Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và quan điểm, giải pháp giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK
2.1.1. Điều kiện địa lý – tự nhiên và xã hội
Về vị trí địa lý, tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28’57” đến 108o59’37” độ kinh Đông và từ 12o9’45” đến 13o25’06” độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km; phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai; phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa ; phía Tây giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Đắk Nông. Tỉnh có đường biên giới dài 70 km chung với nước Campuchia, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế – xã hội vùng biên giới kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng.
Diện tích, dân cư: Đắk Lắk có diện tích 13.125,37 km2, dân số toàn tỉnh tính đến năm 2012 đạt 1.796.666 người, mật độ dân số đạt hơn 137 người/km². Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt 432.458 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.364.208 người. Dân số nam đạt 906.619 người, dân số nữ đạt 890.047 người. Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc. Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M’nông, Thái, Tày, Nùng… chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh.
Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, v.v…
Trên địa bàn tỉnh, ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông dân di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp.Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự do, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái. Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M’Nông… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T’rưng; các bản trường ca Tây Nguyên… là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk.
Dân tộc Ê Đê thuộc ngữ hệ Malayô – Pôlinêdiêng, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Bắc và phía Nam: từ Ea Hleo, Buôn Hồ xuống M’Đrắk và kéo dài lên Buôn Ma Thuột. Dân tộc M’nông thuộc ngữ hệ Môn-Khơme, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Nam và dọc biên giới Tây Nam.
Về đơn vị hành chính, tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ và 13 huyện với tổng cộng 180 xã, phường, thị trấn: 1) Thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường và 8 xã; 2) Thị xã Buôn Hồ; 3) Huyện Ea H’leo có 1 thị trấn và 11 xã; 4) Huyện Ea Súp có 1 thị trấn và 9 xã; 5) Huyện Buôn Đôn có 7 xã; 6) Huyện Cư M’gar có 2 thị trấn và 15 xã; 7) Huyện Krông Búk có 1 thị trấn và 14 xã; 8) Huyện Ea Kar có 2 thị trấn và 14 xã; 9) Huyện M’Đrắk có 1 thị trấn và 12 xã; 10) Huyện Krông Bông có 1 thị trấn và 13 xã; 11) Huyện Krông Pắc có 1 thị trấn và 15 xã; 12) Huyện Krông Ana gồm 1 thị trấn và 7 xã; 13) Huyện Lắk gồm 1 thị trấn và 10 xã; 14) Huyện Krông Năng gồm 1 thị trấn và 11 xã; 15) Huyện Cư Kuin gồm 8 xã. Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên. Với số lượng đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã tương đối lớn, dàn trải trên một phạm vi không gian rộng, sẽ trở thành một trở ngại tương đối lớn cho việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân trên địa bàn tỉnh.
2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế
Sự phát triển kinh tế là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Kinh tế phát triển sẽ kéo theo và là động lực thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực hoạt động khác và ngược lại. Sự phát triển các lĩnh vực hoạt động khác nhau trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trong đó có hoạt động giáo dục pháp luật cho người dân cũng không nằm ngoài tính quy luật này. Trong những năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền các cấp, nền kinh tế tỉnh Đắk Lắk liên tục tăng trưởng ở mức khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và các thành phần kinh tế đều có sự phát triển chủ động, tích cực.
2.1.2.1. Về tiềm năng phát triển Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Nguyên. Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai qua quốc lộ 14 sẽ đến trung tâm kinh tế Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai. Phía đông giáp tỉnh Khánh Hoà qua quốc lộ 26, đây là trung tâm du lịch lớn của cả nước, đồng thời có cảng biển giao thương hàng hoá với nước ngoài. Phía nam là các tỉnh Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh qua quốc lộ 14. Đây là trung tâm kinh tế trọng điểm của phía Nam. Phía tây là vương quốc Campuchia qua cửa khẩu Đăk Ruê.
Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung sẽ hình thành mạch giao thông rất thuận lợi để phát triển thương mại – dịch vụ. Cùng với việc Chính phủ đầu tư tuyến đường Hồ Chí Minh, hàng loạt các công trình đầu tư nhằm khai thác lợi thế của tuyến giao thông này. Điển hình là việc đầu tư xây dựng cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum) và các trục giao thông sẽ hình thành nhánh của con đường xuyên Á bắt đầu từ Côn Minh (Trung Quốc) – Myanmar – Lào – Thái Lan qua cửa khẩu Bờ Y tạo mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Nam Lào với các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ. Đây cũng là điều kiện khá lý tưởng để thu hút khách du lịch các nước theo tuyến đường bộ này vào Tây Nguyên – Đắk Lắk cũng như khuyến khích du khách Đắk Lắk đi du lịch nước ngoài. Đường giao thông nội tỉnh được đầu tư mở mới và nâng cấp thuận lợi có thể thông thương đến biên giới Campuchia. Với một vị trí thuận lợi như vậy, Đắk Lắk sẽ là trung tâm giao lưu hàng hoá giữa các vùng và tạo điều kiện cho phát triển du lịch, dịch vụ trong những năm tới đây. Hiện tại Đắk Lắk định hướng ưu tiên đầu tư và phát triển công nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là trồng và khai thác các loại nông sản, cây công nghiệp; chế biến và xuất khẩu nông sản như mì, bắp…, sản phẩm cây công nghiệp như cà phê, cao su, ca cao…; vì vậy nguồn thu từ ngành kinh tế nói trên mang lại cho tỉnh Đắk Lắk nguồn ngân sách rất lớn. Các ngành kinh tế như điện lực, xây dựng và ngành nghề khác như: y tế, giáo dục… cũng đã góp phần phát triển một cách toàn diện hoạt động kinh tế của tỉnh.
2.1.2.2. Những kết quả đạt được năm 2014, 2015
Năm 2014: Theo Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội năm 2014 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2015 của tỉnh Đắk Lắk [51], trong năm 2014, nền kinh tế – xã hội của tỉnh dù gặp nhiều khó khăn nhưng cũng đã đạt, gần đạt nhiều chỉ tiêu quan trọng theo kế hoạch đề ra: Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
- Về kinh tế:
Theo giá so sánh 2010: Tổng sản phẩm xã hội ước khoảng 37.700 tỷ đồng, tăng 9,2% so với thực hiện năm 2013, đạt 99,4% KH (kế hoạch – Báo cáo). Trong đó:
- Giá trị ngành nông, lâm, thủy sản 420 tỷ đồng, tăng 5%, đạt 100,7% KH.
- Giá trị ngành công nghiệp – xây dựng 440 tỷ đồng, tăng 9,9%, đạt 97% KH.
Giá trị ngành dịch vụ 840 tỷ đồng, tăng 13,9%, đạt 99,1% KH.
- Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): Nông, lâm, thủy sản 45% (KH đạt 44-45%); công nghiệp – xây dựng 16,7% (KH đạt 16-17%); dịch vụ 38,3% (KH đạt 39- 40%).
- Thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành 31,4 triệu đồng, đạt 98,4% KH.
- Huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13.500 tỷ đồng, tăng 6,8% so với thực hiện năm 2013, bằng khoảng 23,3% tổng sản phẩm xã hội, đạt 90% KH.
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn 49.425 tỷ đồng, tăng 29,8% so với thực hiện năm 2013, đạt 100%KH.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 730 triệu USD, tăng 20% so với thực hiện 2013, đạt 97,3% KH (KH 2014 : 750 triệu USD); Tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 15 triệu USD, bằng so với thực hiện 2013, bằng 75% KH (KH 2014 : 20 triệu USD)
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt khoảng 3.300 tỷ đồng, đạt 96,8% dự toán TW giao và đạt 82,5% dự toán HĐND tỉnh giao; bằng 92,2% so với năm 2013 (KH 2014 : 4.000 tỷ đồng.
