Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh hiện nay, để đánh giá một quốc gia là tiến bộ và phát triển người ta thường dùng thước đo đó là sự đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Quyền con người rất đa dạng và được đảm bảo thực hiện bằng nhiều ngành luật khác nhau, trong đó luật dân sự là một ngành luật đặc biệt quan trọng. Các quyền dân sự của cá nhân được ghi nhận và bảo vệ ở hai nhóm chính là quyền tài sản và quyền nhân thân. Quyền nhân thân là nhóm quyền cơ bản và quan trọng của công dân trong quan hệ dân sự. Các quyền nhân thân của cá nhân không phải là vấn đề mới mẻ trong pháp luật cũng như trong lĩnh vực nghiên cứu. Song cùng với sự phát triển của cuộc sống và khoa học kỹ thuật hiện đại ngày càng có nhiều quyền của con người đòi hỏi phải có sự ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật dân sự nhằm đảm bảo tốt nhất các quyền con người. BLDS năm 2015 ra đời đã ghi nhận trong đó rất nhiều những sửa đổi, bổ sung quan trọng, đặc biệt là phần quy định về các quyền nhân thân.
Quyền nhân thân là quyền cơ bản nhất của mỗi con người và được BLDS năm 2015 quy định tại mục 2 Chương III. Trong đó quyền khai sinh, khai tử là một trong những quyền nhân thân quan trọng nhất và được quy định tại Điều 30 BLDS năm 2015. Quyền khai sinh là quyền đầu tiên được ghi nhận trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, quyền khai sinh được ghi nhận tại Điều 7 của công ước này và được quy định tại Điều 13 Luật Trẻ em năm 2016. Với việc quyền khai sinh được ghi nhận trong một văn bản có tầm cỡ quốc tế có ý nghĩa rất lớn bởi vì chỉ sau khi thực hiện quyền khai sinh, các quyền khác như quyền có họ tên, quốc tịch và những quyền khác mới được thiết lập và thực hiện. Bên cạnh đó, pháp luật dân sự quy định cá nhân, tổ chức có quyền đăng ký khai sinh, khai tử đồng thời cũng là nghĩa vụ của họ phải thực hiện việc đăng ký khi có các sự kiện này xảy ra. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Hiện nay trong hoạt động công chứng, chứng thực, viêc đăng ký khai sinh, khai tử trong thực tế còn một số bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như việc tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ trong việc đăng ký khai sinh, khai tử khi có các sự kiện trên xảy ra. Đặc biệt là ở các vùng có đời sống kinh tế khó khăn, nhận thức của con người còn chưa cao thì việc thực thi quyền khai sinh, khai tử gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc.
Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại và phát sinh một số trường hợp chưa hoặc chậm đăng ký khai sinh, khai tử khi có sự kiện hộ tịch này xảy ra. Việc giải quyết các sự kiện hộ tịch còn tồn tại do lịch sử để lại và một số mới phát sinh còn gặp khó khăn, vướng mắc. Một trong những khó khăn của việc đăng ký khai sinh, khai tử muộn là do người dân còn chưa coi trọng công tác này thậm chí một số cán bộ tư pháp – hộ tịch có nhiệm vụ thực hiện việc đăng ký vẫn chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác này.
Với mong muốn tìm hiểu các quy định của BLDS về quyền khai sinh, khai tử và áp dụng các quy định này vào thực hiễn để giải quyết tình trạng đăng ký khai sinh, khai tử cho đúng các quy định của pháp luật tôi chọn đề tài “Bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng” để làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền khai sinh, khai tử là một trong số các quyền nhân thân đã được quy định tại BLDS năm 1995, năm 2005 và BLDS năm 2015. Do tính chất là quyền quan trọng nên đã có nhiều tác giả đã có những nghiên cứu về quyền nhân thân trong đó có quyền khai sinh, khai tử ở các khía cạnh khác nhau như sau: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Bộ Tư pháp: “Một số vấn đề về quyền dân sự và bảo vệ quyền dân sự trong BLDS Việt Nam”; Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối cao với đề tài: “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS”.
Điểm chung của các công trình nghiên cứu này là công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung chứ chưa đưa ra được phương hướng giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân ở những trường hợp cụ thể – trong khi đó mỗi quyền nhân thân lại có những đặc thù riêng.
- Bên cạnh đó, có các nghiên cứu khác như:
Nguyễn Thị Thùy Trang (2013), Quyền khai sinh, khai tử theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quyền khai sinh, khai tử trên địa bàn Huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật -Đại học Quốc gia Hà Nội; Phạm Văn Chung, Đăng ký khai sinh cho trẻ em bị mẹ bỏ rơi, nhưng xác định được cha đẻ, Dân chủ và Pháp luật, Số 8/2009, tr. 49; Sở Tư pháp Đà Nẵng, Đăng ký khai sinh cho trẻ em bị ảnh hưởng của chất độc da cam, trẻ lang thang mồ côi tại thành phố Đà Nẵng, Dân chủ và Pháp luật. Số chuyên đề 3/2008, tr. 9 – 11; Lương Thị Lanh, Quyền được đăng ký khai sinh của trẻ em cần được pháp luật quy định rõ và thống nhất, Dân chủ và Pháp luật. Số chuyên đề 12/2004, tr. 14 – 16; Nguyễn Quốc Sử, Thời gian đăng ký khai tử – Bao lâu là phù hợp?, Dân chủ và Pháp luật, Số 4/2011, tr. 57.
Tuy nhiên, những nghiên cứu nói trên vẫn có một số vấn đề chưa khai thác hoặc chưa khai thác hết hầu như chỉ dừng lại ở việc xem xét, đánh giá các quy định của pháp luật mà chưa có sự đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong việc thực hiện quyền khai sinh, khai tử trên địa bàn cả nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đề tài nghiên cứu “Bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng” của luận văn nhằm đạt được các mục đích nghiên cứu sau:
- Làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền khai sinh, khai tử;
- Phân tích các nội dung của quy định pháp luật Việt Nam về quyền khai sinh, khai tử và nêu ra các ưu điểm và hạn chế của quy định hiện hành về quyền khai sinh, khai tử trong BLDS năm 2015;
- Tập trung nghiên cứu, đánh giá tổng quát thực tiễn áp dụng quy định về quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng những năm gần đây ở Việt Nam;
Đưa ra những giải pháp giải quyết những tồn tại, vướng mắc trong hoạt động thực tiễn đồng thời làm tài liệu tham khảo cho cấp cơ sở xã, phường thị trấn, Phòng tư pháp huyện và Phòng công chứng để áp dụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Nhiệm vụ của luận văn là làm rõ khái niệm, tính chất, mục đích, ý nghĩa của quyền khai sinh, khai tử trong pháp luật dân sự Việt Nam, tập trung nhất vào quy định hiện hành, đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật về quyền khai sinh, khai tử qua các giai đoạn phát triển, đánh giá thông qua thực tiễn áp dụng ở Việt Nam.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài tác giả mong muốn đưa ra một số giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung những quy định cụ thể trong việc áp dụng quy định về quyền khai sinh, khai tử trên thực tế hoạt động công chứng, chứng thực nhằm phát huy triệt để nhất quy định về quyền khai sinh, khai tử.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên việc bảo đảm quyền đăng ký khai sinh, khai tử tại các Ủy ban nhân dân, văn phòng công chứng ở xã, thị trấn trên địa bàn cả nước. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình thực tiễn bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng. Thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong lĩnh vực này trên ở Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, tôi dựa vào phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với việc sử dụng các phương pháp như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh, đối chiếu. Qua đó, rút ra những kết luận, đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện chế độ cả về mặt lí luận và thực tiễn áp dụng.
