Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – Từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là một bộ phận không thể tách rời với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN). Phổ biến, giáo dục pháp luật là chiếc cầu nối và là phương tiện không thể thiếu trong việc nâng cao trí thức pháp luật, ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân. Trong việc thực hiện pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật là giai đoạn đầu tiên, là công cụ để đưa pháp luật đến gần hơn với nhân dân. Muốn pháp luật đi vào đời sống xã hội, ngoài yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ, tính thống nhất, khả thi, phù hợp của quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, việc phổ biến, giáo dục pháp luật còn nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của mọi công dân, đặc biệt là nông dân.
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật càng có ý nghĩa quan trọng và được quan tâm nhiều hơn ở mọi cấp, mọi ngành. Công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật tốt sẽ giúp mọi người hiểu biết pháp luật, chấp hành pháp luật và luôn có ý thức: “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, góp phần tích cực trong ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững ở từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
Nông dân Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, là lực lượng chiếm số lượng đa số trong cả nước, có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nông dân chính là những người tích cực tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn, chủ động, sáng tạo trong xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội; trong quá trình tổ chức sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; trong gìn giữ nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục và là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị – xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh trật tự tại cơ sở. Trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay, nông dân giữ vị trí là chủ thể. Đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông thôn cả về kinh tế – văn hóa và xã hội, đồng thời bảo đảm những quyền lợi chính đáng của họ.
Bên cạnh những điểm mạnh trên đây, tâm lý sĩ diện trong đời sống làng xã của người nông dân dẫn đến tính khoa trương, trọng hình thức còn khá phổ biến. Mặc dù đời sống kinh tế hiện nay của người nông dân vẫn còn khó khăn, nhưng họ sẵn sàng tuân theo các thủ tục, nghi lễ nặng nề, tốn kém trong cưới xin, ma chay, khao vọng, hội lễ… Những hủ tục này gây nên sự tiêu tốn kinh phí rất lớn cho cá nhân cũng như cho cộng đồng, do vậy dẫn đến sự đói nghèo của nhiều gia đình nông dân. Đây là một vật cản lớn trong quá trình hội nhập kinh tế của người nông dân Việt Nam. Ngoài ra, những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường khiến một bộ phận nông dân có lối sống thực dụng, ngại tham gia các hoạt động có ích cho xã hội, thiếu tự tin. Đặc biệt, trong thời gian qua, tình trạng vi phạm pháp luật trong nông dân ngày càng gia tăng. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Một trong những nguyên nhân của việc vi phạm pháp luật ở nông dân ngày càng gia tăng trước hết là do thiếu hiểu biết về pháp luật; vốn sống và hiểu biết xã hội của nông dân còn hạn hẹp; khả năng tiếp thu thông tin nhanh nhưng ít chọn lọc, dễ bị lợi dụng, lôi kéo. Mặc khác, một số nông dân không có đất nông nghiệp để sản xuất, khó khăn, chưa có việc làm; còn có quá trình hội nhập giao lưu kinh tế – văn hóa – xã hội không ngừng được tăng cường nhưng chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt gây nên tác động xấu đến lối sống của một bộ phận nông dân trong việc chấp hành pháp luật.
Trong những năm gần đây, cùng với cả nước, tỉnh Thái Nguyên đã và đang huy động toàn bộ sức mạnh hệ thống chính trị vào cuộc để triển khai và thực hiện tốt các Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, các đề án của Thủ tướng Chính phủ về tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nông dân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ý thức pháp luật của một bộ phận nông dân vẫn còn chưa cao, biểu hiện như hiểu biết pháp luật còn hạn chế, thiếu sự tôn trọng pháp luật, còn có vi phạm pháp luật… Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn.
Để có được sự đổi mới cơ bản về nhận thức, ý thức và hành vi của người nông dân sống, lao động theo Hiến pháp và pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khao học và thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – Từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên” là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn: “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – Từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên” cho thấy đây là vấn đề lớn, có tính cấp thiết đã được các nhà khoa học tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp độ khác nhau. Có thể kể đến các nghiên cứu như:
Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nhà nước và pháp luật Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các Trường chính trị ở nước ta hiện nay.[39]
Luận văn thạc sỹ luật học của Đinh Thị Hương (2008), giáo dục pháp luật cho phụ nữ nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.[14]
Luận văn Thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Phượng (2008), giáo dục pháp luật hôn nhân gia đình cho nông dân trên địa bàn tỉnh Bến Tre.[15]
Luận văn thạc sỹ Hành chính của Nguyễn Tiến Hải (2008), giáo dục pháp luật cho cư dân nông thôn đồng bằng sông Cửu Long.[16] Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Luận văn thạc sĩ Luật học của Hà Thị Tuyến (2011), Phổ biến pháp luật cho người nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền.[17]
Luận án Tiến sĩ của Dương Thanh Mai (1996), Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở nước ta – thực trạng và giải pháp. Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở nước ta [12].
Luận án Tiến sĩ của Dương Thành Trung (2016), Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Luận án đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long; đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long [13].
Luận văn thạc sĩ của Quàng Thị Diệu Linh (2017), Giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Sơn La. Luận văn xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số; phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Sơn La; đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La [29].
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Tuy vậy, cho đến nay chưa cóp công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt về: “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – Từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên”. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – Từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên”. Với kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần khắc phục tình trạng nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Mục đích của luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng của Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân để đề xuất phương hướng và giải pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên.
- Để thực hiện được mục đích trên đây, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân thông qua việc phân tích. làm rõ khái niệm, đặc điểm nông dân; vị trí, vai trò của nông dân; khái niệm, đặc điểm Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân; mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp, chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân; luận giải để xác định bốn yếu tố bảo đảm Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
Thứ hai, luận văn phân tích thực trạng Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tại tỉnh Thái Nguyên, qua đó đánh giá về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, bất cập.
Thứ ba, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp bảo đảm Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân cả nước nói chung, nông dân tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định là những vấn đề cơ bản về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian từ 2015 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận của của luận văn là Chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Luận văn có kế thừa kết quả và phát triển những kinh nghiệm về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân của các công trình khoa học có liên quan.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là việc sử dụng linh hoạt, có hiệu quả các phương pháp nghiên cứu hiện đại phù hợp với từng nội dung và mục đích nghiên cứu cụ thể, trong đó tập trung sử dụng một số phương pháp cơ bản như: Khảo cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phỏng vấn, dự báo để chọn lọc những tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Dưới góc độ lý luận, các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quan trọng vào lý luận Luật Hiến pháp và Luật Hành chính; góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vị trí, vai trò của nông dân; về Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và nông dân nói riêng; đồng thời nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, đối tượng về sự cần thiết và giá trị của pháp luật trong đời sống dân sự.
Dưới góc độ thực tiễn, luận văn có thể được tham khảo trong hoạch định chính sách về đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật đối với nông dân; trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành pháp luật, hành chính và các khóa bồi dưỡng chuyên đề về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
- Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tại tỉnh Thái Nguyên.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân – từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN
1.1. NÔNG DÂN
1.1.1. Khái niệm nông dân
Nông dân là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời sống hằng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học. Có nhiều quan niệm khác nhau về nông dân.
Theo Đại từ điển tiếng Việt (2005), Nhà xuất bản Đà Nẵng thì: “Nông dân là người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [7, tr. 740] Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Theo từ điển bách khoa toàn thư: giai cấp nông dân bao gồm những tập đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất. Tính chất tự túc, tự cấp, tự sản, tự tiêu và sự giới hạn phạm vi địa lý trong làng xã, nông trại địa phương là đặc tính của nông nghiệp sản xuất nhỏ của giai cấp nông dân.
Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học của Hội đồng Lý luận trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm giai cấp nông dân được diễn đạt như sau:
Giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp… trực tiếp sử dụng canh tác một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất rừng, biển để sản xuất ra nông sản. [26, tr. 285]
- Theo các nhà nghiên cứu:
Nông dân là cộng đồng những người lao động cư trú ở nông thôn, sản xuất nhỏ trong nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề, nhưng tư liệu sản xuất chính là đất đai. Từng thời kỳ họ có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành lên giai cấp nông dân, có vị trí và vai trò quyết định trong xã hội.[28, tr. 26]
Để đánh giá một cách tương đối toàn diện và bao hàm được các nội dung về Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân nói chung, nông dân được hiểu là một lớp người trong xã hội từ đủ độ tuổi và giới tính, có tâm sinh lý đặc thù và có vai trò quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp của xã hội. Nông dân có thể được chia thành các nhóm khác nhau theo từng địa bàn, lĩnh vực như: Nông dân ở đô thị, nông dân ở nông thôn, nông dân ở vùng cao, v.v.
1.1.2. Đặc điểm nông dân
Nông dân là lực lượng to lớn trong cách mạng. Từ nhận thức và thực tiễn hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có những quan điểm về đặc điểm giai cấp nông dân Việt Nam. Tháng 10 năm 1923 tại Matxcơva, khi dự Hội Nghị lần thứ nhất Quốc tế nông dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nông dân trong các thuộc địa của Pháp bị hai tầng bóc lột: vừa như những người vô sản, vừa như những người bị mất nước” [18,tr. 225]. Từ đó, có thể thấy từ rất sớm Người đã đề cập và nhấn mạnh đến tính chất giai cấp của nông dân trên lập trường mácxit.
- Đặc điểm của giai cấp nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Theo Hồ Chí Minh giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao động, sản xuất nhỏ trong nông nghiệp gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp, đều có đặc điểm chung là người lao động – nhân tố chủ yếu của lực lượng sản xuất và là người tư hữu nhỏ. Do có địa vị kinh tế xã hội và bản chất giai cấp của mình, nông dân các quốc gia trên thế giới cũng có chung những đặc điểm đó nhưng đối với Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, vào những năm 1925 -1926 “đất thì xấu, phương pháp canh tác thì lạc hậu, do đó năng suất rất thấp kém. Sản lượng một hécta ở châu Âu là 4.670 kilô thóc… còn ở Đông Dương chỉ có 1.210 kilô” [19, tr. 229].
Quá trình đô hộ và khai thác thuộc địa trên 90 năm của thực dân Pháp đã tác động ít nhiều đến kinh tế – xã hội, tháng 11 năm 1949 Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là một nước nông nghiệp. Hơn 9 phần 10 dân ta là nông dân. Hơn 9 phần 10 nông dân ta là trung, bần và cố nông” [23, tr.248]. Xác định đặc điểm là một nước nông nghiệp, nông nghiệp lạc hậu trên cả hai phương diện trình độ công tác và chế độ sở hữu ruộng đất, cùng với đặc điểm giai cấp nông dân có cơ cấu không thuần nhất và sự phân tầng giai cấp không đều trong nội bộ nông dân, Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh đến cơ sở để xác định lực lượng cách mạng của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa – cuộc cách mạng để giải phóng nông dân.
Vì nông dân chiếm số lượng lớn dân số cả nước, mà nông dân Việt Nam gắn bó với cội nguồn dân tộc, có ý thức dân tộc sâu sắc, truyền thống dân tộc in dấu đậm nét trong nông dân. Với số lượng lớn như vậy, nông dân là lực lượng tuyệt đại đa số trong dân cư. Do vậy, theo Hồ Chí Minh, nông dân có những đặc điểm tích cực như: “Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải; ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh; đó là những đức tính răn dạy trong sách thánh hiền, lưu lại trong cổ phong và ghi thành luật pháp; hiện nay đó cũng là những đặc điểm về bản tính của người An Nam hình thành từ bao thế hệ, những thế hệ luôn luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính; người An Nam bình thường mà người ta gặp bất cứ ở đâu cũng đều như vậy cả… Trong đám người bình dân, người ta cũng thấy những thuần phong mỹ tục ấy…” [18, tr.451].
Như vậy, dân tộc Việt Nam đã có nền văn hiến lâu đời, con người Việt Nam hiền hòa, nhân nghĩa. Trong đó, văn hóa và đạo đức đã ăn sâu, thấm đượm và trở thành đặc điểm, bản tính của người Việt Nam nói chung và nông dân nói riêng. Nông dân Việt Nam có tinh thần yêu nước sâu sắc, tinh thần yêu nước đã thể hiện trước hết là đấu tranh bảo vệ dân tộc, bảo vệ xóm làng bình yên hòa thuận. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Nông dân Việt Nam đã đấu tranh chống thiên tai, chống địch họa, chống sự xâm lấn về chính trị và văn hóa qua các cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [20, tr. 33].
Coi trọng quan hệ huyết thống cao cả, thiêng liêng là đặc điểm nổi bật của nông dân Việt Nam.Chẳng ai sống mà không có gia đình và không một ai sinh ra lại không bắt đầu từ một dòng họ. Ở Việt Nam, người nông dân đề cao tính huyết tộc. Bởi lẽ xuất phát từ kiểu sản xuất của công xã nông thôn lấy gia đình là tế bào và huyết tộc làm cơ sở. Đặc điểm này có tính tích cực và cũng có mặt tiêu cực, đó là tư tưởng địa phương, cục bộ, đầu óc bản vị, gia trưởng; là lối sống duy tình “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “phép vua thua lệ làng”, có thể dẫn đến xem thường chủ trương phép nước.
Nông dân Việt Nam cần cù, chăm chỉ, đoàn kết hợp tác trong lao động sản xuất. Trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi, đất đai ít màu mỡ nhất là ở miền Bắc và Trung, công cụ sản xuất thủ công thô sơ đã tạo ra ở nông dân Việt Nam đức tính cần cù, chăm chỉ, “một nắng hai sương”, chấp nhận khó khăn, sẵn sàng hy sinh cho nông nghiệp, vì nông nghiệp. Sản xuất “lấy công làm lãi” không phải là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết mà thực tế lấy sản phẩm làm thước đo hiệu quả, vì sản phẩm và tính thời vụ trong nông nghiệp đã tạo ra tinh thần hợp tác, trao đổi công sức, truyền thống đoàn kết, tương trợ trong sản xuất của nông dân Việt Nam.
- Đặc điểm của nông dân Việt Nam
Ở nước ta, nông dân là một bộ phận của dân cư, là lực lượng đông đảo trong quần chúng nhân dân lao động, là động lực cách mạng xã hội chủ nghĩa và chính họ là người trực tiếp sản xuất ra của cải nuôi sống xã hội.
- Nông dân Việt Nam có những đặc điểm sau:
Về nghề nghiệp: Hầu hết nông dân đều là lao động nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi là chủ yếu, số còn lại là những người làm dịch vụ cung cấp tiêu thụ sản phẩm, buôn bán nhỏ… Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong nhận thức kiến thức pháp luật của nông dân.