Phát triển hạ tầng: Thuỷ lợi bảo đảm tưới chủ động cho 76% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới, đạt 100% KH; cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa 95% các tuyến đường tỉnh, tăng 13,1% so với KH (KH 2014 đạt 84%); 73% hệ thống đường huyện (đạt 100% KH); 38% đường xã và liên xã (đạt 100% KH); có 95% số thôn, buôn có điện (KH 2014 : 97%), trong đó có 96,8% số hộ được dùng điện (KH 2014 : 97,75%). Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
- Về xã hội:
Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia đạt 29% (tăng 01% so với năm 2013) đạt 100% KH; Có 91,5% (KH là 95%) thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo (tính cả thôn, buôn học ghép lớp), trong đó có 65% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo (không tính thôn, buôn học ghép lớp).
Mức giảm tỷ lệ sinh khoảng 0,5‰ (KH là 0,5‰). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,18% (KH là 1,1%). Quy mô dân số 1.847 ngàn người, đạt 100% KH.
Tỷ lệ xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế đạt 70,1% (tăng 5,43% so với năm 2013) tăng 19,6% so với KH; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 22,8% (giảm 0,6% so với năm 2013), giảm 0,2% so với KH; Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 22,34 giường/1 vạn dân, thấp hơn 0,26% so với KH.
Giải quyết việc làm cho 26.500 lao động (tăng trên 500 lao động so với năm 2013), đạt 100% KH; Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động 46% trở lên, vượt 1% so với KH (KH là 45%), trong đó qua đào tạo nghề 37% trở lên (tăng 2% so với năm 2013), đạt 100% KH; Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 2,95% (bằng so với năm 2013), đạt 100% KH.
- Tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 12,75%, giảm 2,1% so với năm 2013 (các huyện nghèo, khó khăn giảm 3%), (KH giảm 2-3%).
- Có 94,9% buôn có nhà sinh hoạt cộng đồng (tăng 0,82% so với năm 2013) (KH 2014: 96%).
Năm 2015 [43]: Bên cạnh những thuận lợi, Đắk Lắk vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh giảm; huy động vốn đầu tư đạt thấp. Nhưng với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của UBND tỉnh, tình hình kinh tế – xã hội tiếp tục có bước phát triển, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Ước tính năm 2015, tổng sản phẩm xã hội đạt khoảng 41.091 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9% so với giá so sánh năm 2010; thu nhập bình quân đầu người đạt 32,7 triệu đồng; huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 14.087 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu khoảng 650 triệu USD; tổng mức lưu chuyển hàng hoá trên địa bàn đạt 47.686 tỷ đồng; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 3.341 tỷ đồng, đạt 120,6% dự toán Trung ương giao. Sản lượng lương thực ước đạt 1 triệu 205.042 tấn, đạt 104% kế hoạch. Một số ngành công nghiệp vẫn duy trì được mức độ tăng trưởng cao, như: công nghiệp khai khoáng tăng 7,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,6% so với năm 2014. Trong năm 2015, đã giải quyết việc làm cho khoảng 27 nghìn người, tỷ lệ hộ nghèo giảm 3%. Tuy nhiên, bên cạnh đó một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế vẫn chưa đạt kế hoạch đề ra.
Như vậy, trong những năm qua, nền kinh tế tỉnh Đắk Lắk liên tục tăng trưởng, phát triển khá tốt và bền vững. Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Trung ương, đây là điều kiện thuận lợi để Đắk Lắk tập trung triển khai thực hiện tốt các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế cho đồng bào các vùng dân tộc trên địa bàn tỉnh. Tình hình mọi mặt trong tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét, như giao thông đi lại thuận tiện, các điều kiện về vệ sinh, môi trường, nước sạch có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất của nhân dân đã được cải thiện và nâng lên đáng kể; khoảng cách phát triển giữa các vùng trong tỉnh đã từng bước được rút ngắn so với sự phát triển chung trên địa bàn tỉnh. Đây là những điều kiện thuận lợi, là tiền đề tích cực để các chủ thể giáo dục pháp luật triển khai công tác giáo dục pháp luật cho người dân đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn. Nhờ cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ thuật phục vụ cuộc sống, công việc chuyên môn, sinh hoạt được đầu tư xây dựng, đời sống kinh tế được cải thiện và nâng cao nên người dân ở tỉnh Đắk Lắk có điều kiện thuận lợi hơn để hăng hái, nhiệt tình tham gia hoạt động giáo dục pháp luật dành cho họ; qua đó, củng cố và nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật.
2.1.3. Đặc điểm tình hình chính trị – xã hội Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Cùng với yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục pháp luật. Môi trường chính trị càng ổn định, bầu không khí chính trị – xã hội càng dân chủ bao nhiêu thì các mặt hoạt động xã hội, bao gồm cả hoạt động giáo dục pháp luật càng diễn ra thuận lợi và đạt chất lượng, hiệu quả cao bấy nhiêu; ngược lại, môi trường chính trị bất ổn, xã hội thiếu dân chủ thì mọi lĩnh vực hoạt động đều gặp khó khăn, thậm chí không thực hiện được.
Cho đến nay, sau hơn 10 năm chia tách tỉnh Đắk Lắk, với sự nỗ lực và quyết tâm cao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, các cấp, các ngành trong việc làm tốt công tác tổ chức, sắp xếp bộ máy nhân sự, nhìn chung tình hình chính trị – xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đi vào nề nếp, ổn định; trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội được củng cố và giữ vững. Bầu không khí dân chủ, cởi mở trong đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, các quyền dân chủ của nhân dân được mở rộng; niềm tin của nhân dân, của đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đảng, Nhà nước, vào các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương ngày càng được củng cố; từ đó, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh, biểu hiện rõ nhất là trong phát triển kinh tế, xây dựng nếp sống văn hoá ở xã, phường, thị trấn.
Có được tình hình chính trị ổn định, bầu không khí dân chủ rộng mở trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là do, sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 30-CT/TƯ ngày 18/2/1998 về Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 về việ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, ngày 20/4/2007, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp trong tỉnh đã có nhiều biện pháp chỉ đạo quyết liệt, triển khai tuyên truyền, phổ biến sâu rộng pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã; làm chuyển biến tích cực trong các tầng lớp nhân dân nhận thức về quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, ở xã, phường, thị trấn. Các xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã tích cực xây dựng các bản quy chế, quy định trên các lĩnh vực, như Quy chế làm việc của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân; Quy chế quản lý sử dụng đất đai; các quy ước, hương ước thôn, làng văn hóa; các quy định về việc cưới, việc tang… Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn luôn được gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế – xã hội, cải cách thủ thục hành chính; gắn với các cuộc vận động “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các phong trào, hoạt động văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở buôn, làng. Các hoạt động chính trị – xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được các tầng lớp nhân dân đồng tình, hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả. Phát huy dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp của nhân dân được các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Đắk Lắk coi trọng và tăng cường. Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Hàng năm, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong tỉnh Đắk Lắk cũng đã làm tốt công tác tuyên truyền cho cán bộ, công chức, đảng viên làm công tác dân tộc, tôn giáo ở các vùng đồng bào dân tộc trong tỉnh về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo gắn liền với việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án được Trung ương đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc. Nhờ làm tốt công tác chính trị – tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo nên đã tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của cán bộ, công chức, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh; ý thức, tinh thần trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được nâng lên. Điều đó có tác động, ảnh hưởng tích cực đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, các cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương. Đây cũng là điều kiện thuận lợi đối với công tác giáo dục pháp luật cho người dân ở tỉnh Đắk Lắk.