6. Những đóng góp và ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu mới về việc thực thi quyền khai sinh, khai tử theo quy định của pháp luật hiện hành ở nước ta trong giai đoạn BLDS năm 2015 vừa mới có hiệu lực. Luận văn còn góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong việc thực thi quyền khai sinh, khai tử, làm phong phú thêm những vấn đề lý luận trong lĩnh vực này.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp thực thi quyền khai sinh, khai tử.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người trực tiếp làm công tác đăng ký khai sinh, khai tử tại các cơ quan cấp xã, phường, thị trấn, Phòng tư pháp và các Phòng công chứng.
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật trong việc thực thi quyền khai sinh, khai tử theo yêu cầu của công dân.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động áp dụng pháp luật trong việc thực thi quyền của công dân ở nước ta và đề ra những giải pháp nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong việc thực thi quyền khai sinh, khai tử đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về quyền khai sinh, khai tử.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền khai sinh, khai tử và thực trạng bảo đảm trong hoạt động công chứng.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền khai sinh, khai tử.
Chương 1: Khái quát chung về quyền khai sinh, khai tử
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và vai trò của quyền nhân thân
1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân
Quyền nhân thân là một quyền dân sự của cá nhân, liên quan mật thiết đến quyền con người. Tiếp cận quyền nhân thân không thể không tiếp cận đến quyền dân sự, quyền con người. Quyền nhân thân là một loại quyền dân sự đặc biệt, có thể nói là một loại quyền dân sự gắn với mỗi chủ thể từ khi chủ thể đó hình thành cho đến khi chấm dứt, không còn tồn tại. Xã hội phát triển làm cho các quan hệ xã hội trở nên phức tạp, đa dạng và biến hóa hơn, đồng thời do nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, duy trì cuộc sống xã hội dần hình thành nhiều các chủ thể với các hình thức tổ chức khác nhau. Cá nhân là chủ thể chủ yếu, trung tâm trong mọi quan hệ xã hội, tuy nhiên xã hội cũng đã hình thành và pháp luật đã công nhận nhiều loại chủ thể khác. Pháp luật dân sự quy định các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự gồm: cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quyền nhân thân là một loại quyền con người, tuy nhiên quyền nhân thân không chỉ gắn với con người với tư cách là cá nhân trong các quan hệ pháp luật dân sự.
- Trong Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp định nghĩa về quyền nhân thân là:
Quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quyền nhân thân bao gồm: quyền có họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín; quyền đối với bí mật đời tư; quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền có quốc tịch; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, cư trú; quyền lao động; quyền tự do sáng tạo, quyền tác giả đối với tác phẩm; quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp [31, tr. 653].
Theo quy định của BLDS năm 2015, quyền nhân thân được quy định như sau:
Điều 25. Quyền nhân thân Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
- Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
- Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. [4, Điều 25]
Một quan điểm khác khi xây dựng khái niệm về quyền nhân thân: quan điểm của TS. Lê Đình Nghị trong luận án tiến sĩ Luật học Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam (năm 2008), tác giả đã xây dựng khái niệm về quyền nhân thân trên hai phương diện khách quan và chủ quan. Nghĩa khách quan: “Quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình” [21]. Theo nghĩa chủ quan, tác giả cho rằng “quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” [21]. Có thể thấy tác giả đồng tình với quan điểm của nhà làm luật khi xây dựng khái niệm về quyền nhân thân.
Từ những lập luận và phân tích trên, tác giả xin đưa khái niệm về quyền nhân thân như sau: Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.1.2. Đặc điểm của quyền nhân thân Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với cá nhân mà không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Quyền nhân thân có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quyền nhân thân là một quyền dân sự và là một quyền dân sự đặc biệt. Con người là nhân vật trung tâm của xã hội và luôn là đối tượng hướng tới của các cuộc cách mạng tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người. Dưới góc độ pháp luật dân sự thì cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên, quan trọng và phổ biến của quan hệ dân sự. Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân. Sở dĩ nói quyền nhân thân là quyền dân sự đặc biệt và các quyền này gần như chỉ thuộc về cá nhân, trong khi đó các quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình). Bên cạnh các quyền nhân thân được BLDS quy định thuộc về cá nhân, có trường hợp ngoại lệ đặc biệt quyền nhân thân có thể thuộc về pháp nhân
Thứ hai, mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân: Mọi người đều có quyền nhân thân kể từ khi họ được sinh ra, không phân biệt giới tính, tôn giáo, thành phần giai cấp… Chúng ta thấy quyền nhân thân có một sự khác biệt cơ bản với quyền tài sản vì quyền bình đẳng về mặt dân sự không quy định tất cả mọi người đều có khả năng hưởng những quyền như nhau. Nguyên tắc bình đẳng về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều có những quyền như nhau, đó không phải là một khả năng trừu tượng mà là một thực tế. Lợi ích của quyền nhân thân được quy định như một thực tế chứ không phải là quy định mang tính hình thức.
Thứ ba, quyền nhân thân có tính chất phi tài sản. Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi. Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền. Về mặt pháp lý, chúng ta cần phân định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân. Sáng chế hay giải pháp hữu ích do con người sáng tạo nên mang giá trị kinh tế, chứ bản thân “Quyền tự do sáng tạo” không phải là tài sản, không mang giá trị kinh tế.
Thứ tư, quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác. Các quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng là do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội nhất định. Do vậy về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân. Pháp luật dân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân là một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận. Việc pháp luật quy định cho cá nhân có các quyền nhân thân khác nhau là dựa vào các điều kiện kinh tế – xã hội. Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị xã hội… mà quyền nhân thân của cá nhân được quy định một cách khác nhau. Quyền nhân thân do Nhà nước “trang bị” cho cá nhân, Nhà nước không cho phép bất cứ cá nhân nào làm thay đổi hay chấm dứt quyền đó.