Về văn hóa: So với mặt bằng chung thì đối với nông dân thường có trình độ văn hóa thấp hơn, lại không đồng đều, trong đó trình độ bậc tiểu học và trung học là phổ biến. Chính vì trình độ văn hóa không cao, không đồng đều đó đã khiến cho nông dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học kỹ thuật, cũng như kiến thức về pháp luật…
Đặc điểm về tâm lý, tình cảm: Đối tượng là nông dân trong đời sống, lao động sản xuất thường coi trọng yếu tố kinh nghiệm vì thế bên cạnh những yếu tố tích cực cũng bộc lộ những nhược điểm như tâm lý tự ty, an phận, ngại va chạm… Bên cạnh đó đối tượng này cũng rất dễ tin, dễ bị lợi dụng, điều này thấy rõ qua các vụ khiếu kiện đông người. Tuy nhiên tâm lý, tình cảm của đối tượng này cũng rất dễ bị thay đổi, vì vậy phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật là việc trang bị cho họ những kiến thức hiểu biết về pháp luật để họ nhận thức được trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ, bảo vệ quyền lợi công dân của mình, từ đó giúp họ có thêm hiểu biết và thể hiện chính kiến của mình trước các sự việc hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, lao động sản xuất.
1.1.3. Vị trí, vai trò của nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Nông dân Việt Nam là một lực lượng to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữa nước. Trong lịch sử, nông dân từng đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tự nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ cứu nước của các anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc.
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta, nông dân là lực lượng đông đảo tham gia các cuộc khới nghĩa chống Pháp. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa đó cuối cùng đều thất bại. Nguyên nhân thất bại chủ yếu là thiếu đường lối cứu nước đúng đắn, chưa có một tổ chức đứng lên đoàn kết tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân.
Chỉ sau khi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm được con đường cứu nước đúng đắn – giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo – thì giai cấp nông dân mới thực sự là gốc của cách mạng, góp phần to lớn vào mọi thắng lới của cách mạng Việt Nam.
Nhìn nhận về sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân, phân tích vị trí và mối quan hệ giữa giai cấp nông dân với giai cấp công nhân trong khối liên minh công – nông, Nguyễn Ái Quốc khi viết tác phẩm “Đường cách mệnh” đã sắp xếp hai giai cấp này là “gốc cách mệnh”. Vì vậy, vấn đề quan trọng cần thực thi khi tiến hành vận động cách mạng là tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ nông dân, để giai cấp nông dân nhận thức được sự thống nhất giữa nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh để giải phóng giai cấp mình. Tuyên truyền để nông dân ý thức được sức mạnh của giai cấp và con đường đấu tranh giải phóng giai cấp khỏi áp bức, đồng thời để nông dân hiểu rằng họ có nhiệm vụ trở thành nguồn động lực của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Thông qua khảo sát thực tiễn và hoạt động cách mạng ở các nước thuộc địa, được chứng kiến tận mắt tình trạng khổ cực bị áp bức bóc lột của nông dân và nhân dân lao động trên khắp thế giới, Nguyễn Ái Quốc đồng thời cũng thấy được vai trò của nông dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và giải phóng giai cấp. Dưới ánh sáng của bản Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: Chỉ có thể giải phóng nông dân thuộc địa bằng con đường cách mạng vô sản. Quan điểm cơ bản về con đường này được nói rõ trong Chánh cương vắn tắt: Cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nó là đánh đuổi đế quốc Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân, thành lập chính phủ công nông binh, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân và tổ chức ra quân đội công nông. Thấm nhuần triệt để chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như hiểu sâu sắc nguyện vọng của dân tộc và nông dân ta, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng đối với cách mạng đấu tranh dân chủ nhân dân ở nước ta, vấn đề giành độc lập dân tộc phải được nêu lên hàng đầu và vấn đề dân tộc đã được Người chỉ rõ: “Vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân, cách mạng đấu tranh thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông” [25, tr. 17].
Sau 30 năm học tập và công tác ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, trực tiếp chỉ đạo cách mạng trong nước. Từ Pắc Bó Người viết bài thơ “Dân cày” in trên báo Việt Nam độc lập số 103 ngày 21/8/1941 kêu gọi nông dân gia nhập Việt Minh làm cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, giai cấp nông dân đã vùng lên làm cách mạng Tháng Tám thành công, dựng lên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuy nhiên, nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ của chúng ta gặp muôn vàn khó khăn bởi giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò của nông dân lúc này. Người kêu gọi nhà nông “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập” [21, tr. 135]. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò to lớn của nông dân trong Thư gửi Hội Nghị cán bộ nông dân toàn quốc vào tháng 11/1949: “Nước ta là một nước nông nghiệp. Hơn 9 phần 10 dân ta là nông dân. Hơn 9 phần 10 nông dân ta là trung, bần và cố nông. Trong vệ quốc quân và bộ đội địa phương, dân quân du kích số đông là nông dân… Công việc phá hoại để chống giặc, công việc sửa chữa đường sá, giao thông, vận tải phần lớn do nông dân làm. Nói tóm lại, nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân” [22, tr. 248].
Mùa xuân năm Tân Mão (1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào nông dân toàn quốc (thư đăng trên báo Cứu quốc số 1784 ngày 23/3/1951) nhấn mạnh vai trò của nông dân:
- Ruộng rẫy là chiến trường Cuốc cày là vũ khí
- Nhà nông là chiến sĩ
- Hậu phương thi đua với tiền phương [23, tr. 44].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc, đồng thời cũng là nền tảng của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng ta giải quyết vấn đề nông dân một cách nhất quán, đem lại cho họ các quyền lợi kinh tế chủ yếu và trước hết là ruộng đất, động viên họ làm tròn sứ mệnh của mình trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Trong cách mạng Xã hội chủ nghĩa, theo Hồ Chí Minh nông dân cũng là động lực, là gốc của sự nghiệp cách mạng. Sau hiệp định Giơnevơ, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, xưa nay chưa tùng có trong lịch sử dân tộc ta. Bước vào thời kỳ mới này, nông dân vẫn là lực lượng đông nhất và sản xuất của họ vẫn chiếm số nhiều trong nền kinh tế quốc dân. Khi bước vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, nông dân ta đã thể hiện tinh thần cách mạng của mình. Có được điều đó là do sự giáo dục kiên trì và liên tục của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Để nông dân phát huy được sức mạnh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân, theo Hồ Chí Minh, cán bộ có vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo và tổ chức nông dân. Hồ Chí Minh căn dặn: “Các cô, các chú là cán bộ và cốt cán, phải lãnh đạo nhân dân, đoàn kết nhân dân, đưa nhân dân đấu tranh, tổ chức nhân dân cải thiện đời sống, hướng nhân dân làm cá, làm mắm, làm muối” [24, tr. 150].
Xây dựng hợp tác xã, phát triển sản xuất là nhiệm vụ trọng tâm của nông dân khi đi lên chủ nghĩa xã hội. Giai cấp nông dân đã thực hiện tốt nhiệm vụ này, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tính chất ác liệt và sự tàn phá của chiến tranh tới mức hủy diệt, nông dân góp sức người, sức của cho tiền tuyến và họ cũng là chiến sĩ ngay trên đồng ruộng. Hầu như gia đình nông dân nào cũng có người tham gia bộ đội hoặc thanh niên xung phong.
Máu của họ không chỉ đổ ra trên chiến trường mà còn đổ ra trong sản xuất. Sự hy sinh của nông dân là cực kỳ to lớn.
Như vậy, qua các thời kỳ, nông dân trong xã hội nước ta có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, là cái gốc, là động lực của cách mạng Việt Nam, không chỉ trên bình diện lực lượng sản xuất mà còn trên bình diện lực lượng cách mạng.
Để phát huy được vai trò, vị trí của mình trong cách mạng, giai cấp nông dân phải liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức do giai cấp công nhân lãnh đạo. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Do địa vị kinh tế – xã hội và bản chất giai cấp nên nông dân không thể một mình tiến hành một cuộc cách mạng chống lại ách áp bức của thực dân, phong kiến, không thể làm một cuộc cách mạng để mang lại độc lập cho dân tộc mình, tự do và ruộng đất cho giai cấp mình, muốn làm được hai cuộc cách mạng đó nông dân đã tự thân là bạn đồng minh với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, một lực lượng khổng lồ thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng. Bởi vì có cùng nguồn gốc, hoàn cảnh xuất thân, có những lợi ích cơ bản thống nhất nhau và cùng có chung kẻ thù là thực dân và phong kiến nên hai giai cấp công nhân và nông dân dễ dàng liên kết lại với nhau thành một khối trong cuộc đấu tranh chung.