2.1.4. Tình hình văn hóa – xã hội
Cùng với việc chăm lo đầu tư phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, Đảng bộ, chính quyền, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh Đắk Lắk cũng luôn quan tâm phát triển lĩnh vực văn hóa – xã hội; nhờ đó, tình hình văn hóa – xã hội trong tỉnh nói chung, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Về giáo dục – đào tạo, tính đến thời điểm ngày 30/9/2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ thông, trong đó: Trung học phổ thông có 52 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã tương đối hoàn chỉnh, góp phần nâng cao trình độ, nhận thức trong địa bàn tỉnh.
Tính đến hết năm 2012, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 26%; có 90,23% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo. Số lượng học sinh đến trường tiếp tục tăng, các mục tiêu về chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, chuẩn phổ cập trung học cơ sở đều đạt kế hoạch đề ra. Chất lượng giáo dục có bước tiến bộ, cơ sở vật chất trường, lớp học tiếp tục được tăng cường, kiên cố hóa. Công tác dạy nghề ngày càng được quan tâm và có bước phát triển.
Năm học 2013 – 2014, toàn tỉnh tăng 18 trường so với năm học 2012 – 2013. Tỷ lệ trường chuẩn Quốc gia ước đạt 29% (KH 2014 là 29%). Đến nay, có 164/184 xã phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đạt 89,13%, tăng 36,42% so với cùng kỳ năm 2013. Kết quả tốt nghiệp THPT đạt 97,98%, tăng 2% so với năm trước; tốt nghiệp GDTX đạt 85,43%, tăng 29% so với năm trước. Kết quả đào tạo học sinh giỏi được nâng cao qua các kỳ thi khu vực và Quốc gia [51].
Về y tế, hệ thống khám, chữa bệnh từng bước được củng cố; chất lượng khám, chữa bệnh từng bước được nâng cao; tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh có chuyển biến tích cực; các trang, thiết bị kỹ thuật cao tiếp tục được triển khai ứng dụng; tình trạng quá tải của các bệnh viện có chiều hướng giảm. Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 70,1% (KH 2014 là 50,5%). Tỷ lệ giường bệnh trên một vạn dân đạt 22,34% (tăng 2,37% so với cuối năm 2013). Công tác quản lý chất thải y tế đã triển khai ở tất cả các bệnh viện trong tỉnh. Công tác truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh, mạng lưới chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em được củng cố; nhận thức của người dân về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em ngày càng tốt hơn [51]. Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Công tác giải quyết việc làm, dạy nghề, đặc biệt là dạy nghề cho lao động nông thôn ngày càng được chú trọng; toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho khoảng 26.500 người (trong đó việc làm tăng thêm 14.200 người), đạt 100% kế hoạch để ra (nữ: 12.800 người, dân tộc thiểu số: 8.300 người). Tuy nhiên, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các Trung tâm dạy nghề, nhất là ở cấp huyện không phù hợp với ngành nghề cần đào tạo; nội dung, ngành nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của người học và thị trường lao động; chưa giải quyết được đầu ra sau đào tạo.
Công tác giảm nghèo được các cấp, các ngành, các địa phương tích cực triển khai thực hiện và tiếp tục có kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 12,75% (giảm 2,1% so với năm 2013), đạt kế hoạch đề ra (KH 2-3%). Song nguồn lực đầu tư cho mục tiêu giảm nghèo còn nhiều hạn chế; tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao so với mặt bằng chung của tỉnh và vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo [51].
Tiếp tục thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công, tăng cường công tác vận động ủng hộ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa. Công tác bảo trợ xã hội, công tác Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có nhiều tiến bộ. Các hoạt động tuyên truyền, tập huấn về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ngày càng được quan tâm hơn.
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng với bản sắc văn hoá đa dạng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Êđê, M’nông, Gia Rai… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T’rưng; các bản trường ca Tây Nguyên (Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu)… là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk. Các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê…
2.2. HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
2.2.1. Hoạt động giáo dục quyền con người trong trường học
2.2.1.1. Giáo dục quyền con người trong các trường mầm non
Giáo dục quyền con người là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục toàn diện, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ và là việc cần phải tiến hành một cách nghiêm túc từ tuổi mẫu giáo. Có thể coi trẻ mẫu giáo là thời kỳ hoàng kim của giáo dục quyền con người. Ở lứa tuổi này, tâm hồn trẻ rất nhạy cảm, dễ xúc động đối với con người, cảnh vật xung quanh, trí tưởng tượng của trẻ bay bổng và phong phú. Hiện nay, trong các trường mầm non, thông qua các “tiết học” tạo hình, múa hát, đóng kịch…, các em đã bắt đầu được tiếp xúc với quyền con người, mà cụ thể là quyền trẻ em.
Giáo dục quyền con người trong các trường mầm non có mối quan hệ hữu cơ với tình hình phát triển giáo dục mầm non nói chung. Ở Đắk Lắk, giáo dục mầm non thời gian qua đã có những phát triển ấn tượng. Toàn tỉnh Đăk Lăk hiện có 294 trường mầm non. Năm học 2015 – 2016, tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra lớp đạt trên 98%, có 99% số trẻ được học 2 buổi/ngày, 79,5% trẻ được ăn bán trú tại trường; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng chiều cao, cân nặng giảm so với đầu năm học. Đến nay, tỉnh có 182/184 xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi theo quy định [59].
Tuy nhiên, công tác giáo dục phổ cập giáo dục mầm non ở Đăk Lăk vẫn còn gặp nhiều khó khăn, là thách thức gây trở ngại cho công tác giáo dục mầm non nói chung, trong đó có giáo dục nhân quyền, như: Tỷ lệ trẻ nhà trẻ ra lớp thấp, mới chỉ đạt 13% (bằng một nửa bình quân cả nước); tỷ lệ giáo viên mầm non/lớp thiếu so với quy định, cơ sở vật chất ở một số trường chưa đáp ứng được nhu cầu ra lớp cho trẻ mầm non; số lớp ghép 2- 3 độ tuổi còn cao; việc phân lớp trẻ theo độ tuổi thực hiện chương trình giáo dục mầm non, duy trì trẻ đi học chuyên cần còn bất cập.
Bên cạnh đó, nếu đứng về đối tượng giáo dục quyền con người là các giáo viên mầm non, thì việc giáo dục quyền con người cho đối tượng này là một việc làm hết sức cấp thiết hiện nay. Ở nhiều nơi, không cứ gì Đắk Lắk ngày càng nhiều vụ bạo hành trẻ em diễn ra gần đây được phát hiện [như tại nhà trẻ Phương Anh (quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh), hai bảo mẫu Lê Thị Đông Phương và Nguyễn Lê Thiên Lý hành hạ dã man các cháu mầm non, hay vụ bảo mẫu Hồ Ngọc Nhờ (cũng ở quận Thủ Đức) đã nhẫn tâm đạp chết một cháu bé vì cháu không chịu ăn], một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc vi phạm quyền trẻ em và tầm quan trọng của việc giáo dục các quyền con người, trong đó có quyền trẻ em cho các giáo viên mầm non. Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương và ít có khả năng tự bảo vệ mình. Vì vậy, để bảo vệ các em trước tiên phải giáo dục quyền con người và nâng cao ý thức của các giáo viên mầm non về tôn trọng bảo vệ quyền.
2.2.1.2. Giáo dục nhân quyền trong các nhà trường phổ thông Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Mặc dù nhân quyền không phải là một phạm trù dễ hiểu, nhưng việc giáo dục nhân quyền với mức độ nhất định và bằng các phương pháp phù hợp trong các nhà trường phổ thông là cần thiết và có thể thực hiện được. Thực tế trên thế giới đã chứng minh tính hữu ích và hiệu quả của việc hình thành nhận thức và thái độ tôn trọng quyền con người của các cá nhân ngay từ khi còn trẻ thông qua việc triển khai giáo dục nhân quyền cho học sinh phổ thông.
Xuất phát từ thực tế kể trên, nhiều quốc gia trên thế giới đã có chương trình giáo dục về quyền con người dành cho cho trẻ em từ lứa tuổi rất nhỏ [Xem thêm tại http://www.unhr.ch/html/menu6/1/initiatives.htm.]. Về vấn đề này, xét ở góc độ nhất định, giáo dục nhân quyền cũng đã được thực hiện từ lâu trong các nhà trường phổ thông ở Việt Nam nói chung, Đắk Lắk nói riêng. Tuy nhiên, kể từ khi Đổi mới đến nay, hoạt động giáo dục nhân quyền trong các nhà trường phổ thông ở Việt Nam nói chung đã được tăng cường thêm một bước mới, với việc lồng ghép nhiều nguyên tắc và tiêu chuẩn cụ thể của luật nhân quyền quốc tế vào chương trình giáo dục của các nhà trường, đặc biệt là trong môn học Đạo đức và Giáo dục công dân (thực hiện ở các cấp phổ thông từ I, II đến III). Cụ thể như sau:
Đối với học sinh tiểu học (cấp I), môn học Đạo đức đã bao gồm các bài học nhằm hướng dẫn các em tôn trọng người khác như: tôn trọng khách nước ngoài, tôn trọng thư từ, tài sản của người khác (Lớp 3); tôn trọng phụ nữ (Lớp 5) [8]…Trong các bài học này, tuy các khái niệm cụ thể về quyền chưa được sử dụng (chẳng hạn khi nói về tôn trọng phụ nữ thì mới nêu các lý do về đạo đức, xã hội chứ chưa đề cập đền “quyền của phụ nữ”) và các kiến thức, thông tin chuyển tải mới ở mức độ đơn giản, nhưng rõ ràng thông qua các bài học kể trên, học sinh có thể hiểu được một số nguyên tắc cơ bản của quyền con người và nghĩa vụ tôn trọng các quyền con người của các nhóm đối tượng có liên quan.
Ở cấp trung học cơ sở phổ thông (cấp II), số lượng bài học về quyền con người trong chương trình học đã nhiều hơn, các bài học chứa đựng những kiến thức rộng và sâu hơn về quyền con người. Mặc dù vậy, tương tự như ở cấp tiểu học, các bài học về quyền con người ở cấp trung học cơ sở vẫn được thiết kế thông qua những bối cảnh sinh hoạt hàng ngày và phù hợp với nhận thức xã hội của học sinh theo từng độ tuổi, để giúp các em có thể hiểu được các khái niệm và phạm trù đôi khi khá phức tạp trên lĩnh vực này. Cụ thể, các bài học về quyền con người trong môn học Giáo dục công dân của học sinh phổ thông cấp II được thiết kế như sau [4]: Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 6 (tổng số 21 bài) có các bài: Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (bài 12), Công dân nước CHXHCN Việt Nam (bài 13), Quyền và nghĩa vụ học tập (bài 15), Quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm (bài 16), Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (bài 17), Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín (bài 18).
Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 7 (tổng số 18 bài) có các bài: Quyền được chăm sóc và giáo dục của trẻ em Việt Nam (bài 13), Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo (bài 16), Nhà nước CHXHCN Việt Nam (bài 17).
Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 8 (tổng số 21 bài) có các bài: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình (bài 12), Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác (bài 16), Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (bài 18), Quyền tự do ngôn luận (bài 19), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (bài 20), Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam (bài 21).
Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 9 (tổng số 18 bài) có các bài: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân (bài 12), Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế (bài 13), Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân (bài 14), Quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của công dân (bài 16).
Trong chương trình giáp dục cấp III, môn học Giáo dục công dân đã mang tính lý thuyết và tính khái quát khá cao, nhiều nội dung tương đối trừu tượng với lứa tuổi thiếu niên. Chương trình Lớp 10 có đề cập đến một số nghĩa vụ của công dân nhưng chủ yếu từ khía cạnh đạo đức (đối với cộng đồng, với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc), Lớp 11 có các bài: Nhà nước xã hội chủ nghĩa (bài 9), nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (bài 10). Các kiến thức về quyền con người tập trung nhiều hơn ở chương trình giáo dục công dân Lớp 12, theo đó học sinh được tiếp cận với nhiều nội dung liên quan đến quyền công dân như bài Hiến pháp, các quyền trong lĩnh vực dân sự (trong bài Luật dân sự), các quyền trong tố tụng và một số quyền trong các lĩnh vực cụ thể như đất đai, thuế, hành chính… [4] Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Bên cạnh môn học Giáo dục công dân, một số tác giả cho rằng trong các môn học Sinh học, Địa lý, Lịch sử cũng cần đưa vào những nội dung về quyền con người, tuy nhiên thực tế ở Việt Nam cho thấy, việc lồng ghép các nội dung về quyền trong các môn học khó thực hiện một cách cụ thể và mang tính hệ thống như trong môn Giáo dục công dân.
Từ những thông tin kể trên, có thể thấy dung lượng kiến thức về quyền con người trong chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam là khá lớn so với mặt bằng chung trên thế giới. Một điểm tích cực nữa là việc thiết kế các bài học về quyền trong chương trình giáo dục công dân ở Việt Nam đã tính đến trình độ nhận thức và tâm lý của học sinh ở từng độ tuổi. Những điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam với hoạt động giáo dục về quyền con người, cũng như cho thấy triển vọng tốt đẹp của hoạt động giáo dục về quyền con người ở các nhà trường phổ thông ở Việt Nam. Đối với Đắk Lắk, những năm qua, nền giáo dục phổ thông nói chung đạt được những thành tựu đánh kể. Tính đến thời điểm ngày 30/9/2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ thông, trong đó: Trung học phổ thông có 52 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở. Tính đến hết năm 2012, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 26%; có 90,23% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo. Số lượng học sinh đến trường tiếp tục tăng, các mục tiêu về chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, chuẩn phổ cập trung học cơ sở đều đạt kế hoạch đề ra. Chất lượng giáo dục có bước tiến bộ, cơ sở vật chất trường, lớp học tiếp tục được tăng cường, kiên cố hóa. Năm học 2013 -2014, toàn tỉnh tăng 18 trường so với năm học 2012 – 2013. Tỷ lệ trường chuẩn Quốc gia ước đạt 29%. Đến 2015, có 164/184 xã phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đạt 89,13%, tăng 36,42% so với cùng kỳ năm 2013. Kết quả tốt nghiệp THPT đạt 97,98%, tăng 2% so với năm trước; tốt nghiệp GDTX đạt 85,43%, tăng 29% so với năm trước. Kết quả đào tạo học sinh giỏi được nâng cao qua các kỳ thi khu vực và Quốc gia [51]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh, tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển của khía cạnh giáo dục nhân quyền những năm tiếp theo.
Mặc dù vậy, một trong các hạn chế quan trọng của hoạt động giáo dục nhân quyền trong các nhà trường phổ thông ở Việt Nam nói chung, ở Đắc Lắk nói riêng hiện nay là hiểu biết và phương pháp giảng dạy về quyền con người của giáo viên. Về khía cạnh hiểu biết, hầu hết giáo viên môn học Giáo dục công dân ở các cấp học phổ thông ở Việt Nam đều chưa được đào tạo hay tập huấn về quyền con người; tình trạng đó chắn chắn có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy các bài học về nhân quyền. Về khía cạnh phương pháp, hơn bất kỳ môn khoa học xã hội nào khác, giáo dục nhân quyền đòi hỏi giáo viên cần áp dụng phương pháp giảng dạy đặc thù (phương pháp giáo dục cùng tham gia – participatory teaching methods), trong khi các nhà trường phổ thông ở Việt Nam hiện vẫn áp dụng phổ biến phương pháp giảng dạy truyền thống (còn gọi là phương pháp giáo dục áp đặt – banking education). Việc sử dụng phương pháp giáo dục truyền thống làm giảm một cách đáng kể hiệu quả của hoạt đông giáo dục nói chung, hoạt động giáo dục nhân quyền nói riêng vì phương pháp giảng dạy truyền thống thông thường biến các tiết học về quyền con người thành các buổi thuyết giảng một chiều, khô cứng về đạo đức và luân lý.
Một vấn đề tồn tại nữa liên quan đến tài liệu và phương tiện học tập. Hoạt động giáo dục nói chung, giáo dục nhân quyền nói riêng muốn đạt được kết quả cao đòi hỏi người giảng viên phải được cung cấp các tài liệu tham khảo và công cụ giảng dạy thích hợp. Xét giáo dục nhân quyền, ở nhiều nước trên thế giới, ngoài giáo trình, giảng viên được cung cấp thêm các sách chuyên khảo, sách hướng dẫn về giảng dạy quyền con người và các loại giáo cụ đặc thù như bộ tranh tìm hiểu về các quyền, băng đĩa phim hoạt hình về quyền…Các yếu tố này hiện chưa có điều kiện đáp ứng trong bối cảnh của Việt Nam nói chung, Đắk Lắk nói riêng. Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
2.2.2. Hoạt động giáo dục quyền con người bên ngoài trường học
Giáo dục nhân quyền không chỉ bao gồm các hoạt động giảng dạy ở nhà trường mà còn bao gồm các hoạt động bên ngoài hệ thống giáo dục trên địa bàn tỉnh. Có thể phân thành 3 nhóm hoạt động chính.
Nhóm hoạt động tập huấn, phổ biến về quyền con người: nhóm hoạt động này chủ yếu được diễn ra trong “ngành dọc” nhằm nâng cao năng lực nhận thức và khả năng công tác cho những chủ thể trong hệ thống. Hoạt động giáo dục nhân quyền này được thực hiện ở nước ta, bởi nhiều chủ thể như các cơ quan giáo dục về quyền, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhằm vào nhiều dạng đối tượng như các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ an ninh, cảnh sát, cán bộ quản lý trại giam, người làm công tác xã hội, cán bộ của các đoàn thể xã hội, giáo viên, thành viên của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương…Nội dung tập huấn, tuyên truyền khá đa dạng, bao gồm các vấn đề lý luận về quyền con người nói chung, các tiêu chuẩn quốc tế và quy định quốc gia về quyền con người…, tuy nhiên, các nội dung liên quan đến quyền con người của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em, người thiểu số, người sống chung với HIV/AIDS…) chiếm dung lượng lớn. Các hoạt động tập huấn, tuyên truyền về quyền con người theo kênh này thường được thực hiện trong khuôn khổ các dự án hợp tác giữa một số bộ, ngành, tổ chức xã hội, cơ sở đào tạo ở Việt Nam với các nhà tài trợ nước ngoài (bao gồm các tổ chức quốc tế, các cơ quan viện trợ quốc gia, các đại sứ quán nước ngoài…).
Hoạt động tập huấn, phổ biến về quyền con người thường diễn ra theo chủ đề, bởi các chủ đề có liên quan. Cụ thể, các cơ quan Nhà nước ở tỉnh thường tập huấn nâng cao kiến thức về quyền con người liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của ngành cho các cán bộ trong hệ thống ngành dọc của mình (ví dụ, Tòa án nhân dân tỉnh tập huấn cho các Thẩm phán về bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh tập huấn cho các Kiểm sát viên về bảo đảm quyền con người trong hoạt động truy tố và hoạt động tố tụng hình sự nói chung, Công an tỉnh tập huấn cho các cán bộ công an về các tiêu chuẩn về quyền con người của các quan chức thực thi pháp luật…). Tương tự, các tổ chức xã hội ở tỉnh cũng hướng vào việc nâng cao kiến thức về quyền con người có liên quan cho các thành viên của tổ chức mình (Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Đắk Lắk tập trung vào các nội dung về quyền phụ nữ, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ, Liên đoàn lao động tỉnh hướng vào phổ biến kiến thức về các quyền về lao động, việc làm cho người lao động; Hội Luật gia tỉnh tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức về quyền con người cho các luật gia…). Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Nhóm các hoạt động giáo dục quyền con người thông qua chương trình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung của chính quyền địa phương: Trên cơ sở chương trình của cơ quan nhà nước ở Trung ương (chủ yếu là Chính phủ), hàng năm, UBND tỉnh thường ra Quyết định ban hành kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh, hoặc ban hành quyết định phổ biến, giáo dục pháp luật theo chủ đề, được gọi là Đề án. Trên cơ sở đó, trách nhiệm tổ chức thực hiện được phân giao cho các sở, ban ngành, đoàn thể các cấp. Trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung ở tỉnh Đắk Lắk, vai trò quan trọng được đặt vào Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, huyện, và Sở, Phòng Tư pháp. Nội dung quyền con người thường được giáo dục một cách gián tiếp thông qua phổ biến quy định Hiến pháp 2013, các văn bản luật liên quan nhiều đến quyền con người, quyền công dân như: Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật lao động; Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã hội; các Đề án thuộc Chương trình hành động về phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 2012-2016 của Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2464/QĐ-UBND ngày 26/10/2012 của UBND tỉnh), ví dụ như: Đề án 01 “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số”; Đề án 03 “Nâng cao chất lượng công tác PBGDPL trong nhà trường”; Đề án 04 “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp”; Đề án “Tiếp tục tăng cường công tác PBGDPL về khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2013 – 2016”; Đề án “Tăng cường công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 – 2015”; Đề án “Đẩy mạnh phổ biến nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và pháp luật Việt Nam về các quyền dân sự, chính trị cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân” trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 3023/QĐ-UBND ngày 13/11/2015 của UBND tỉnh Đắk Lắk). Nhóm hoạt động này chủ yếu hướng tới đại bộ phận nhân dân ở tỉnh nên có sức lan tỏa rộng.
Giáo dục quyền con người cho nhân dân thông qua hoạt động chuyên môn của cơ quan bảo vệ pháp luật như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân: Hoạt động giáo dục quyền con người theo nhóm này được thực hiện tập trung nhất trong quá trình tố tụng, nhất là tại phiên tòa xét xử. Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Theo Hiến pháp 2013, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 102); Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (Điều 107). Bằng hoạt động chuyên môn của mình, cán bộ, công chức Tòa án, Viện kiểm sát trực tiếp diễn giải, áp dụng quy định về quyền con người, quyền công dân vào quá trình tố tụng, hay tại phiên xét xử, các bên được tranh luận công khai, sử dụng các quyền, các biện pháp hỗ trợ được quy định để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình. Cuối cùng, một phán quyết công minh của Tòa án nhân dân sẽ được tuyên áp dụng, thi hành, qua đó, ý thức pháp luật nói chung, ý thức pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói chung sẽ được nâng lên rõ rệt. Tổng kết công tác xét xử năm 2015 của ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk cho thấy, Tòa án hai cấp thụ lý 9.650 vụ việc các loại; đã giải quyết 9.266 vụ việc; đạt tỷ lệ 96,02%. Trong đó các Tòa chuyên trách, Phòng giám đốc kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tỉnh thụ lý 1.033 vụ việc; giải quyết 1.031 vụ việc; Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý 8.617 vụ việc; giải quyết 8.235 vụ việc. So với cùng kỳ năm 2014, số vụ việc thụ lý tăng 531 vụ việc; số vụ việc đã giải quyết tăng 626 vụ việc. Công tác giải quyết các loại vụ án của Tòa án hai cấp trong năm 2015 đều vượt chỉ tiêu, kế hoạch công tác đã đề ra, các vụ án cơ bản đều được đưa ra xét xử đúng pháp luật. Việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án được triển khai sâu rộng, đảm bảo cho người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của họ, đặc biệt trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án. Người bào chữa được tạo điều kiện thuận lợi trong tham gia tố tụng tại Tòa án: việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự luôn được Tòa án hai cấp thực hiện kịp thời, đúng quy định của pháp luật; gửi gấy báo đúng thời gian quy định để có đủ điều kiện chuẩn bị và tham gia phiên tòa. Để nâng cao chất lượng xét xử, Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh đã quán triệt, chấn chỉnh việc nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị cho phiên xét xử. Hội đồng xét xử đã chú trọng xây dựng kế hoạch xét hỏi và tranh luận, đảm bảo cho các bên tham gia tố tụng bình đẳng trong việc trình bày toàn bộ ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án, đưa ra các chứng cứ, yêu cầu và tranh luận dân chủ tại phiên tòa. Phán quyết của Hội đồng xét xử đều căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng và trên cơ sở xem xét toàn diện, khách quan các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, chất lượng xét xử các loại vụ án của Toà án nhân dân hai cấp được nâng cao [47]. Đây là những kết quả cụ thể nhằm đạt được mục đích giáo dục quyền con người thông qua hoạt động tư pháp ở Đắk Lắk.