1.1.3. Vai trò của quyền nhân thân
Thứ nhất, quyền nhân thân là đối tượng được giải quyết dưới nhiều góc độ: triết học, chính trị học, sử học, văn học, luật học… BLDS quy định các quyền nhân thân là sự khẳng định của Nhà nước trong việc tôn vinh và bảo vệ các giá trị tinh thần của con người. Dưới góc độ khoa học pháp lý, việc ghi nhận các quyền nhân thân đánh dấu sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật ở mức độ cao. Con người là mục tiêu của mọi cuộc cách mạng, sự ghi nhận các quyền của cá nhân, trong đó có quyền nhân thân trong một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao của Nhà nước ta thể hiện tính ưu việt của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền của con người. Xã hội ngày càng phát triển, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều thay đổi theo hướng tích cực thì các giá trị tinh thần của con người càng được chú trọng. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc ghi nhận các quyền nhân thân một lần nữa khẳng định bản chất của Nhà nước ta – đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Qua việc quy định các quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật, một lần nữa chúng ta lại thấy rằng một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu, và do đó các quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn cùng với những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả.
Thứ hai, các quy định về quyền nhân thân của cá nhân trong hệ thống pháp luật là cơ sở để cá nhân thực hiện các quyền của mình. Ghi nhận các quyền nhân thân của cá nhân trong hệ thống pháp luật là sự đảm bảo của Nhà nước trong việc tôn vinh các giá trị của con người. Tuy nhiên, đây cũng là sự thể hiện quan hệ giữa Nhà nước với công dân, theo đó Nhà nước đảm bảo quyền cho cá nhân và cá nhân sẽ thực hiện quyền do Nhà nước ghi nhận.
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đầy đủ cùng với hệ thống các cơ quan thực thi sẽ tạo điều kiện cho cá nhân thực hiện các quyền của mình. Bằng sự khẳng định quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác trừ trường hợp pháp luật có quy định… pháp luật đã thực hiện việc đảm bảo quyền dân sự cho chính cá nhân chứ không phải đảm bảo cho chủ thể khác. Sự khẳng định này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực dân sự mà còn có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Thứ ba, các quy định về quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi các quyền, lợi ích đó bị xâm phạm.
Pháp luật là công cụ hữu hiệu để quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Các quy định của pháp luật về quyền nhân thân chính là những cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của cá nhân khi các quyền nhân thân bị xâm phạm. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Ngoài việc quy định nội dung các quyền nhân thân, các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi quyền nhân thân bị xâm phạm, các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân cũng được pháp luật chú trọng.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, các quy định về quyền nhân thân nói riêng luôn được Nhà nước ta quan tâm. Trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, một loạt các quy định về quyền nhân thân được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện xã hội mới.
Ở nước ta, trước đây các quyền nhân thân được pháp luật quy định chưa nhiều. Trong cuộc sống hàng ngày, tên họ, hình ảnh, bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm uy tín… của cá nhân dễ bị xâm phạm với nhiều động cơ, mục đích khác nhau, thậm chí người xâm phạm cũng không có động cơ và nhằm mục đích nào.
Những năm gần đây, cùng với những thành quả của công cuộc đổi mới, sự ra đời của BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 nhiều quyền nhân thân của công dân đã được Nhà nước ghi nhận và thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ. Chẳng hạn họ tên, hình ảnh (bao gồm ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh do quay phim, tượng), bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm, uy tín… của cá nhân đã được pháp luật quy định ở nhiều văn bản pháp luật với các hình thức bảo vệ cụ thể.
Nhiều vụ án đã được tòa án thụ lý xét xử, buộc người vi phạm dù là cá nhân hay tổ chức đều phải có nghĩa vụ xin lỗi và bồi thường bằng tiền cho người bị xâm phạm. Các cơ quan nhà nước tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, truy tố, xét xử) gây oan; các cơ quan thông tấn, báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc cá nhân, tổ chức đạo văn, đạo nhạc, xâm phạm bản quyền, tự ý sử dụng họ tên, hình ảnh của công dân trên các mẫu quảng cáo, in lịch mà không hỏi ý kiến và không được sự đồng ý của người đó hoặc thân nhân của họ (nếu họ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự) đã phải chịu trách nhiệm về hành vi xâm phạm của mình. Qua đây, chúng ta thấy được các quy định về quyền nhân thân cùng các biện pháp bảo vệ các quyền đó đã phát huy tính tích cực trong việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân.
Thứ tư, các quy định về quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật ngoài sự thể hiện quan điểm của Nhà nước ta trong việc ghi nhận và bảo vệ các quyền của cá nhân còn có tác dụng tích cực trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, các quy định về quyền nhân thân của Nhà nước ta không những thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với quyền con người, khẳng định vị trí và vai trò của cá nhân trong xã hội, bảo đảm cho cá nhân thực hiện các quyền của mình mà còn là công cụ hữu hiệu để chống lại các quan điểm phản động của các thế lực thù địch khi chúng xuyên tạc các quy định liên quan đến quyền con người nói chung, quyền nhân thân nói riêng của Nhà nước ta.
Thứ năm, các quy định về quyền nhân thân ngoài ý nghĩa đảm bảo các quyền của cá nhân được thừa nhận và bảo vệ còn thể hiện sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật của cá nhân. Sự bình đẳng của cá nhân không chỉ thể hiện ở các quy định về quyền nhân thân của cá nhân mà còn thể hiện trong việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền này, theo đó bất cứ ai có hành vi xâm phạm quyền nhân thân cũng phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
1.2. Khái niệm, ý nghĩa của quyền khai sinh, khai tử Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
1.2.1. Khái niệm quyền khai sinh, khai tử
Quyền khai sinh, khai tử là một trong các quyền nhân thân của cá nhân. Quyền khai sinh, khai tử là quyền cơ bản của con người. Trong hệ thống các quyền con người, quyền khai sinh, khai tử nằm trong nhóm quyền dân sự, chính trị và là một trong các quyền nhân thân của cá nhân.
Quyền khai tử: khai tử trước hết là hành động có sự chủ động của các chủ thể để nhằm khai báo với cơ quan nhà nước một sự kiện pháp lý phát sinh.
Trong Tiếng Việt, từ “Khai” mang rất nhiều ý nghĩa: “Khai” trong “Khai sinh” và “Khai tử” được lấy từ “Khai” trong “Khai báo” mang ý nghĩa là hoạt động nói hay viết cho một cơ quan, tổ chức nào đó hoặc theo yêu cầu của một cơ quan, tổ chức nào đó để cho biết rõ điều cần biết về mình hoặc những điều mình biết. Tuy nhiên, với từ “Khai” trong “Khai sinh” còn có thể hiểu thêm theo nghĩa bắt đầu hay đầu tiên của sự việc.
- Theo Từ điển luật học, Thuật ngữ “khai sinh” được hiểu như sau:
Khai sinh là việc khai báo và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận một cá nhân được sinh ra; là một trong những sự kiện hộ tịch để xác định cá nhân là thực thể của tự nhiên, của xã hội.
