có bản sao Giấy khai sinh nhưng hồ sơ, giấy tờ cá nhân có sự thống nhất về nội dung khai sinh thì đăng ký lại theo nội dung đó. Nếu hồ sơ, giấy tờ không thống nhất về nội dung khai sinh thì nội dung khai sinh được xác định theo hồ sơ, giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chính thức hợp lệ đầu tiên; riêng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì nội dung khai sinh được xác định theo văn bản của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết hồ sơ, giấy tờ, tài liệu là cơ sở để đăng ký lại khai sinh theo quy định tại Điều này. Cụ thể, tại Điều 9 Thông tư 15/2015/TT-BTP quy định giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh theo quy định tại Điều 26 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP gồm: Bản sao Giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (bản sao được công chứng, chứng thực hợp lệ, bản sao được cấp từ Sổ đăng ký khai sinh). Bản chính hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay thế Giấy khai sinh được cấp trước năm 1945 ở miền Bắc và trước năm 1975 ở miền Nam.

Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có giấy tờ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ sau đây là cơ sở để xác định nội dung đăng ký lại khai sinh: Giấy chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu; Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; Bằng tốt nghiệp, Giấy chứng nhận, Chứng chỉ, Học bạ, Hồ sơ học tập do cơ quan đào tạo, quản lý giáo dục có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận; Giấy tờ khác có thông tin về họ, chữ đệm, tên, ngày, tháng, năm sinh của cá nhân; Giấy tờ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con.

Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao các giấy tờ nêu trên (nếu có) và phải cam đoan đã nộp đủ các giấy tờ mình có. Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh cam đoan không đúng sự thật, cố ý chỉ nộp bản sao giấy tờ có lợi để đăng ký lại khai sinh thì việc đăng ký lại khai sinh không có giá trị pháp lý.

Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại việc sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

Việc đăng ký lại khai sinh vi phạm quy định của Luật hộ tịch, Nghị định số 123/2005/NĐ-CP và Thông tư này thì Giấy khai sinh đã được cấp không có giá trị pháp lý, phải được thu hồi, hủy bỏ. Người yêu cầu đăng ký khai sinh tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Như vậy, quy định của Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành đã làm rõ thủ tục của các trường hợp đăng ký khai sinh hiện nay.

  • Thứ hai, thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử lưu động

Quy định tại khoản 1 Điều 14 thông tư 15/2015/TT-BTP đã quy định rõ: trường hợp trẻ em sinh ra mà cha mẹ bị khuyết tật, ốm bệnh không thể đi đăng ký khai sinh cho con; cha mẹ bị bắt, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù mà không còn ông bà nội, ngoại và người thân thích khác hoặc những người này không có điều kiện đi đăng ký khai sinh cho trẻ thì Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký khai sinh lưu động. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã được giao nhiệm vụ đăng ký khai sinh, khai tử lưu động có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ các loại mẫu Tờ khai, giấy tờ hộ tịch và điều kiện cần thiết để thực hiện đăng ký lưu động tại nhà riêng hoặc tại địa điểm tổ chức đăng ký lưu động, bảo đảm thuận lợi cho người dân.

Tại địa điểm đăng ký hộ tịch lưu động, công chức tư pháp – hộ tịch hướng dẫn người yêu cầu điền đầy đủ thông tin trong Tờ khai; kiểm tra các giấy tờ làm cơ sở cho việc đăng ký khai sinh, khai tử theo quy định của Luật hộ tịch, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư này; viết Phiếu tiếp nhận hồ sơ. Thời hạn trả kết quả đăng ký khai sinh, khai tử lưu động không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức tư pháp – hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký giấy tờ hộ tịch và ghi nội dung đăng ký vào Sổ hộ tịch tương ứng.

Trong thời hạn 05 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức tư pháp – hộ tịch đem theo giấy tờ hộ tịch và Sổ hộ tịch để trả kết quả cho người có yêu cầu tại địa điểm đăng ký lưu động; hướng dẫn người dân ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên trong Sổ hộ tịch theo quy định. Tại mục “Ghi chú” trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Đăng ký lưu động”.

Trường hợp người yêu cầu không biết chữ thì công chức tư pháp – hộ tịch trực tiếp ghi Tờ khai, sau đó đọc cho người yêu cầu nghe lại nội dung và hướng dẫn người đó điểm chỉ vào Tờ khai. Khi trả kết quả đăng ký hộ tịch, công chức tư pháp -hộ tịch phải đọc lại nội dung giấy tờ hộ tịch cho người yêu cầu nghe và hướng dẫn người đó điểm chỉ vào Sổ hộ tịch.

Quy định này cũng được áp dụng đối với thủ tục đăng ký kết hôn lưu động tại Điều 16 của Thông tư này.

  • Thứ ba, thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi

Phải lập biên bản ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng (nếu có) ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập.

Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

Sau khi lập biên bản theo quy định trên, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.

  • Thứ tư, thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha mẹ

Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.

Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP.

Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định Điều 4 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.

  • Thứ năm, thủ tục khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ

Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này, cụ thể: Điều 16 Luật hộ tịch quy định về thủ tục đăng ký khai sinh thông thường đó là trường hợp người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Nội dung đăng ký khai sinh được thực hiện theo nội dung tại Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP.

  • Thứ sáu, thủ tục khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về cư trú tại Việt Nam

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam, có cha, mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ hoặc người cha cư trú trong thời gian ở Việt Nam.

Người yêu cầu đăng ký khai sinh xuất trình giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định Nghị định 123/2015/NĐ-CP và nộp các giấy tờ sau đây:

  1. Giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch;
  2. Văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 của Luật Hộ tịch;
  3. Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.

Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam, có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

2.1.2. Quy định pháp luật về khai tử Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Khai tử là một trong những sự kiện hộ tịch của một con người. Những sự kiện hộ tịch cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra cho đến khi chết gồm nhiều sự kiện như đăng ký việc sinh, kết hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch… và điểm cuối trong một chuỗi sự kiện đó là việc khai tử.

Khai tử là việc thân nhân của người chết đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền khai báo những thông tin về việc xảy ra một sự kiện hộ tịch là có người chết để cơ quan nhà nước không chỉ theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch mà còn là cơ sở để thống kê nguyên nhân tử vong, giúp cho việc hoạch định các biện pháp y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân hợp lý. Trên cơ sở đã bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và dân số kế hoạch hóa gia đình.

2.1.2.1. Quy định của pháp luật về thẩm quyền khai tử

Theo quy định tại Điều 23 Luật hộ tịch năm 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký khai tử thông thường được xác định như sau:

  • Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
  • Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
  • Trường hợp người chết không có người thân thích, người thân thích không sống cùng địa bàn xã hoặc là người già, yếu, khuyết tật không đi đăng ký khai tử được thì theo quy định tại thông tư 15/2015/TT-BTP Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký khai tử lưu động.
  • Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 14 thông tư 15/2015/TT-BTP, căn cứ điều kiện thực tế của địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định tổ chức đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn lưu động.
  • Đối với trường hợp đăng ký khai tử ở khu vực biên giới Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký khai tử cho người chết là người nước ngoài cư trú tại xã đó.
  • Đối với trường hợp đăng ký lại khai tử, thẩm quyền đăng ký khai tử như sau: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai tử trước đây thực hiện đăng ký lại khai tử. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Thẩm quyền về phân cấp: Phân cấp từ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xuống Ủy ban nhân dân cơ sở cụ thể là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đăng ký khai tử cho người chết là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch cư trú ổn định lâu dài tại Việt Nam.

Về thời hạn đi khai tử: “Thời hạn đi khai tử là 15 ngày kể từ ngày chết”. Như vậy, khác với quy định trước đây, nghị định này đã quy định thống nhất trên mọi vùng, miền thuộc lãnh thổ Việt Nam đều có thời hạn chung là 15 ngày.

2.1.2.2. Quy định của pháp luật về thủ tục khai tử

Thứ nhất, trường hợp đăng ký theo thủ tục thông thường được quy định tại Điều 34 Luật hộ tịch:

  • Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
  • Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật hộ tịch, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.

Công chức tư pháp – hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Khi đăng ký khai tử theo quy định của Luật Hộ tịch, nội dung khai tử phải bao gồm các thông tin: Họ, chữ đệm, tên, năm sinh của người chết; số định danh cá nhân của người chết, nếu có; nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày, tháng, năm chết theo Dương lịch; quốc tịch nếu người chết là người nước ngoài.

Nội dung đăng ký khai tử được xác định theo Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử do cơ quan có thẩm quyền sau đây cấp: Nội dung đăng ký khai tử được xác định theo Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử do cơ quan có thẩm quyền sau đây cấp: Đối với người chết tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế cấp Giấy báo tử; Đối với người chết do thi hành án tử hình thì Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình cấp giấy xác nhận việc thi hành án tử hình thay Giấy báo tử; Đối với người bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thay Giấy báo tử; Đối với người chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn thì văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc kết quả giám định của Cơ quan giám định pháp y thay Giấy báo tử; Đối với người chết không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các Điểm a, b, c và d của Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết có trách nhiệm cấp Giấy báo tử.

Thứ hai, trường hợp đăng ký khai tử cho người chết tại khu vực biên giới, thủ tục đăng ký khai tử như sau:

  • Người yêu cầu đăng ký khai tử nộp Tờ khai đăng ký khai tử theo mẫu quy định, bản chính Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử được cấp theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.
  • Ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ, nếu thấy việc khai tử là đúng, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký khai tử ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp bản chính trích lục hộ tịch cho người yêu cầu. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
  • Trường hợp cần xác minh giải quyết không quá 03 ngày làm việc.
  • Sau khi đăng ký khai tử, Ủy ban nhân dân xã có văn bản thông báo kèm theo bản sao trích lục hộ tịch gửi Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước mà người chết mang quốc tịch.

Thứ ba, hồ sơ đăng ký lại khai tử, thủ tục đăng ký lại khai tử như sau:

Hồ sơ đăng ký lại khai tử gồm các giấy tờ sau đây: a) Tờ khai theo mẫu quy định; b) Bản sao Giấy chứng từ trước đây được cấp hợp lệ. Nếu không có bản sao Giấy chứng tử hợp lệ thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ liên quan có nội dung chứng minh sự kiện chết.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ. Nếu xét thấy các thông tin là đầy đủ, chính xác và việc đăng ký lại khai tử là đúng pháp luật thì báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký cấp bản chính trích lục hộ tịch cho người có yêu cầu; ghi nội dung đăng ký lại khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu khai tử ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 10 ngày làm việc.

Thứ tư, đối với trường hợp đăng ký khai tử lưu động, thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử lưu động như sau:

Công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã được giao nhiệm vụ đăng ký khai sinh, khai tử lưu động có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ các loại mẫu Tờ khai, giấy tờ hộ tịch và điều kiện cần thiết để thực hiện đăng ký lưu động tại nhà riêng hoặc tại địa điểm tổ chức đăng ký lưu động, bảo đảm thuận lợi cho người dân.

Tại địa điểm đăng ký hộ tịch lưu động, công chức tư pháp – hộ tịch hướng dẫn người yêu cầu điền đầy đủ thông tin trong Tờ khai; kiểm tra các giấy tờ làm cơ sở cho việc đăng ký khai sinh, khai tử theo quy định của Luật hộ tịch, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư này; viết Phiếu tiếp nhận hồ sơ. Thời hạn trả kết quả đăng ký khai sinh, khai tử lưu động không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức tư pháp – hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký giấy tờ hộ tịch và ghi nội dung đăng ký vào Sổ hộ tịch tương ứng.

Trong thời hạn 05 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức tư pháp – hộ tịch đem theo giấy tờ hộ tịch và Sổ hộ tịch để trả kết quả cho người có yêu cầu tại địa điểm đăng ký lưu động; hướng dẫn người dân ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên trong Sổ hộ tịch theo quy định. Tại mục “Ghi chú” trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Đăng ký lưu động”.

Trường hợp người yêu cầu không biết chữ thì công chức tư pháp – hộ tịch trực tiếp ghi Tờ khai, sau đó đọc cho người yêu cầu nghe lại nội dung và hướng dẫn người đó điểm chỉ vào Tờ Khi trả kết quả đăng ký hộ tịch, công chức tư pháp -hộ tịch phải đọc lại nội dung giấy tờ hộ tịch cho người yêu cầu nghe và hướng dẫn người đó điểm chỉ vào Sổ hộ tịch.