Nhìn chung, hoạt đông hoạt động giáo dục nhân quyền bên ngoài hệ thống nhà trường ở Việt Nam nói chung, ở Đắk Lắk nói riêng khá sôi động, phong phú và ở mức độ nhất định, mang tính “chuyên nghiệp” hơn so với hoạt động giáo dục nhân quyền trong hệ thống nhà trường. Đó là bởi khác với giáo dục nhân quyền trong hệ thống nhà trường, hoạt động giáo dục nhân quyền bên ngoài có sự tham gia của rất nhiều chủ thể, hướng vào rất nhiều vấn đề và khía cạnh của quyền con người, nội dung giáo dục gắn liền với thực tế và mang tính “ứng dụng” hơn. Tính chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ phương pháp giảng dạy cùng tham gia đã được sử dụng phổ biến trong giáo dục nhân quyền ngoài nhà trường, đội ngũ giảng viên được “cọ xát” và học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia nước ngoài nên năng động và ít “giáo điều”, cứng nhắc như giáo viên, giảng viên ở các trường học, trường đại học; tài liệu bổ trợ và phương tiện trợ giúp giảng dạy hiện đại hơn do được cung cấp bởi các nhà tài trợ. Nói cách khác, tuy vẫn còn những hạn chế nhất định, hoạt động giáo dục nhân quyền ở ngoài xã hội ở Việt Nam có sự chuyển biến theo hướng hiện đại hóa nhanh hơn so với giáo dục nhân quyền trong hệ thống nhà trường.
2.3. NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG GIÁO DỤC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY.
2.3.1. Những thành tựu Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Xét từ bình diện quốc gia, thành tựu nổi bật của Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền trước hết là việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, bao gồm cả Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, pháp lệnh, nghị định, hướng vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo thống kê, từ năm 1986 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã thông qua trên 80 bộ luật các luật, trong đó có những bộ luật lớn trực tiếp bảo đảm các quyền con người như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Lao động; Luật đầu tư, Luật Đất đai; Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em; Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình,…
Trong thời gian vừa qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong giáo dục quyền con người. Thành tựu này có được là nhờ đường lối, chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và Nhà nước. Gần đây nhất, có thể kể đến Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 14/03/2011 ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới, và Quyết định số 3821/QĐ-BTP ngày 12/09/2011 của Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án tổng thể “Thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới và thực hiện các khuyến nghị được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua theo cơ chế kiểm điểm định kỳ (UPR)”, trong đó có nhiệm vụ “Xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước về quyền con người”. Tiểu Đề án “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước về quyền con người” cũng đã được thông qua tại Quyết định số 1875/QĐ-BĐH của Bộ Tư pháp ngày 28/06/2012 cho giai đoạn 2012 – 2014. Thực hiện đề án, công tác giáo dục quyền con người đã đạt được nhiều thành tựu chính như sau:
Thứ nhất: Biên soạn các tài liệu pháp luật phục vụ hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng. Các tài liệu này đã được biên soạn như:
- Sách nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người;
- Tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người cho cán bộ, công chức, viên chức;
- Sổ tay tìm hiểu pháp luật về quyền con người [7];
- Tài liệu pháp luật phục vụ tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở (tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số);
- Tờ gấp phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, tập trung một số đối tượng cụ thể là phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người cao tuổi… Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Thứ hai: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các tổ chức đoàn thể và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đã được tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người.
Bộ Tư pháp cùng các cơ quan cấp Trung ương của các tổ chức như Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam, Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật, Hội Người mù, Hội nạn nhân chất độc da cam/Dioxin Việt Nam và các cơ quan liên quan đã tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp trung ương của các tổ chức, đoàn thể; đồng thời đã phối hợp với Ủy ban Dân tộc và các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đối tượng là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số (theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ).
Cùng với các tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ Lãnh đạo các Sở, ban, ngành, tổ chức đoàn thể thuộc tỉnh, Lãnh đạo của Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; đồng thời, đã hướng dẫn các Sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các tổ chức đoàn thể tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức, hội viên của tổ chức.
Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân huyện; cán bộ, công chức cấp xã; Trưởng thôn, Già làng, Trưởng bản, Tổ trưởng Tổ dân phố và cán bộ chủ chốt của các tổ chức đoàn thể trên địa bàn.
Thứ ba: Tổ chức thực hiện một số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người tại các xã thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo, với các nội dung phong phú như:
- Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người vào sinh hoạt của Câu lạc bộ pháp luật tại cơ sở, bao gồm:
Bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức pháp luật về quyền con người cho Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ; Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt của Câu lạc bộ pháp luật tìm hiểu về quyền con người như: tổ chức thi hái hoa dân chủ, mời báo cáo viên pháp luật phổ biến trực tiếp, phát hành tài liệu pháp luật, tổ chức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, sáng tác văn thơ, bài hát để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người…
- Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người vào hoạt động của tổ hòa giải ở cơ sở:
Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người thông qua công tác hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên;
Cung cấp tài liệu pháp luật, xây dựng các tình huống hòa giải liên quan đến pháp luật về quyền con người làm tài liệu mẫu cho hòa giải viên.
- Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật lưu động, trực tiếp những nội dung pháp luật về quyền con người có liên quan mật thiết với đời sống của người dân cơ sở.
Thứ tư: Thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người trên các phương tiện thông tin đại chúng và hệ thống loa truyền thanh cơ sở
Sơ Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, các cơ quan báo chí của tỉnh Đăk Lăk đã tổ chức thực hiện các chuyên trang, chuyên mục phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, trong đó tập trung giới thiệu, giải đáp, đăng tải các tin, bài, hình ảnh, phóng sự về việc thực hiện pháp luật về quyền con người; biểu dương đối với các cá nhân, tập thể tích cực trong việc thực hiện pháp luật về quyền con người và lên án, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người.
Thứ năm: Lồng ghép việc dạy và học kiến thức pháp luật về quyền con người vào chương trình học môn giáo dục công dân, môn pháp luật trong nhà trường, việc học tập pháp luật, giáo dục công dân của phạm nhân, học văn hóa của học sinh trường giáo dưỡng.
- Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện các hoạt động sau:
Rà soát chương trình, tài liệu, sách giáo khoa môn giáo dục công dân, pháp luật liên quan đến việc học tập và giảng dạy pháp luật về quyền con người; Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ việc dạy và học tập pháp luật về quyền con người cho đội ngũ nhà giáo và người học.
Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã hướng dẫn, chỉ đạo lồng ghép việc học tập pháp luật về quyền con người trong chương trình học tập pháp luật, giáo dục công dân của phạm nhân, học văn hóa của học sinh trường giáo dưỡng thông qua các hoạt động:
Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về quyền con người cho đội ngũ cán bộ thực hiện việc dạy pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân, giáo viên trường giáo dưỡng;
Biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ việc dạy và học pháp luật, giáo dục công dân về quyền con người cho phạm nhân và học sinh trường giáo dưỡng.
Thứ sáu: Tổ chức hội thảo, tọa đàm, các sự kiện nhằm nâng cao nhận thức chung của cộng đồng về quyền con người
Các diễn đàn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm đã được tổ chức nhằm đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật về quyền con người; các phong trào, các sự kiện có ý nghĩa thiết thực, tác động trực tiếp tới nhận thức chung của cộng đồng về việc bảo đảm và thực hiện quyền con người đối với từng đối tượng cụ thể, gắn với các sự kiện như: Tháng hành động vì trẻ em, Ngày Người cao tuổi, Ngày quốc tế phụ nữ…
Thứ bảy: Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 đang được phổ biến và nhận thức ngày càng sâu rộng trong nhân dân, đang được vận dụng như một nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức.
Đợt lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sau đó là tuyên truyền, phổ biến nội dung Hiến pháp là một đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý rộng lớn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp quyền, về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
2.3.2. Những tồn tại Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục quyền con người ở nước ta nói chung, Đắk Lắk nói riêng trong thời gian qua cũng bộc lộ và phát sinh những tồn tại sau:
- Việc giảng dạy tại các cơ sở đào tạo
Chương trình giáo dục quyền con người trong hệ thống giáo dục quyền con người chưa đáp ứng được yêu cầu. Chúng ta mới có chương trình chính thức các môn học như đạo đức, giáo dục công dân, pháp luật đại cương… mà chưa có chương trình chính thức về giáo dục quyền con người để áp dụng giảng dạy trong các trường học từ cấp tiểu học đến các cấp cao hơn. Để thực hiện hoạt động giáo dục quyền con người cũng đòi hỏi phải có cán bộ giảng dạy, tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có giáo viên dạy giáo dục công dân, giảng dạy pháp luật, các nhà nghiên cứu về quyền con người chứ chưa có giáo viên giảng dạy về quyền con người (nếu có là kiêm nhiệm).
Một vấn đề tồn tại nữa liên quan đến tài liệu và phương tiện học tập. Hoạt động giáo dục nói chung, giáo dục nhân quyền nói riêng muốn đạt được kết quả cao đòi hỏi người giảng viên phải được cung cấp các tài liệu tham khảo và công cụ giảng dạy thích hợp. Xét giáo dục nhân quyền, ở nhiều nước trên thế giới, ngoài giáo trình, giảng viên được cung cấp thêm các sách chuyên khảo, sách hướng dẫn về giảng dạy quyền con người và các loại giáo cụ đặc thù như bộ tranh tìm hiểu về các quyền, băng đĩa phim hoạt hình về quyền…Các yếu tố này hiện chưa có điều kiện đáp ứng trong bối cảnh của Việt Nam.
- Về mạng lưới trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
Ở cấp độ đại học, ở nước ta, mới chỉ có một số cơ sở đào tạo đại học Luật đã và đang triển khai nhiều hơn nội dung giảng dạy/môn học về nhân quyền.
Ở các trường cao đẳng, trung cấp, ngoài môn Pháp luật đại cương vốn đã ít về thời lượng, gần như không có môn học nào có khả năng chuyển tải về nhân quyền. Cả hai loại cơ sở đào tạo nêu trên, ở Đắk Lắk đều không có. Giáo dục nhân quyền chủ yếu diễn ra ở trường học, diễn ra thông qua các chương trình tập huấn của các tổ chức, ban ngành, thông qua phổ biến, giáo dục pháp luật và qua công tác tư pháp (tố tụng).
- Về nhận thức xã hội Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Mặc dù đã đáp ứng điều kiện thể chế và thiết chế, song có một thực tế đáng buồn là quyền con người chưa được đưa vào giáo dục một cách chính thức, đầy đủ, bài bản trong hệ thống giáo dục cũng như trong cộng đồng xã hội, do đó, nhận thức về quyền con người của đại đa số người dân Việt Nam còn hạn chế. Sự nhận thức hạn chế về quyền con người ở mỗi cá nhân đồng thời đã kéo theo tính thiếu chủ động trong việc đấu tranh tự bảo vệ quyền con người của mỗi cá nhân đó, bởi không biết về quyền con người thì không thể đấu tranh tự bảo vệ. Không ít trường hợp chị em phụ nữ bị bạo hành trong gia đình nhưng âm thầm chịu đựng để níu giữ sự tồn tại của gia đình, vì sợ điều tiếng, dư luận; hoặc những hiện tượng bạo hành trẻ em hiện nay cũng đang làm nhức nhối dư luận xã hội.
Vấn đề giáo dục quyền con người đang rất cần được quan tâm bởi các chính sách, biện pháp chúng ta ban hành nhằm đảm bảo quyền con người được thực hiện rất tích cực nhưng sự tồn tại của quyền con người trong đời sống xã hội thì lại chưa tương xứng. Vấn đề hạn chế trong nhận thức không chỉ xuất phát từ phía người dân mà chính ngay từ phía cán bộ, công chức, đúng như nhận định của TS. Phạm Ngọc Anh khi đánh giá về nhận thức của cán bộ, công chức về quyền con người: “Hiểu biết về nhân quyền ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến có những hành động cố ý hoặc vô ý vi phạm các quyền hợp pháp của công dân, đặc biệt là ở một số cơ quan công quyền và một số cơ quan tư pháp” [1]. Ở một số cơ quan chức năng, một bộ phận cán bộ còn mang nặng ý thức ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ kinh phí từ bên ngoài, chưa tích cực chủ động, chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa phối hợp chặt chẽ, chủ động để thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền giáo dục quyền con người theo mục tiêu mà các kế hoạch hành động quốc gia đã đề ra.
Khi nhắc đến giáo dục quyền con người, cụ thể là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhiều người dân thường tỏ thái độ “né tránh”. Và cũng vì lý do như vậy mà thuật ngữ quyền con người trong đời sống xã hội còn là một vấn đề nhạy cảm, chưa được đề cập nhiều từ các cơ quan, đơn vị đến người dân thường, dù chính nhiều trong số đó đã làm được nhiều việc mà trong đó đã và đang đảm bảo quyền con người trên thực tế. Từ đó để thấy rằng quan niệm, nhận thức về thuật ngữ quyền con người của số đông cơ quan, đơn vị và người dân còn chưa đầy đủ thì khó đề cập tới thực hiện giáo dục quyền con người. Vì thế, việc nhận thức vai trò việc giáo dục quyền con người chưa thỏa đáng.
Ngoài ra, sự tồn tại của nhiều quan niệm, hủ tục lạc hậu từ thời kỳ phong kiến hàng nghìn năm, sự chi phối của hệ tư tưởng phong kiến lấy đạo Khổng làm chủ đạo; các phong tục, tập quán cổ hủ của người đồng bào dân tộc; trình độ dân trí thấp cũng là một trở ngại cho việc thực hiện giáo dục quyền con người ở Việt Nam nói chung và ở Đăk Lăk nói riêng. Vấn đề này dễ dàng nhận thấy trong lĩnh vực quyền con người về bình đẳng giới và hôn nhân gia đình. Tư tưởng “trọng nam, kinh nữ”, hạ thấp vai trò của người phụ nữ trong gia đình khó có thể thay đổi một sớm, một chiều.