Mọi người khi sinh ra đều có quyền được khai sinh. Cha, mẹ hoặc người thân thích có nghĩa vụ khai sinh cho trẻ sơ sinh theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Giấy khai sinh là một chứng thư hộ tịch quan trọng ghi rõ họ, tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, họ tên cha, mẹ người được khai sinh nhằm xác định rõ nguồn gốc của một cá nhân cụ thể và để phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác trong trường hợp cần thiết. [31, tr.412]
- Bên cạnh đó, Từ điển Luật học còn định nghĩa về việc “đăng ký khai sinh” như sau:
“Đăng ký sự kiện sinh cho đứa trẻ mới được sinh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký khai sinh là Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi người mẹ có hộ khẩu thường trú hoặc nơi đứa trẻ sinh ra. Trường hợp đặc biệt có thể đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người mẹ đăng ký tạm trú” [31, tr. 232]
Cũng theo Từ điển Luật học nói trên, khái niệm khai tử được đồng nhất với khái niệm đăng ký khai tử, theo đó, “đăng ký khai tử” được hiểu như sau: Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Đăng ký khai tử là thủ tục pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định sự kiện chết của một con người và xác định sự chấm dứt các quan hệ pháp luật của người đó, đồng thời, là phương tiện để Nhà nước theo dõi biến động dân số của mình.
Cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai tử là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết thực hiện việc đăng ký khai tử. [31, tr. 232]
Quyền khai sinh, quyền khai tử đã được quy định trong BLDS của nhiều nước trong đó có BLDS Cộng hòa Pháp năm 1919, cụ thể tại Điều 55 BLDS Cộng hòa Pháp năm 1919 quy định:
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày sinh trẻ, việc khai sinh cho trẻ phải được thực hiện trước viên chức hộ tịch tại nơi trẻ sinh ra. Trong trường hợp trẻ sinh ra không được khai sinh trong thời hạn pháp luật quy định, thì viên chức hộ tịch chỉ có thể ghi việc sinh vào sổ hộ tịch khi có bản án, quyết định của Tòa án quận nơi trẻ sinh ra, nhưng phải ghi chú tóm tắt vào lề của trang tương ứng với ngày sinh. Nếu không xác định được nơi sinh của trẻ thì Tòa án có thẩm quyền sẽ là Tòa án nơi cư trú của người yêu cầu khai sinh [25].
Điều 78 BLDS Pháp năm 1924 quy định: “Khi một người chết, giấy chứng tử do viên chức hộ tịch của xã nơi người đó chết lập theo lời khai của thân nhân người chết hoặc theo lời khai của người biết được những thông tin chính xác và đầy đủ nhất về hộ tịch của người chết” [25].
Sau khi Liên hợp quốc ra đời, quyền khai sinh, khai tử trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Quyền khai sinh, khai tử được ghi nhận trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 và nhiều công ước khác của Liên hợp quốc. Khoản 2 Điều 24 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: “Mọi trẻ em đều phải được đăng ký khai sinh ngay sau khi ra đời và phải có tên gọi” [8].
Bên cạnh những quy định trong các công ước mang tính toàn cầu, áp dụng cho mọi đối tượng không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc….., một số công ước quốc tế của Liên hợp quốc điều chỉnh những quan hệ trong từng lĩnh vực, đối với từng đối tượng cụ thể cũng đề cập đến việc ghi nhận và bảo vệ quyền khai sinh, quyền khai tử là một bộ phận không thể thiếu của quyền con người. Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định tại Điều 7: “1. Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời, và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc” [9]. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Ở Việt Nam hiện nay ngoài những quy định có tính nguyên tắc liên quan đến đăng ký khai sinh, khai tử tại BLDS năm 2015 (quy định về quyền nhân thân), Luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 (quy định về quyền được đăng ký khai sinh và có quốc tịch), còn có nhiều nghị định, thông tư liên tịch và thông tư điều chỉnh trực tiếp trong lĩnh vực hộ tịch. Cho đến nay, mặc dù Nhà nước ta chưa có một đạo luật riêng về hộ tịch nhưng hệ thống pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực hộ tịch (kể cả văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch trong nước và hộ tịch có yếu tố nước ngoài) trong đó có quy định về khai sinh, khai tử đã ngày càng được tăng cường và đã phát huy hiệu quả, góp phần tích cực cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.
- BLDS năm 2015 quy định quyền khai sinh, khai tử đã được quy định nằm trong quyền nhân thân cụ thể:
Điều 30. Quyền được khai sinh, khai tử
- Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai
- Cá nhân chết phải được khai tử.
- Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.
- Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định.[4, Điều 15]
Được khai sinh, khai tử là quyền chủ động, mà người đem lại quyền đó là cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, người giám hộ, người đang nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi. Khai sinh là hành vi pháp lý của cha mẹ và người đại diện cho chính quyền (Chủ tịch xã) xác nhận sự kiện sinh ra một công dân mới cho Nhà nước. Khai sinh, khai tử có ý nghĩa quan trọng như sau:
Việc đăng ký và quản lý khai sinh, khai tử nhằm theo dõi sự biến động dân số tại địa phương, bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình cũng như chính sách, chế độ của mỗi cá nhân. Hơn nữa, việc đăng ký và quản lý khai sinh, khai tử còn làm cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế và an sinh xã hội, dân số, an ninh quốc phòng.
Có thể thấy vị trí của quyền khai sinh, quyền khai tử có mối liên quan mật thiết với các quyền nhân thân khác được quy định trong BLDS. Mối liên quan giữa quyền khai sinh, khai tử với các quyền nhân thân khác được thể hiện ở chỗ quyền khai sinh, khai tử vừa có ảnh hưởng trực tiếp đối với các quyền nhân thân khác, khi thực hiện các quyền nhân thân khác thì trong nội dung của các quyền này cũng chịu ảnh hưởng của việc thực hiện nội dung của quyền khai sinh, khai tử.
1.2.2. Sự tác động và ảnh hưởng của quyền khai sinh, khai tử tới các quyền nhân thân khác
Có thể khẳng định rằng quyền khai sinh, khai tử ảnh hưởng trực tiếp, có mối liên quan đến việc thực hiện một số quyền nhân thân. Trong việc thực hiện nội dung các quyền nhân thân, quyền khai sinh, quyền khai tử có thể được dẫn chiếu để khẳng định quyền của chủ thể. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Quyền của cá nhân đối với họ, tên là quyền nhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa được BLDS quy định. Trong các quyền nhân thân thì quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân thể hiện rất rõ đặc trưng của luật Dân sự. Khi tham gia quan hệ mỗi cá nhân độc lập với nhau và độc lập với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật. Việc phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt cá nhân với chủ thể khác của quan hệ pháp luật không những có ý nghĩa trong việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể mà còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng.