Xuất phát từ những yếu tố đó nên sự liên minh giữa công nhân – nông dân – trí thức là sự cố kết trong một chỉnh thể; mỗi yếu tố có những vai trò và vị trí đặc thù không thể tách rời nhau. Theo Hồ Chí Minh: “Bộ đội đánh giặc, nông dân, công nhân, lao động trí óc đều phải dựa vào nhau. Nông dân không có sự giúp đỡ của công nhân thì không được, không có bộ đội giết giặc cũng không xong. Công nhân không có nông dân, không có bộ đội giết giặc cũng không được. Bộ đội không có công nhân, không có nông dân cũng không đủ sức mạnh mà đánh giặc, lao động trí óc cũng vậy” [23, tr. 552 – 553].
Khi đã xác định được khối liên minh không thể tách rời giữa công nhân – nông dân và trí thức, Hồ Chí Minh cũng đã xác định được vị trí của giai cấp nông dân trong khối liên minh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Hồ Chí Minh có chiến lược phát suy sức mạnh của giai cấp nông dân để giai cấp nông dân được tổ chức lại, được giác ngộ và hướng dẫn bằng một đường lối cách mạng đúng đắn thì sức mạnh của nông dân mới được phát huy hết khả năng.
Nhận thức được điều đó, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò, vị trí của nông dân trong cách mạng, có thể thấy từ rất sớm Hồ Chí Minh đã nhận thấy vai trò, vị trí của giai cấp nông dân Việt Nam. Nông dân là lực lượng chủ lực của cách mạng, là nòng cốt của khối liên mình công – nông – trí và là nền tảng của mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Từ vai trò, vị trí của nông dân trong cách mạng, Hồ Chí Minh đã sớm tạo điều kiện để nông dân được phát huy quyền làm chủ của mình trong mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội của nước nhà.
1.2. PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
- Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Phổ biến giáo dục pháp luật là một từ ghép giữa “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật”. Trong đó, Phổ biến pháp luật có thể được hiểu dưới hai nghĩa: Nghĩa hẹp là giới thiệu tinh thần văn bản luật cho đối tượng của nó; nghĩa rộng là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước [3, tr.9].
Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trị dân. Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể. Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế. Hiện nay phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn v.v.
Còn giáo dục pháp luật lại là khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng, bằng mọi cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành của đối tượng [3, tr.11].
So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể.
Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã khá thống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra định nghĩa như sau: Phổ biến giáo dục pháp luật là quá trình bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật (xây dựng chương trình, kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật; triển khai chương trình, kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật), hay Phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành.
Từ khái niệm về Phổ biến, giáo dục pháp luật nêu trên, trong điều kiện hiện nay khi đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển, trong đó lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn được xem như là một giá đỡ vững chắc đảm bảo sự ổn định cho quá trình phát triển của đất nước. Do vậy việc trang bị những tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm và thói quen sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật cho mọi công dân là rất cần thiết, đây là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, của toàn xã hội, đặc biệt là của các cơ quan báo chí.
Nông dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước cả về sức người, sức của. Ngày nay, trong công cuộc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới (NTM) thì nông dân được xác định là trung tâm, nòng cốt đóng vai trò hết sức quan trọng, họ vừa là chủ thể cũng vừa là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi. Vì thế việc không ngừng nâng cao dân trí, phát huy dân chủ trong xã hội, nhất là thường xuyên trang bị những kiến thức nói chung và kiến thức về pháp luật nói riêng cho đối tượng này là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Như vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân là hoạt động định hướng có tổ chức của các chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật – mang ý chí, mong muốn của nhà nước – tác động lên nông dân tại các địa phương nhằm mục đích giới thiệu, động viên, thuyết phục nông dân hiểu, biết về pháp luật; đồng thời hình thành ở họ tri thức pháp luật để có hành vi phù hợp với đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành, nhằm cung cấp cho họ những tri thức pháp luật, tạo niềm tin tình cảm và hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội.
PBGDPL nói chung và Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân nói riêng vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Đó là việc làm thế nào để truyền đạt những thông tin pháp luật từ các chủ thể đến đối tượng tiếp nhận sao cho hiệu quả nhất, đạt được mục tiêu đề ra. Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân phải đảm bảo về mặt nội dung và hình thức; truyền tải đúng, đầy đủ và kịp thời những thông tin pháp luật cho đối tượng tiếp nhận. Tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân phải dựa trên tính đặc thù của nông dân và phải được thực hiện thường xuyên, liên tục với sự phối hợp giữa các cấp, các ngành để đạt được hiệu quả cao nhất. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
- Đặc điểm phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
PBGDPL luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, song đối với mỗi đối tượng khác nhau, ở những địa bàn khác nhau sẽ có những nội dung, hình thức, phương pháp khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, nông dân là đối tượng chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, là đội quân chủ lực trên mặt trận nông nghiệp, vì vậy việc thường xuyên trang bị kiến thức pháp luật để không ngừng nâng cao hiểu biết, tôn trọng và tự giác tuân thủ pháp luật luôn là vấn đề cần được quan tâm đúng mực. Trong quá trình nghiên cứu về Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thấy hoạt động này có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Trong nhà nước Xã hội chủ nghĩa, bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thể hiện ý chí của nhân dân. Chính sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước đã xác lập sự gắn bó hữu cơ giữa đường lối, chính sách của Đảng với pháp luật. Vì vậy, thực hiện pháp luật cũng là góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Có thể thấy rằng, ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức chính trị. Khi thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng giáo dục những hiểu biết nhất định về chính trị. Ngược lại, trong quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng có sự đan xen những nội dung, quan điểm pháp lý nhất định.
Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng” [8, tr.1].
- Thứ hai, phổ biến, giáo dục pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật
Trong mối quan hệ này, xây dựng pháp luật là cơ sở cho việc hình thành, đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật là một phương tiện quan trọng để đưa pháp luật vào cuộc sống. Hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật còn là một “kênh” để các cơ quan xây dựng pháp luật nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, đề xuất từ phía người dân và các tổ chức trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật; đánh giá được tính khả thi, hiệu quả của các VBPL trong đời sống thực tế từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Thứ ba, Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động có những hiểu biết nhất định về pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của đối tượng
Đối tượng của Phổ biến, giáo dục pháp luật là những cá nhân công dân hoặc những nhóm cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận tác động của các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Họ là những người có nhu cầu và cả những người cho rằng mình không có nhu cầu tìm hiểu pháp luật.
Một trong những đặc điểm không thể thiếu của Phổ biến, giáo dục pháp luật là truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến đối tượng Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hình thức, phương tiện, biện pháp thích hợp, giúp cho đối tượng hiểu biết, nắm bắt thông tin, nội dung pháp luật mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Nội dung pháp luật được truyền đạt tới đối tượng thường là các văn bản pháp luật, các nội dung hướng dẫn công dân thực hiện pháp luật, các thông tin về xây dựng và thi hành pháp luật.
Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ thuần túy là truyền tải, cung cấp thông tin pháp luật mà quan trọng hơn là nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, từ đó hình thành ý thức tôn trọng, tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng tác động. Đây là mục đích cuối cùng của Phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Thứ tư, PBGDP được tổ chức, thực hiện bởi những chủ thể xác định
Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật tùy thuộc vào nội dung, hình thức, phương pháp, đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật.