Những yếu tố trên ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục quyền con người, đồng thời, cũng sẽ quy định những đặc thù của hoạt động này tại Việt Nam, như nhận định của TS. Nguyễn Thị Báo công tác Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh trên Tạp chí Cộng sản số 168 năm 2008 “Sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội dẫn đến mỗi quốc gia có cách tiếp cận, phạm vi, mức độ, phương pháp và hình thức giáo dục về quyền con người khác nhau.”
- Phạm vi giáo dục quyền con người Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền, tuy nhiên, trong thực tế Việt Nam mới chỉ tập trung giáo dục, tuyên truyền, phổ biến hai công ước là: “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (công ước CEDAW) và “Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em” (công ước CRC). Việc giáo dục quyền con người chưa gắn kết với nhau, ngay cả trong một số trường hợp Công ước quốc tế đã được chuyển hóa thành luật quốc gia như Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Khi tuyên truyền phổ biến, giáo dục thường chỉ chú ý đến tuyên truyền giáo dục Công ước quốc tế nhiều hơn Luật quốc gia.
Ngay cả trong giáo dục quyền phụ nữ, quyền trẻ em dù đã có rất nhiều cố gắng như vậy, thì vẫn còn những tồn tại. Chẳng hạn, việc giáo dục quyền phụ nữ mới chủ yếu dừng lại ở cán bộ làm công tác quản lý, hội đoàn và một số vùng có điều kiện thuận lợi, mà chưa được thực hiện sâu rộng trong toàn thể xã hội, nhất là đối với phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa và phụ nữ dân tộc thiểu số. Việc tuyên truyền, giáo dục, chủ yếu được thực hiện theo từng đợt, thiếu tính thường xuyên, liên tục. Việc giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em Việt Nam mới chỉ được thực hiện mang tính thử nghiệm ở một bộ phận trẻ em, học sinh tiểu học, trung học cơ sở (cấp 1 – 2). Còn đa số trẻ em, nhất là trẻ em ở các vùng sâu, vùng xa, trẻ em dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên. Đời sống kinh tế – xã hội, xét ở bình diện chung ảnh hưởng tới việc đầu tư kinh phí cho hoạt động này, xét ở bình diện cụ thể, đặc biệt là một số vùng núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn cũng đặt ra nhiều trở ngại từ phía người dân. Giống như công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vấn đề cuộc sống mưu sinh của người dân cũng là một thách thức không nhỏ khi thực hiện các hoạt động này. Bởi thực tế hết sức đơn giản là người dân phải quan tâm trước tiên tới việc mưu sinh, tới đời sống vật chất hàng ngày thay vì ưu tiên dành thời gian và sự quan tâm tới những vấn đề chưa làm họ buộc phải biết đến [15].
Ngoài ra, Việt Nam có 54 dân tộc, ở Đắk Lắk có 47 dân tộc, trong đó có nhiều dân tộc thiểu số (trên 20 dân tộc) có tiếng nói, chữ viết riêng; nhưng đến nay công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em mới chỉ được dịch sang tiếng phổ thông và 4 tiếng dân tộc (Thái, H’mông, Êđê, Bana). Điều này sẽ rất hạn chế việc thực hiện giáo dục quyền trẻ em trong dân tộc thiểu số. Sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ trong một chừng mực nhất định cũng ảnh hưởng tới giáo dục quyền con người. Nó đòi hỏi phải có nhiều sự đầu tư hơn cho việc tìm ra phương pháp, hình thức phù hợp, phải tính đến yếu tố văn hóa trong thực hiện giáo dục quyền con người.
- Hạn chế của phương tiện thông tin đại chúng Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
Hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động giáo dục quyền con người, nhưng còn khá thụ động. Theo TS. Phạm Ngọc Anh, “nhân quyền được coi là một vấn đề nhạy cảm, ít khi những vấn đề nhân quyền trong nước được đề cập một cách trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng [1]. Giáo dục quyền con người qua hệ thống truyền thông cần được cải thiện, giảm bớt tính giáo khoa, hàn lâm, truyền giảng mà nên được thông tin dưới nhiều hình thức sáng tạo, sinh động, cuốn hút khán giả, thính giả, độc giả. Những hình thức phóng sự, đối thoại, sân khấu hóa, trò chơi giải trí… cần được phát huy sáng tạo, phong phú, thiết thực. Muốn tuyên truyền giáo dục quyền con người tốt, người làm công tác thông tin đại chúng, cơ bản là các nhà báo cũng phải được giáo dục về quyền con người. Nhà báo cần nghiên cứu, nắm vững hệ thống luật pháp về quyền con người để những thông tin giáo dục pháp luật phải chính xác, hệ thống, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ.
Cùng với việc tuyên truyền giáo dục quyền con người, các phương tiện thông tin đại chúng cũng cần tập trung phê phán, phân tích, tìm nguyên nhân của những cá nhân, tập thể vi phạm quyền con người một cách thẳng thắn, sắc bén. Đó là những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày chung quanh ta. Tình trạng quan liêu, hách dịch, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn khá nghiêm trọng ở nhiều nơi khiến nhân dân bất bình, làm giảm sút lòng tin vào các cơ quan Đảng, chính quyền sở tại. Những vấn đề như vậy nếu cứ để kéo dài, không dám phê phán công khai hoặc chỉ phê phán chung chung sẽ không có tác dụng góp phần làm chuyển biến tình hình, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với chính quyền.
2.3.3. Nguyên nhân rút ra từ thực tiễn giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk trong thời gian qua
Nhìn từ bình diện quốc gia, tương tự như các quốc gia khác trên thế giới, giáo dục nhân quyền đã và đang thực hiện ở cả trong và ngoài hệ thống nhà trường ở Việt Nam. Đây là một tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tuy nhiên, so sánh với mặt bằng chung trên toàn quốc, phạm vi và trình độ giáo dục nhân quyền tại Đăk Lăk vẫn còn ở mức thấp. Mặc dù đã có những tiến triển nhanh chóng trong hai thập kỷ qua song giáo dục nhân quyền ở Đăk Lăk vẫn chưa bắt kịp với xu hướng phát triển chung của cả nước và trên thế giới, chưa đáp ứng nhu cầu giáo dục nhân quyền ở trong tỉnh. Những trở ngại chính trong giáo dục nhân quyền ở Đăk Lăk hiện nay liên quan đến các vấn đề như trình độ hạn chế và sự thiếu hụt giáo viên, giảng viên; phương pháp giảng dạy lạc hậu; sự thiếu hụt các nguồn tài liệu tham khảo…Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế này có lẽ là từ nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục nhân quyền của các nhà hoạch định chính sách cũng như của cộng đồng. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, các vấn đề về nguồn nhân, vật lực, kiến thức, kinh nghiệm và tài liệu là quan trọng nhưng nhận thức về vai trò và ý nghĩa của giáo dục nhân quyền của các nhà hoạch định chính sách và của toàn thể công chúng trong xã hội mới là yếu tố có tính chất quyết định đến việc thúc đẩy hoạt động trên lĩnh vực này. Một khi có nhận thức phù hợp và quyết tâm chính trị cao trong việc thúc đẩy hoạt động giáo dục nhân quyền, các vấn đề còn lại sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp và nhanh chóng. Bởi vậy, để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt Nam nói chung và ở Đăk Lăk nói riêng, trước hết, các nhà hoạch định chính sách của quốc gia cần nhận thức rõ hơn về vai trò của giáo dục nhân quyền, các yêu cầu và ý nghĩa của hoạt động này với sự phát triển của tỉnh, của đất nước trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