Mỗi cá nhân sinh ra đều có tên gọi của mình do bố mẹ hoặc ai đó đặt cho để phân biệt cá nhân đó với những cá nhân khác và đó là quyền của mỗi cá nhân. Trên thực tế thì quyền này mặc nhiên là có để mỗi cá nhân có thể phân biệt nhau. Có nhiều dấu hiệu để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác nhưng có lẽ tên gọi là dấu hiệu đầu tiên để cá biệt hóa cá nhân. Mặc dù một người có thể có nhiều tên gọi khác nhau như tên khai sinh, tên thường gọi, biệt hiệu, bí danh… Họ tên không chỉ đơn thuần là yếu tố về mặt nhân thân mà nó còn là yếu tố pháp lý quan trọng để cá nhân xác lập thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý nhân danh chính mình. Do vậy, họ tên của một người cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận bằng việc cấp giấy khai sinh cho một người. Khi cá nhân tham gia quan hệ pháp luật, mỗi cá nhân chỉ được công nhận mang một tên riêng để phân biệt với những cá nhân khác. Đó là tên của người đó được ghi trong giấy khai sinh. Quyền đối với họ tên là quyền nhân thân của cá nhân, cá nhân có quyền này kể từ khi sinh ra. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này lại không do chính họ thực hiện mà lại hoàn toàn phụ thuộc vào người có trách nhiệm đi khai sinh. Như vậy, để thực hiện quyền có họ, tên thì cá nhân đó phải được đăng ký khai sinh và như vậy đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền được khai sinh.
Quyền kết hôn là quyền nhân thân được BLDS quy định, ngoài ra trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng ghi nhận nguyên tắc này và cụ thể hóa trong các quy định có liên quan về điều kiện đăng ký kết hôn. Hai bên nam, nữ phải đủ điều kiện do luật quy định mới được cơ quan Nhà nước thực hiện đăng ký kết hôn mà một trong những điều kiện Luật Hôn nhân gia đình quy định về độ tuổi kết hôn. Do vậy, giấy khai sinh là một trong những giấy tờ để làm cơ sở đối chiếu để thực hiện việc đăng ký kết hôn.
BLDS ghi nhận quyền của cá nhân đối với việc thay đổi họ, tên. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên của mình hoặc theo yêu cầu của những người do pháp luật quy định nếu đáp ứng đủ các yêu cầu về điều kiện. Tuy nhiên họ, tên cần thay đổi là họ, tên đã được đăng ký khai sinh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu tên đó chưa được đăng ký khai sinh thì không thể thực hiện yêu cầu thay đổi. Do vậy, để thực hiện yêu cầu thay đổi họ, tên thì người thay đổi họ, tên đó buộc phải có tên khai sinh và giấy khai sinh là giấy tờ buộc phải có khi thực hiện việc thay đổi họ, tên.
Theo quy định về quản lý hộ khẩu thì muốn xóa tên một người đã chết trong sổ hộ khẩu gia đình, chủ quản lý hộ khẩu phải căn cứ vào giấy chứng tử của chính quyền xã và đây là quy định không thể thiếu trong thủ tục này.
Tóm lại, quyền khai sinh, khai tử là một loại quyền nhân thân nằm trong nhóm các quyền nhân thân có liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân, thể hiện sự công nhận của Nhà nước đối với các giá trị tinh thần của cá nhân. Tuy nhiên, trong mối liên quan với các quyền nhân thân khác thì quyền khai sinh, khai tử lại ảnh hưởng trực tiếp, tác động qua lại với các quyền nhân thân này. Đây chính là biểu hiện của sự thống nhất trong các quy định của pháp luật về quyền nhân thân của cá nhân nói riêng và quyền dân sự của cá nhân nói chung. Việc xác định rõ mối liên hệ giữa quyền nhân thân với quyền khai sinh, khai tử có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo thực hiện quyền của cá nhân đối với các quyền nhân thân của mình được pháp luật thừa nhận. Ngoài ra đây cũng chính là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ chế thích hợp trong việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân.
1.3. Nội dung cơ bản của quyền khai sinh khai tử Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Nội dung quyền khai sinh, khai tử được quy định trong BLDS năm 2015 và Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Thứ nhất, về nội dung quyền khai sinh:
Quyền khai sinh khai tử gồm có các quyền sau:
Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh. 2. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu. 3. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định.
Quyền được khai sinh là quyền cơ bản của mỗi con người và được quy định theo Luật Hộ tịch năm 2014.
Thời điểm bắt đầu được phép khai sinh cho đứa trẻ. Văn bản thể hiện sự kiện hộ tịch khai sinh là Giấy khai sinh. Giấy khai sinh là giấy tờ tùy thân sớm nhất của một cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để xác nhận pháp lý về sự hiện diện của cá nhân đó và chứng nhận sự sinh ra của một cá nhân. Giấy khai sinh thường có ghi về họ, tên, chữ đệm, thông tin về ngày, tháng, năm sinh, thông tin về giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán thông tin về quan hệ cha, mẹ, con hoặc các thông tin cơ bản khác tùy theo quy định đặc thù của từng quốc gia. Giấy khai sinh là giấy tờ tùy thân có giá trị suốt cuộc đời và từ khi có giấy khai sinh thì cá nhân có đầy đủ quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định.
Việc khai sinh giúp các cơ quan nhà nước quản lý về các vấn đề liên quan tới dân số.
Thứ hai, về nội dung quyền khai tử: cá nhân chết phải được khai tử trong những trường hợp sau:
- Trường hợp cá nhân chết
- Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu
- Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Văn bản thể hiện sự kiện hộ tịch Khai tử là Giấy Khai tử. Giấy khai tử được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho gia đình người đã mất xác nhận tình trạng của người chết. Giấy chứng tử về mặt pháp lý là căn cứ rõ ràng nhất xác định thời điểm chết của người được khai tử – căn cứ để xác định thời điểm mở thừa kế, diện thừa kế, di sản thừa kế.
Việc khai tử giúp các cơ quan nhà nước quản lý về các vấn đề liên quan tới dân số.
Về thời gian khai sinh khai tử cho trẻ sơ sinh. Tuy nhiên tại cuối khoản 3 có quy định “nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu”. Bất kì cá nhân nào sinh ra đều có quyền được khai sinh và khai sinh là sự cộng nhận về sự tồn tại, về quyền, về nghĩa vụ cho các cá nhân đó. Việc pháp luật, không yêu cầu khai sinh với những đứa trẻ sống dưới hai bốn giờ nhưng bố mẹ đẻ có quyền yêu cầu khai sinh thực sự rất nhân văn. Trong lúc tang gia đau buồn, đó là sự công nhận về sự tồn tại của đứa con đối với người cha người mẹ, đó cũng là sự xoa dịu nỗi đau của họ và là lời chia buồn đối với đứa trẻ xấu số.
1.4. Quá trình phát triển của quyền khai sinh, khai tử theo pháp luật Việt Nam
1.4.1. Quyền khai sinh, khai tử trong giai đoạn trước năm 1975
Trong giai đoạn này giai đoạn chiến tranh, chia cắt đất nước, việc quản lý nhân thân con người trong giai đoạn này vừa phải đáp ứng được yêu cầu của đời sống xã hội; vừa phải đảm bảo phục vụ nhu cầu chiến tranh giải phóng, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội. Có thể nói trong giai đoạn này, các quy định của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thể hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch bằng biện pháp hành chính đơn thuần tập trung ở đầu vào; tức là chỉ tập trung vào các cơ quan hành chính có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch, cơ quan tư pháp (tòa án, kiểm sát) chỉ tham gia khi hậu quả phát sinh và có thể làm chuyển biến, chấm dứt hoặc tái lập một sự kiện hộ tịch phát sinh mới.