Phổ biến, giáo dục pháp luật có nội dung rộng, hình thức đa dạng, phong phú, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đối tượng, do đó, trong các văn bản của Đảng và nhà nước đều xác định thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của các ngành, các cấp, của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và toàn dân. Hiện nay, các chủ thể tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật rất đa dạng; tuy nhiên, chủ thể có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có chức năng trong hoạt động này.
1.2.2. Mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Khi nói đến Phổ biến, giáo dục pháp luật chúng ta không thể không đề cập đến mục đích của nó, tức là cái đích hướng tới của hoạt động giáo dục pháp luật. Mục đích của Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc bên trong của Phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc xác định đúng đắn mục đích cần đạt được trong quá trình Phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng nội dung, hình thức, phương pháp… Phổ biến, giáo dục pháp luật. Bởi vì các yếu tố đó phụ thuộc vào mục đích đặt ra. Mục đích của Phổ biến, giáo dục pháp luật được xác định ngay trong khái niệm Phổ biến, giáo dục pháp luật, đó là việc trang bị, cung cấp, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật đúng đắn để hình thành ý thức pháp luật và hành vi hợp pháp, thói quen hành động phù hợp với các quy định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện hành. Trong điều kiện hiện nay mục đích trên được xác định cụ thể như sau:
- Một là, Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm hình thành, từng bước mở rộng và làm sâu sắc hơn hệ thống tri thức pháp luật của công dân.
Đây là mục đích nhận thức, mục đích hàng đầu của giáo dục pháp luật. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, trình độ dân trí của người dân chưa cao, không phải tất cả mọi công dân đã am hiểu pháp luật, nhất là những đối tượng vì những lý do khác nhau, ít tiếp cận với pháp luật mới tạo điều kiện cho việc hình thành tình cảm và lòng tin vào pháp luật ở mỗi công dân. Hơn nữa tri thức pháp luật còn giúp cho con người tổ chức một cách có ý thức hành vi của mình và tự đánh giá, kiểm tra, đối chiếu hành vi đó với các chuẩn mực pháp luật… Có thể nói, tri thức pháp luật càng đầy đủ thì tình cảm pháp luật càng mạnh mẽ, tri thức pháp luật tạo nên cơ sở định hướng lòng tin ổn định vào các giá trị của pháp luật.
Song cũng cần lưu ý rằng tri thức pháp luật vô cùng rộng nên việc cung cấp và tiếp nhận tri thức pháp luật phải làm từng bước, song phải thường xuyên, liên tục; bởi sự am hiểu pháp luật không đơn giản chỉ là sự am hiểu một vài quy phạm pháp luật nào đó mà là sự am hiểu có hệ thống với những nhận thức thấu đáo về nội dung, ý nghĩa của pháp luật. Vì thế, mở rộng khối lượng tri thức và từng bước nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật là những yếu tố hết sức quan trọng cần đặc biệt quan tâm trong quá trình giáo dục pháp luật.
- Hai là, Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm làm hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật.
Đây là mục đích cảm xúc, mục đích này cũng không kém phần quan trọng vì nếu có tri thức pháp luật mà không có tình cảm tôn trọng pháp luật và lòng tin vào pháp luật cũng như vào cơ quan bảo vệ pháp luật thì con người vẫn rất dễ có những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực pháp luật. Các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng con người nếu thiếu lòng tin thì hành vi của họ thường lệch khỏi các chuẩn mực xã hội. Để đạt được mục đích đó, hoạt động giáo dục pháp luật phải hướng tới: Phổ biến để giáo dục tình cảm công bằng (biết xác định các tiêu chuẩn đánh giá tính công bằng của pháp luật, biết đối xử với người khác và với chính mình bằng các tiêu chuẩn công bằng đã được xác định). Giáo dục tình cảm trách nhiệm (có ý thức trách nhiệm trong mọi hành vi của mình; tự giác tận tâm thực hiện các nghĩa vụ; đồng thời dám gánh chịu trách nhiệm pháp lý – những hậu quả pháp lý bất lợi khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật). Giáo dục tình cảm pháp chế (có ý thức thực thi pháp luật ở mọi nơi, mọi lúc, phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật, các hành vi vi phạm pháp luật; đồng thời ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật). [3,tr.13] Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
- Ba là, Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực.
Đây là mục đích hành vi, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống mục đích giáo dục pháp luật. Bởi hành vi xử sự theo pháp luật của con người là kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức pháp luật. Có thể khẳng định mục đích nhận thức và mục đích tình cảm ở trên là để phục vụ cho mục đích hình thành động cơ và hành vi hợp pháp, tích cực. Có nhiều yếu tố tác động để hình thành hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật, trong đó hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật là yếu tố cơ bản. Thông qua đó sẽ cung cấp những tri thức pháp luật, giáo dục lòng tin sâu sắc vào sự cần thiết phải tuân theo một cách tự giác những quy định của pháp luật. để làm được điều này quá trình Phổ biến, giáo dục pháp luật phải sử dụng nhiều hình thức, phương pháp và phải kiên trì, thường xuyên để mọi công dân hiểu sự cần thiết, tính hợp lý của pháp luật vì lợi ích chung của xã hội cũng như đối với tất cả các thành viên trong xã hội. Việc tuân theo pháp luật trở thành thói quen là biểu hiện của lòng tin nội tâm và sự chuẩn bị để xử sự hợp pháp trở thành thói quen là quá trình tác động dựa trên cùng một loại quan hệ được lặp đi lặp lại trong những hoàn cảnh pháp lý tương tự. Hiện nay hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật cần hướng tới việc tạo thói quen cho công dân trong việc tuân theo các quy phạm pháp luật, thói quen thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý, thói quen sử dụng các quy phạm pháp luật, thói quen áp dụng pháp luật.
Như vậy, Phổ biến, giáo dục pháp luật có ba mục đích cụ thể. Các mục đích này có mối quan hệ mật thiết qua lại tạo thành một hệ thống thống nhất, từ nhận thức đến tính tự giác, từ tính tự giác đến tính tích cực và tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật. Có đạt được những mục đích trên mới tạo ra khả năng đổi mới hoạt động giáo dục pháp luật trong môi trường pháp lý hiện nay.
Đối với đối tượng Phổ biến, giáo dục pháp luật là nông dân, bên cạnh những mục đích chung nêu trên thì mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật còn có những đặc điểm riêng sau:
- Nâng cao khả năng hiểu biết và sử dụng pháp luật, tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân.
- Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nhằm xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương, phát huy truyền thống tốt đẹp của giai cấp nông dân Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.3. Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Dưới góc độ giáo dục thì đối tượng giáo dục là những cá nhân hoặc tập thể người đi học, trong lĩnh vực Phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là các cá nhân công dân hay các nhóm cộng đồng dân cư được trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp nhận những tác động của các hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật do các chủ thể tiến hành nhằm đạt được những mục đích đặt ra.
Mỗi nhóm đối tượng Phổ biến, giáo dục pháp luật được chủ thể tác động bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, điều này phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, nhu cầu và khả năng nhận thức của từng loại đối tượng. Trong giai đoạn hiện nay, ngoài đối tượng chung là mọi công dân, cần ưu tiên một số đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước, học sinh, sinh viên, các tầng lớp nhân dân lao động, trong đó nông dân là một lực lượng lớn trên địa bàn nông thôn.