2.1.2.3. Điều kiện cấp lại chứng tử theo quy định của pháp luật

Thứ nhất, tại Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 quy định về điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử: Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

  1. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.
  2. Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại”.

Thứ hai, về thẩm quyền đăng ký lại khai tử, khoản 2 Điều 25 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định:

  • “2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai tử trước đây thực hiện đăng ký lại khai tử”.
  • Theo đó, bạn phải đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai tử cho mẹ bạn trước đây để xin cấp lại giấy khai tử.

Thứ ba, căn cứ Điều 28 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, thủ tục đăng ký lại khai tử được thực hiện như sau:

  • Chuẩn bị hồ sơ

Hồ sơ đăng ký lại khai tử gồm các giấy tờ:

  • Tờ khai theo mẫu quy định;
  • Bản sao Giấy chứng từ trước đây được cấp hợp lệ. Nếu không có bản sao Giấy chứng tử hợp lệ thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ liên quan có nội dung chứng minh sự kiện chết.

Kiểm tra hồ sơ và cấp giấy

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ. Nếu xét thấy các thông tin là đầy đủ, chính xác và việc đăng ký lại khai tử là đúng pháp luật thì báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký cấp bản chính trích lục hộ tịch cho người có yêu cầu; ghi nội dung đăng ký lại khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu khai tử ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 10 ngày làm việc.

2.2. Mối quan hệ giữa quyền khai sinh, khai tử và hoạt động công chứng Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Các hoạt động thể hiện mối liên hệ giữa quyền khai sinh và hoạt động công chứng bao gồm:

  • Thứ nhất, giấy khai sinh khi thực hiện các hoạt động công chứng liên quan đến nhân thân.

Luật Công chứng năm 2006 quy định khá chi tiết thủ tục công chứng theo hướng đơn giản hoá thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn cho người dân khi yêu cầu công chứng. Tuy nhiên khi áp dụng thực hiện quy định về hồ sơ yêu cầu công chứng đã gặp những khó khăn do quy định chưa có cách hiểu rõ ràng, thống nhất. Tại điểm c, khoản 1 Điều 35, Điều 36 Luật Công chứng quy định một trong những giấy tờ cần nộp trong hồ sơ yêu cầu công chứng là “Bản sao giấy tờ tuỳ thân” nhưng không quy định cụ thể giấy tờ tuỳ thân bao gồm những loại giấy tờ nào, do vậy dẫn đến tình trạng áp dụng tuỳ tiện, không thống nhất các loại giấy tờ được cho là giấy tờ tuỳ thân giữa các tổ chức hành nghề công chứng, đã có tình trạng công chứng viên cho các giấy tờ như: Bằng lái xe, Thẻ hội viên, Giấy khai sinh, Giấy xác nhận nhân thân,…cũng là giấy tờ tuỳ thân, dẫn đến cùng một vụ việc tổ chức hành nghề công chứng này thì làm được, tổ chức hành nghề công chứng khác thì từ chối vì không có giấy tờ tuỳ thân, gây hoài nghi cho người dân yêu cầu công chứng, và mất uy tín của các tổ chức hành nghề công chứng khác.

Trước hết, để làm được các giấy tờ tùy thân nói trên, cá nhân khi sinh ra cần được đăng ký khai sinh một cách đúng và đủ theo trình tự thủ tục mà pháp luật đã quy định. Công dân đủ 14 tuổi sẽ được làm CMND hoặc căn cước công dân. Trong hoạt động công chứng, giấy tờ tuỳ thân giúp công chứng viên xác định, nhận dạng đúng chủ thể tham gia Hợp đồng, giao dịch. Việc áp dụng thống nhất giấy tờ tuỳ thân là giấy tờ nào trong hoạt động công chứng có một ý nghĩa rất quan trọng, ngoài việc đảm bảo chính xác trong nhận dạng chủ thể tham gia Hợp đồng, giao dịch nó còn tránh được các công chứng viên áp dụng tuỳ tiện các loại giấy tờ khác được cho là giấy tờ tuỳ thân, góp phần làm giảm tính cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể giấy tờ tuy thân gồm những giấy tờ nào. Hiện chỉ có Nghị định số 05/2009/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân khẳng định giấy CMND là một loại giấy tờ tuỳ thân. Ngoài ra theo khoản 3, điều 4 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ quy định về xuất nhập cảnh thì Hộ chiếu quốc gia được sử dụng thay thế CMND. Ngoài hai loại giấy tờ trên không còn loại giấy tờ nào khác được quy định trực tiếp là giấy tờ tuỳ thân. Như vậy theo quy định của pháp luật hiện hành chỉ CMND và Hộ chiếu mới trực tiếp được coi là giấy tờ tuỳ thân. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Giấy tờ tuỳ thân hết hạn có được sử dụng? Hộ chiếu được coi là hợp lệ nếu còn thời hạn sử dụng được quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 4 Nghị định số 136/ 2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ quy định về xuất nhập cảnh. Thời hạn của hộ chiếu được cơ bản được áp dụng thống nhất chung giữa các tổ chức hành nghề công chứng. Riêng về thời hạn của CMND thì theo Điều 2 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân và Khoản 4, Mục I Thông tư số 04/1999/TT-BCA(C13) ngày 29/4/1999 của Bộ Công an hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 05 thì thời hạn sử dụng của CMND là 15 năm kể từ ngày cấp, nếu hết hạn thì phải làm thủ tục cấp lại. Quy định trên nhằm đảm bảo hình ảnh nhận dạng của một người chính xác nhất vì theo thời gian, tuổi tác hình ảnh có thể bị thay đổi, gây khó khăn cho việc nhận dạng. Nhưng trên thực tế, để tạo điều kiện cho người yêu cầu công chứng, đa phần công chứng viên chấp nhận CMND hết hạn sử dụng, bởi trên thực tế theo thói quen rất nhiều người dân sử dụng CMND hết hạn, hơn nữa họ cho rằng cái đích cuối cùng của công chứng là đảm bảo tính xác thực (đúng người), còn CMND hết hạn hay còn hạn thì vẫn là giấy tờ tuỳ thân, Luật Công chứng chỉ quy định nộp “bản sao giấy tờ tuỳ thân” mà không quy định giấy tờ tuỳ thân đó còn hạn sử dụng hay không, do vậy vẫn có thể chấp nhận được. Và một thực tế trong bối cảnh xã hội hoá hoạt động công chứng, nếu tổ chức hành nghề công chứng này không chấp nhận, thì tổ chức hành nghề công chứng khác vẫn chấp nhận. Tuy nhiên việc áp dụng này chưa đảm bảo chấp hành đúng với quy định của pháp luật, bởi CMND chỉ được coi là hợp pháp khi nó còn giá trị lưu hành và không trái với quy định của Nghị định số 05 của Chính phủ. Việc chứng nhận trong hoạt động công chứng chỉ được coi là xác thực khi nó có các căn cứ xác thực, và căn cứ xác thực thì phải dựa vào các quy định của pháp luật hiện hành. Giấy xác nhận mất CMND của công an xã, phường, thị trấn và giấy hẹn cấp CMND có được coi là giấy tờ tuỳ thân? Đối với những trường hợp người yêu cầu công chứng bị mất CMND hoặc trong thời gian chờ cấp đổi lại CMND, trên thực tế đã có công chứng viên chấp nhận đơn xin xác nhận mất CMND (có ảnh đóng dấu giáp lai) của công an xã, phường, thị trấn hoặc phiếu giấy hẹn cấp đổi lại CMND của cơ quan công an để làm giấy tờ tuỳ thân thay thế CMND. Tuy nhiên, cách làm này đặt trong quy định của pháp luật hiện hành là không hợp pháp, bởi CMND phải được tuân thủ theo đúng về đặc điểm của CMND được quy định tại điều 2 Nghị định số 05/2009/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân. Mặt khác Luật Công chứng quy định “giấy tờ tuỳ thân” có nghĩa là loại giấy tờ đó phải được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành chứ không phải loại giấy tờ xác nhận khác để thay thế. Như vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật, giấy tờ tuỳ thân phải là loại giấy tờ đáp ứng được các đặc điểm sau: Là loại giấy tờ được quy định trong hệ thống pháp luật; phải do cơ quan có thẩm quyền cấp; có thông tin về nhân thân; có dấu vết nhận dạng; còn thời hạn sử dụng và là loại giấy tờ giúp cho cá nhân có quyền lưu hành. Tuy nhiên để đảm bảo tính xác thực và hợp pháp của văn bản công chứng, Luật Công chứng cần có văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ, trong đó quy định cụ thể các giấy tờ nào là giấy tờ tuỳ thân tuỳ thân trong hoạt động công chứng, để đảm bảo tính thống nhất trong nghiệp vụ cũng như an toàn trong nghề nghiệp cho công chứng viên, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân khi yêu cầu công chứng và làm giảm tính cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng.

  • Thứ hai, vai trò của giấy khai sinh khi thực hiện các hoạt động công chứng liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Trên thực tế, khi diễn ra các hoạt động liên quan đến chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất thì cần phải có bản gốc giấy tờ chứng minh nhân dân, giấy khai sinh hoặc các giấy tờ khác chứng minh mối quan hệ để được tặng cho. Trong một số trường hợp mất giấy khai sinh thì cần tiến hành xin các giấy tờ khác chứng minh. Tuy nhiên, một số địa phương khi áp dụng quy định pháp luật để thực hiện hoạt động công chứng vẫn cần phải có giấy khai sinh bản thì mới được thực hiện giao dịch.

Theo quy định tại Điều 35 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) thì người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch và với quy định như trên nên dẫn đến việc quy định về thành phần hồ sơ chứng thực hợp đồng rất đơn giản.Tuy nhiên, cùng với xác nhận năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch…, thì phải xem xét đến nội dung của hợp đồng giao dịch, đặc biệt đối với hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất. Để xác định hợp đồng, giao dịch có đúng quy định hay không thì bắt buộc cơ quan thực hiện chứng thực phải yêu cầu các bên thực hiện hợp đồng, giao dịch bổ sung thêm các loại giấy tờ có liên quan như: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Giấy chứng tử, Giấy khai sinh, giấy tờ chứng minh mối quan hệ của những người được hưởng di sản…Nhưng yêu cầu này là không đúng quy định trong Nghị định 23/2015/NĐ-CP và thủ tục hành chính đã công bố công khai.

Ví dụ: Trường hợp công dân Nguyễn Văn Bình (Quảng Ninh) muốn làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho em trai, hai người đều bị mất giấy khai sinh. Ông Bình đã đến UBND xã làm xác nhận mối quan hệ và được UBND xã chứng thực tuy nhiên khi nộp hồ sơ cán bộ tiếp nhận yêu cầu phải có giấy khai sinh mới được giải quyết.

Theo Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Ninh, căn cứ quy định tại Khoản 5, Điều 14, Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/1/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định bổ sung về nộp hồ sơ, thủ tục khi đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

Người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự quy định tại Khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chỉ được thực hiện việc ký hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

Như vậy trường hợp đất của hộ gia đình khi thực hiện thủ tục chuyển quyền thì phải có văn bản đồng ý của các thành viên trong hộ gia đình đó được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp trong gia đình ông Bình có 2 con còn nhỏ chưa đủ tuổi thành niên thì nộp bản phô tô sổ hộ khẩu để kiểm tra, đối chiếu.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 9 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính thì hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất gồm có các giấy tờ:

Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không thuộc trường hợp “dồn điền đổi thửa”; chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng gồm có:

Hợp đồng, văn bản về việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng theo quy định.

Trường hợp người thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là người duy nhất thì phải có đơn đề nghị được đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của người thừa kế;

  1. Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp; Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
  2. Văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư;
  3. Văn bản của người sử dụng đất đồng ý cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, góp vốn tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất mà chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất.

Như vậy trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất giữa anh em ruột không quy định phải nộp Giấy khai sinh. Tuy nhiên người sử dụng đất phải nộp các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng không phải nộp nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (bản sao, nếu có) theo quy định tại Điều 6, Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT-BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất. Như vậy cán bộ tiếp nhận yêu cầu giấy khai sinh là để xác minh thuộc đối tượng không phải nộp nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. Trường hợp người sử dụng đất bị mất giấy khai sinh và đã có văn bản xác nhận mối quan hệ anh em được UBND xã xác nhận thì cán bộ tiếp nhận không được yêu cầu người sử dụng đất phải nộp giấy khai sinh. Nhưng người sử dụng đất phải chấp hành quyết định được miễn hay không được miễn thực hiện nghĩa vụ tài chính của cơ quan thuế.