Do hoàn cảnh lịch sử, các quy định về thủ tục đăng ký và quản lý hộ tịch thời kỳ này còn quá đơn giản. Quản lý, sử dụng sổ hộ tịch chưa thật rõ ràng. Trong đó, không quy định việc cấp lại bản chính các giấy tờ hộ tịch…
Chế tài hộ tịch hầu như không có, bởi các quy định về chế tài chỉ mang tính nguyên tắc chung, thiếu quy định cụ thể để xác lập các hành vi vi phạm dẫn đến hệ quả người có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch, thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm trái quy định, không được xử lý nghiêm túc; người có trách nhiệm đi đăng ký mà không đăng ký hoặc khai gian dối nhưng không có các biện pháp cần thiết để xử lý, ngoại trừ biện pháp giáo dục thuyết phục.
Nhìn chung, các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam Kỳ vẫn tiếp tục được áp dụng. Việc quản lý, sử dụng sổ hộ tịch được quy định một cách chặt chẽ, gắn liền với trách nhiệm của người có thẩm quyền. Thủ tục quy định cụ thể, rõ ràng có bổ sung qua từng giai đoạn, dù đang trong tình trạng chiến tranh.
Hệ thống tổ chức đăng ký và quản lý hộ tịch được xây dựng ổn định; trong đó có cơ quan hành chính thực hiện đầu vào, cơ quan tư pháp thực hiện tất cả mọi hậu quả phát sinh, đồng thời thực hiện nguyên tắc chế ước giữa các cơ quan này. Về nhân sự, hộ lại (ủy viên hộ tịch) được bố trí ổn định, mang tính chuyên nghiệp lâu bền. Chế tài hộ tịch được dự liệu rất cụ thể, áp dụng cho mọi đối tượng vi phạm, cả bên đi đăng ký cũng như bên thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch. Các biện pháp chế tài như kỷ luật, hành chính, hình sự, dân sự được quy định đầy đủ, nghiêm khắc, nhất là biện pháp xử phạt tiền và truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.4.2. Quyền khai sinh, khai tử trong giai đoạn từ năm 1975 đến trước 2005 Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Sau năm 1975, nước ta chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất để kịp thời thay thế Bản điều lệ hộ tịch năm 1961. Các quy định trước đây về quản lý, sử dụng hồ sơ, sổ hộ tịch chưa được chặt chẽ; các loại biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý. Vấn đề hộ tịch ở miền Nam có thể coi là đặc thù, bởi phần do chiến tranh hủy hoại, phần do chế độ cũ trước khi tan rã cố ý đốt phá, phần do trong chiến tranh cách mạng chủ trương chống phá sự quản lý của chế độ cũ và phần khác do thiên tai, lũ lụt tàn phá, hoặc do không được bảo quản tốt… Những văn bản quy định về đăng ký hộ tịch không bổ sung kịp thời, đầy đủ để chấn chỉnh lại. Bản chính giấy tờ hộ tịch không được cấp lại nhưng trong thực tế các quan hệ thủ tục đều đòi hỏi bản chính để đối chiếu.
Nhận thức về hộ tịch của cán bộ thực hiện, của cơ quan quản lý chưa đầy đủ xem công tác hộ tịch đơn giản như mọi “nghiệp vụ” hành chính khác, chưa thấy hết tính chất đặc thù của công tác hộ tịch. Đối với người dân, do trình độ hạn chế, hoàn cảnh sinh sống… chưa ý thức được việc đăng ký hộ tịch không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi thiết thực của mình.
Về nhân sự cho công tác hộ tịch vẫn chưa có cán bộ chuyên trách; cán bộ thực hiện do nhiều nguyên nhân được điều động một cách tùy nghi theo cảm tính.
Việc phân công, phân cấp đăng ký và quản lý hộ tịch thiếu nhất quán, khi thì ngành này khi thì ngành khác, hoặc khi thì cấp này khi thì cấp khác. Nghị định số 83/1998/NĐ-CP mở ra một bước ngoặt mới cho việc chấn chỉnh công tác hộ tịch; bổ sung và xóa bỏ một bước các thiếu sót và bất hợp lý trên đây. Tuy nhiên, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn còn những hạn chế nhất định, trong đó chưa giải quyết thông thoáng được về thủ tục, phân cấp đăng ký và quản lý, biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý… Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn còn quy định rườm rà và bất hợp lý, trái với Hiến pháp (quyền cơ bản của công dân), trái với một số đạo luật khác (quyền nhân thân: con sinh ra là phải đăng ký khai sinh); Ví dụ tại Điều 19 khoản 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP quy định: “Nếu có đủ các giấy tờ hợp lệ thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp ngay một bản chính giấy khai sinh…”. Lật ngược lại vấn đề nếu không có đủ các giấy tờ hợp lệ, đương nhiên sẽ không được ký và cấp giấy khai sinh, trái với quy định của BLDS năm 1995 về quyền được khai sinh. Nhân sự thực hiện hộ tịch thiếu ổn định, không có chức danh chuyên trách như hộ lại hay ủy viên hộ tịch. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
1.4.3. Quyền khai sinh, khai tử trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay
BLDS năm 2005 ra đời và có hiệu lực đã quy định về quyền khai sinh khai tử tại Điều 29, Điều 30 BLDS năm 2005. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng quy định cụ thể về quyền khai sinh, khai tử. Mỗi cá nhân khi sinh ra thì đã có quyền được sống, đó là quyền con người. Xét ở một góc độ nào đó, dù có đăng ký khai sinh hay không đều không ảnh hưởng đến quyền sống của họ. Nhưng trong một xã hội có tổ chức thì trách nhiệm của Nhà nước là phải bảo đảm cho quyền con người của cá nhân đó được thực thi. Việc đăng ký khai sinh nhằm giúp Nhà nước xác định danh tính cụ thể của cá nhân đó với tư cách là một thực thể, chủ thể trong xã hội, phân biệt với các thực thể, chủ thể khác. Đồng thời, đăng ký khai sinh còn là dấu mốc pháp lý quan trọng, tạo ra cơ sở pháp lý bảo đảm một số quyền nhân thân cơ bản của cá nhân như quyền thay đổi họ tên, quyền có quốc tịch, quyền xác định dân tộc, quyền kết hôn… đã được ghi nhận trong BLDS.
Nghị định số 158/2005NĐ-CP và Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực đã giải quyết cơ bản các vấn đề vướng mắc trên đây.
BLDS năm 2015 ra đời đã ghi nhận nhiều quyền liên quan đến việc khai sinh, khai tử.
BLDS quy định nhiều quyền nhân thân khác nhau. Trong các quyền nhân thân đó, cần phân chia thành các nhóm quyền cụ thể để thấy được sự khác biệt giữa các nhóm quyền này cũng như sự tác động, ảnh hưởng của quyền khai sinh, khai tử với các quyền đó và ngược lại. Trên cơ sở đó, luận văn đã xác định các nhóm quyền nhân thân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các quyền nhân thân liên quan đến việc xác định giá trị của cá nhân trong xã hội, các quyền nhân thân liên quan đến thân thể của con người, các quyền nhân thân liên quan đến sự tự do của cá nhân và các quyền nhân thân liên quan đến hoạt động lao động, hoạt động sáng tạo của con người. Việc phân chia các quyền nhân thân thành những nhóm quyền khác nhau chỉ có ý nghĩa tương đối bởi có quyền nhân thân ở nhóm này nhưng lại có tác động qua lại, ảnh hưởng đến các quyền nhân thân ở nhóm khác. Trong hệ thống các quyền nhân thân do Nhà nước ghi nhận, quyền khai sinh, khai tử có ảnh hưởng (mối liên hệ tác động qua lại) với nhiều các quyền nhân thân khác. Trong một số trường hợp, việc thực hiện nội dung của các quyền nhân thân lại là sự khẳng định quyền khai sinh, khai tử. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Trong xã hội hiện đại, khi mà khái niệm quyền con người đã được nhận thức như một giá trị chung của nhân loại thì hầu như tất cả các quốc gia đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền khai sinh, quyền khai tử và đều khẳng định giá trị của hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử như một phương thức thực hiện một số quyền dân sự cơ bản của con người.
Bảo đảm quyền khai sinh, khai tử là lĩnh vực thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước. Vai trò của hoạt động quản lý, đăng ký khai sinh, khai tử được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau như: là cơ sở để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội; bảo đảm trật tự xã hội… phù hợp với tình hình thực tế như các chính sách về dân số, phân bổ dân cư, chia tách sáp nhập địa giới hành chính, xác định độ tuổi (tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tuổi vào các cấp học, tuổi công tác…), nhóm tuổi, số con trong gia đình, khoảng cách giữa các lần sinh từ đó giúp cho việc thống kê số nhân khẩu, phổ cập giáo dục; số liệu về đăng ký khai sinh, khai tử nhưng trong đó, một phần ý nghĩa quan trọng, cơ bản hàng đầu đó là hoạt động quản lý và đăng ký khai sinh, khai tử thể hiện tập trung, nhưng có mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, thể hiện cao độ sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và BLDS, cũng như ở một số văn bản luật khác. Ở phương diện này, đăng ký khai sinh, khai tử là phương tiện để người dân thực hiện, hưởng thụ các quyền nhân thân như là: Quyền đối với họ, tên; quyền thay đổi họ, tên; quyền khai sinh; quyền xác định dân tộc; quyền kết hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch. Đặc biệt, quyền được khai tử của cá nhân chỉ được thực hiện khi chính cá nhân đó chết đi.
1.5. Mối quan hệ của quyền khai sinh, khai tử với hoạt động công chứng Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Theo quy định tại Điều 2 Luật công chứng 2006, “Công chứng là việc công chứng viên công nhận tính xác thực, tính hợp pháp của HĐ, GD khác (sau đây gọi là HĐGD) bằng văn bản mà quy định của pháp luật phái công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. [5, Điều 2]
Hoạt động công chứng mang đặc điểm như sau:
- Một là, hoạt động công chứng do công chứng viên thực hiện.
Hai là, nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch. Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được công chứng viên xác nhận. Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận các tình tiết, sự kiện có xảy ra trong thực tế, trong số đó có cả tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau, đó do, nếu không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh được. Đồng thời, công chứng viên cũng kiểm tra và xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch.
Ba là, đối tượng công chứng là có hai loại hợp đồng giao dịch thực hiện hoạt động công chứng, đó là các loại hợp đồng giao dịch theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải công chứng và các hợp đồng giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Bốn là, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên có liên quan trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình, bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia HĐGD có thỏa thuận khác. Đồng thời, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố là vô hiệu.
Ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo đảm giá trị thực hiện cho các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra.
Trong yêu cầu hoạt động của công chứng, điều kiện quan trọng là xác định chủ thể phải có là cá nhân hay pháp nhân có đủ năng lực hành vi dân sự và phải có đủ thông tin về chủ thể, phải đầy đủ, đúng với những giấy tờ mà họ đã cung cấp vì nếu có sai sót sẽ dẫn đến nhầm lẫn tranh chấp, mất hiệu lực của văn bản công chứng. Chính vì vậy, việc khai sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cá nhân tham gia vào giao dịch công chứng. Ví dụ, công chứng viên không thể chứng nhận giấy ủy quyền khi mà cá nhân không mang đầy đủ chứng minh thư hay các giấy tờ liên quan đến nhân thân như giấy khai sinh cho cá nhân. Các hợp đồng, giao dịch trong công chứng thường xác định rõ ràng về chủ thể, nếu cá nhân không có khai sinh thì các quyền và nghĩa vụ khác về nhân thân không được bảo đảm thực hiện.
1.6. Bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong hoạt động công chứng
Quyền khai sinh, khai tử là một trong những quyền đầu tiên của con người. Quyền khai sinh này được quy định tại Nguyên tắc 3 trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “trẻ em sinh ra có quyền được khai sinh” và khoản 1 điều 7 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em có quy định “trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời và trong chừng mực có thể quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc” Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Quyền khai sinh khai tử là quyền tuyệt đối của con người, là quyền nhân thân bất khả xâm phạm có tính khách quan biện chứng, vừa mang tính phổ biến nhưng lại vừa mang tính cá nhân. Bảo đảm quyền khai sinh khai tử là trách nhiệm của quốc gia. Bộ luật dân sự nói chung và Luật Công chứng nói riêng đã khẳng định quyền khai sinh khai tử là quyền tuyệt đối của cá nhân về quyền được khai sinh và được có họ tên theo pháp luật, Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán. Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quy định của pháp luật về quốc tịch. Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh được cấp khi đăng ký khai sinh. Thủ tục cấp số định danh cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Căn cước công dân và nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Căn cước công dân, trên cơ sở bảo đảm đồng bộ với Luật Hộ tịch và nghị định này. Ngày, tháng, năm sinh được xác định theo dương lịch. Nơi sinh, giới tính của trẻ em được xác định theo giấy chứng sinh do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp; trường hợp không có giấy chứng sinh thì xác định theo giấy tờ thay giấy chứng sinh theo quy định tại Luật Hộ tịch.
Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh khai tử theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Quyền khai sinh khai tử của con người phù hợp với Hiến pháp và pháp luật làm căn cứ để cá nhân sau này xác lập và thực hiện các giao dịch trong đó có giao dịch công chứng. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Quyền khai sinh, khai tử là một trong những quyền của con người nên phải được bảo đảm bằng các quy định pháp luật và có những chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội.
Dưới góc độ Hiến pháp, quyền khai sinh, khai tử cần được ghi nhận trong Hiến pháp. Hiến pháp không chỉ ghi nhận quyền khai sinh, khai tử mà còn cần xác lập các nguyên tắc để xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi các quyền hiến định, trong đó có quyền được khai sinh và có quốc tịch.