1.2.4. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Cùng với việc xác định khái niệm, hình thức, phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật, một trong những yếu tố quan trọng của quá trình Phổ biến, giáo dục pháp luật đó là nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc xác định đúng nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật là điều kiện đảm bảo để hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật đạt hiệu quả thiết thực. Nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật được xác định trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của Phổ biến, giáo dục pháp luật. Nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm một hệ thống các thông tin về pháp luật thực định, những thông tin về pháp luật chuyên ngành, những thông tin về thực tiễn thi hành, áp dụng và bảo vệ pháp luật…
Như vậy có thể thấy rằng, tất cả những nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật trên đây chính là một hệ thống những tri thức cần thiết cho đối tượng giáo dục sử dụng để phân tích, lý giải một cách khoa học toàn bộ những vấn đề thực tiễn mà họ thường gặp để từ đó định hướng cho hành vi của mình. Việc lựa chọn nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật sao cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam theo quan điểm của các nhà khoa học pháp lý cần phải dựa vào một số đặc điểm nhất định cụ thể là:
- Dựa vào trạng thái động của các thông tin trong nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Dựa vào khả năng tồn tại mâu thuẫn giữa các thông tin trong nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật, giữa pháp luật trên văn bản và thực tiễn thi hành pháp luật. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Bên cạnh các nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật chung cho mọi công dân thì nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật được xác định riêng theo từng đối tượng với các mức độ thích hợp trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của đối tượng.
Đối với Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân, căn cứ vào đặc điểm về đối tượng giáo dục như đã phân tích ở trên nên nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật cũng phải phù hợp với những đặc điểm đó và tập trung vào các quy định pháp luật, chính sách thiết thực, liên quan đến nông dân, nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật phải được xác định theo đối tượng đặc thù là người nông dân trong các địa phương, cụ thể là:
Nội dung về quyền và nghĩa vụ công dân, việc thực hiện pháp luật của Nhà nước cũng như quy tắc sinh hoạt tại cộng đồng; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tiến hành các thủ tục tố tụng; trong đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật để thực hiện công bằng xã hội…
Phổ biến, giải thích các văn bản pháp luật hiện hành, nhất là những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn như: Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình… Bên cạnh đó cần lồng ghép với các chương trình tập huấn KH-KT, đào tạo nghề, hỗ trợ vốn; vật tư cây, con giống để nông dân phát triển sản xuất.
1.2.5 Hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
- Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có thể hiểu là những hoạt động cụ thể do các chủ thể sử dụng hoặc tổ chức ra nhằm chuyển tải nội dung đến với đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật.
Để đạt được mục đích của Phổ biến, giáo dục pháp luật cần xác định đúng, đầy đủ các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật. Dựa vào tính đa dạng, đặc thù của các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật có thể chia thành hai nhóm: Nhóm các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật mang tính phổ biến, truyền thống và nhóm các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật đặc thù.
Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
Thứ nhất, họp báo, thông cáo báo chí. Đặc trưng của hình thức này chính là sử dụng báo nói, báo viết, báo hình, mạng internet để truyền bá nội dung cần phổ biến. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Thứ hai, phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật.
Thứ ba, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư.
Thứ tư, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật. Thi tìm hiểu pháp luật là một trong các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, là cầu nối chuyển tải những nội dung pháp luật vào cuộc sống, là hình thức sinh hoạt văn hoá pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả. Đây là một trong những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hấp dẫn, có hiệu quả cao và được sử dụng nhiều. Những nội dung pháp luật được chuyển tải đến các đối tượng thông qua cuộc thi một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn, sinh động hơn, tránh được sự cứng nhắc, khô cứng. Bên cạnh đó, kiến thức pháp luật, kỹ năng tuyên truyền pháp luật của người tổ chức cũng được trau dồi, gọt dũa.
Thứ năm, thông qua công tác xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở.
Thứ sáu, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở.
Thứ bảy, thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.
Thứ tám, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả.
Như vậy, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đang được sử dụng trong thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật là rất đa dạng và phong phú đang được vận dụng ngày càng rộng rãi trong phổ biến, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, hình thành nếp sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của nông dân.
- Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật là tổng thể cách thức, biện pháp mà các chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng giáo dục nhằm truyền đạt các kiến thức pháp lý để đạt được những mục đích của Phổ biến, giáo dục pháp luật đã đặt ra.
Giống như đối tượng, hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật, phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật rất đa dạng và phong phú. Do đó vấn đề đặt ra là làm sao các chủ thể phải lựa chọn được những phương pháp phù hợp nhất với khả năng tiếp nhận kiến thức của từng đối tượng cụ thể, nâng cao hiệu quả công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Đối với đối tượng là nông dân, do các đặc điểm như đã nêu trên nên việc lựa chọn hình thức, phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật cũng rất đa dạng, nhưng phù hợp hơn cả là thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: báo nói, báo viết, báo hình, báo điện tử… Những hình thức, phương pháp này được sử dụng thường xuyên sẽ mang lại hiệu quả thiết thực đối với công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
1.2.6. Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật là tất cả những người mà theo sự phân công của xã hội phải thực hiện chức năng và mục đích Phổ biến, giáo dục pháp luật. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật có thể chia thành chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp.
Chủ thể chuyên nghiệp là những người mà chức năng và nhiệm vụ chính của họ là thực hiện mục đích và nhiệm vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đó là các báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước; các phóng viên, biên tập viên của các báo, đài phụ trách các chuyên mục pháp luật hoặc liên quan đến pháp luật; giáo viên, giảng viên dạy về pháp luật trong hệ thống giáo dục, hệ thống giáo dục chính trị v.v.
Chủ thể không chuyên nghiệp là những người mà chức năng chính không phải là Phổ biến, giáo dục pháp luật nhưng thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ có tác động tới Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đó là các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; cán bộ, công chức hành pháp, tư pháp; luật sư; một số cán bộ của Đảng và đoàn thể chính trị – xã hội.
Chủ thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là các cơ quan, tổ chức tham gia tổ chức thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Tùy thuộc vào nội dung, hình thức, phương pháp và đối tượng Phổ biến, giáo dục pháp luật, các chủ thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật là khác nhau. Tuy nhiên, chủ thể có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có chức năng trong hoạt động này. Trong tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân, chủ thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật là các cơ quan sau:
Chính phủ: Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Hiến pháp và pháp luật.
Các bộ, cơ quan ngang bộ: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục các văn bản quy phạm pháp luật cho nông dân thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ. Bộ phận pháp chế của các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm giúp lãnh đạo đơn vị tổ chức thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trong phạm vi quản lý của đơn vị mình.
UBND các cấp: Tổ chức thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn. Trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ này là các cơ quan tư pháp tại địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp).
Các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp; các tổ chức chính trị – xã hội: Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tham gia tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng nhân dân, trong đó có nông dân. Các chủ thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật để không chồng chéo đối tượng, bỏ sót địa bàn, nội dung nhằm đạt được hiệu quả Phổ biến, giáo dục pháp luật cao nhất.
Bên cạnh các cơ quan, tổ chức của nhà nước, chủ thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân còn có thể là Hội Nông dân, các cán bộ, hội viên của Hội Nông dân các cấp, trưởng thôn, trưởng xóm, những người có ảnh hưởng tới người dân nông thôn. Hội Nông dân có thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân tại địa phương mình một cách tự giác hoặc cũng có thể vì chính lợi ích chung của Hội Nông dân.
1.2.7. Vai trò của Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Trong đời sống xã hội, pháp luật là một trong những phương tiện quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội, là công cụ để công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật, là cầu nối chuyển tải pháp luật vào cuộc sống để tất cả các cơ quan, tổ chức đoàn thể xã hội và công dân nắm được và sử dụng có hiệu quả công cụ, phương tiện đó.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã liên tục khẳng định tầm quan trọng cũng như vai trò của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật: “Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật. Đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể nhân dân” [8, tr.04].
Tăng cường Phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân, trước hết trong Đảng và cơ quan Nhà nước, làm cho mọi người hiểu và làm theo pháp luật.
Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 9/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định:
PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong những năm tới, cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thật tốt công tác này để góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật của cán bộ và nhân dân… [1, tr.5].
Với nhiều góc độ khác nhau, Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung thể hiện vai trò quan trọng trên các khía cạnh sau:
- PBGDPL tác động vào ý thức đối tượng, góp phần hình thành và nâng cao ý thức pháp luật của công dân
Ý thức pháp luật của mỗi cá nhân thể hiện mối quan hệ giữa con người đối với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong tổ chức hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Phổ biến, giáo dục pháp luật tác động đến ý thức của đối tượng, từ chỗ họ không để ý, rồi biết, hiểu, sau đó là chấp hành và thực hiện pháp luật. Sự hiểu biết pháp luật của nhân dân là yếu tố đầu tiên để hình thành ý thức pháp luật, pháp luật phải trải qua nhiều hình thức khác nhau mới đến được với người dân và trở thành sự hiểu biết về pháp luật, ý thức pháp luật.
- Phổ biến giáo dục pháp luật tác động hình thành niềm tin của nhân dân đối với pháp luật
Pháp luật thực hiện một cách nghiêm chỉnh không chỉ phụ thuộc vào sự cưỡng chế hay sự đe dọa trừng phạt mà còn phụ thuộc vào sự giáo dục, vào sự nhận thức về vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Thông qua Phổ biến, giáo dục pháp luật người dân được nâng cao nhận thức về vai trò và sự cần thiết của pháp luật đối với đời sống xã hội từ đó từng bước hình thành niềm tin vào pháp luật, giúp họ nhận thức, động cơ, hành vi đúng trong thực hiện pháp luật và tích cực đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
- Phổ biến giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật
Trong thực tế, để quản lý xã hội theo một trật tự nhất định, Nhà nước ban hành ra pháp luật và có những biện pháp để pháp luật đi vào cuộc sống và có khả năng được thực thi một cách nghiêm minh. Song không phải lúc nào pháp luật cũng được thực hiện một cách tự nguyện, vì vậy cần phải giáo dục họ, Phổ biến, giáo dục pháp luật giúp họ nhận thức được tính công bằng, sự cần thiết phải hành động và xử sự theo quy định của pháp luật không phải chỉ vì lợi ích riêng của bản thân mình mà còn vì lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của cộng đồng, từ đó có thái độ tôn trọng và biết sử dụng công cụ pháp luật một cách có hiệu quả trong cuộc sống.
“Thực hiện pháp luật là cả một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của chủ thể” [32, tr.116]. Thực hiện pháp luật gồm nhiều cấp độ khác nhau, từ việc tuân thủ pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định đối với việc áp dụng pháp luật. Nhưng dù ở cấp độ nào cũng đòi hỏi mỗi người dân phải có trình độ văn hóa pháp lý nhất định, Phổ biến, giáo dục pháp luật giúp cho họ có được yêu cầu đó.
Đối với nông dân, ngoài những vai trò chung nêu trên, Phổ biến, giáo dục pháp luật còn có những vai trò cụ thể được thể hiện rõ ở một số nét lớn sau:
Một là, Phổ biến, giáo dục pháp luật tạo tiền đề, cơ sở cho mỗi cá nhân nông dân trong việc hiểu và nghiêm túc thực hiện pháp luật
Như đã nêu, nông dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, trình độ văn hóa không cao, ít có điều kiện tiếp cận với pháp luật. Vì vậy, Phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức khác nhau đối với mỗi nhóm đối tượng khác nhau sẽ giúp cho nông dân có được khả năng sử dụng pháp luật, sử dụng có hiệu quả những quyền mà pháp luật trao cho mình để bảo vệ chính bản thân mình, đồng thời cũng nhận thức được những hành vi sai trái và mạnh dạn đấu tranh với những hành vi đó.
Hai là, Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân góp phần xây dựng “gia đình nông dân văn hóa”
Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng là mảnh đất hình thành nhân cách, trí lực và nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp, trong sáng của con người. Trong điều kiện hiện nay khi đất nước ta đang trong tiến trình đổi mới và hội nhập với thế giới thì vấn đề gia đình ngày càng được quan tâm hơn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội” [10, tr.116]. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển vững chắc, tạo điều kiện cho mỗi người dân, mỗi gia đình phát huy được tính năng động, sáng tạo và trí tuệ, tài năng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên mặt trái của cơ chế thị trường cũng đặt các gia đình Việt Nam trước những thách thức không hề nhỏ, làm ảnh hưởng không nhỏ đến gia đình. Để ngăn chặn những nguy cơ đó, cần phải được trang bị những kiến thức về nhiều lĩnh vực, trong đó kiến thức và sự hiểu biết về pháp luật là vấn đề quan trọng hàng đầu cho các thành viên trong gia đình. Có kiến thức về pháp luật thì họ mới hiểu được hành vi nào là đúng, hành vi nào sai, những việc nào được làm, việc nào không được làm.
Như vậy chỉ có những hiểu biết nhất về các lĩnh của đời sống xã hội nói chung và kiến thức về pháp luật nói riêng nông dân mới có thể tham gia đóng góp được những ý kiến đúng đắn với cơ quan có thẩm quyền, mới phát hiện được những hành vi sai trái đi ngược lại với lợi ích của xã hội, của nhân dân và tự bảo vệ mình để không bị kẻ xấu lợi dụng.
Ba là, Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân thúc đẩy hoạt động của Hội Nông dân, phát huy vị trí và vai trò của hội trong hệ thống chính trị
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của MTTQ Việt Nam; cơ sở chính trị của Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Hội được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ của hội song phải trong khuôn khổ của pháp luật. Để đảm bảo được điều đó thì công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật của hội phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và trở thành một trong những hoạt động quan trọng của tổ chức Hội. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân giúp cho hoạt động của hội thêm đa dạng, phong phú; đồng thời thông qua đó để bảo vệ những quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân, vừa tạo cho nông dân có thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật [28, tr.15].
1.3. CÁC YẾU TỐ BẢO ĐẢM ĐẾN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Quá trình tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau. Việc nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố này sẽ giúp các cơ quan nhà nước dự báo trước những tác động trong tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nói riêng, từ đó chủ động ứng phó với những tác động tiêu cực, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi để tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đạt hiệu quả tốt. Nghiên cứu trên nhiều khía cạnh thì việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau:
1.3.1. Hệ thống pháp luật cho nông dân
Hệ thống văn bản pháp luật chính là điều kiện để thực hiện tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật. Nếu hệ thống văn bản pháp luật thiếu đồng bộ, chồng chéo hoặc thiếu toàn diện thì việc triển khai hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ bị động, lúng túng và thiếu sự ổn định. Ngược lại, các quy định của pháp luật càng hoàn thiện thì chất lượng tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật càng được nâng cao.
Như đã phân tích ở trên, nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân gồm 02 nhóm nội dung: Nhóm nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật chung cho công dân, nhóm nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến nông dân tại nông thôn. Do vậy, đánh giá mức độ hoàn thiện của nội dung pháp luật cho nông dân chính là việc xem xét mức độ hoàn thiện của 02 nhóm nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
Nhóm nội dung pháp luật phổ biến, giáo dục chung cho mọi công dân là các quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật; các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; ý thức tôn trọng, chấp hành và bảo vệ pháp luật của công dân. Đây là những nội dung pháp luật mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tìm hiểu và thực hiện. Mức độ hoàn thiện nhóm nội dung pháp luật này chính là mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, trong số những nội dung pháp luật thuộc nhóm này, có những nội dung chưa trực tiếp liên quan tới đời sống lao động, sản xuất hằng ngày của nông dân. Do vậy, trong đánh giá mức độ hoàn thiện nội dung pháp luật cho nông dân cần đánh giá sâu hơn về nhóm nội dung pháp luật liên quan đến nông dân tại nông thôn.