Khi thực hiện công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho “Hộ gia đình” (có thể gọi chung là “Hộ gia đình sử dụng đất” thì một trong những vấn đề còn tranh luận khá gay gắt hiện nay là xác định thành viên của “Hộ gia đình” như thế nào. Có rất nhiều quan điểm đưa ra để xác định thành viên “Hộ gia đình sử dụng đất”. Quan điểm thứ nhất cho rằng: khi công chứng, chứng thực liên quan đến “Hộ gia đình sử dụng đất” thì chỉ cần yêu cầu người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được uỷ quyền ký tên. Quan điểm thứ 2 cho rằng: người thực hiện công chứng, chứng thực căn cứ trên sổ hộ khẩu của chủ hộ gia đình đứng tên trong giấy chứng nhận để xác định những thành viên trong “Hộ gia đình” còn lại và yêu cầu những thành viên trên 15 tuổi cùng ký tên trong hợp đồng, giao dịch. Quan điểm thứ 3 cho rằng: để xác định thành viên “Hộ gia đình sử dụng đất” thì bên cạnh việc căn cứ sổ hộ khẩu gia đình phải có văn bản xác nhận của UBND cấp xã để xác định những thành viên “Hộ gia đình” tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận và yêu cầu những thành viên từ 15 tuổi trở lên tại thời điểm ký công chứng, chứng thực cùng ký tên… Chính vì có rất nhiều cách hiểu như vậy nên gây rất nhiều khó khăn, lúng túng cho công chứng viên, cán bộ chứng thực dẫn đến việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản về quyền sử dụng đất của “Hộ gia đình” không thống nhất, khó bảo đảm tính chính xác, đúng pháp luật. Làm thế nào để xác định được các thành viên trong hộ gia đình dưới 15 tuổi? Trong trường hợp này, giấy khai sinh và hoạt động khai sinh chính là mấu chốt của vấn đề.

  • Thứ ba, vai trò của giấy khai sinh trong hoạt động công chứng liên quan đến thừa kế

Giấy khai sinh là loại giấy tờ không thể thiếu trong thừa kế. Từ việc để lại di sản thừa kế là lập di chúc cho đến việc phân chia thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Trình tự và thủ tục lập di chúc và công chứng di chúc được điều chỉnh bởi cả BLDS năm 2015 và Luật Công chứng năm 2014. Sau khi nghiên cứu và tổng hợp có thể khái quát trình tự lập di chúc tại cơ quan công chứng như sau:

Bước 1: Người lập di chúc nộp 1 bộ hồ sơ gồm các giấy tờ sau đây: Phiếu yêu cầu công chứng, trong đó có họ tên, địa chỉ người yêu cầu công chứng, nội dung cần công chứng, danh sách giấy tờ gửi kèm theo; Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng (bản sao chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân); Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế;

Bước 2: Công chứng viên kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu lập di chúc. Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật thì thụ lý và ghi vào sổ công chứng.

Bước 3: Công chứng viên hướng dẫn người yêu cầu lập di chúc tuân thủ đúng các quy định về thủ tục công chứng và các quy định pháp luật có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, giao dịch; giải thích cho người yêu cầu lập di chúc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc lập di chúc. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc lập di chúc có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mô tả cụ thể thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng.

Bước 4: Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên để công chứng viên ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố.

Bước 5: Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe theo đề nghị của người yêu cầu công chứng. Nếu người yêu cầu công chứng đồng ý với nội dung trong dự thảo hợp đồng, giao dịch thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký.

  • Một số lưu ý liên quan đến công chứng, chứng thực di chúc:

Trường hợp ngoại lệ: Lập di chúc tại chỗ ở theo yêu cầu của người lập di chúc, được quy định tại Điều 639 BLDS năm 2015. Tuy nhiên thủ tục lập di chúc tại chỗ ở của người lập di chúc phải được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng.

Để di chúc có hiệu lực pháp luật, di chúc phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc (được quy định tại Điều 630 BLDS năm 2015). Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Để bảo đảm tính khách quan, xác thực đối với việc công chứng, chứng thực di chúc, theo quy định của pháp luật, công chứng viên không được công chứng nếu họ thuộc một trong các trường hợp sau đây và các điều kiện của công chứng viên, quy định tại Điều 632 BLDS năm 2015.

Khi tiến hành nhận di sản thừa kế, các cá nhân phải thông qua giấy khai sinh thì cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế sẽ xác định được chính xác mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế với người được thừa kế để từ đó có thể xác định được các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người thừa kế như: đối với thừa kế theo di chúc, trường hợp người lập di chúc không cho con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật khi những người này không từ chối nhận di sản theo quy định tại BLDS hoặc họ không phải là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của BLDS thì cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế sẽ căn cứ vào giấy khai sinh do đương sự cung cấp để xác định có hay không những người thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS thông qua việc xác định các vấn đề: mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế với người cung cấp giấy khai sinh và khi đã xác định được giữa người người để lại di sản thừa kế và người cung cấp giấy khai sinh có mối quan hệ huyết thống (cha, mẹ, con) thì cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế sẽ căn cứ vào giấy khai sinh để xác định độ tuổi của người cung cấp giấy khai sinh là con của người để lại di sản thừa kế để xác định người con này là người đã thành niên hay chưa để giải quyết cho họ được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của BLDS. Như vậy, với trường hợp này, giấy khai sinh là cơ sở để cơ quan, người có thẩm quyền khi giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân là người thuộc diện bắt buộc được hưởng thừa kế như: con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động nhưng lại không được người lập di chúc cho hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật về dân sự, đảm bảo cho việc phân chia di sản được chính xác, không bỏ sót người được thừa kế, tránh các xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa các thành viên trong gia đình liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế, tạo ra những tiêu cực về mặt đạo đức lối sống của một bộ phận dân chúng trong xã hội, ảnh hưởng đến văn hóa, đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, giúp Nhà nước ổn định và làm hài hòa các quan hệ xã hội. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật thì giấy khai sinh ngoài việc có vai trò là cơ sở xác định mối quan hệ giữa người để lại di sản thừa kế và người thừa kế, còn có vai trò giúp cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế xác định được một cách chính xác hàng thừa kế để đảm bảo cho việc phân chia di sản được chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích chính đáng cho những người được hưởng thừa kế. Bên cạnh đó, giấy khai sinh còn là cơ sở để xác định người thừa kế thế vị đối với trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống theo quy định tại Điều 677 BLDS. Điều này cho phép xác định được các quyền và nghĩa vụ tương ứng của từng người thừa kế như quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác, từ chối nhận di sản hoặc nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại… Trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản thông qua việc tặng cho tài sản mà mình được thừa kế cho người khác là người có quan hệ gia đình như: cha, mẹ, con, ông bà, anh, chị, em thì giấy khai sinh hoặc sự kết hợp của nhiều giấy khai sinh sẽ giúp chứng minh được các quan hệ này, từ đó giúp cho các bên được hưởng quyền miễn trừ thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ đối với trường hợp tài sản được thừa kế thuộc diện phải đăng ký.

Ngoài ra, hiện nay chưa có một loại giấy tờ nào ghi tên tất cả những người có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân trong gia đình để có thể tham khảo khi làm thủ tục khai nhận thừa kế. Thực tế giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất thời gian qua cho thấy trong một số trường hợp, vì lý do để xin cho con theo học ở các trường điểm của tỉnh, thành phố hoặc để được làm các thủ tục liên quan đến các giấy tờ nhà đất, đăng ký tài sản, xin việc, một số gia đình đã cho người ngoài (không có quan hệ hôn nhân và cũng không có quan hệ huyết thống) nhập khẩu vào hộ khẩu của gia đình mình. Đến khi phát sinh quan hệ thừa kế, một số trường hợp công chức tư pháp hộ tịch cấp xã dựa vào sổ hộ khẩu để xác định thành viên hộ gia đình để trên cơ sở đó xác nhận những người được thừa kế trong giấy kê khai thừa kế đã dẫn đến trình trạng bỏ sót người được thừa kế hoặc xác nhận người thừa kế không chính xác trong quá trình giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế, làm phát sinh các tranh chấp về thừa kế. Vì sổ hộ khẩu của ta hiện nay chỉ phản ánh số người đăng ký thường trú tại 01 nơi cụ thể, không phản ánh một cách chính xác mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng giữa những người có tên trong Sổ hộ khẩu với nhau. Do đó, hiện nay áp dụng quy định tại Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì giấy khai sinh có thể xem là một trong những căn cứ để xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất trong giải quyết các quan hệ về đất đai, trong đó có quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất, cụ thể Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Như vậy, với quy định này của Luật Đất đai 2013 thì để được xác định là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất cho hộ gia đình thì ngoài việc xuất trình sổ hộ khẩu để chứng minh về việc đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất, cá nhân còn phải xuất trình được một trong các loại giấy tờ tùy thân chứng minh được mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và giấy khai sinh là một trong những giấy tờ quan trọng nhất để chứng minh cho mối quan hệ huyết thống của một cá nhân. Vì giấy khai sinh thể hiện thông tin cho phép xác định chính xác mối quan hệ cha, mẹ, con của mỗi một cá nhân công dân. Điều này sẽ góp phần rất lớn vào việc giải quyết các quan hệ dân sự có liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình, trong đó có quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất mà hiện nay BLDS vẫn chưa xác định được.[36]

2.3. Thực trạng bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

2.3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền khai sinh trong hoạt động công chứng

Thứ nhất, áp dụng pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý khai sinh khai tử

  • Cấp Trung ương:

Bộ Tư pháp: Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý

nhà nước về hộ tịch trong phạm vi cả nước. Vụ Hành chính tư pháp là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch. Phòng Hộ tịch thuộc Vụ Hành chính tư pháp được thành lập ngày 05/12/2009, theo Quyết định số 305/QĐ-BTP ngày 05/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Hành chính tư pháp (trước đây khi chưa thành lập Phòng thì có bộ phận riêng phụ trách công tác hộ tịch).

Bộ Ngoại giao: Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài. Tại Bộ Ngoại giao, Cục Lãnh sự là cơ quan được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ủy quyền hướng dẫn, quản lý công tác quốc tịch, hộ tịch tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo Quyết định số 1622/2008/QĐ-BNG ngày 26/03/2008 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Theo cơ cấu tổ chức của Cục Lãnh sự, Phòng Lãnh sự được giao nhiệm vụ theo dõi, quản lý và hướng dẫn việc thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch ở ngoài nước và Phòng Pháp lý lãnh sự có nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan xây dựng các văn bản pháp quy trong lĩnh vực hộ tịch và hướng dẫn các văn bản mới ban hành trong lĩnh vực này.

  • Cấp tỉnh: Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình. Sở Tư pháp giúp UBND cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch và thực hiện đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp.

UBND cấp tỉnh thực hiện việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc khai sinh, khai tử, giám hộ có yếu tố nước ngoài; đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch; bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh cho người nước ngoài và người Việt Nam định cư tại nước ngoài trong trường hợp trước đây họ đã đăng ký hộ tịch tại Việt Nam.

Cho đến thời điểm hiện tại, hầu hết các Sở Tư pháp đã thành lập riêng Phòng Hành chính tư pháp (trước đây phòng này còn quản lý cả công tác Bổ trợ Tư pháp). Việc tách riêng Phòng Hành chính tư pháp cũng đã thể hiện sự quan tâm hơn đối với công tác Hành chính tư pháp, trong đó có công tác hộ tịch; tạo điều kiện về thời gian để phòng này đầu tư hơn cho công tác hộ tịch.

Cấp huyện: UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình và thực hiện đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính và bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi; cấp lại bản chính Giấy khai sinh, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp giúp UBND cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch trong phạm vi địa phương.

Cấp xã: UBND cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình. Công chức Tư pháp – Hộ tịch có trách nhiệm giúp UBND cấp xã thực hiện quản lý Nhà nước về hộ tịch. UBND cấp xã thực hiện đăng ký việc khai sinh; kết hôn; khai tử; nhận nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước (bao gồm cả trường hợp đăng ký khai sinh cho con của người nước ngoài cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam và con của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài)…

Cơ quan đại diện: Cơ quan đại diện thực hiện việc quản lý nhà nước về hộ tịch. Viên chức Lãnh sự làm công tác hộ tịch có trách nhiệm giúp Cơ quan đại diện thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hộ tịch. Một số Cơ quan đại diện lớn thành lập riêng Phòng Lãnh sự (như Đại sứ quán Việt Nam tại liên bang Nga, Pháp, Séc, Hoa Kỳ, Thái Lan…). Cơ quan đại diện Việt Nam thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài và có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam; đăng ký kết hôn; đăng ký khai tử; đăng ký việc nhận nuôi con nuôi; đăng ký việc giám hộ; đăng ký việc nhận cha, mẹ, con; đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi; cấp lại bản chính Giấy khai sinh; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam trong thời gian cư trú ở nước ngoài…

  • Thứ hai, về đội ngũ cán bộ công chức làm công tác hộ tịch

Tại Bộ Tư pháp: Vụ Hành chính tư pháp là đơn vị chức năng giúp Bộ trưởng trong việc quản lý hành chính tư pháp, trong đó có công tác hộ tịch. Phòng Quản lý Hộ tịch thuộc Vụ Hành chính tư pháp có 07 công chức đều có trình độ cử nhân Luật trở lên.

Tại Sở Tư pháp: Phòng Hành chính tư pháp thuộc Sở Tư pháp có chức năng giúp Giám đốc Sở Tư pháp trong việc quản lý hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp, chứng thực, bồi thường Nhà nước… có trung bình từ 03 đến 04 công chức (2 thành phố lớn là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có số công chức nhiều hơn).

Tại UBND cấp huyện: không có công chức chuyên trách về hộ tịch, công tác hộ tịch do công chức của Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện kiêm nhiệm. Biên chế bình quân hiện nay của các Phòng Tư pháp (ngoại trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) có từ 3-4 công chức. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Tại UBND cấp xã: hiện tại trong cả nước có 16.820 cán bộ làm công tác hộ tịch trên tổng số 11.118 đơn vị hành chính cấp xã (trong đó có 15.249 công chức Tư pháp – Hộ tịch và 1.571 cán bộ hợp đồng) [35]

Mặc dù, hiện tại Nhà nước ta chưa có văn bản nào quy định chức danh Hộ tịch chuyên trách mà chỉ có chức danh công chức Tư pháp – Hộ tịch, nhưng trên thực tế, do sự quá tải về công tác Tư pháp và công tác Hộ tịch nên nhiều địa phương đã vận dụng bố trí 2 công chức Tư pháp – Hộ tịch, trong đó một công chức chuyên làm công tác Tư pháp, một công chức chuyên làm công tác Hộ tịch (có 8.683 công chức chuyên trách làm công tác Hộ tịch, chiếm 57% trên tổng số công chức Tư pháp – Hộ tịch); 6.566 công chức kiêm nhiệm công tác Tư pháp và Hộ tịch (chiếm 43% trong tổng số công chức Tư pháp – Hộ tịch) và 1.571 cán bộ hợp đồng.

Trong số 15.249 công chức Tư pháp – Hộ tịch có 4.090 người có trình độ Đại học Luật (chiếm 27%), 7.633 người có trình độ Trung cấp Luật (chiếm 50%), còn lại là chuyên môn khác 3.526 công chức (chiếm 23%). Số công chức Tư pháp -Hộ tịch có thời gian làm công tác Tư pháp – Hộ tịch trên 5 năm là 8.224 công chức (54%), số còn lại 7.025 công chức đảm nhiệm công việc này dưới 5 năm (46%). [32]

Tại các Cơ quan đại diện: mỗi Cơ quan đại diện có ít nhất 01 cán bộ làm công tác lãnh sự trong đó có công tác hộ tịch, cá biệt có những nơi công tác lãnh sự nhiều và đa dạng, đông bà con Việt Nam làm ăn, sinh sống, còn bố trí tới 2 hoặc nhiều cán bộ làm công tác lãnh sự.

  • Thứ ba, dữ liệu hộ tịch được hình thành với hệ thống sổ sách về hộ tịch được lưu trữ, sử dụng lâu dài

Sổ đăng ký hộ tịch là tài sản của nhà nước, là tài liệu gốc và cũng là căn cứ pháp lý để phục vụ cho công tác tra cứu, sao lục, cấp giấy tờ chứng nhận về tình trạng nhân thân của cá nhân khi cần thiết, do đó phải được lưu trữ, bảo quản lâu dài. Thực hiện quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, việc lưu sổ hộ tịch ở các địa phương trong thời kỳ này đã cải tiến một bước đáng kể; trừ một số thành phố lớn, rất nhiều địa phương đến thời điểm thi hành Nghị định số 83/1998/NĐ-CP (năm 1999) mới bắt đầu thực hiện việc lưu sổ hộ tịch. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Cùng với việc triển khai thi hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, việc ghi sổ kép và lưu sổ cũng được triển khai và thực hiện nghiêm túc hơn, nội dung trong sổ được viết rõ ràng, sạch sẽ, ít sai sót hơn; việc sửa chữa sai sót cũng đã được thực hiện theo đúng hướng dẫn. Nhiều địa phương đã đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho việc lưu sổ hộ tịch (bố trí kệ sắt, tủ, phòng lưu trữ…).

Hiện tại, ở cả 03 cấp trong cả nước (tỉnh, huyện, xã) đang lưu một số lượng tương đối lớn: 771.909 sổ hộ tịch (Sổ đăng ký khai sinh, Sổ đăng ký kết hôn và Sổ đăng ký khai tử) và 56.866.079 dữ liệu đăng ký trong các sổ lưu này, bao gồm: Sổ đăng ký khai sinh: 351.030 quyển, trong đó có 38.313.997 dữ liệu khai sinh; Sổ đăng ký khai tử: 184.333 quyển, trong đó có 5.290.943 dữ liệu khai tử.

Ngoài ra, một số Sở Tư pháp còn lưu trữ được sổ hộ tịch từ chế độ cũ như:

  • Sở Tư pháp thành phố Hà Nội còn lưu được 1.274 sổ hộ tịch được đăng ký từ năm 1881 đến 31/7/1956 trên địa bàn 36 phố cổ, trong đó có 488.200 dữ liệu hộ tịch trong các sổ này. [32]
  • Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh lưu được 4.149 quyển sổ hộ tịch từ năm từ năm 1880 đến năm 1953, riêng Bản án thế vì khai sinh, khai tử, hôn thú cũng lưu được 1.793 quyển; trong đó riêng dữ liệu về khai sinh đã có 446.678 dữ liệu về khai sinh từ năm 1945 – 1953 và 355.600 án thế vì khai sinh [32]
  • Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ lưu được 1.611 sổ hộ tịch từ năm 1911 đến năm 1975, trong đó 417.384 dữ liệu về khai sinh (trong đó có 89.082 Bản án thế vì khai sinh), 61.683 dữ liệu về kết hôn và 117.715 dữ liệu về khai tử.

Tại Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện đang lưu 528 quyển sổ hộ tịch và 40.737 dữ liệu đăng ký trong các sổ lưu này, trong đó:

  • Sổ đăng ký khai sinh: 310 quyển, trong đó có 413 dữ liệu khai sinh;
  • Sổ đăng ký kết hôn: 155 quyển, trong đó có 219 dữ liệu kết hôn;
  • Sổ đăng ký khai tử: 63 quyển, trong đó có 105 dữ liệu khai tử. [33]

Ngoài hệ thống dữ liệu hộ tịch bằng giấy (sổ hộ tịch) trong những năm gần đây, dữ liệu hộ tịch điện tử cũng đã bắt đầu được hình thành. Một số tỉnh/thành phố đã xây dựng phần mềm phục vụ cho việc đăng ký và quản lý hộ tịch; bước đầu bảo đảm chính xác hơn số liệu thống kê, báo cáo; bước đầu đáp ứng yêu cầu tra cứu cũng như cấp các giấy tờ hộ tịch của cá nhân.

  • Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch được đẩy mạnh, ngày càng tạo thuận lợi cho người dân trong đăng ký hộ tịch Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Cải cách việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch: Nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và các cơ quan có thẩm quyền khi sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch; đồng thời hướng tới việc cắt giảm thủ tục hành chính theo mục tiêu và yêu cầu của Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước, ngày 18/12/2009 Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 3924/QĐ-BTP phê duyệt Đề án “Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch và phân cấp việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch”. Kết quả của việc cải tiến trong việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch đã giảm 54,4% tổng số sổ, biểu mẫu hộ tịch; giảm 94,4% mẫu trước đây do Nhà nước (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, các Cơ quan đại diện Việt Nam) độc quyền in, phát hành, những biểu mẫu này hiện được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp để các cơ quan đăng ký hộ tịch và người dân có thể tự in để sử dụng miễn phí.

Phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã phân cấp một số việc hộ tịch trước đây thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh cho Sở Tư pháp, UBND cấp huyện và UBND cấp xã trực tiếp thực hiện. Việc giao cho UBND cấp huyện, đặc biệt là UBND cấp xã thực hiện một số việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trước đây (như thay đổi, cải chính hộ tịch) đã tạo thuận lợi cho các công dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch (đi lại thuận tiện hơn nên chi phí ít hơn, thời gian giải quyết nhanh hơn…); ngoài ra, việc phân cấp thẩm quyền này cũng đã giảm bớt yêu cầu trực tiếp giải quyết hồ sơ tại Sở Tư pháp, để Sở Tư pháp có thời gian hơn cho nhiệm vụ quản lý.

Đơn giản hóa và công khai thủ tục đăng ký hộ tịch: Nghị định số 83/1998/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch so với Điều lệ đăng ký hộ tịch năm 1961, điều này không chỉ giúp cho các cơ quan đăng ký hộ tịch dễ dàng thực hiện mà còn tạo thuận lợi cho người dân trong việc chuẩn bị hồ sơ và cách thức liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP còn thể hiện cải cách hơn nữa về thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch: bỏ bớt nhiều loại giấy tờ không thực sự cần thiết trong thủ tục đăng ký hộ tịch; cá nhân được quyền ủy quyền cho người khác làm thủ tục đăng ký hộ tịch cho mình; cá nhân được đề nghị cấp bản sao giấy tờ hộ tịch qua đường bưu điện…). Mặt khác, các quy định về thẩm quyền, các giấy tờ phải có trong hồ sơ đăng ký hộ tịch, thời hạn giải quyết, lệ phí (nếu có)… đều được niêm yết công khai tại trụ sở các cơ quan đăng ký hộ giúp cho người dân dễ dàng tìm hiểu về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đối với từng loại việc hộ tịch. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật hộ tịch đã được quan tâm, nhận thức của người dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch đã được nâng lên, tỷ lệ đăng ký hộ tịch tăng cao: Do các cấp ủy, chính quyền địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác hộ tịch, nên đã quan tâm, đầu tư hơn cho công tác tuyên truyền, qua đó, người dân đã nhận thức được việc đăng ký hộ tịch vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mình nên đã tự giác đi đăng ký, qua đó tỷ lệ đăng ký hộ tịch đã được tăng lên. Quy định về đăng ký hộ tịch lưu động ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa cũng đã được triển khai ở một số địa phương, qua mỗi đợt đăng ký lưu động, đa số các sự kiện hộ tịch phát sinh trên địa bàn tại thời điểm đó đã được đăng ký.

Riêng trong lĩnh vực đăng ký khai sinh, trong năm 2017, Bộ Tư pháp đã phát động năm tập trung đăng ký khai sinh cho trẻ em và đã thu được những thành tựu to lớn (tính bình quân chung cả nước có thể lên tới con số hàng trăm ngàn trẻ em chưa được đăng ký khai sinh đã được đăng ký), tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh qua đợt phát động này đã tăng đột biến lên trên 90% tính bình quân chung cả nước; trong đó, nhiều địa phương đạt trên 90%, hoặc xấp xỉ 100%. Cho đến nay, tỷ lệ này vẫn được duy trì: đạt trên 90% đối với các thành phố, đồng bằng tỷ lệ này là khoảng từ 95% đến 98%, các tỉnh miền núi đạt gần 85%, trong đó tỷ lệ đăng ký khai sinh đúng hạn cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể.

Các địa phương đã tiến hành rà soát, thống kê, phân loại số trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ sau ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn để vận động họ đi đăng ký kết hôn; qua triển khai thực hiện, đa số những trường hợp nam, nữ sống chung như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn đã đi làm thủ tục đăng ký kết hôn.

  • Thứ năm, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký, lưu trữ dữ liệu về hộ tịch bước đầu được triển khai ở một số địa phương

Hầu hết các xã, phường, thị trấn trong cả nước đã có hệ thống máy tính kết nối mạng Internet phục vụ cho việc tra cứu các văn bản hộ tịch, cũng như nghiên cứu các thông tin phục vụ cho công việc hàng ngày; việc khai thác thông tin để phục vụ cho công tác qua các trang thông tin điện tử ngày càng được các công chức Tư pháp – Hộ tịch sử dụng và đã đem lại lợi ích thiết thực trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Một số địa phương đã xây dựng phần mềm quản lý hộ tịch sử dụng ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã), nhiều địa phương cũng đã thí điểm triển khai thực hiện tại một số địa bàn trong địa phương, số địa phương khác cũng bắt đầu xúc tiến công việc này (xem bản phụ lục 6 đính kèm).

  • Thứ sáu, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã có những chuyển biến tích cực, nhất là trong lĩnh vực đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài

Công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã có những chuyển biến tích cực, cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước cũng như đăng ký các việc hộ tịch phát sinh giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài. Chất lượng các đôi kết hôn được nâng lên rõ rệt, chị em đã chủ động tìm hiểu và lựa chọn người chồng nước ngoài theo ý muốn của mình. Qua thủ tục phỏng vấn đã từ chối những trường hợp đăng ký kết hôn do vi phạm các quy định đã nêu trong Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP1. Cũng qua thủ tục phỏng vấn, chị em đã phải học ngoại ngữ, tìm hiểu về nhân thân của người chồng tương lai và các phong tục, tập quán của nước mà họ chuẩn bị đến làm dâu… Ở một số địa phương do có sự phối hợp đồng bộ giữa Sở Tư pháp và Trung tâm hỗ trợ kết hôn thuộc Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh/thành phố nên nhiều trường hợp chị em trước khi làm thủ tục đăng ký kết hôn đã đến với các Trung tâm hỗ trợ kết hôn để được tư vấn đầy đủ về mặt tâm lý, văn hóa, pháp luật, phong tục tập quán; dạy nấu ăn, dạy ngôn ngữ…, từ đó giúp họ có vốn kiến thức nhất định khi ra nước ngoài. Số chị em đã kết hôn bằng lòng với cuộc sống của mình với chồng, với gia đình chồng ở nước ngoài chiếm tỷ lệ khá cao (trên 75%). Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Qua tổng hợp số liệu báo cáo của các Sở Tư pháp, thì từ năm 1995 đến năm 2010 đã giải quyết 257.555 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài (bao gồm cả số trường hợp công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài). Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài từ năm 1998 đến năm 2010 là 25.721 trường hợp.

  • Thứ bảy, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại các Cơ quan đại diện

Ngày 22 tháng 4 năm 2011, tại thành phố Cần Thơ, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã chủ trì Hội nghị toàn quốc về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có tổng kết những kết quả đạt được và những hạn chế qua triển khai Chỉ thị này từ đó tìm ra giải pháp nhằm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài đã được Bộ Ngoại giao quan tâm, coi đó là một trọng tâm của hoạt động lãnh sự trong tình hình mới. Giữa Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp đã xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong xây dựng thể chế về hộ tịch, bảo đảm hướng dẫn thống nhất việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại các Cơ quan đại diện. Không chỉ là số lượng, chất lượng đội ngũ viên chức lãnh sự cũng được Bộ Ngoại giao quan tâm, bồi dưỡng: mỗi năm, đã tổ chức ít nhất 01 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ lãnh sự (trong đó có nghiệp vụ về hộ tịch) cho cán bộ lãnh sự đi công tác nhiệm kỳ tại các Cơ quan đại diện.

Bộ Ngoại giao cũng đã chỉ đạo các Cơ quan đại diện thống nhất sử dụng sổ, biểu mẫu do Bộ Tư pháp in và phát hành theo đúng quy định của pháp luật. Hệ thống cơ sở dữ liệu hộ tịch bằng giấy (sổ hộ tịch) lưu tại các Cơ quan đại diện và tại Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự) đã phục vụ cho việc cấp lại bản chính Giấy khai sinh, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch cho công dân Việt Nam đã đăng ký hộ tịch tại các Cơ quan đại diện.

  • Thứ tám, khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

Vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước: Công tác hộ tịch đã góp phần tích cực trong quản lý nhà nước, phục vụ đắc lực cho các cấp, các ngành hữu quan trong hoạch định và xây dựng các chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội phù hợp, sát với tình hình thực tế như các chính sách về dân số, phân bổ dân cư, chia tách, sáp nhập địa giới hành chính… Ngoài ra, bảo đảm chính xác thông tin đăng ký hộ tịch còn giúp cho việc xác định độ tuổi (tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tuổi vào các cấp học, tuổi công tác …), nhóm tuổi, số con trong gia đình, khoảng cách giữa các lần sinh, từ đó giúp cho việc thống kê số nhân khẩu, phổ cập giáo dục; số liệu về đăng ký hộ tịch còn phục vụ cho an sinh xã hội như việc cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi; ngoài ra, số liệu đăng ký hộ tịch cũng là cơ sở để các cấp chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng như xây dựng trường học, công trình phúc lợi… Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân: Việc đăng ký hộ tịch đã tạo cơ sở pháp lý bảo đảm một số quyền nhân thân cơ bản của cá nhân (như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền được khai sinh, quyền kết hôn… đã được ghi nhận trong BLDS). Thông qua việc đăng ký khai sinh (khởi đầu việc đăng ký sự kiện hộ tịch của mỗi cá nhân) đã bảo đảm quyền được khai sinh, một trong những quyền quan trọng đầu tiên của trẻ em theo tuyên bố tại Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình là ai và được chính cha mẹ mình chăm sóc”; tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam cũng khẳng định: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”. Tuy nhiên, quyền được khai sinh không phải là quyền riêng có của trẻ em mà là quyền của bất cứ cá nhân nào; theo quy định của BLDS thì việc bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân.

  • Thứ chín, thực tiễn về trường hợp đăng ký khai sinh đối với trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi

Theo quy định về quyền có họ, tên tại khoản 2 Điều 26 BLDS năm 2015 có quy định:

Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng. Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 2 Điều 14 Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định: “Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự.”. Nhưng tại ý 2 khoản 3 Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, có quy định việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ như sau:“3. ..Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.” Khoản 2 và khoản 3 Điều 15 của Nghị định này quy định việc đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi, như sau:“2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong sổ hộ tịch và giấy khai sinh của trẻ để trống. 3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh, người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1Điều 25 của Luật Hộ tịch thì UBND kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này”.

Vấn đề đặt ra, mặc dù BLDS năm 2015 hiện tại chưa có hiệu lực thi hành, nhưng quy định về họ, tên của cá nhân như trên đã trích dẫn của Bộ luật này, so với quy định tại khoản 3 Điều 14 và khoản 2, khoản 3 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP vừa nêu là chưa thật phù hợp với nhau. Cụ thể, theo ý 3 khoản 2 Điều 26 BLDS năm 2015: “Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.”. Trong khi đó, với trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ, tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ. Từ sự khác biệt này, cơ quan hộ tịch cấp cơ sở nói chung, người yêu cầu đăng ký khai sinh cho đứa trẻ rơi vào trường hợp trẻ sinh ra bị bỏ rơi; chưa xác định được cha, mẹ nói riêng sẽ phải chấp hành quy định nào? Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Ví dụ: Trần Văn A, sinh năm 1996 sống chung như vợ chồng với Cao Nguyễn H, sinh năm 1997 từ năm 2013. Ngày 18/ 4/2014, H sinh được một cháu gái tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh T. Khi ra viện, gia đình của A đón mẹ con của H về nhà chăm sóc được 15 ngày, thì H bỏ nhà đi biền biệt cho đến hiện tại vẫn chưa liên lạc được với A. Do A và H chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, hơn nữa, H đã bỏ đi không để lại giấy tờ tùy thân nào nên gặp nhiều khó khăn khi đăng ký khai sinh cho cháu gái là con của hai người. Dù chưa thể đăng ký khai sinh cho cháu theo quy định của pháp luật, nhưng gia đình của A đã đặt tên cho cháu là Trần Hồng Th [35].

Vậy, nếu theo quy định tại ý 3 khoản 2 Điều 26 BLDS năm 2015, khi người nuôi dưỡng cháu Th (anh A) đăng ký khai sinh cho cháu được quyền khai họ của cháu là họ Trần. Nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì khi người yêu cầu đăng ký khai sinh cho cháu trong trường hợp này không được lấy họ của người nuôi dưỡng, mà phải theo họ của người mẹ, cụ thể trường hợp này họ của cháu gái đó phải là họ Cao, nhưng trước đó họ, tên của cháu gái được gia đình thống nhất đặt là Trần Hồng Th. Đây rõ ràng là bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật liên quan đến quyền có họ tên của cá nhân, quyền về hộ tịch của mỗi người, rất mong được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trường hợp tác giả vừa đề cập.

Vấn đề chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được hướng dẫn tại Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP. Mà theo đó, chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

  1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
  2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng. Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Thực tiễn công tác hộ tịch ở cấp cơ sở cho thấy, hầu hết các trường hợp đăng ký khai sinh mà chưa xác định được cha, mẹ đều rơi vào hoàn cảnh gia đình rất éo le, mà cả người nam và nữ trình độ hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, nhất là pháp luật về hôn nhân và gia đình; điều kiện kinh tế thật sự khó khăn; phần lớn thuộc dân tộc ít người, địa bàn cư trú là vùng núi cao, vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh,…Chính vì vậy, không ít số trẻ em sinh ra thường thuộc một trong các trường hợp sau: Cả hai người (cha, mẹ) đều chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nhưng đã sống với nhau như vợ chồng và có con chung; Hoặc sống “thử” với nhau một thời gian, sau khi sinh con, cả cha và mẹ đều qua đời do tai nạn lao động hoặc bị phạt tù án chung thân do buôn bán chất ma túy hoặc trước khi bỏ đi biệt xứ, người mẹ đã giao con cho gia đình của người bố nuôi dưỡng mà không để lại bất cứ thông tin, giấy tờ tùy thân nào, kể cả giấy chứng sinh đứa bé,… Theo quy định vừa nêu, chứng cứ để chứng minh về quan hệ cha con, quan hệ mẹ con có thể chia ra gồm 02 trường hợp sau: Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Trường hợp thứ nhât: Có một trong những văn bản sau: Văn bản của cơ quan y tế; Văn bản xác nhận kết quả của cơ quan giám định AND; Văn bản xác nhận của cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

Với văn bản xác nhận kết quả giám định AND của cơ quan giám định cung cấp thì không có gì phải bàn luận thêm. Nhưng với quy định chứng cứ chứng minh quan hệ cha con có thể bằng văn bản của cơ quan y tế, thì vấn đề đặt ra, văn bản của cơ quan y tế xác nhận phải dựa trên cơ sở pháp lý nào, ngoại trừ kết quả giám định ADN và cơ quan y tế cấp nào có thẩm quyền xác nhận? Đây là quy định mà cho đến nay, cơ quan hộ tịch và cán bộ hộ tịch địa phương hầu như chưa đưa ra lời giải đáp thỏa đáng khi người dân thắc mắc. Vậy, văn bản của cơ quan y tế theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP có thể là Văn bản xác nhận của bệnh viện Đa khoa huyện về việc hộ sinh của bệnh viện này có sự nhầm lẫn khi xác định con của sản phụ này thành con của sản phụ khác có được không? Văn bản xác định một số yếu tố trong huyết thanh, xác định một số enzyme? Văn bản thể hiện kết quả xét nghiệm nhóm máu có được không?…Vì thông qua việc phân tích nhóm máu, cơ quan y tế có thể xác định quan hệ huyết thống. Bởi hệ thống nhóm máu A, B, O được di truyền theo quy luật Mendel và có 4 nhóm máu cơ bản là A, B, O và AB. Quy định nhóm máu gồm 3 gen mang tính trạng trội là Alen, Alen lA, lB và một mang tính trạng lặn là Alen lO. Vì vậy người nhóm máu A có thể mang kiểu gen lAlA hoặc lAlO; người nhóm máu B có thể mang kiểu gen lBlB hoặc lBlO; người có nhóm máu AB mang kiểu gen lAlB; người nhóm máu O mang kiểu gen lOlO. Như vậy, bố nhóm máu A, mẹ nhóm máu B hoặc ngược lại có thể sinh ra con nhóm máu AB. Không thể dựa vào nhóm máu A, B, O, AB để xác định chắc chắn 2 người có cùng huyết thống. Tuy nhiên một số trường hợp có thể xác định người không cùng huyết thống. Ví dụ, nếu cả bố và mẹ mang nhóm máu O thì con cái không thể mang nhóm máu A, B hoặc AB mà chỉ có thể mang nhóm máu O mà thôi. Ngược lại, cả bố và mẹ có nhóm máu AB thì con cái không thể có nhóm máu O mà chỉ có thể mang nhóm máu A, B hoặc AB mà thôi.

Trường hợp cha mang nhóm máu O vẫn có thể sinh con nhóm máu B nếu mẹ là nhóm máu B hoặc AB. Có thể dựa vào nhóm máu để xác định quan hệ huyết thống nhưng cũng nhiều trường hợp đặc biệt cha mẹ nhóm máu A,B sinh con nhóm máu O.

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, cho đến nay việc xác định xem hai người có cùng hay không cùng huyết thống chủ yếu dựa vào xét nghiệm AND. Giám định ADN để xác định mối quan hệ huyết thống là phương pháp chính xác nhất hiện nay. Kết quả giám định ADN để xác định mối quan hệ huyết thống cho phép kết luận người bố (mẹ) nghi vấn có phải là người bố (mẹ) sinh học (bố/ mẹ ruột) hay không. Nếu hai mẫu ADN giữa con và bố (mẹ) nghi vấn trùng khớp với nhau hoàn toàn thì khả năng có cùng huyết thống bố (mẹ) ruột và con sẽ vào tỉ lệ từ 99,999% trở lên. Nếu hai mẫu giám định không trùng khớp từ 2 gen trở lên thì khả năng người bố (mẹ) nghi vấn 100% không phải bố (mẹ) ruột của con. Và chỉ có phương pháp này mới bảo đảm tính chính xác gần như tuyệt đối, là cơ sở khoa học vững chắc để bảo đảm tính pháp lý khi cơ quan hộ tịch có thẩm quyền ghi nhận quan hệ cha con hoặc quan hệ mẹ con với đứa bé. Muốn thực hiện được xét nghiệm này thì phải lấy mẫu máu, tóc của những người đó để xác định ADN. Như vậy, nếu chỉ muốn xác định 2 người có cùng huyết thống với nhau hay không thì chỉ cần lấy mẫu của hai người đó (tức là cha – con hoặc mẹ – con hoặc chị – em) mà thôi. Như vậy, văn bản của cơ quan y tế xác nhận quan hệ cha con hoặc quan hệ mẹ con thực chất Văn bản kết luận giám định AND của cơ quan thực hiện việc giám định.

Từ hai quan điểm trên cho thấy, bằng phương pháp “thử máu- phân tích nhóm máu” không bảo đảm tính chính xác khi cần xác định quan hệ huyết thống giữa họ là cha – con hoặc mẹ – con, mà chi có phương pháp giám định AND. Tính ưu việt của giám định gen là truy nguyên được cá thể người, xác định quan hệ huyết thống cha con, xác định hài cốt. Do vậy, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản giải thích văn bản của cơ quan y tế xác nhận quan hệ cha con hoặc quan hệ mẹ con theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP dựa trên cơ sở khoa học nào và cơ quan y tế cấp nào mới có thẩm quyền xác nhận. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Tương tự như vậy, văn bản xác nhận của cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước xác nhận quan hệ cha con hoặc quan hệ mẹ con. Cụ thể đó là cơ quan nào? Nội dung xác nhận gồm những gì?…Chẳng hạn, văn bản có sự xác nhận của Hội Cựu chiến binh và Hội Phụ nữ cấp xã nơi cư trú về trường hợp anh Trần A là cha ruột của cháu O mà hiện anh A đang nuôi dưỡng, từ khi mới sinh ra (do anh A với chị L lúc đó chưa đủ tuổi kết hôn, chị C bỏ đi khỏi địa phương từ khi cháu O mới được 15 ngày tuổi và hiện tại đã hoàn toàn mất liên lạc với chị C). Vậy, văn bản này có thuộc dạng Văn bản của cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước xác nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP không?

Trường hợp thứ hai: Chứng cứ chứng minh quan hệ cha con, quan hệ mẹ con thông qua thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác để chứng minh và kèm theo văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng. Với quy định này, nhiều ý kiến cho rằng sẽ thiếu tính khả thi, vì: Bên cạnh ảnh chụp người cha bế đứa bé hoặc người mẹ bế đứa bé hay cả ba cùng chụp khi bé từ bệnh viện phụ sản về nhà,…hoặc đoạn video thể hiện cha, mẹ, ông bà hai bên và đứa bé trong ngày đón cháu về nhà ông Nội chẳng hạn, thì kèm theo văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người. Vậy, với trường hợp vì lý do nào đó, như: Người mẹ bị dụ dỗ bán ra nước ngoài; hoặc người cha phải thi hành án tử hình do phạm tội về ma túy;… thì làm sao có đủ hai người để viết giấy cam đoan. Tại sao không quy định có ít nhất 01 người (cha hoặc mẹ) viết cam đoan việc trẻ em là con chung của hai người? Mà phải là cả cha và mẹ? Ý tưởng của nhà làm luật bao giờ cũng hướng đến sự hoàn thiện và chặt chẽ, nhưng suy cho cùng, nếu vì sự chặt chẽ đến mức tước đi quyền mà pháp luật công nhận cho đứa trẻ ấy cũng có cha, có mẹ như bao đứa trẻ bình thường khác, thì sự chặt chẽ ấy có thật cần thiết không? Nhà quản lý sẽ suy nghĩ thế nào, nếu như trong giấy khai sinh của đứa trẻ vô tội ấy, mà mục ghi thông tin về cha, mẹ của nó đều bị bỏ trống, trong khi người chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ, theo dõi từng bước đi của nó khi đến trường hàng ngày chính là cha ruột của nó? Từ những suy nghĩ rất thực rất gần gũi với những đứa bé không may rơi vào hoàn cảnh đáng thương như thế, tác giả đề xuất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 11 của Thông tư 15/2015/TT-BTP theo hướng bổ sung điều kiện trong trường hợp đặc biệt có thể chỉ cần một người cha hoặc một người mẹ viết văn bản cam đoan, đứa trẻ ấy là con ruột của mình. Sau khi được sửa đổi, bổ sung, khoản 2 Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP được viết lại như sau:

Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, trường hợp đặc biệt có thể chỉ có văn bản cam đoan của cha hoặc mẹ của đứa trẻ là con ruột của họ và có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Nếu như vậy, sẽ là “cơ hội” giải quyết cho nhiều trường hợp mà hiện tại hàng ngày đứa trẻ ấy sống chung với cha ruột của nó, được cha ruột nó nuôi dưỡng dạy dỗ nhưng về mặt pháp lý lại không phải là cha ruột của nó, bởi do điều kiện về tài chính không cho phép họ thực hiện giám định AND như pháp luật quy định. Và cũng từ sự sửa đổi, bổ sung như vừa đề xuất sẽ đơn giản hơn thủ tục kết hợp giải quyết việc đăng ký khai sinh và nhận cha, mẹ, con; Hướng dẫn đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 12; Điều 13 Thông tư 15/2015/TT-BTP.

2.3.2. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quyền khai tử trong hoạt động công chứng Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng, việc khai tử có ảnh hưởng đến việc chia di sản thừa kế, việc tặng cho quyền sử dụng đất.

  • Ví dụ trường hợp xảy ra tại phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Theo đơn kêu cứu của ông Đỗ Văn Hợp (85 tuổi), năm 1998, ông và vợ mình là bà Nguyễn Thị An (85 tuổi) có chia cho con trai là ông Đỗ Mạnh Tiến một mảnh đất với diện tích 185 m2 đất tại địa bàn phường Nhật Tân. Năm 2005, ông Tiến mắc bệnh hiểm nghèo rồi qua đời. Sau đó, vợ ông Tiến là bà V.T.V đã tới Phòng Công chứng số 3 Hà Nội thực hiện thủ tục kê khai nhận di sản thừa kế do ông Tiến để lại. Ông Đỗ Văn Hợp tố cáo bị con dâu “khai tử” dù vẫn đang còn sống Đáng chú ý, người được hưởng di sản lại chỉ gồm bà V.T.V và hai con gái; còn vợ chồng ông Hợp thì đã bị… “qua đời”. Cụ thể, tại thông báo về việc khai nhận di sản ngày 4-7-2006 do công chứng viên Nguyễn Thanh Tú – Phòng Công chứng số 3 Hà Nội ký, nêu rõ: “Người để lại di sản: ông Đỗ Mạnh Tiến đã chết ngày 8-1-2005… Cha mẹ đẻ ông Đỗ Mạnh Tiến đã chết. Người thừa kế: gồm vợ ông Đỗ Mạnh Tiến là bà V.T.V và hai người con đẻ của ông Tiến…”. Sau đó, UBND phường Nhật Tân đã niêm yết thông tin về việc kê khai di sản thừa kế, trong đó có thông tin vợ chồng ông Hợp đã chết. Sự việc vỡ lở khi tháng 5-2015, vợ chồng ông Hợp phát hiện bà V.T.V ký kết hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ nhà đất (di sản do ông Tiến để lại) cho một gia đình khác. Đến nay, vợ chồng ông cũng không rõ ba mẹ con bà V.T.V đang cư trú ở đâu. Ông Hợp vô cùng bức xúc và cho biết kể từ khi bị “khai tử”, hiện tại đã hơn 10 năm, hai vợ chồng ông vẫn đang sống và hàng tháng vẫn hưởng chế độ lương trợ cấp người cao tuổi. “Tại sao không có giấy chứng tử của vợ chồng tôi nhưng Phòng Công chứng số 3 vẫn chứng thực chúng tôi đã chết? Phải chăng con dâu tôi đã câu kết với công chứng viên Phòng Công chứng số 3 Hà Nội để làm việc này?”. Ông Hợp cũng khẳng định việc làm của Phòng Công chứng số 3 Hà Nội đã gây hậu quả nghiêm trọng, làm thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của vợ chồng ông được hưởng thừa kế di sản từ con trai mình. Sự việc này cũng được ông Hợp khởi kiện và TAND TP Hà Nội đã thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm từ ngày 4-5-2017, nhưng đến nay chưa đưa ra xét xử [37]. Ví dụ này cho thấy một số vấn đề sau:

Một là, trong quá trình công chứng, các công chứng viên không xem xét kiểm tra tính hợp pháp của các giấy tờ cũng như không tiến hành xác minh thông tin về “khai tử” của các cá nhân. Theo pháp luật, người yêu cầu công chứng phải có trách nhiệm nộp các giấy tờ liên quan và đảm bảo tính chính xác của giấy tờ, không được làm giả, lừa dối trong lời khai. Đối với trách nhiệm công chứng viên, bà Hương cho rằng, công chứng viên đã quá tin vào lời khai của người yêu cầu công chứng. Bởi chuyện con cháu trong gia đình đi khai báo bố mẹ đã chết trong khi họ đang còn sống là điều chưa từng xảy ra, điều này không những trái với pháp luật mà còn trái với đạo đức xã hội. Theo quy định, công chứng viên phải yêu cầu người khai báo trình được giấy khai tử, trong trường hợp mất thì phải trình được giấy tờ, xác nhận khác liên quan. Có thể cũng vì đây là con, cháu trong nhà nên đã tin vào lời cam đoan. Mặt khác, trường hợp này cũng rất hi hữu, rất ít khi xảy ra.

Hai là, hoạt động khai tử trên thực tế chưa được tiến hành quản lý đồng bộ và liên thông trong các ngành để dễ dàng trong hoạt động quản lý thông tin của cá nhân. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

2.3.3. Những khó khăn, hạn chế trong việc bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng

  • Những khó khăn trong quá trình khai sinh, khai tử

Bên cạnh những mặt đã đạt được như đã nêu ở trên, hiện tại công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn còn những hạn chế, yếu kém nên đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý xã hội; đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động công chứng.

  • Những hạn chế, yếu kém trong việc đăng ký khai sinh, khai tử thể hiện trên những mặt sau đây:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hộ tịch về đăng ký khai sinh, khai tử còn phức tạp gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc áp dụng pháp luật về đăng ký khai sinh khai tử trong hoạt động công chứng. Mặc dù công đăng ký khai sinh, khai tử có vị trí, vai trò quan trọng đối với quản lý nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân như đã nêu ở trên, nhưng cho đến nay, ngoại trừ các quy định mang tính nguyên tắc trong BLDS, Luật Hôn nhân và gia đình…, văn bản điều chỉnh trực tiếp trong lĩnh vực đăng ký khai sinh, khai tử chỉ là Nghị định và Thông tư, chưa có đạo luật riêng về khai sinh, khai tử, gây khó khăn cho cơ quan hộ tịch khi áp dụng (khó nhớ, khó áp dụng).

Việc phân cấp thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử chưa triệt để: Thẩm quyền đăng ký khai sinh khai tử thường có khó khăn đối với những người đăng ký khai sinh, khai tử không rõ hộ khẩu, hoặc những người không xác định được hộ khẩu. Chính vì vậy, gây ra khó khăn cho việc xác định thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử.

  • Sự quan tâm và đầu tư cho công tác đăng ký khai sinh, khai tử chưa đồng đều ở các địa phương

Việc bố trí cán bộ: Ở một số địa phương, việc lựa chọn, bố trí cán bộ làm công tác khai sinh, khai tử đặc biệt là công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cấp xã chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc. Do sự toàn quyền của UBND cấp xã trong việc bố trí công chức Tư pháp – Hộ tịch, nên có tình trạng công chức Tư pháp – Hộ tịch chưa đủ tiêu chuẩn vẫn được làm việc, trong khi hàng năm có hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp ngành Luật vẫn khó xin việc làm; thậm chí có địa phương còn có tình trạng dành chỗ để chờ con em đủ điểu kiện để bố trí. Theo số liệu thống kê đã nêu ở trên, thì hiện tại trong cả nước có 16.820 cán bộ làm công tác hộ tịch trên tổng số 11.118 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 15.249 công chức Tư pháp -Hộ tịch và 1.571 cán bộ hợp đồng (bình quân mỗi xã, phường, thị trấn trong cả nước có 1,5 cán bộ làm công tác hộ tịch). Như vậy, ngoài những xã, phường, thị trấn có 02 công chức Tư pháp – Hộ tịch, trong đó có 01 công chức chuyên trách về hộ tịch, thì với những nơi chưa bố trí được công chức chuyên trách về hộ tịch, thì họ sẽ phải kiêm nhiệm rất nhiều công việc khác nhau.

Việc tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ về khai sinh, khai tử: Một số địa phương vẫn còn coi nhẹ công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, có địa phương chỉ tổ chức triển khai khi có những văn bản mới mà không định kỳ tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ hộ tịch; chính vì không được kịp thời bồi dưỡng nghiệp vụ nên số công chức mới thay không đáp ứng được yêu cầu công việc. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Về đầu tư cơ sở, vật chất phục vụ cho công tác hộ tịch: Mặc dù quy định về đăng ký kép (đăng ký vào 02 quyển sổ như nhau) đã được quy định từ Nghị định số 83/1998/NĐCP nhưng một số địa phương chỉ mua 01 quyển sổ và đăng ký vào 01 quyển sổ đó, nên không có sổ để chuyển lưu lên UBND cấp huyện, vì vậy mà số sổ lưu tại UBND cấp xã lớn hơn rất nhiều số lưu tại UBND cấp huyện. Cho đến nay vẫn còn những địa phương, UBND cấp xã không trang bị riêng máy vi tính cho công chức Tư pháp – Hộ tịch tác nghiệp, cũng như không có tủ riêng cho công chức Tư pháp – Hộ tịch cất giữ hồ sơ, sổ hộ tịch; chính vì công chức Tư pháp – Hộ tịch phải sử dụng chung máy vi tính với văn phòng nên đã không đáp ứng yêu cầu về thời gian trả kết quả cho công dân; việc lưu chung với các hồ sơ, giấy tờ khác cũng dễ làm thất lạc hay hư hỏng hồ sơ, đặc biệt là sổ hộ tịch.

Chưa tạo điều kiện tốt nhất để bảo đảm quyền đăng ký khai sinh, khai tử của công dân: Yêu cầu đặt ra là Nhà nước phải có trách nhiệm đăng ký để thực hiện việc quản lý và cũng bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch cho công dân; tuy nhiên, trên thực tế bên cạnh một số bất cập từ quy định của pháp luật, trong nhiều trường hợp, tinh thần, thái độ phục vụ của một bộ phận cán bộ làm công tác hộ tịch chưa cao, còn gây phiền hà, sách nhiễu; việc thực thi các quy định của pháp luật về đăng ký, quản lý còn chưa nghiêm, có nơi còn buông lỏng quản lý dẫn đến sai phạm bị xử lý kỷ luật, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự; trong một số trường hợp đã có phản ánh về hiện tượng tiêu cực, nhưng lãnh đạo UBND không có biện pháp xử lý kịp thời, vẫn để cho các công chức này tiếp tục làm việc, gây bức xúc cho nhân dân; cụ thể là:

Quy định về thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử còn quá nhiều loại giấy tờ khác nhau, lệ thuộc vào nơi cư trú đã dẫn đến trường hợp công dân không đáp ứng đủ thì không được đăng ký;

Cán bộ trực tiếp giải quyết đăng ký khai sinh, khai tử đặt thêm thủ tục giấy tờ khi người dân có yêu cầu đăng ký hộ tịch; khi hồ sơ đăng ký hộ tịch chưa đầy đủ, cán bộ hộ tịch không hướng dẫn một lần mà mỗi lần chỉ hướng dẫn một nội dung nên người dân phải đi lại nhiều lần mới được giải quyết…

Áp dụng quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân một cách máy móc nên một số trường hợp quyền lợi của người dân giải quyết sai quy định, thậm chí có trường hợp không được giải quyết.

Dữ liệu hộ tịch nói chung trong đó có dữ liệu khai sinh, khai tử của cá nhân bị phân tán, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau. Từ trước đến nay pháp luật về hộ tịch đều quy định mỗi việc hộ tịch (sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ…) được đăng ký vào một sổ riêng (Sổ đăng ký khai sinh, Sổ đăng ký kết hôn, Sổ đăng ký tử, Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi v.v…), qua đó dữ liệu khai sinh chỉ được phản ánh trong Sổ đăng ký khai sinh, dữ liệu kết hôn chỉ được phản ánh trong Sổ đăng ký kết hôn… Mặt khác, trong thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập hiện nay, người dân di cư tới nhiều địa bàn khác nhau (kể cả ở nước ngoài), thì các sự kiện hộ tịch của cá nhân cũng được đăng ký ở nhiều địa phương khác nhau, nhiều cấp khác nhau, kể cả ở Cơ quan đại diện; trong khi đó lại không có 01 sổ hộ tịch chung để tích hợp mọi thông tin về hộ tịch của mỗi cá nhân, chính vì vậy, các dữ liệu hộ tịch của cá nhân bị phân tán, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau nên Nhà nước không kiểm soát được thông tin về hộ tịch của từng cá nhân, khả năng tra cứu, khai thác phục vụ cho yêu cầu của người dân và của các cơ quan, tổ chức rất hạn chế. Cùng với thông tin ghi trong sổ hộ tịch, các giấy tờ hộ tịch được cấp cho cá nhân công dân cũng chỉ có nội dung ghi về một sự kiện hộ tịch đã được đăng ký nên khi cần chứng minh tình trạng hộ tịch, thì người dân phải nộp cùng một lúc tất cả các loại giấy tờ hộ tịch đã được cấp. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Bên cạnh đó, việc quản lý các thông tin biến động khai sinh, khai tử còn bất cập, chưa có được sự liên thông giữa các ngành ở Trung ương và địa phương. Cùng với hệ thống sổ hộ tịch chưa được cải tiến hợp lý như đã nói ở trên và việc lưu sổ hộ tịch và hồ sơ đăng ký hộ tịch cũng chưa khoa học đã dẫn đến hệ thống dữ liệu hộ tịch (thực chất là những kho dữ liệu độc lập) bị phân tán, không tập trung, không kết nối được với nhau nên không tích hợp được thông tin về khai sinh, khai tử và các thông tin hộ tịch khác của từng cá nhân; khả năng tra cứu, khai thác phục vụ cho yêu cầu của người dân và của các cơ quan, tổ chức là rất hạn chế. Điều này một mặt làm giảm hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý xã hội, chưa đóng góp được nhiều cho công tác dự báo để hoạch định, xây dựng và thực thi chính sách về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước. Mặt khác, vừa thiếu cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho người dân thực hiện các quyền công dân của mình, vừa tạo kẽ hở cho một số cá nhân lợi dụng trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật.

Tùy tiện trong việc đăng ký khai sinh, khai tử cho công dân; chưa bảo đảm độ chính xác khi cấp giấy tờ hộ. Tình trạng đăng ký không kịp thời, chưa đầy đủ và thiếu chính xác trong đăng ký hộ tịch vẫn còn tồn tại ở một số địa phương. Sự tùy tiện trong việc khai sinh, khai tử được thể hiện trong những trường hợp sau:

  • Đăng ký sai thẩm quyền;
  • Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch không căn cứ vào sổ gốc;

Dễ dãi trong việc cấp giấy tờ hộ tịch, nhất là Giấy khai sinh: có trường hợp nội dung trong bản sao Giấy khai sinh khác với nội dung trong bản chính và khác nội dung trong sổ gốc; nội dung khai sinh trong sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, văn bằng, học bạ của người học được ghi theo bản sao Giấy khai sinh nên không phù hợp với bản chính; thậm chí có những trường hợp một người được cấp đến 2 bản chính Giấy khai sinh với nội dung khác nhau; do đó đã xảy ra trường hợp khi đi làm Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân, người dân nộp 01 Giấy khai sinh, khi đi học nộp 01 Giấy khai sinh khác nên đã dẫn đến tình trạng nội dung khai sinh trong văn bằng, học bạ của người học không phù hợp với sổ hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân khác… Sự sai sót này đã để lại nhiều hệ lụy phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chính người sử dụng;

  • Khi đăng ký hộ tịch chỉ cấp giấy tờ hộ tịch cho người đi đăng ký mà không ghi ngay vào sổ hộ tịch;

Sổ hộ tịch bị tẩy xóa nội dung, việc sửa chữa sai sót không thực hiện theo đúng quy định (không ghi ngày, tháng năm sửa, không ghi tên người sửa và không đóng dấu vào nội dung sửa…), có trường hợp dùng bút xóa để sửa chữa;

Sổ hộ tịch không ghi chú những sự kiện đăng ký đặc biệt (đăng ký quá hạn, đăng ký lại…) dẫn đến khó phân tích số liệu, từ đó không bảo đảm chính xác số liệu thống kê; hết năm không thống kê số liệu hộ tịch đã đăng ký trong năm theo quy định;

Khi giải quyết chỉ dựa vào giấy tờ mà không có xác minh, đặc biệt là giải quyết yêu cầu về thay đổi, cải chính giấy khai sinh, đăng ký quá hạn, đăng ký lại việc sinh cho cán bộ, công chức nên đã dẫn đến sai sót trong nội dung đăng ký.

Quy định về lưu sổ hộ tịch chưa được thực hiện nghiêm túc ở một số địa phương. Yêu cầu về đăng ký kép (02 quyển như nhau), một quyển lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã và 01 quyển lưu tại Sở Tư pháp (hiện sổ này (nếu có) đã được chuyển lưu về UBND cấp huyện) đã được quy định từ Nghị định số 83/1998/NĐ-CP (Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/10/1989); tuy nhiên, qua tổng hợp báo cáo thống kê số liệu thì nhiều địa phương không có sổ hộ tịch lưu tại Ủy ban nhân dân cấp huyện từ thời điểm này, điều đó đồng nghĩa với việc những địa phương này chỉ thực hiện đăng ký vào 01 quyển sổ và lưu ngay tại UBND cấp xã; bên cạnh đó, cũng có những địa phương không lưu được sổ. Việc mất sổ có cả nguyên nhân khách quan, nhưng cũng có cả nguyên nhân chủ quan do không được bảo quản, giữ gìn cẩn thận.

  • Hạn chế trong cải cách thủ tục hành chính Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Mặc dù, việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch bước đầu đã phát huy hiệu quả; tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông (theo Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương) trong đăng ký hộ tịch đôi khi lại có tác động ngược lại, đặc biệt là tiến độ xử lý hồ sơ. Để giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch, đòi hỏi cán bộ thụ lý hồ sơ phải chuyên sâu về chuyên môn để kiểm tra, hướng dẫn hồ sơ, nhưng thực tế trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ tham gia vào quy trình “một cửa”, cụ thể là cán bộ tiếp nhận hồ sơ còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn (người được bố trí vào vị trí này thường là cán bộ văn phòng), nên trong trường hợp hồ sơ của đương sự còn thiếu hoặc chưa đạt yêu cầu nhưng cán bộ tiếp nhận không phát hiện được để hướng dẫn hoặc hướng dẫn không đầy đủ nên người dân phải đi lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết. Mặt khác, theo quy định của pháp luật hộ tịch hiện hành, thì có một số việc đăng ký hộ tịch phải giải quyết ngay (như đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, cấp lại bản chính Giấy khai sinh, cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch…) nếu cứ áp dụng theo quy trình nộp hồ sơ cho bộ phận một cửa, bộ phận một cửa chuyển cho phòng hoặc cán bộ chuyên môn kiểm tra hồ sơ… thì không thể bảo đảm trả kết quả cho công dân ngay trong ngày.

  • Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa đồng bộ

Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa đồng bộ đã dẫn đến tình trạng cùng một tiêu chí, nhưng mỗi ngành có một số liệu thống kê báo cáo khác nhau, điều này đã gây khó khăn cho Nhà nước trong việc hoạch định chính sách. Cơ chế thông báo những thay đổi liên quan đến hộ tịch của từng cá nhân cũng chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, nhiều trường hợp không thông báo nên không kịp thời cập nhật những thay đổi về hộ tịch liên quan trong sổ hộ tịch (Ví dụ: do không nhận được thông báo việc ly hôn để ghi chú vào Sổ đăng ký kết hôn nên mặc dù đã ly hôn vẫn được cấp bản sao Giấy chứng nhận kết hôn).

  • Phương thức đăng ký khai sinh, khai tử còn mang tính chất thủ công, mức độ áp dụng công nghệ thông tin còn hạn chế.

Mặc dù việc đăng ký khai sinh, khai tử bằng điện tử đã được triển khai ở một số địa phương, nhưng mức độ còn rất hạn chế. Phương thức đăng ký hộ tịch hiện nay chủ yếu vẫn thực hiện theo phương pháp thủ công (ghi bằng tay, lưu bằng sổ giấy). Do chưa có Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, nên việc lưu sổ giấy dễ dẫn đến bị hỏng, bị mất, từ đó không đáp ứng được yêu cầu thống kê số liệu cũng như yêu cầu cấp giấy tờ hộ tịch cho người dân. Hơn nữa, phương thức đăng ký hộ tịch này không phù hợp với định hướng xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Công tác thống kê số liệu đăng ký khai sinh, khai tử còn yếu, chưa bảo đảm độ chính xác của số liệu. Một số nơi, chính quyền địa phương coi nhẹ công tác thống kê số liệu, nên không có sự chỉ đạo tích cực, công chức làm công tác thống kê số liệu không làm hết trách nhiệm của mình nên báo cáo không kịp thời và không bảo đảm độ chính xác của số liệu (sai số rất nhiều). Chính vì số liệu thống kê về hộ tịch cũng như thông tin về hộ tịch của từng cá nhân chưa đủ độ tin cậy nên định kỳ 10 năm 1 lần, Nhà nước ta đã phải bỏ ra vài trăm tỷ cho các cuộc Tổng điều tra dân số (năm 2009 chi tới trên 400 tỷ đồng) [34], trong khi nếu số liệu về hộ tịch đầy đủ, chính xác thì sẽ được sử dụng ngay mà không phải tốn nhiều chi phí cho công tác điều tra, thu thập số liệu. Cũng chính vì số liệu thống kê không kịp thời, đầy đủ, thiếu chính xác nên không đủ độ tin cậy để làm cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước.

Nhận thức của người dân đối với quyền và nghĩa vụ đăng ký khai sinh, khai tử còn hạn chế nên việc đăng ký quá hạn còn chiếm tỷ lệ tương đối cao; ở một số địa phương vẫn còn tình trạng tảo hôn. Nhận thức của người dân đối với quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch còn hạn chế, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em sinh ra không được đăng ký khai sinh đúng hạn, thậm chí không được đăng ký khai sinh; nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn; người chết không đăng ký khai tử. Số liệu đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể; số nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, đặc biệt là tỷ lệ đăng ký khai tử còn rất thấp, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa (chỉ đến khi giải quyết các quyền lợi liên quan, thân nhân của người chết mới đi đăng ký khai tử). Theo báo cáo thống kê hàng năm của các địa phương, thì trong cả nước năm 2010, tỷ lệ đăng ký quá hạn chiếm 22%, đăng ký lại chiếm 19%) và trong thực tế đã xảy ra tình trạng cán bộ, công chức lợi dụng việc đăng ký quá hạn, đăng ký lại việc sinh để cải chính tuổi trong hồ sơ.

Quyền khai sinh khai tử trong hoạt động công chứng hiện nay còn một số hạn chế như là chưa xác định được đúng đối tượng trong giấy khai sinh, khai tử; mất giấy khai sinh, khai tử và làm giả giấy khai sinh, khai tử trong quá trình thực hiện các hoạt động công chứng. Còn tình trạng khó khăn trong việc kiểm tra các giấy tờ về khai sinh, khai tử dẫn đến việc công chứng không được thực hiện hoặc thực hiện sai gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động công chứng, chứng thực.

2.3.3.2. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Những hạn chế trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch đã nêu trên do một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo chưa đồng bộ. Một số địa phương, lãnh đạo Ủy ban nhân dân chưa thực nhận thức được tầm quan trọng của công tác hộ tịch nên không quan tâm, đầu tư cho công tác này (kể cả về cơ sở vật chất, con người, phương tiện làm việc, kinh phí triển khai…). Đăng ký hộ tịch là trách nhiệm của UBND, nhưng có nơi còn phó mặc, khoán trắng cho Tư pháp, không quan tâm, đầu tư cũng như không có sự chỉ đạo kiểm tra.

Thứ hai, chưa có bước đột phá trong xây dựng thể chế. Việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch trong thời gian qua chỉ mang tính chắp vá bằng cách sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế những văn bản cũ mà chưa quan tâm đến việc xây dựng một đạo luật chung điều chỉnh thống nhất trong lĩnh vực hộ tịch.

Thứ ba, đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau và không ổn định. Hiện nay, ở các xã, phường, thị trấn, công chức Tư pháp – Hộ tịch ngoài việc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) phải đảm nhiệm 12 đầu việc, trong đó có việc đăng ký và quản lý hộ tịch. Trong khi đó, trên thực tế, tính chất chuyên môn của công tác hộ tịch và các công tác tư pháp khác (công tác văn bản, tuyên truyền pháp luật, hòa giải…) rất khác nhau, không phù hợp với việc ghép chung một cách cơ học hai loại nhiệm vụ này trong cùng một chức danh Tư pháp – Hộ tịch. Cũng chính vì phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, nên công chức Tư pháp – Hộ tịch không có thời gian đầu tư cho việc nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như cập nhật kịp thời những văn bản mới; cũng từ nguyên nhân này mà đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch không được chuyên nghiệp. Mặt khác, công chức Tư pháp – Hộ tịch là vị trí dễ bị thay đổi theo nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân nên chuyên môn bị hạn chế do không được bồi dưỡng nghiệp vụ kịp thời. Đây chính là nguyên nhân làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch.

Cũng như công chức Tư pháp – Hộ tịch, các cán bộ Lãnh sự làm công tác hộ tịch tại các Cơ quan đại diện cũng không ổn định (do được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ), nên phần nào hạn chế đến công tác chuyên môn, trong khi nghiệp vụ về hộ tịch, quốc tịch đòi hỏi phải chuyên sâu, điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng công việc.

Thứ tư, việc phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch chưa triệt để (vẫn còn nhiều cấp có thẩm quyền đăng ký hộ tịch); việc quy định về ghi sổ và cấp giấy tờ hộ tịch chưa khoa học (không có sổ hộ tịch chung và cũng không có một loại giấy tờ hộ tịch chung cấp cho cá nhân trong đó tích hợp mọi thông tin về hộ tịch của cá nhân).

Thứ năm, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính chưa gắn với đặc thù của công việc hộ tịch.

Thứ sáu, chưa ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Chưa có cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử kết nối giữa các cơ quan hộ tịch ở trong nước với nhau, cũng như với các Cơ quan đại diện để chia sẻ và kết nối thông tin phục vụ cho việc tra cứu, xác minh thông tin về hộ tịch của cá nhân là nguyên nhân gây tốn kém về kinh phí, không bảo đảm độ chính xác về thông tin, kéo dài thời hạn giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân Việt Nam.

Thứ bảy, quá tải về công việc, chưa có cơ chế chính sách phù hợp cho những chị em phụ nữ nông thôn là những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thực hiện yêu cầu quản lý Nhà nước về hộ tịch cũng như giải quyết đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài ở Sở Tư pháp. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

Hiện tại, trung bình mỗi Phòng Hành chính Tư pháp thuộc Sở Tư pháp chỉ có từ 3 – 4 công chức; trong khi đó chức năng của phòng là giúp Giám đốc Sở Tư pháp quản lý nhiều mảng công việc khác nhau như: hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp, chứng thực, bồi thường Nhà nước…; để làm tốt nhiệm vụ quản lý, thì riêng các việc thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tuyên tuyền, kiểm tra… đối với từng lĩnh vực đã chiếm khá nhiều thời gian, trong khi đó còn phải đảm nhiệm yêu cầu trực tiếp giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nên đã xao nhãng nhiệm vụ quản lý (khi cơ sở vướng mắc không chỉ đạo mà chuyển hồ sơ lên xin ý kiến Bộ Tư pháp, cũng vì tập trung giải quyết những vụ việc cụ thể mà Bộ Tư pháp không tập trung, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô như việc xây dựng và hoàn thiện thể chế…). Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn thể (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…) chưa phát huy được vai trò của mình trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của chị em, nên vẫn còn nhiều chị em mong muốn lấy chồng nước ngoài để được “đổi đời”. Ủy ban nhân dân các cấp chưa có chương trình, chính sách xã hội cụ thể trong việc tạo công ăn, việc làm, thu nhập ổn định để chị em yên tâm với cuộc sống hiện tại cũng là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng số lượng chị em kết hôn với công dân nước ngoài.

Tiểu kết chương 2

Pháp luật về dân sự đã quy định cụ thể về quyền khai sinh khai tử, cụ thể là quy định về điều kiện khai sinh khai tử, thẩm quyền, thủ tục khai sinh khai tử và các trường hợp đặc biệt trong hoạt động khai sinh khai tử nói chung. Trên thực tiễn, các chủ thể cũng thực hiện rất tốt quyền khai sinh, khai tử, tuy nhiên, vẫn còn một số vướng mắc không đáng kể trong hoạt động khai sinh, khai tử, tuy nhiên, vẫn cần phải được khắc phục để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về khai sinh khai tử. Trong hoạt động công chứng, hoạt động khai sinh, khai tử có ảnh hưởng không nhỏ đến các giao dịch trong hoạt động công chứng, trong nhiều trường hợp, nếu không có giấy khai sinh, hoạt động công chứng không thể thực hiện được. Từ những quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về khai sinh khai tử trong hoạt động công chứng, chương 2 đã rút ra nhận xét về hạn chế và nguyên nhân của khai sinh khai tử trong hoạt động công chứng, làm cơ sở nền tảng cho những giải pháp và kiến nghị ở chương 3. Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng

One thought on “Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng

  1. Pingback: Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464