Dưới góc độ luật, để thực hiện các quyền khai sinh, khai tử trong Hiến pháp, cần ban hành một số văn bản pháp luật liên quan để cụ thể hóa nội dung của các quyền, cũng như các cơ chế và biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền hiến định. Tương tự, để bảo đảm quyền khai sinh, khai tử trong Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy định trong các văn bản pháp luật như: BLDS năm 2015, Luật trẻ em 2016, Luật quốc tịch 2008, Luật nuôi con nuôi năm 2010, LHT năm 2014, Nghị định 123/2015/NĐ-CP; Thông tư 15/2015/TT-BTP; Luật công chứng, chứng thực.
- Có tính chấp hành và điều hành
Tính chấp hành được thể hiện ở mục đích của quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và bảo đảm quyền khai sinh, khai tử nói riêng phải được bảo đảm thực thi qua những quy định của các văn bản pháp luật về hộ tịch (trong đó có các văn bản quy định về quyền khai sinh, khai tử). Các văn bản pháp luật này có tác dụng bảo đảm quyền được khai sinh được thực hiện trên thực tế. Trong quá trình quản lý nhà nước về hộ tịch, mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước phải được tiến hành trên cơ sở các văn bản pháp luật đó. Để thực hiện pháp luật trên nguyên tắc bảo đảm quyền khai sinh, khai tử cơ quan cấp dưới chấp hành các hướng dẫn chỉ đạo của cơ quan cấp trên, địa phương chấp hành trung ương trong công tác hộ tịch nói chung và nội dung về khai sinh, khai tử nói riêng.
Tính điều hành thể hiện ở chỗ để đảm bảo các văn bản pháp luật quy định về quyền khai sinh, khai tử được thực hiện trên thực tế, các chủ thể quản lý nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc lĩnh vực này, thực hiện tổ chức đăng ký hộ tịch nói chung và đăng ký khai sinh, khai tử, tuyên truyền pháp luật, quản lý nhà nước trên địa bàn. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
Hoạt động có tính thống nhất chặt chẽ song cần phù hợp với địa phương. Để thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và bảo đảm quyền khai sinh, khai tử nói riêng, cần áp dụng pháp luật một cách thống nhất trong phạm vi cả nước, không phân biệt vùng, miền. Do tính chất và điều kiện xã hội ở các địa phương không hoàn toàn giống nhau nên việc áp dụng pháp luật về quyền khai sinh, khai tử phải đảm bảo sự thống nhất trên toàn quốc trong các vấn đề và nguyên tắc lớn, nhưng vẫn phát huy tính sáng tạo của các địa phương trong các vấn đề về quy trình, thủ tục.
Là hoạt động đăng ký đầu tiên của cá nhân, do bố mẹ hoặc người giám hộ pháp lý thực hiện. Hoạt động đăng ký khai sinh là hoạt động đăng ký đầu tiên của một con người nên có ý nghĩa rất quan trọng. Mặc dù vậy, khi một đứa trẻ được sinh ra sẽ chưa thể tự mình thực hiện thủ tục quan trọng này, mà bố mẹ hoặc người thân phải có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho trẻ. Khi phát sinh thủ tục này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện ghi vào sổ khai sinh và cung cấp giấy khai sinh. Hoạt động đăng ký khai tử là hoạt động quan trọng để xác lập các thời điểm như thời điểm mở thừa kế, thời điểm chia tài sản chung… Đây chính là hành động của nhà nước trong việc công nhận quyền nhân thân của một con người, trong trường hợp người đó bị vi phạm quyền này thì Nhà nước có cơ sở pháp lý để bảo vệ.
Được thực hiện bởi chủ thể có quyền năng. Ở Việt Nam, việc đăng ký hiện được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước chuyên trách công tác tư pháp – hộ tịch. Các cơ quan này có nghĩa vụ thực hiện các hoạt động nghiệp vụ căn cứ vào các quy định của pháp luật để bảo đảm quyền được đăng ký khai sinh, khai tử cho mọi cá nhân. Trong thực tế, các chủ thể có thẩm quyền có thể lạm dụng thẩm quyền được giao để đặt ra các điều kiện không cần thiết, dẫn đến vi phạm quyền khai sinh, khai tử của con người, như: kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, đòi hỏi những giấy tờ không được quy định trong thành phần hồ sơ… Những sự lạm quyền này dẫn đến người dân mất thời gian đi lại, gây phiền hà… Vì vậy, trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước nói chung và đảm bảo quyền khai sinh, khai tử nói riêng, nhà nước luôn phải đặt lợi ích và sự thuận lợi cho người dân lên hàng đầu, đảm bảo quyền nhân thân mà cụ thể là quyền khai sinh, khai tử không bị vi phạm, có như vậy cải cách hành chính mới thật sự đem lại hiệu quả.
- Đây là quyền nhân thân không thể tách rời của con người, việc thực hiện quyền khai sinh là cơ sở để thực hiện các quyền khác của con người. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
QKS là một trong những quyền nhân thân không thể tách rời của mỗi con người, phát sinh từ khi con người sinh ra. Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều đã khẳng định mọi người có quyền được khai sinh. Việc khai sinh sẽ giúp xác định được vị trí pháp lý của cá nhân đối với nhà nước, xã hội, đối với các quan hệ pháp lý như: xác định người đó là một công dân, là một thành viên của xã hội, qua đó được nhà nước và xã hội thừa nhận và bảo vệ. Từ quyền khai sinh, khai tử con người có căn cứ để thực hiện các quyền khác như quyền được chăm sóc về y tế, giáo dục, quyền được tham gia các giao dịch dân sự, các quyền chính trị khác… đặc biệt là quyền tham gia vào công chứng, chứng thực… quyền khai sinh, khai tử có vai trò ban đầu, là cơ sở để thực hiện các quyền khác, nếu không thực hiện được quyền khai sinh, khai tử các quyền khác có nguy cơ bị ảnh hưởng và không được bảo đảm. Trong đó quyền thực hiện các hoạt động công chứng là không có.
Tiểu kết chương 1
Quyền khai sinh, khai tử là quyền nhân thân của cá nhân và là quyền dân sự, do đó khi nghiên cứu về quyền khai sinh, khai tử chúng tôi nghiên cứu quyền này trong mối tương quan với quyền nhân thân của cá nhân. Quyền nhân thân có nguồn gốc lịch sử lâu dài và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Trong Chương 1, tác giả phân tích một cách khái quát quá trình phát triển của quyền nhân thân, đây chính là nền tảng cơ bản để luận văn phân tích rõ hơn mối quan hệ giữa quyền khai sinh, khai tử trong tổng thể các quyền nhân thân của cá nhân. Đặc biệt, trong chương 1 cũng đưa ra một số vấn đề cơ bản về quyền khai sinh khai tử trong mối quan hệ với hoạt động công chứng. Luận văn: Bảo đảm quyền khai sinh khai tử trong công chứng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp PL quyền khai sinh khai tử trong công chứng