Về nội dung pháp luật đối với nông dân, trước đây, hệ thống văn bản pháp luật còn tản mạn, bất cập, chưa thống nhất. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Theo thời gian, nội dung pháp luật đối với nông dân ngày càng hoàn thiện. Nhiều văn bản luật đã được ban hành như: Bộ Luật Dân sự, Luật Chăn nuôi; Luật Thủy sản; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Luật Lâm nghiệp; Luật Tài nguyên nước; Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế; Luật Việc làm, Luật An toàn, vệ sinh lao động; Bộ Luật Lao động và các Nghị định quy định chi tiết thi hành. Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các Quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hầu hết cấp ủy, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương đều đã xây dựng, ban hành các văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tuy nhiên, hiện nay các văn bản pháp luật ban hành ngày càng nhiều, đa dạng nên việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân cần phải thực hiện theo kế hoạch, chương trình cụ thể, tránh trùng lặp trong việc triển khai thực hiện tại các địa phương. Bên cạnh đó, việc hướng dẫn, chỉ đạo hay cung cấp tài liệu để tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nói riêng cần đảm bảo kịp thời. Trong những trường hợp cụ thể, việc chậm ban hành hướng dẫn thi hành luật hay chậm triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến luật đã gây ra “sự cố” đáng tiếc.
1.3.2. Tổ chức bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ phố biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật và huy động nguồn lực cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ là Bộ Tư pháp, của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Sở Tư pháp, của Ủy ban nhân dân cấp huyện là Phòng Tư pháp.
Tuy nhiên, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp hoạt động theo cơ chế phối hợp, các thành viên làm việc kiêm nhiệm nên cũng có thể xảy ra tình trạng không thể dành nhiều thời gian cho việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật. Phần lớn thành viên tham gia Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở các cấp giữ vị trí lãnh đạo tại các bộ, ngành Trung ương hay các sở, ngành tại địa phương nên phải đảm trách nhiều công việc, dẫn đến sự chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn và phối hợp chưa thật đồng đều.
PBGDPL là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị nhưng công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu do ngành Tư pháp đảm đương. Sự tham gia vào công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật của các ban, ngành, đoàn thể đa số dừng lại ở mức độ theo từng kỳ, cuộc mà không được duy trì thường xuyên, liên tục. Mặt khác, sự tham gia của xã hội vào tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật thời gian qua còn hạn chế, chưa phát huy được tính chủ động, tích cực của xã hội tham gia vào tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nói riêng. Nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền tại một số bộ, ngành, địa phương và nhận thức chung của xã hội về Phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự đầy đủ, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này. Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên từ Trung ương đến địa phương trong tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật còn bất cập, kém hiệu quả.
1.3.3. Đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện phố biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Hiện nay ở Việt Nam, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật khá đa dạng, bao gồm: Cán bộ tư pháp phụ trách công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật của các bộ, ngành, địa phương; đội ngũ báo cáo viên pháp luật ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; tuyên truyền viên pháp luật cấp xã; lực lượng phóng viên, biên tập viên phụ trách về pháp luật tại các cơ quan báo chí; hòa giải viên; cán bộ tư vấn pháp luật tại doanh nghiệp; cán bộ các tổ chức chính trị -xã hội, v.v. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật tuy đông nhưng trình độ không đồng đều, nhất là cán bộ ở cơ sở; số cán bộ có trình độ chuyên môn về pháp luật, nhất là luật chuyên ngành còn ít. Tại nhiều nơi, nguồn nhân lực thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế cả về trình độ chuyên môn và số lượng; hoạt động chủ yếu là kiêm nhiệm, không có lực lượng chuyên trách làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng là nông dân; trong công tác chưa có sự tâm huyết, sáng tạo dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa cao. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền và công tác tổ chức tuyên truyền pháp luật.
1.3.4. Nguồn lực tài chính tổ chức thực hiện phố biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
Các quy định của pháp luật sẽ chỉ nằm trên văn bản nếu công tác phổ biến, giáo dục không được quan tâm đầu tư. Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cần phải được đầu tư tương xứng với vị trí và vai trò của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã quy định việc bảo đảm kinh phí Phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều địa phương, nguồn kinh phí tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật còn nhiều hạn chế, nhất là ở những địa phương có nguồn thu không nhiều. Do chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng, đủ mạnh nên địa phương nào quan tâm đến công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật thì dự trù hoặc cấp kinh phí phù hợp và ngược lại. Điều này dẫn đến sự không đồng đều trong việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật ở các địa phương, đơn vị. Bên cạnh đó, cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà chưa có chế độ hỗ trợ thêm; chưa có các chế độ bồi dưỡng cho các báo cáo viên, tuyên truyền viên hợp lý nên khó tạo được động lực làm việc cho cán bộ, công chức và những cá nhân, tổ chức tham gia Phổ biến, giáo dục pháp luật. Vì vậy, nguồn kinh phí đảm bảo cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cần được quy định cụ thể, được đảm bảo từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn lực hỗ trợ khác.
Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc dành cho công tác tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật nhìn chung còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác này, nhất là ở các địa phương, cơ sở.
Việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân hiện nay chưa huy động được sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước. Nông dân chủ yếu là người dân làm việc tại nông thôn, do vậy nếu nhận được sự hỗ trợ, hợp tác từ phía Hội nông dân thì việc tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Phổ biến, giáo dục pháp luật là khái niệm được hiểu dưới nhiều khía cạnh khác nhau và ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Song tựu chung đó là sự truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành.
Phổ biến, giáo dục pháp luật với những đặc điểm, mục đích cũng như vai trò riêng có của nó đã tạo nên loại hoạt động mang tính đặc thù. Nâng cao trình độ nhận thức, ý thức thực hiện pháp luật và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với Nhà nước và xã hội. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
PBGDPL đối với nông dân là hình thức phổ biến, giáo dục đặc thù. Điều này được thể hiện qua nội dung, hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật là quá trình nhằm cung cấp cho nông dân những thông tin về hoạt động tư pháp, hành pháp và lập pháp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các quy định pháp luật, giúp cho nông dân có cơ sở pháp lý để giám sát hoạt động của cán bộ làm công tác tư pháp, hành pháp và lập pháp, vì vậy để đạt được mục đích đó thì cần phải tìm hiểu, nghiên cứu để áp dụng hình thức và phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với người nông dân theo phương châm dễ nhớ, dễ hiểu, tránh lấy tư duy vòng vo trừu tượng.
Chủ thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân là Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy ban nhân dân các cấp; các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị -xã hội. Bên cạnh các cơ quan, tổ chức của nhà nước, chủ thể tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân còn có thể là Hội Nông dân, các cán bộ của Hội Nông dân các cấp.
Quá trình Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau. Nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, luận văn đã xác định những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân gồm: Yếu tố về mức độ hoàn thiện của nội dung pháp luật đối với nông dân; yếu tố về tổ chức bộ máy và sự phối hợp giữa các chủ thể trong tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân; yếu tố về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân; yếu tố về nguồn lực tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân; yếu tố về tính đặc thù của tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân.
Những nội dung cơ bản được phân tích ở chương 1 sẽ là cơ sở, là sợi chỉ xuyên suốt cho việc phân tích đánh giá thực trạng và phương hướng hoàn thiện vai trò của báo chí trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân được trình bày ở những chương tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu này sẽ là căn cứ khoa học để đánh giá thực trạng về tổ chức Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân Thái Nguyên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân