Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những vấn đề pháp lý về trách nhiệm sản phẩm: thực tiễn và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thông qua, thay thế Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 được coi là bước tiến mạnh mẽ nhằm giải quyết tranh chấp tiêu dùng. Trong quá trình xây dựng Luật, nhiều nội dung được đưa ra nghiên cứu và phân tích một cách kỹ lưỡng, trong đó, một trong những nội dung trọng tâm được đề cập đến là vấn đề trách nhiệm sản phẩm. Trách nhiệm sản phẩm là một chế định pháp luật quan trọng ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay. Quá trình phát triển chế định pháp luật này gắn liền với nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng trước những nhà sản xuất về sự an toàn của hàng hoá của họ khi lưu thông trên thị trường. Sự phát triển của chế định này là một bước tiến của pháp luật ở nhiều nước trong việc kiểm soát các nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm vì lợi ích của cộng đồng. Bản chất của chế định này là các nhà sản xuất và những tổ chức, cá nhân tham gia vào việc tiêu thụ sản phẩm phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho người sử dụng sản phẩm nếu như việc sử dụng chúng không an toàn hoặc tiềm ẩn những nguy hại nhưng không được cảnh báo trước.
Chế định trách nhiệm sản phẩm được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia châu Âu, châu Á. Tuy nhiên do điều kiện và hoàn cảnh của từng nước, có nhiều quan niệm khác nhau về phạm vi trách nhiệm, về căn cứ xác định trách nhiệm sản phẩm. Những tranh luận về vấn đề trách nhiệm sản phẩm chính là sự thể hiện một cách rõ rệt nhất mối quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế với lợi ích của người tiêu dùng.
Là một chế định pháp luật tương đối mới trong pháp luật Việt Nam, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về chế định này là rất cần thiết. Chính vì vậy, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về trách nhiệm sản phẩm: thực tiễn và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Với việc lựa chọn đề tài này, tác giả hy vọng sẽ có giá trị đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường chế độ trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, trên cơ sở quy định của Hiến pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo hướng bảo vệ quyền của người tiêu dùng cũng như giúp các doanh nghiệp giảm thiểu khả năng bị thiệt hại trong sản xuất kinh doanh. Nhà nước cũng thông qua nhiều chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách của cả nước. Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề trách nhiệm sản phẩm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
- Báo cáo tổng kết đề tài “Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp – công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng”, chủ nhiệm đề tài Lê Hồng Hạnh.
- Luận văn cử nhân luật học “Trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật cộng đồng Châu Âu và pháp luật Việt Nam” của Nguyễn Thị Tường
- Luận văn tiến sỹ luật học “Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa” của tác giả Chu Đức Nhuận.
- “Các nguyên lý cơ bản của chế định trách nhiệm sản phẩm tại Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới” của TS Lê Hồng Hạnh, Trương Hồng Quang.
- “Bàn về Luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế” của TS Tăng Văn Nghĩa.
- “Một số vấn đề về Luật Trách nhiệm sản phẩm cộng đồng châu Âu”.
- Bài viêt “The future of products liability in America (Tương lai của pháp Luật trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ)” của ba luật sư của Hoa Kỳ là Gary Wilson, Vincent Moccio và Daniel O. Fallon đăng trên tạp chí William Mitchell Law Review (năm 2000) đã bàn về chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ hiện tại, những tồn tại, bât cập và đề xuất một số hướng cải cách, đổi mới.
- Bài viết “The Japanese Product Liability Law (Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản)” của Jason F. Cohen (Nghiên cứu sinh Ðại học Fordham –Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí “Fordham International Law Journal, November 1997” đã làm rõ cơ sở chính sách và những đặc điểm cơ bản của chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Nhật Bản.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, vẫn còn nhiều vấn đề về trách nhiệm sản phẩm cần khuyến nghị cho doanh nghiệp chưa được nghiên cứu rõ. Xuất phát từ những thực tế đó, việc nghiên cứu sâu hơn bản chất, đặc điểm của chế định trách nhiệm sản phẩm trong tình hình hiện nay, đánh giá tác động kinh tế – xã hội có thể xảy ra khi áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp từ đó có các đề xuất hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế hiện nay là hết sức cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm sản phẩm; nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm sản phẩm và thực trạng giải quyết trách nhiệm sản phẩm. Qua đó, Luận văn tìm ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về trách nhiệm sản phẩm, đồng thời đưa ra những giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức, thúc đẩy nên kinh tế hàng hóa phát triển lành mạnh, ổn định.
Từ mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm sản phẩm và quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm;
- Phân tích và làm rõ những quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, và phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất các giải pháp góp phần tăng cường chế độ trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp tại Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề trách nhiệm sản phẩm, quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm và việc áp dụng pháp luật trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp trong thực tiễn.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, Luận văn tập trung vào việc làm rõ các vấn đề lý luận chung về trách nhiệm sản phẩm của các nước trên thế giới, pháp luật và thực tiễn chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
- Về không gian, Luận văn nghiên cứu nội dung trách nhiệm sản phẩm của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
- Về thời gian, Luận văn sử dụng số liệu thống kê trong giai đoạn 10 năm gần nhất và đề xuất một số định hướng đến năm 2025.
6. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài Luận văn bao gồm: phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, thống kê và tổng hợp… Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Phương pháp phân tích tổng hợp: được vận dụng trong nghiên cứu đề tài nhằm phân tích từng nội dung thông qua bảng số liệu tổng hợp để đưa ra những nhận định, nhận xét đánh giá các hoạt động, từ đó đưa ra các kết luận phù hợp.
Phương pháp so sánh: so sánh chủ yếu trong việc phân tích kết quả đạt được với yêu cầu thực tế, so sánh pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế và so sánh phân tích trong các trường hợp cụ thể khác được thể hiện thông qua bảng biểu số liệu.
Phương pháp thống kê mô tả: được áp dụng nhằm mô tả các hoạt động và các chỉ tiêu phản ánh thực trạng vấn đề trách nhiệm sản phẩm tại Việt Nam, thông qua đó đánh giá được mức độ của các hoạt động cần nghiên cứu, từ đó làm căn cứ để phát hiện được xu hướng và nguyên nhân các vấn đề phát sinh cần giải quyết để đạt được mục đích nghiên cứu.
7. Ý nghĩa của đề tài
Thông qua việc tiến hành phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm và thực tiễn áp dụng các quy định đó trong thực tế, Luận văn còn chỉ ra những điểm còn bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành và đưa ra một số các giải pháp cần thiết để góp phần hoàn thiện chính sách, quy định về trách nhiệm sản phẩm; qua đó nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu dùng nhưng vẫn bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể này.
8. Bố cục luận văn
- Chương I: Những vấn đề chung về trách nhiệm sản phẩm và quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm
- Chương II: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam và tình hình thực thi trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp
- Chương III: Hoàn thiện pháp luật hiện hành về trách nhiệm sản phẩm và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM
1.1 Khái quát về trách nhiệm sản phẩm
1.1.1 Khái niệm sản phẩm Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000 thì “sản phẩm” là kết quả của một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác (với nhau) để biến đổi đầu vào (input) và đầu ra (output). Dưới giác độ Marketing thì sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng.
Sản phẩm không nhất thiết phải được tạo ra bởi con người, nhưng nó cần phải có lợi ích nào đó với con người. Xét về khía cạnh đó, sản phẩm có thể tồn tại dưới dạng hữu hình (sản phẩm vật chất), hoặc vô hình (dịch vụ).
Sản phẩm hữu hình là những sản phẩm tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, có những đặc tính vật lý, hóa học, sinh học. Có thể cảm nhận các sản phẩm hữu hình dưới các góc độ như nhìn thấy, sờ, cân, đo, đong, đếm và kiểm tra chất lượng bằng phương tiện hóa, lý.
Sản phẩm vô hình hay còn gọi là dịch vụ, là kết quả của các quá trình lao động, hoạt động kinh tế hữu ích. Cũng giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ được tạo ra là để đáp ứng nhu cầu của con người, tuy nhiên do không tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể nên dịch vụ chỉ có thể được cảm nhận khi con người sử dụng nó mà thôi.
Trong thực tế thì có sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình, có sản phẩm thiên về dịch vụ và rất nhiều sản phẩm là sự kết hợp của cả hai loại trên. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình bao gồm phần mềm, phần cứng và vật liệu để chế biến hoặc đã được chế biến. Khoản 1, Điều 3 Nghị định 179/2004/NĐ-CP ngày 21-10-2004 của Chính phủ về quy định quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, theo đó Sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình, bao gồm dịch vụ, phần mềm, phần cứng và vật liệu để chế biến hoặc đã được chế biến. Hàng hoá là sản phẩm được đưa vào tiêu dùng thông qua trao đổi, buôn bán. Theo Chỉ thị 34/1999 về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu EU thì sản phẩm là mọi động sản kể cả động sản sáp nhập trong động sản hoặc bất động sản khác, sản phẩm bao gồm cả điện. Trong khi đó, Luật Bồi thường thiệt hại bản sửa đổi lần thứ 3 (Restatements 3rd Torts”) năm 1997 của Hoa Kỳ định nghĩa sản phẩm là những tài sản cá nhân hữu hình, bao gồm cả nguyên liệu chưa qua chế biến. Như vậy, quy định của pháp luật Hoa Kỳ không quan tâm tới quá trình tạo ra sản phẩm mà chỉ xem xét sản phẩm trên khía cạnh hình thái vật chất và chủ thể sở hữu sản phẩm.
Dưới giác độ của trách nhiệm sản phẩm thì sản phẩm bao gồm những động sản được sản xuất hoặc chế biến, nó không phụ thuộc vào việc sản xuất theo dây chuyền công nghiệp với quy mô lớn hay sản xuất thủ công những sản phẩm riêng lẻ, Tăng Văn Nghĩa (2008, tr. 41-49). Cách hiểu này tương đồng với quy định của pháp luật ở nhiều nước về sản phẩm đồng thời mang tính chất đặc thù của pháp luật trách nhiệm sản phẩm. Bên cạnh đó, như đã phân tích, trong pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia còn mở rộng khái niệm sản phẩm đối với các dịch vụ.
1.1.2. Khái niệm khuyết tật sản phẩm
Về cơ bản, sản phẩm có khuyết tật là sản phẩm không đáp ứng được mục đích sử dụng của người mua hoặc người sử dụng có liên quan. Từ điển Thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt định nghĩa sản phẩm có khuyết tật là động sản không bảo đảm sự an toàn mà người ta có thể trông đợi một cách chính đáng. Nếu khiếm khuyết của sản phẩm gây thiệt hại đến người hoặc tài sản khác thì người sản xuất, người phân phối, người bán hoặc người cho thuê sản phẩm đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Nhà Pháp luật Việt – Pháp (2005,tr.709). Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
- Định nghĩa của Luật BVQLNTD về hàng hóa có khuyết tật như sau:
Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm:
- Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật;
- Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ;
- Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng.
Tại Việt Nam và trên thế giới, khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và lưu trữ là loại khuyết tật dễ xảy ra. Các dạng khuyết tật này có thể diễn ra đối với mọi loại hàng hóa, từ hàng tiêu dùng cho đến những hàng hóa xa xỉ phẩm như ô tô, điện thoại, xe máy… Nhiều khuyết tật ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng như các lỗi kỹ thuật liên quan đến phanh, dầu động cơ của xe máy, ô tô,.. Một số khuyết tật có thể không trực tiếp ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng nhưng có thể gây ra những tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng, ví dụ như nước trà xanh hương chanh C2 và nước tăng lực Rồng Đỏ hương dâu có hàm lượng chì cao quá mức công bố trong thời gian vừa qua.
Như vậy, quan điểm của pháp luật Việt Nam về hàng hóa có khuyết tật đã thể hiện nội dung cơ bản là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng vì những lỗi như sau:
Thứ nhất, khuyết tật do thiết kế (design defects): xảy ra khi sản phẩm được sản xuất theo đúng thiết kế, nhưng bản thân sản phẩm có những dấu hiệu có thể gây ra nguy hiểm bất hợp lý cho người sử dụng theo cách thức thông thường. Những khuyết tật này là do trong quá trình thiết kế, nhà thiết kế, nhà sản xuất đã không lường trước được những nguy hiểm trong quá trình thiết kế hoặc không đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện an toàn thông thường cho một thiết kế của sản phẩm.
Thứ hai, khuyết tật do sản xuất (manufacturing defects): Khuyết tật trong giai đoạn sản xuất sản phẩm xuất hiện khi mà thành phẩm không tuân theo thiết kế dự kiến hoặc quy cách phẩm chất của nhà sản xuất đề ra. Sự khác nhau cơ bản giữa khuyết tật do sản xuất và khuyết tật do thiết kế là khuyết tật trong giai đoạn sản xuất sản phẩm xuất hiện khi thành phẩm không tuân theo dự kiến hoặc quy cách chất lượng mà nhà sản xuất đề ra. Ví dụ, khi sản xuất đã sử dụng vật liệu không đúng tiêu chuẩn. Trong khi đó, khuyết tật do thiết kế xảy ra khi sản phẩm được sản xuất theo đúng thiết kế, nhưng tự thân sản phẩm có những dấu hiệu có thể gây ra nguy hiểm bất hợp lý cho người sử dụng theo cách thức thông thường. Ví dụ, các tác dụng phụ của vắc – xin, các loại vải dễ gây cháy, thiết bị điện tử gây cháy nổ… Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Thứ ba, khuyết tật do không cảnh báo sự nguy hiểm, không cảnh báo sự an toàn (warrant defects): khuyết tật này thường xuất hiện trong giai đoạn chào bán, đưa sản phẩm vào quá trình tiêu dùng. Theo đó người phân phối đã không cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng về những nguy hiểm có thể xảy ra khi sử dụng sản phẩm. Loại khuyết tật này xảy ra phổ biến ở các loại dược phẩm, mỹ phẩm khi nhà sản xuất, nhà phân phối, người bán lẻ không chỉ dẫn cách sử dụng hoặc những tác động phụ của các loại sản phẩm trên. Hiện nay, trên thị trường, chúng ta có thể thấy rất nhiều cảnh báo và hướng dẫn ghi trên nhãn mác bao bì sản phẩm như: “Không sử dụng đối với phụ nữ đang mang thai và cho con bú”; “Để xa tầm tay trẻ em” hay “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi”… Do đó, nếu một sản phẩm có ẩn chứa những nguy cơ gây nguy hiểm mà được cảnh báo một cách thích hợp cho người sử dụng theo cách thức thông thường thì nhà sản xuất không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do nguồn nguy hiểm đó gây ra cho người tiêu dùng, Tăng Văn Nghĩa (2008).
Như vậy, khuyết tật của sản phẩm phải chứa đựng sự thiếu an toàn một cách bất hợp lý khi sử dụng và gây nguy hiểm quá mức với người tiêu dùng. Nên các sản phẩm như: thuốc gây tác dụng phụ, màn hình máy tính gây nhức mắt cho người xem sẽ không được coi là sản phẩm khuyết tật khi đó là những khuyết tật hợp lý trong điều kiện khoa học công nghệ hiện tại. Từ đó có thể thấy, một sản phẩm chứa đựng sự nguy hiểm là bản chất của sản phẩm, nó luôn tồn tại hợp lý trong cấu tạo sản phẩm, trong quá trình sử dụng sẽ không được coi là sản phẩm khuyết tật. Ví dụ, các sản phẩm sử dụng nguồn phóng xạ là sản phẩm chứa đựng nguy hiểm, tuy nhiên, bản thân sản phẩm này lại dược sử dụng để mang lại tính hữu ích cho con người, tính không an toàn, gây nên nguy hiểm của các sản phẩm này là do không được sử dụng đúng quy cách, quy trình, không đúng chức năng, mục đích.
1.1.3 Khái niệm trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
- Khái niệm trách nhiệm sản phẩm
Trách nhiệm hiểu theo cách thông thường là phần việc được giao hoặc coi như được giao, phải bảo đảm hoàn thành, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm trách nhiệm pháp lý hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau. Thứ nhất, là những việc mà chủ thể nhất định phải thực hiện; thứ hai, là những hậu quả mà chủ thể thực hiện những hành vi nhất định phải gánh chịu. Theo pháp luật hiện hành về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD được đề cập dưới góc độ pháp lý tích cực (trách nhiệm mà mỗi cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa phải bảo đảm cho NTD và xã hội) và trách nhiệm pháp lý tiêu cực (hậu quả bất lợi mà mỗi cá nhân, tổ chức phải gánh chịu khi vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa). Ở góc độ khái quát, trách nhiệm sản phẩm (product liability) được giải thích là trách nhiệm của người sản xuất hoặc người bán hàng trong việc bồi thường cho các thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của hàng hóa mà họ đã cung cấp cho người tiêu dùng trong quá trình kinh doanh.
Trách nhiệm sản phẩm là một chế định pháp luật quan trọng ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay. Quá trình phát triển chế định pháp luật này gắn liền với nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng trước những nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá sản phẩm. Sự phát triển của chế định này là một bước tiến của pháp luật ở nhiều nước trong việc kiểm soát các nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm vì lợi ích của cộng đồng. Bản chất của chế định này là các nhà sản xuất và những tổ chức, cá nhân tham gia vào việc tiêu thụ sản phẩm phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho người sử dụng sản phẩm nếu như việc sử dụng chúng tiềm ẩn những nguy hại nhưng không được cảnh báo trước.
Hiện nay, trên thế giới, pháp luật trách nhiệm sản phẩm được xây dựng dựa trên ba nguyên lý cơ bản về sự vi phạm nghĩa vụ bảo đảm, sự bất cẩn và trách nhiệm nghiêm ngặt. Có thể nhận thấy, đây cũng chính là ba cơ sở khởi kiện của người bị thiệt hại trong các vụ án liên quan đến trách nhiệm.
Trong thực tiễn, người tiêu dùng ít sử dụng nghĩa vụ đảm bảo để làm cơ sở khởi kiện vì để áp dụng ta cần phải chứng minh bản chất mối quan hệ giữa người bán, người cung cấp hàng hóa và người mua. Việc này thực sự vô cùng phức tạp. Nếu như sản phẩm mua về có lỗi và gây ra thương tích, người tiêu dùng phải chứng minh rằng hành vi của nhà sản xuất khi thiết kế ra sản phẩm là không đủ tiêu chuẩn hoặc không hợp lí. Đương nhiên, thông tin về việc nhà sản xuất thiết kế sản phẩm như thế nào thì người tiêu dùng không thể nắm rõ được. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Trách nhiệm sản phẩm được hiểu là người sản xuất phải chịu trách nhiệm nếu như sản phẩm có khuyết tật và việc sử dụng sản phẩm này trong điều kiện bình thường gây ra những thiệt hại cho người sử dụng. Để khởi kiện theo cơ sở này, người khởi kiện không cần chứng minh có hay không có sự cẩu thả của nhà sản xuất, có hay không có nghĩa vụ đảm bảo. Người khởi kiện chỉ cần chứng minh rằng sản phẩm kém chất lượng và nguy hiểm một cách phi lý và thực tế đã gây thiệt hại.
- Qua đó có thể thấy rằng, trách nhiệm sản phẩm có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, trách nhiệm sản phẩm là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tức là một loại trách nhiệm dân sự đòi hỏi người có trách nhiệm phải bù đắp bằng một cách thức phù hợp đối với thiệt hại mà người khác phải gánh chịu, dựa trên những cơ sở nhất định làm phát sinh trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, chủ thể của trách nhiệm là người sản xuất hoặc người bán hàng, tức là phải có một chủ thể nhất định tham gia vào quy trình đưa một sản phẩm hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Chủ thể đó có thể có mối liên hệ trực tiếp với người tiêu dùng hoặc không. Căn cứ để xác định một chủ thể phải chịu trách nhiệm phụ thuộc vào việc người đó trực tiếp có mối liên hệ đối với sản phẩm mà người tiêu dùng đã sử dụng thông qua các hình thức: (1) là người sản xuất ra sản phẩm: người sản xuất ra sản phẩm bao gồm cả người sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc người sản xuất một công đoạn, một bộ phận của sản phẩm đó; (2) là người thực hiện vai trò phân phối trung gian đối với sản phẩm hoặc (3) là người cung cấp sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Thứ ba, cơ sở để xác định trách nhiệm phát sinh trên thực tế là việc sản phẩm có khuyết tật và khuyết tật đó gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng. Có thể nói một cách khác là một sản phẩm được coi là có khuyết tật khi sản phẩm đó không bảo đảm an toàn cho người sử dụng. Yêu cầu về tính an toàn đối với sản phẩm không phải là không có giới hạn và thường được xác định ở mức độ mà người tiêu dùng có thể trông đợi một cách hợp lý; sản phẩm không có khả năng gây ra thiệt hại khi được tiêu dùng bởi một người tiêu dùng có nhận thức thông thường, trong điều kiện thông thường. Nếu khả năng nhận biết về tính không an toàn vượt quá mức độ mà sự phát triển khoa học, kỹ thuật tại thời điểm đó cho phép nhận biết thì sự không an toàn vượt quá khả năng nhận biết đó không bị coi là khuyết tật.
Thứ tư, trách nhiệm sản phẩm là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc xác định trách nhiệm đối với sản phẩm không có bất kỳ đòi hỏi nào về việc giữa người bị thiệt hại và nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm phải tồn tại một quan hệ hợp đồng. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
- Phân biệt trách nhiệm sản phẩm và chất lượng sản phẩm
Về bản chất, trách nhiệm sản phẩm chính là sự ràng buộc về mặt pháp luật trách nhiệm của các nhà sản xuất, phân phối cũng như người bán lẻ đối với người tiêu dùng khi cung ứng sản phẩm trên thị trường. Trách nhiệm đó thể hiện ở việc khi một sản phẩm được nhà cung cấp đưa ra thị trường, sản phẩm đó đương nhiên phải được coi là an toàn, không phụ thuộc vào việc người sản xuất hay cung ứng có công bố sản phẩm đó có an toàn hay không. Với sự ràng buộc trách nhiệm này, để tránh những hậu quả pháp lý xảy ra khi có sản phẩm khuyết tật gây thiệt hại cho người tiêu dùng, nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm khi đưa sản phẩm ra thị trường sẽ phải nỗ lực để loại trừ khuyết tật của sản phẩm, từ đó đem lại cho người tiêu dùng những sản phẩm bảo đảm an toàn. Khi an toàn không được bảo đảm và người tiêu dùng phải gánh chịu thiệt hại thì họ sẽ được bồi thường, do vậy lợi ích của người tiêu dùng sẽ được bảo đảm ở mức độ cao nhất. Người tiêu dùng đương nhiên được bảo vệ và không đòi hỏi phải có bất kỳ việc đàm phán thuyết phục nào và không một nhà sản xuất hay cung ứng nào có thể sử dụng ưu thế của mình trong quan hệ với người tiêu dùng để loại trừ trách nhiệm này.
Chất lượng của sản phẩm, hàng hoá thể hiện ở mức độ đáp ứng của sản phẩm, hàng hóa với nhu cầu của người tiêu dùng và bảo đảm an toàn cho con người, động thực vật, tài sản, môi trường. Chất lượng của sản phẩm, hàng hoá là đặc tính của sản phẩm, hàng hóa thể hiện ở cấu tạo, thành phần hóa học, vật lý, độ bền, độ tin cậy, tính tiện dụng, tính thẩm mỹ và tính an toàn. Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá, chất lượng sản phẩm, hàng hoá là tổng thể các chỉ tiêu, các đặc trưng của sản phẩm, thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong các điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm. Như vậy, theo định nghĩa này, chất lượng sản phẩm, hàng hoá bao gồm nhiều chỉ tiêu, trong đó an toàn chỉ là một trong các chỉ tiêu của sản phẩm, hàng hoá. Để làm rõ trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh về sản phẩm, hàng hoá của mình với người tiêu dùng, pháp luật đã xác định nghĩa vụ của từng chủ thể cụ thể để bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hoá với người tiêu dùng:
Người sản xuất phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi đưa ra thị trường và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất ra; kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hoá gây mất an toàn hoặc sản phẩm, hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hoá không bảo đảm chất lượng; bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hoá của mình gây ra cho người tiêu dùng và người khác.
Người nhập khẩu phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình nhập khẩu; tổ chức và kiểm soát quá trình vận chuyển, lưu giữ, bảo quản để duy trì chất lượng hàng hoá; kịp thời ngừng nhập khẩu, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện hàng hoá gây mất an toàn hoặc hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; tái xuất, tiêu huỷ hàng hoá nhập khẩu không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thu hồi, xử lý hàng hoá không bảo đảm chất lượng; bồi thường thiệt hại do hàng hoá mà mình nhập khẩu gây ra cho người tiêu dùng.
Người bán hàng phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa do mình bán ra; áp dụng các biện pháp để duy trì chất lượng hàng hoá trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản; cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của hàng hoá và cách phòng ngừa cho người mua; kịp thời dừng bán hàng, thông tin cho người sản xuất, người nhập khẩu và người mua khi phát hiện hàng hoá gây mất an toàn hoặc hàng hoá không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thu hồi, xử lý hàng hoá không bảo đảm chất lượng; bồi thường thiệt hại gây ra cho người tiêu dùng. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Người xuất khẩu có trách nhiệm áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng trong quá trình sản xuất, các hệ thống quản lý và tuân thủ các điều kiện để bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá xuất khẩu phù hợp với pháp luật của nước nhập khẩu, hợp đồng hoặc điều ước quốc tế có liên quan và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa xuất khẩu của mình để thể hiện trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, đồng thời bảo vệ thương hiệu của sản phẩm, hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế và đẩy mạnh xuất khẩu.
Người tiêu dùng phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá trong quá trình sử dụng; các quy định và hướng dẫn của người sản xuất, người nhập khẩu, người bán hàng về việc vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hoá. Để bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá trong quá trình sử dụng, người tiêu dùng phải tuân thủ quy định về kiểm định chất lượng sản phẩm, hàng hoá với những sản phẩm, hàng hoá có nguy cơ gây mất an toàn cao, phải kiểm định định kỳ đối với những hàng hóa này.
Các quy định trên đây cho thấy, pháp luật đã xác định người chịu trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Để bảo đảm nhà sản xuất, nhà phân phối có trách nhiệm với việc sản phẩm của mình đưa vào lưu thông là an toàn, cần áp dụng trách nhiệm sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là cơ sở để nhà sản xuất, nhà phân phối bảo đảm trách nhiệm của mình đối với sản phẩm. Nói cách khác, trách nhiệm sản phẩm là bảo đảm an toàn cho sản phẩm, hàng hoá được đưa ra thị trường không gây thiệt hại cho bất kỳ chủ thể nào nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.
1.2. Pháp luật quốc tế và một số nước trên thế giới về trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Trách nhiệm sản phẩm là vấn đề được pháp luật các nước, đặc biệt là các nước phát triển, quan tâm nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và đảm bảo trật tự sản xuất, lưu thông hàng hóa trên thị trường. Mặc dù khái niệm trách nhiệm sản phẩm đã được hình thành từ đầu thế kỷ XX qua thực tiễn các vụ tranh chấp đòi bồi thường giữa người tiêu dùng và các công ty sản xuất hàng hóa ở Hoa Kỳ, nhưng mãi đến năm 1979, Luật Trách nhiệm sản phẩm lần đầu tiên mới được ban hành, cũng tại Hoa Kỳ. Cuối thế kỷ XX và trong những năm đầu thế kỷ XXI, Luật trách nhiệm sản phẩm lần lượt xuất hiện ở châu Âu và lan sang cả châu Á. Chế định trách nhiệm sản phẩm nhằm bảo vệ người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm và cả người thứ ba khỏi những thiệt hại do khuyết tật của sản phẩm. Mặc dù chỉ mới xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XX nhưng ở hầu hết các quốc gia đã ban hành luật trách nhiệm sản phẩm thì các vụ kiện liên quan tới chế định pháp luật này đều có xu hướng tăng mạnh. Điển hình là tại Hoa Kỳ, tính đến năm 1992 trên toàn nước Mỹ đã có tới 12763 vụ kiện trách nhiệm sản phẩm được đưa ra phán quyết.
Mặc dù các nước phát triển và một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ cũng đã có luật Trách nhiệm sản phẩm nhưng trong môi trường kinh doanh toàn cầu hiện nay, vấn đề trách nhiệm sản phẩm vẫn tạo ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp và cả các cơ quan quản lý Nhà nước.
1.2.1. Lịch sử hình thành pháp luật trách nhiệm sản phẩm trong hệ thống luật Anh – Mỹ (Common Law)
Trách nhiệm sản phẩm ra đời đầu tiên ở Mỹ vào năm 1976, sau đó phát triển sang các nước châu Âu và đến nay đã được nhiều quốc gia quan tâm xây dựng. Đối với các quốc gia theo hệ thống Thông luật mà tiêu biểu là Hoa Kỳ và Anh thì luật thường được xây dựng dựa trên án lệ, tức là dựa trên những phán quyết đã có từ trước. Quá trình hình thành pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở những quốc gia này cũng phải dựa trên các án lệ như vậy.
Vào những năm 30 tại Hoa Kỳ thường có những vụ kiện liên quan tới thời hạn bảo hành của sản phẩm, theo đó trong thời hạn bảo hành của một sản phẩm, nếu sản phẩm bị hỏng hóc do khuyết tật gây tổn hại về vật chất cho khách hàng thì nhà sản xuất, nhà phân phối sẽ phải bồi thường. Tuy nhiên, trước đó, trách nhiệm bồi thường theo thời hạn bảo hành của sản phẩm chỉ được áp dụng giữa hai bên là người trực tiếp mua sản phẩm đó và nhà sản xuất. Thực tế, nhiều khi những sản phẩm có khuyết tật được mua về làm quà tặng, cho mượn, và người chịu thiệt hại có thể là người sử dụng sản phẩm, thậm chí là người thứ ba. Vì vậy, trong thời gian này, một số phán quyết được tòa án đưa ra đã tạo cơ sở cho việc đòi bồi thường của những người sử dụng sản phẩm. Một ví dụ điển hình là vụ Baxter kiện công ty Ford Motor do kính chắn gió của mô tô do Ford sản xuất, được bảo hành là chịu lực tốt và không vỡ nhưng trong quá trình sử dụng lại bị vỡ, gây thương tích cho Baxter và người bạn cùng đi. Trong vụ này, tòa án đã đứng về phía bên nguyên và yêu cầu công ty Ford phải bồi thường cho cả Baxter và người bạn đi cùng theo điều kiện bảo hành. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Trong thời kỳ 1930 – 1960, các luật sư Hoa Kỳ đưa ra quan điểm trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt, tức là áp dụng trách nhiệm sản phẩm mà không dựa trên lỗi của nhà sản xuất. Trong vụ kiện giữa Escola và Coca Cola Bottling Co., tòa án tối cao bang California đã yêu cầu Coca Cola phải bồi thường cho nguyên đơn là một nữ phục vụ bàn bị thương ở tay do một chai Coca Cola bất ngờ phát nổ. Trong quá trình xét xử, mặc dù nguyên đơn không chứng minh được nhà sản xuất vỏ chai có lỗi, nhưng theo quan điểm của tòa án, nhà sản xuất có nghĩa vụ phải cung cấp ra thị trường những vỏ chai đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
Đến năm 1965, điều khoản trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt chính thức được Viện nghiên cứu Luật Hoa Kỳ đưa vào điều 402A của Bản quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quy định về trách nhiệm đặc biệt của người sản xuất, nhà phân phối đối với những thiệt hại vật chất của người tiêu dùng hay người sử dụng sản phẩm. Trách nhiệm này áp dụng cho cả người sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người xuất nhập khẩu sản phẩm.
Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm đối với sản phẩm tại Hoa Kỳ bao gồm nhiều quy định riêng lẻ trong các mảng pháp luật khác nhau như về cẩu thả (negligence), đảm bảo (warranty), các quy định riêng biệt về sản phẩm, các quy phạm pháp luật về sản xuất và bán sản phẩm, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng cũng như nguyên lý về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability).
Tại Hoa Kỳ, để xác định trách nhiệm sản phẩm, người ta dựa vào ba nguyên lý chủ yếu là sự cẩu thả, sự vi phạm nghĩa vụ đảm bảo và trách nhiệm nghiêm ngặt.
- Nguyên lý về sự cẩu thả (Negligence) Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Cẩu thả là một cơ sở quan trọng trong việc xác định các trách nhiệm theo luật về các vi phạm (tort law). Cẩu thả là việc bỏ qua, không thể hiện một sự quan tâm tránh cho người mình có nghĩa vụ phải quan tâm bị rơi vào tình trạng chịu thiệt hại. Trong việc áp dụng trách nhiệm sản phẩm, cẩu thả được coi là một cơ sở quan trọng. Sự cẩu thả (tắc trách) là việc nhà sản xuất không quan tâm ở mức độ cần thiết, tức là mức độ mà một nhà sản xuất hay cung ứng bình thường cần có khi sản xuất hay cung ứng sản phẩm của mình ở trong điều kiện và hoàn cảnh tại thời điểm sản xuất.
Để xác định cẩu thả, cần phải chứng minh được sự hiểu biết của bên gây thiệt hại về khả năng xảy ra thiệt hại. Tuy nhiên, không phải bất cứ sự không hiểu biết nào cũng tạo ra được cơ sở bảo vệ. Công thức: Biết và cần phải biết luôn được áp dụng ở đây. Ví dụ, nếu nhà sản xuất sữa sử dụng nguyên liệu từ những vùng bị dịch thì phải biết rằng sản phẩm của mình có thể tác động xấu đến sức khoẻ của người tiêu dùng.
Điểm quan trọng khác khi xác định trách nhiệm do cẩu thả là sự tồn tại nghĩa vụ quan tâm của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại. Bên bị thiệt hại phải chứng minh được là giữa hai bên có một liên hệ về nghĩa vụ quan tâm. Hai người không có mối liên hệ với nhau nào cả thì không thể phát sinh nghĩa vụ. Mối liên hệ nghĩa vụ này phát sinh căn cứ vào các tình huống cụ thể. Ví dụ, người sản xuất thiết bị cưa gỗ phải có nghĩa vụ đảm bảo cho sự an toàn khi vận hành máy của những người vận hành, cho dù những người này không phải là người đã ký hợp đồng mua máy cưa.
Điểm quan trọng tiếp theo trong việc xác định trách nhiệm sản phẩm là việc người có sản phẩm vi phạm nghĩa vụ quan tâm đến sức khoẻ và tính mạng của người sử dụng sản phẩm. Người bị thiệt hại phải chứng minh được là người bán sản phẩm đã vi phạm nghĩa vụ của mình và chính sự vi phạm này đã làm phát sinh thiệt hại. Trong chừng mực nhất định có thể căn cứ tương tự mối quan hệ nhân quả được sử dụng rộng rãi trong các nước theo truyền thống luật dân sự khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trong thực tiễn pháp luật ở Mỹ, giả định về việc tất cả sản phẩm đưa vào tiêu dùng phải an toàn và không bị hư hỏng luôn luôn được tôn trọng. Điều này có nghĩa là người sản xuất hay người cung ứng sản phẩm có nghĩa vụ đảm bảo sản phẩm của mình khi đến với người tiêu dùng là sản phẩm không hư hỏng, an toàn và nếu có khả năng không an toàn, tức là tác động phụ, thì phải có cảnh báo. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Tóm lại, để có cơ sở cho việc khởi kiện dựa trên sự cẩu thả từ phía người sản xuất, người bị hại phải chứng minh được: (1) Nghĩa vụ của người sản xuất; (2) Sự vi phạm nghĩa vụ đó; (3) Thiệt hại; (4) Mối liên hệ giữa vi phạm đó với thiệt hại.
- Nguyên lý vi phạm nghĩa vụ đảm bảo (warranty)
Nghĩa vụ đảm bảo sản phẩm cũng là một trong các cơ sở quan trọng để áp đặt trách nhiệm sản phẩm. Trách nhiệm của người sản xuất và cung ứng là phải đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình. Tuy Hoa Kỳ chưa có pháp luật liên bang về trách nhiệm sản phẩm song nghĩa vụ đảm bảo lại được quy định khá rõ trong Bộ luật thương mại thống nhất (UCC). Mục 2-313 UCC quy định về đảm bảo công khai như sau:
“1. Đảm bảo công khai của người bán được hình thành như sau:
- Bất cứ sự khẳng định tình tiết hay lời hứa của người bán liên quan đến hàng bán và trở thành một phần trong cơ sở của việc mặc cả sẽ tạo ra đảm bảo công khai rằng hàng bán sẽ phù hợp với sự khẳng định hay lời hứa đó.
- Bất cứ sự mô tả nào về hàng hoá đã trở thành một phần trong cơ sở của sự mặc cả sẽ tạo nên đảm bảo rằng hàng hoá sẽ phù với sự mô tả đó.
- Các thuật ngữ được sử dụng như “bảo đảm”, “bảo hành” không có ý nghĩa đối với việc tạo ra đảm bảo”.
Mục 2-314 UCC qui định về đảm bảo ngầm định như sau:
“1. Trừ phi bị sửa đổi hay bị loại trừ, trong hợp đồng mua bán hàng hoá luôn luôn tồn tại đảm bảo ngầm định rằng hàng bán có tính thương mại nếu như người bán là thương nhân đối với hàng hoá đó. Theo mục này, việc phục vụ ăn uống để thu tiền ở tại nhà hay ở bất cứ đâu đều được coi là việc mua bán”.
Theo Bộ luật thương mại thống nhất, có ba nghĩa vụ đảm bảo là: Đảm bảo công khai (Express warranty); đảm bảo ngầm định bao gồm đảm bảo ngầm định về tính thương mại của sản phẩm (Implied warranty of merchantability) và đảm bảo ngầm định về tính phù hợp về công dụng của sản phẩm (Implied warranty of fitness).
- Nguyên lý trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability) Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Trách nhiệm nghiêm ngặt là cơ sở thuận lợi nhất cho việc kiện đòi bồi thường thiệt hại theo chế định trách nhiệm sản phẩm. Trách nhiệm nghiêm ngặt được hiểu là người sản xuất phải chịu trách nhiệm nếu như sản phẩm bị kém chất lượng và việc sử dụng sản phẩm kém chất lượng này trong điều kiện bình thường gây ra những thiệt hại cho người sử dụng. Để khởi kiện theo cơ sở này, người khởi kiện không cần chứng minh có hay không có sự cẩu thả của nhà sản xuất, có hay có nghĩa vụ đảm bảo. Người khởi kiện chỉ cần chứng minh rằng sản phẩm kém chất lượng và nguy hiểm một cách phi lý và thực tế đã gây thiệt hại. Tuy nhiên, dù rất nhiều bang của Mỹ áp dụng trách nhiệm nghiêm ngặt đối với tất cả các chủ thể tham gia quá trình phân phối sản phẩm song vẫn có một số bang bảo vệ người bán lẻ bằng việc yêu cầu người bị thiệt hại chứng minh sự cẩu thả của người bán lẻ khi kiện đòi bồi thường thiệt hai do việc sử dụng sản phẩm gây ra.
Nguyên tắc chung là người sản xuất, cung ứng sản phẩm không phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại liên quan đến sản phẩm chừng nào sản phẩm không bị hư hỏng và có độ an toàn. Vì vậy, để đòi bồi thường, người bị thiệt hại phải chứng minh được sản phẩm có khuyết tật và việc sử dụng nó thực tế đã gây thiệt hại.
Khác với các cơ sở khởi kiện khác về trách nhiệm sản phẩm là phải dựa vào các hành vi của người sản xuất, trách nhiệm nghiêm ngặt dựa trên bản thân sản phẩm, tức là người khởi kiện chỉ cần chứng minh rằng sản phẩm có những khiếm khuyết mà chính những khiếm khuyết này gây tác hại cho một cách vô lý cho người sử dụng sản phẩm.
- Qua tìm hiểu có thể thấy rằng chế định về trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ có một số nội dung như sau:
Thứ nhất, đạo luật mẫu của Viện Luật Hoa Kỳ về trách nhiệm sản phẩm đã có những quy định khá cụ thể và viện dẫn, tổng hợp các án lệ có liên quan đã trở thành văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cho các chủ thể có được những nhận thức đúng đắn về quyền và nghĩa vụ của mình. Văn bản này đã góp phần định hướng cho việc xét xử các vụ án liên quan đến trách nhiệm sản phẩm. Bên cạnh đó, mỗi bang cũng đã ban hành đạo luật riêng về trách nhiệm sản phẩm với những quy định khác nhau.
Thứ hai, pháp luật Hoa Kỳ đã đưa ra được các nguyên tắc cụ thể cho việc áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm, trong đó quan trọng nhất là nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt (xác định trách nhiệm bồi thường của nhà sản xuất đối với thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra không phụ thuộc vào lỗi). Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã xác định được mối quan hệ, nguyên tắc áp dụng giữa luật chung về trách nhiệm sản phẩm và luật chuyên ngành, giữa luật liên bang và luật của các bang góp phần thống nhất, đồng bộ hóa việc ban hành và áp dụng pháp luật.
Thứ ba, có thể nhận thấy chế định trách nhiệm sản phẩm là một trong những chế định thể hiện tính chặt chẽ, nghiêm ngặt nhất với những quy định cụ thể đặc biệt là về mức bồi thường thiệt hại.
Thứ tư, chế định trách nhiệm sản phẩm tại Hoa Kỳ đã hình thành nên những học thuyết nền tảng và được luật hóa trong các văn bản pháp luật cụ thể đồng thời ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển chế định trách nhiệm sản phẩm của các quốc gia khác trên thế giới.
1.2.2 Lịch sử hình thành pháp luật trách nhiệm sản phẩm trong hệ thống luật Châu Âu lục địa (Civil law) Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Hệ thống luật Châu Âu lục địa (Civil law) bắt nguồn từ châu Âu lục địa từ xưa, với đại diện tiêu biểu hiện nay là luật của Cộng hòa Pháp, Liên bang Đức… Hình thành từ năm 1957 với 6 thành viên, hiện nay Liên minh châu Âu đã có 27 thành viên, là một khối thống nhất cả về kinh tế, chính trị, có thị trường chung, đồng tiền chung, hệ thống pháp luật chung. Do hàng hóa của các nước tham gia có thể tự do lưu thông trong thị trường nội khối cũng như trong thị trường nước mình. Điều đó mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho các nước thành viên nhưng cũng gây ra những khó khăn, phức tạp trong việc quản lý chất lượng sản phẩm và việc xét xử những vụ kiện liên quan đến chất lượng sản phẩm và trách nhiệm sản phẩm. Để giảm thiểu những vấn đề có thể gặp phải do xung đột pháp luật giữa các nước thành viên và đảm bảo sự hài hòa và thống nhất trong phạm vi Liên minh, Điều 100 của Hiệp ước Rome 1957 đã quy định tại Điều 100 về việc ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh các vấn đề chung của cộng đồng.
Trong những năm 1970, một số nước châu Âu đã đưa ra sáng kiến về việc đưa ra một công ước chung điều chỉnh các vấn đề liên quan đến trách nhiệm sản phẩm và giải quyết xung đột giữa luật pháp của các nước thành viên trong vấn đề này. Những sáng kiến đó là tiền đề cho sự ra đời của Công ước Hague vào ngày 02 tháng 10 năm 1973, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 1977 về luật áp dụng cho trách nhiệm sản phẩm. Công ước này đã giải quyết khá triệt để vấn đề xung đột pháp luật và đến nay vẫn còn hiệu lực với 11 thành viên tham gia và phê chuẩn.
Vào năm 1975, bản Dự thảo của Công ước châu Âu về trách nhiệm sản phẩm được đưa ra theo đề xuất của Hội đồng châu Âu. Sau khi bản dự thảo cuối cùng được phê chuẩn thì nó trở thành công ước Strabourg 1977. Công ước này quy định các vấn đề trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt, không quan tâm đến lỗi của nhà sản xuất. Hiện nay công ước này chỉ có 4 nước thành viên tham gia và chưa có hiệu lực thực tế nhưng sự ra đời của nó là tiền đề cho bản Chỉ thị 85/374/EEC sau này.
Vào ngày 14 tháng 4 năm 1975, tại Hội nghị thượng đỉnh Paris, Hội đồng châu Âu đã ban hành nghị quyết về chương trình ban đầu của cộng đồng trong chính sách bảo vệ người tiêu dùng, và năm 1981 thì bản nghị quyết thứ hai cũng được ban hành, theo đó người tiêu dùng phải được bảo vệ trước những thiệt hại vật chất gây ra do sản phẩm có khuyết tật.
Trong hai năm 1974, 1975, hai bản dự thảo của bản Chỉ thị về trách nhiệm sản phẩm ra đời. Nhưng phải đến mười năm sau, bản Chỉ thị mới chính thức được ban hành vào ngày 25 tháng 7 năm 1985. Bản Chỉ thị lần này quy định trách nhiệm nghiêm ngặt của nhà sản xuất, người phân phối với sản phẩm của mình, tuy nhiên cũng có những điều khoản cho phép các nước thành viên có thể lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng, hoặc tăng mức phạt khi đưa vào luật của nước mình. Chỉ thị 85/374/EEC có hiệu lực từ ngày 01 tháng 8 năm 1988 với sự chấp thuận rộng rãi trong nội bộ các nước thành viên và từ đó đến nay đã thể hiện tốt vai trò thống nhất pháp luật điều chỉnh vấn đề trách nhiệm sản phẩm giữa các nước thành viên.
Chỉ thị số 85/374/EEC ngày 25/7/1985 của Hội đồng châu Âu về trách nhiệm đối với thiệt hại do sản phẩm gây ra (Chỉ thị số 85/374/EEC) được ban hành để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng đối với những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản gây ra bởi sản phẩm có khuyết tật, đồng thời tạo nền tảng cho sự thống nhất pháp luật các nước thành viên trong vấn đề trách nhiệm sản phẩm, nhằm hướng đến việc xây dựng thị trường chung châu Âu. Chỉ thị số 85/374/EEC cũng tạo nên sự cân bằng lợi ích giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng thông qua các hạn mức về trách nhiệm sản phẩm và các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm của nhà sản xuất, đồng thời tạo điều kiện cho người bị thiệt hại có cơ sở pháp lý để yêu cầu bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Theo nguyên tắc trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt, thì nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả khi nhà sản xuất không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại, miễn là sản phẩm của những người cung ứng này có khuyết tật. Chế độ trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt cho phép người bị thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra được quyền khởi kiện nhà sản xuất mà không cần chứng minh lỗi của nhà sản xuất. Để thắng một vụ kiện liên quan đến trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt, theo Điều 4 Chỉ thị số 85/374/EEC, người bị thiệt hại phải chứng minh được: (i) Sản phẩm của nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hoặc bất kì người nào trong chuỗi cung ứng sản phẩm có khuyết tật. Và khuyết tật của sản phẩm phải chứa đựng sự nguy hiểm bất hợp lý. (ii) Có thiệt hại xảy ra, có thể là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc thiệt hại về tài sản.
(iii) Khuyết tật của sản phẩm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng. Đây là nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng khi có thiệt hại xảy ra. Với nghĩa vụ này, người tiêu dùng đã tránh được việc chứng minh lỗi từ phía nhà sản xuất. Trên thực tế, lỗi là yếu tố rất khó để chứng minh, kể cả đó là nghĩa vụ từ người tiêu dùng hay chủ thể có quyền xem xét, đánh giá chứng cứ như Tòa án. Bằng quy định này, Chỉ thị đã tạo một cơ chế pháp lý hữu hiệu nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi người tiêu dùng.
Theo Điều 7 Mục E của Chỉ thị số 85/374/EEC thì nhà sản xuất chỉ được miễn trách nhiệm sản phẩm khi họ chứng minh được rằng: “Tình trạng khoa học và kỹ thuật tại thời điểm đưa sản phẩm vào lưu thông trên thị trường không cho phép khả năng nhận biết được các khuyết tật”. Với quy định này, Hội đồng châu Âu muốn nhấn mạnh vào yếu tố “nhận biết” khi xem xét khía cạnh rủi ro phát triển. Điều này có nghĩa là việc phát hiện ra khuyết tật dựa vào tính khách quan của tình trạng khoa học kỹ thuật lúc sản phẩm được lưu thông mà không phải kiến thức hay khả năng nhận biết được khuyết tật của nhà sản xuất hay những nhà sản xuất tương tự. Ví dụ điển hình từ vụ kiện nổi tiếng tại Anh vào năm 1985, nguyên đơn đã nhiễm vi rút Hepatitis C sau khi truyền máu tại một cơ sở huyết học. Theo lời giải thích của Tòa châu Âu, bị đơn không thể dùng quy định Điều 7 Mục E để miễn trách nhiệm sản phẩm khuyết tật vì “sản phẩm này được biết với tư cách là thông tin có thể kiểm soát được”. Việc máu nhiễm vi rút Hepatitis A và B (một loại vi rút gây viêm gan) đã được phát hiện vào thập niên 60 tại Đức và có thể tiếp tục phát triển thêm loại vi rút mới theo đường truyền máu và ẩn chứa nhiều rủi ro. Vì vậy, đối với trường hợp tại Anh, thẩm phán cho rằng đây là thông tin có thể tiếp cận được và bị đơn không được miễn trừ điều khoản rủi ro phát triển.
Sau sự ra đời của Chỉ thị 85/374/EEC về Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu, đến nay Liên minh châu Âu đã ban hành thêm một số văn bản pháp luật khác điều chỉnh vấn đề này. Cụ thể, vào ngày 10 tháng 5 năm 1999, Chỉ thị số 1999/34/EC đã ra đời nhằm bổ sung, sửa đổi một số điều khoản của Chỉ thị 85/374/EEC trước đó. Ngoài ra còn có các văn bản khác như Chỉ thị 97/27/EC ban hành ngày 19 tháng 5 năm 1998 quy định việc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Chỉ thị 2001/95/EC ban hành ngày 3 tháng 12 năm 2001 về những quy định chung về an toàn sản phẩm; Nghị định số 864/2007 của Liên minh châu Âu về luật áp dụng đối với nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Như vậy, có thể nhận thấy rằng có rất nhiều văn bản pháp luật của Cộng đồng chung châu Âu quy định về trách nhiệm sản phẩm. Trong phạm vi bài luận văn, tác giả sẽ đi sâu vào phân tích nội dung cơ bản của bản chỉ thị đầu tiên về trách nhiệm sản phẩm, bản Chỉ thị 85/374/EEC.
Chỉ thị số 85/374/EEC ban hành ngày 25-7-1985 của Ủy ban Cộng đồng châu Âu đề hài hòa hóa các quy định bắt buộc trong lĩnh vực pháp luật và hành chính của các nước thành viên về trách nhiệm của các sản phẩm bị khuyết tật.
- Về nguyên tắc và mục tiêu của các Chỉ thị Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Nguyên tắc cơ bản của các chỉ thị là việc xác định trách nhiệm bồi thường do sản phẩm khuyết tật gây ra không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của nhà sản xuất. Nội dung này tương tự với pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ. Bản Chỉ thị số 85/374/EEC được ban hành để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng đối với những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản gây ra bởi sản phẩm khuyết tật đồng thời tạo nền tảng cho sự thống nhất pháp luật các nước thành viên trong vấn đề trách nhiệm sản phẩm hướng đến việc xây dựng thị trường chung châu Âu. Bản Chỉ thị này cũng tạo nên sự cân bằng lợi ích giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng thông qua các hạn mức của trách nhiệm sản phẩm và các trường hợp miễn giảm trách nhiệm của nhà sản xuất đồng thời tạo điều kiện cho người bị thiệt hại có cơ sở pháp lý để yêu cầu bồi thường thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra.
Về mục tiêu Chỉ thị được ban hành với mục tiêu là bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ nhà sản xuất nhằm tạo một trật tự trong thị trường kinh doanh.
- Chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý
Pháp luật của EU đã đưa các loại chủ thể vào phạm vi điều chỉnh bao gồm: Nhà sản xuất toàn bộ, một bộ phận hay nhà cung cấp các bộ phận của sản phẩm; Bất kỳ người nào có dấu hiệu nhận biết trên sản phẩm hoặc những đặc điểm chứng minh người đó có liên quan đến sản phẩm; Nhà nhập khẩu hàng hóa vào EU để bán, cho thuê hoặc phân phối.
- Phạm vi trách nhiệm sản phẩm
Điều 2 Bản chỉ thị 85/374/EEC quy định cụ thể về sản phẩm trong trách nhiệm sản phẩm. Sản phẩm sẽ bao gồm mọi động sản kể cả động sản gắn liền với bất động sản, loại trừ các sản phẩm nông nghiệp chính và các sản phẩm đồ chơi. Tuy nhiên, sau một số vụ tranh chấp liên quan đến các sản phẩm nông nghiệp của Liên minh Châu Âu như vụ việc “Thịt bò điên tại Anh”, vụ “hoocmon tăng trưởng trong thịt bò” và cũng để tạo sự tin tưởng cho người tiêu dùng đối với các sản phẩm nông nghiệp và đảm bảo sự hài hòa pháp luật giữa các nước thành viên về các quy định của sản phẩm nông nghiệp, Bản chỉ thị 1999/34/EC được ban hành để sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản chỉ thị 85/374/EEC. Theo đó, trách nhiệm của nhà sản xuất được mở rộng đối với tất cả các loại động sản, bao gồm cả điện năng. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Sản phẩm cũng không bao gồm các sản phẩm được đưa vào lưu thông trên thị trường trước ngày Bản chỉ thị 85/374/EEC có hiệu lực (trước ngày 30 tháng 7 năm 1988), Nguyễn Thị Tường Vi (2009, tr.30). Một sản phẩm được xem là được đưa vào lưu thông trên thị trường khi nó được chuyển đến người tiêu dùng thông qua các hành vi như bán, cho thuê, cho mượn… Sản phẩm phải là những sản phẩm hữu hình và được sử dụng với mục đích tiêu dùng. Sản phẩm có thể là toàn bộ sản phẩm hoặc một phần của sản phẩm.
Trong nghiên cứu của Ủy ban kinh tế và xã hội châu Âu về việc thực hiện Bản chỉ thị 85/374/EEC vào ngày 28 tháng 07 năm 1999, các chuyên gia nghiên cứu đã khảo sát và đề nghị mở rộng phạm vi đối với các sản phẩm là bất động sản. Theo các chuyên gia nghiên cứu thì bất động sản như nhà cũng có những khuyết tật trong quá trình xây dựng, sử dụng và gây rất nhiều thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho người sử dụng bất động sản đó nhưng hiện nay pháp luật của các nước thành viên còn quy định khác nhau. Bản báo cáo lần thứ ba của Ủy ban châu Âu ngày 14 tháng 9 năm 2006 cũng đề cập đến vấn đề này, nhưng vẫn chưa được thông qua. Cũng tại bản báo cáo này, Ủy ban châu Âu cũng đưa ra vấn đề mở rộng trách nhiệm sản phẩm đối với các sản phẩm là dịch vụ, các phần mềm, dữ liệu máy tính…, vấn đề này sẽ được xem xét trong thời gian tới.
- Xác định khuyết tật của sản phẩm
Theo khoản 1 Điều 2 thì một sản phẩm được coi là có khuyết tật khi nó không an toàn như những người có liên quan mong đợi, khi xem xét khuyết tật của sản phẩm cần quan tâm đến những yếu tố sau:
- Sự giới thiệu sản phẩm bao gồm lời hướng dẫn sử dụng sản phẩm hay cảnh báo an toàn, trưng bày hay quảng cáo về sản phẩm.
- Tình trạng thực tế của sản phẩm.
- Quá trình sử dụng sản phẩm kể từ khi nó được đưa vào lưu thông trên thị trường.
- Thời gian cụ thể sản phẩm được đưa vào sử dụng. yếu tố này cho thấy nhà sản xuất sẽ không đương nhiên phải chịu trách nhiệm đối với những sản phẩm đã cũ và xảy ra khuyết tật.
Theo Khoản 2 Điều 6 thì một sản phẩm sẽ không được coi là có khuyết tật khi một sản phẩm tốt hơn cùng loại được đưa ra thị trường. Điều này có liên quan đến vấn đề “rủi ro phát triển” là một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Khuyết tật của sản phẩm cũng bao gồm ba loại: khuyết tật do thiết kế, khuyết tật do sản xuất và khuyết tật do không cảnh báo sự an toàn. Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định khuyết tật của sản phẩm theo các quy định của Bản chỉ thị 85/374/EEC còn gặp nhiều khó khăn.
Thứ nhất, không có một tiêu chuẩn cụ thể nào để xác định được “mức độ không an toàn như những người liên quan mong đợi”.
Thứ hai, thời hạn để nhà sản xuất chịu trách nhiệm sản phẩm đối với sản phẩm của mình là 10 năm (theo Điều 11) kể từ ngày sản phẩm được lưu thông ngoài thị trường. Thời hạn này được áp dụng chung với tất cả các loại sản phẩm. Tuy nhiên, mỗi loại sản phẩm có tính năng, thời hạn sử dụng và độ bền khác nhau. Vì vậy, nếu quy định chung cho tất cả các sản phẩm thì không đảm bảo được sự cân bằng lợi ích giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng .
Thứ ba, nghĩa vụ chứng minh sản phẩm có khuyết tật thuộc về người bị thiệt hại, nhưng những tiêu chí xác định sản phẩm có khuyết tật còn chưa thống nhất giữa các nước thành viên nên việc chứng minh rất khó khăn, khiến cho khả năng thắng kiện của các nguyên đơn còn hạn chế.
Dựa trên hệ thống văn bản này, mỗi nước thành viên của Liên minh châu Âu đều tự xây dựng cho mình hệ thống pháp luật về trách nhiệm sản phẩm riêng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế của quốc gia mình.
1.2.3 Quy định về trách nhiệm sản phẩm của một số nước ASEAN Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Ở khu vực Đông Á và các nước ASEAN, tình hình tiếp nhận quy tắc về trách nhiệm sản phẩm có vẻ chậm trễ hơn so với Mỹ hay liên minh châu Âu. Nhật Bản là quốc gia đi tiên phong trong vấn đề này nhưng cũng phải mất hàng chục năm tranh cãi với sự nỗ lực vận động hành lang lớn của các Hội bảo vệ người tiêu dùng, Luật về Trách nhiệm sản phẩm năm 1994 mới được ban hành. Ở Đông Nam Á, việc đưa các quy tắc về trách nhiệm sản phẩm còn muộn hơn (ngoại trừ trường hợp tiên phong là Philippines đã có quy định từ năm 1992). Mức độ tiếp nhận các vấn đề về trách nhiệm sản phẩm cũng không đồng đều giữa các quốc gia và cách thể hiện quan điểm còn có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia trong khối về vấn đề trách nhiệm sản phẩm.
- Quy định về trách nhiệm sản phẩm của Philippines
Philippines thông qua Luật về người tiêu dùng năm 1992. Đây là một đạo luật toàn diện, điều chỉnh không chỉ vấn đề trách nhiệm sản phẩm mà cả vấn đề an toàn và chất lượng sản phẩm, hành vi lừa dối và hành vi thiếu công bằng, bảo hành, dán nhãn và đóng gói. Đạo luật này cũng quy định việc thành lập Hội đồng Quốc gia về các vấn đề của người tiêu dùng. Quan trọng hơn, Luật người tiêu dùng cũng đã thiết lập một cơ chế mở rộng của trách nhiệm nghiêm ngặt đối với các nhà sản xuất và nhập khẩu dựa vào Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu. Không giống như Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu, Luật Người tiêu dùng của Philippines đặt trách nhiệm chứng minh lên nhà sản xuất. Nhà sản xuất phải chứng minh rằng sản phẩm họ đưa vào thị trường là không có khuyết tật.
Luật Người tiêu dùng chỉ quy định ba trường hợp mà nhà sản xuất không phải chịu trách nhiệm. Đó là các trường hợp nhà sản xuất chứng minh được rằng họ không đưa sản phẩm đó ra thị trường, sản phẩm đó không có khuyết tật, hoặc chỉ có người tiêu dùng hoặc một bên thứ ba là có lỗi. Những căn cứ loại trừ trách nhiệm này ít hơn nhiều so với các căn cứ được quy định trong Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu.
Đạo luật này cũng mở rộng việc áp dụng học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt bằng việc yêu cầu các cơ quan nhà nước đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng đối với tất cả các sản phẩm và yêu cầu nhà sản xuất, nhà phân phối hoặc người bán hàng phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà những sản phẩm không đảm bảo các tiêu chuẩn đó gây ra. Quá trình khiếu nại của người tiêu dùng cũng được hỗ trợ bởi các Văn phòng vì lợi ích người tiêu dùng thành lập bởi cả các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp của tư nhân. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Về chủ thể phải chịu trách nhiệm, Trong Chương 5 của Luật Người tiêu dùng về vấn đề trách nhiệm đối với sản phẩm và dịch vụ, Điều 97 quy định trách nhiệm đối với các sản phẩm có khuyết tật, theo đó “bất kỳ nhà sản xuất hay nhập khẩu nào của Philippines hay nước ngoài đều phải chịu trách nhiệm khôi phục hoặc bồi thường, không kể có lỗi hay không, đối với các thiệt hại gây ra cho người tiêu dùng do các khuyết tật có nguyên nhân từ thiết kế, chế tạo, xây dựng, lắp ráp, dựng, nâng cấp, trình bày hay đóng gói sản phẩm, cũng như do cung cấp không đầy đủ thông tin về công dụng và các khả năng gây hại của chúng”.
Đối với trách nhiệm của người bán, Điều 98 Luật Người tiêu dùng quy định: người kinh doanh/bán hàng sẽ phải chịu trách nhiệm tương tự như các nhà sản xuất, nhập khẩu khi: a) không thể xác định được người sản xuất, chế tạo, xây dựng, chế biến hay nhập khẩu; b) sản phẩm được cung cấp mà không chỉ rõ nhà sản xuất, chế tạo, xây dựng, chế biến hay nhập khẩu; c) người đó đã không áp dụng các biện pháp bảo quản cần thiết đối với các sản phẩm dễ hư hỏng. Bên bồi thương cho người bị thiệt hại có quyền đòi bồi hoàn một phần hoặc toàn bộ khoản đã bồi thường từ các bên khác có trách nhiệm, căn cứ vào phần hoặc trách nhiệm của họ đối với thiệt hại đã xảy ra.
Điều đáng chú ý là Luật Người tiêu dùng của Philippines đã xác định cơ chế trách nhiệm đối với sản phẩm dịch vụ. Cụ thể, Điều 99 về trách nhiệm đối với dịch vụ có khuyết tật quy định: nhà cung cấp dịch vụ phải chịu trách nhiệm sửa chữa, khôi phục, bồi thường, không phụ thuộc vào việc có lỗi hay không, đối với những thiệt hại gây ra cho người tiêu dùng do những khuyết tật liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cũng như việc không cung cấp đầy đủ thông tin về việc thực hiện dịch vụ và khả năng gây hại của nó.
- Quy định về trách nhiệm sản phẩm của Malaysia
Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia có hiệu lực vào ngày 15 tháng 11 năm 1999. Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia được xem là một bước tiến quan trọng trong việc mở rộng mức độ bảo vệ tới cá nhân người tiêu dùng, người thường là ở vị thế yếu hơn so với nhà sản xuất, cung ứng là đối tượng bị người tiêu dùng khiếu nại. Các quy định trong đạo luật này bao gồm cả các hành vi gây nhầm lẫn và lừa đảo, các tiêu chuẩn an toàn tối thiểu mà hàng hoá và dịch vụ phải đảm bảo, quyền yêu cầu nhà sản xuất và cung ứng phải khôi phục quyền lợi, thành lập Hội đồng Tư vấn Quốc gia về người tiêu dùng và Uỷ ban giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng.
Phần X của Luật Bảo vệ người tiêu dùng Malaysia quy định chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt liên quan đến hàng hoá có khuyết tật dựa theo quy định tại Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu. Tuy nhiên, trách nhiệm nghiêm ngặt không phải là khái niệm mới mẻ trong hệ thống pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia, bởi Luật Diễn giải thương mại 1972 cũng đã có một số các quy định dựa trên khái niệm này. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Luật của Malaysia xác định khuyết tật của sản phẩm căn cứ vào mức độ an toàn. Cụ thể là sản phẩm sẽ được coi là có khuyết tật nếu không đạt được yêu cầu về an toàn như mức độ mà một người tiêu dùng thông thường có quyền trông đợi. Việc xác định mức độ mà một người tiêu dùng thông thường có quyền trông đợi đối với một sản phẩm phải được thực hiện trên cơ sở xem xét tất cả các yếu tố liên quan được quy định trong Luật. Luật này cũng quy định một sản phẩm sẽ không được coi là có khuyết tật chỉ vì mức độ an toàn của nó thấp hơn so với mức độ an toàn của một sản phẩm được cung cấp sau.
Các chủ thể phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do khuyết tật của sản phẩm gây ra trước hết là nhà sản xuất (bao gồm cả người đưa tên lên nhãn hiệu thương mại của sản phẩm) và nhà nhập khẩu. Trong trường hợp nhà cung cấp sản phẩm không thể thông tin về nhà sản xuất hay nhập khẩu thì nhà cung cấp sẽ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó. Trách nhiệm này cũng được loại trừ đối với người cung cấp nông sản chưa qua bất kỳ một quá trình chế biến nào. Trong trường hợp có từ hai người trở lên phải chịu trách nhiệm, mỗi người sẽ phải tự mình chịu trách nhiệm, đồng thời liên đới chịu trách nhiệm với những người còn lại.
Về cơ sở xác định trách nhiệm, Điều 70 của Luật người tiêu dùng Malaysia viện dẫn Luật Dân sự 1956, theo đó thiệt hại mà một người phải chịu trách nhiệm sẽ được coi là thiệt hại gây ra bởi hành vi sai trái, bất cẩn hay lỗi của người đó. Như vậy, lỗi trong pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Malaysia là lỗi suy đoán và để khiếu kiện, chỉ cần xác định có thiệt hại xảy ra hay không và có người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó hay không (nhà sản xuất, nhập khẩu hay cung ứng).
Với mục đích bảo vệ người tiêu dùng, để ngăn ngừa các thương nhân sử dụng ưu thế của mình để đưa ra những điều khoản loại trừ trách nhiệm khi giao kết hợp đồng với người tiêu dùng, Điều 71 Luật Người tiêu dùng của Malaysia quy định trách nhiệm đối với người bị thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của sản phẩm và đối với người phụ thuộc của người đó sẽ không bị hạn chế hay loại trừ bởi bất kỳ điều khoản hợp đồng, thông báo hay quy định nào.
Về các trường hợp miễn trách nhiệm: Các trường hợp được miễn trách nhiệm theo Luật Người tiêu dùng Malaysia tương đối hạn chế và chỉ có năm trường hợp, đó là: Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
- Hàng hoá có khuyết tật chỉ vì lý do phải tuân theo các tiêu chuẩn luật định;
- Nhà sản xuất đó đã không cung ứng sản phẩm khuyết tật đó;
- Khuyết tật được nêu ra không tồn tại khi hàng hoá được cung cấp;
- Kiến thức khoa học và kỹ thuật tại thời điểm hàng hoá được cung cấp không cho phép phát hiện ra khuyết tật; hoặc
- Do áp dụng quy định về trách nhiệm của người cung cấp phụ kiện.
Quy định về trách nhiệm sản phẩm của Thái Lan
Luật Trách nhiệm đối với Sản phẩm không an toàn của Thái Lan được ban hành ngày 13 tháng 2 năm 2008 và có hiệu lực vào ngày 23 tháng 12 năm 2009. Đây có thể coi là đạo luật được ban hành mới nhất về trách nhiệm sản phẩm của khu vực ASEAN. Luật áp dụng trách nhiệm phát sinh từ sản phẩm không an toàn đối với nhà sản xuất, người bán hàng, nhà nhập khẩu và những người khác trong chuỗi phân phối. Các nội dung cơ bản về chế định trách nhiệm sản phẩm thể hiện trong đạo luật này như sau:
Về phạm vi sản phẩm, Luật quy định sản phẩm thuộc tất cả các loại được sản xuất, nhập khẩu để bán, bao gồm cả nông sản và điện. Một số trường hợp có thể được loại trừ theo quy định của các Bộ trưởng. Nông sản được hiểu là các sản phẩm từ nông nghiệp, bao gồm trồng lúa, trồng rau, quả, chăn nuôi gia súc, trồng dâu nuôi tằm, trồng nho, cấy nấm và không bao gồm các sản phẩm tự nhiên.
Về khái niệm sản xuất, sản xuất theo luật của Thái lan được hiểu là việc chế biến, pha trộn, chuẩn bị, lắp ráp, tạo ra, chuyển đổi hình thái, tạo lại hình dạng, chỉnh sửa, lựa chọn, đóng gói, làm lạnh và làm nóng và cả các hoạt động khác tạo ra tác dụng tương tự.
Về chủ thể có thể khởi kiện theo quy định của Luật, người chịu thiệt hại, mất mát do sản phẩm không an toàn là người được kiện để đòi quyền lợi cho mình. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Về khái niệm mất mát hay thiệt hại, mất mát hay thiệt hại được xác định trong luật là các mất mát hay thiệt hại gây ra do việc sử dụng sản phẩm không an toàn, bao gồm thiệt hại về tính mạng, thân thể, sức khoẻ, tinh thần, tài sản nhưng không bao gồm mất mát hay thiệt hại đối với chính sản phẩm có khuyết tật. Thiệt hại về tinh thần có nghĩa là sự đau đớn, đau khổ, sợ hãi, lo lắng, tuyệt vọng, những xấu hổ hay bất kỳ sự thiệt hại về tinh thần nào có tác dụng tương tự.
Sản phẩm không an toàn được xác định trong Luật này là sản phẩm có khả năng gây ra thiệt hại, có thể là do khuyết tật trong quá trình chế tạo, thiết kế, sự thiếu chỉ dẫn, bảo quản hay cảnh báo; hay thông tin khác liên quan đến sản phẩm, hay không có đủ thông tin hoặc thông tin không rõ ràng liên quan đến tình trạng của sản phẩm, bao gồm cả thông tin về cách sử dụng và bảo quản trong khi sản phẩm ở tình trạng bình thường trong điều kiện bình thường.
Chủ thể chịu trách nhiệm: Nhà kinh doanh là chủ thể chịu trách nhiệm theo quy định của Luật này bao gồm: Nhà sản xuất hay gia công; Nhà nhập khẩu; Người bán một sản phẩm không xác định được nhà sản xuất, gia công hay nhà nhập khẩu; Người sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu, đồ vật hay bất kỳ phương tiện nào khiến cho người khác nghĩ rằng người đó là nhà sản xuất, gia công hay nhà nhập khẩu.
Luật cũng khẳng định tất cả những người kinh doanh đều phải chịu trách nhiệm về những mất mát hay thiệt hại do sản phẩm không an toàn gây ra, khi sản phẩm đó đã được bán cho người tiêu dùng, không kể là thiệt hại đó được gây ra do vô ý hay cố ý.
Về trách nhiệm chứng minh, để yêu cầu một người kinh doanh phải chịu trách nhiệm, người bị thiệt hại hay đại diện của người đó phải chứng minh rằng người bị thiệt hại đã phải chịu mất mát hay thiệt hại do sản phẩm đó, và người đó đã tuân thủ đúng các chỉ dẫn về sử dụng, bảo quản sản phẩm trong điều kiện bình thường, nhưng không cần phải chứng minh rằng nhà kinh doanh đó đã gây ra mất mát hay thiệt hại.
Các trường hợp được loại trừ trách nhiệm: Nhà kinh doanh không phải chịu trách nhiệm về những mất mát hay thiệt hại do sản phẩm không an toàn gây ra, nếu chứng minh được rằng: Sản phẩm đó không phải là sản phẩm không an toàn; Bản thân người bị thiệt hại đã biết rằng sản phẩm đó không an toàn; Mất mát hay thiệt hại được gây ra bởi việc sử dụng, bảo quản không đúng cách, hay không tuân thủ những cảnh báo, hay bỏ qua các thông tin chỉ dẫn liên quan đến sản phẩm mà nhà kinh doanh đã chỉ ra một cách chính xác và rõ ràng.
Về thoả thuận loại trừ hay miễn trách nhiệm, thoả thuận giữa người tiêu dùng và nhà kinh doanh trước khi xảy ra mất mát hay thiệt hại, hay một thông báo của nhà kinh doanh về việc loai trừ hay hạn chế trách nhiệm đối với mất mát hay thiệt hại gây ra bởi một sản phẩm không an toàn không được chấp nhận với mục đích hạn chế hay loại trừ trách nhiệm. “Người tiêu dùng” ở đây có nghĩa là người mua hay tiếp nhận dịch vụ từ một nhà kinh doanh hoặc một người khác đã được nhà kinh doanh mời mua hàng hoá hay tiếp nhận dịch vụ, và bao gồm cả người sử dụng hàng hoá hay dịch vụ từ một nhà kinh doanh ngay cả khi người đó không thanh toán cho hàng hoá/dịch vụ đó. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Có thể thấy rằng, nhìn trong bức tranh chung, mặc dù pháp luật của các quốc gia đều tuân thủ các nguyên tắc chung của chế định trách nhiệm sản phẩm nhưng mỗi quốc gia trong khối ASEAN, bên cạnh những quy định chung đều có những quy định tương đối đặc thù về vấn đề này. Về mặt hình thức, các nước có thể đưa những quy định này vào thành một phần của đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng, hoặc quy định trong một đạo luật riêng. Về mặt nội dung, điểm tạo sự khác biệt lớn nhất có thể nói chính là Philippines và Indonesia – hai quốc gia không chỉ khẳng định nguyên lý mà họ áp dụng là trách nhiệm nghiêm ngặt mà còn mở rộng đến các sản phẩm dịch vụ, điều mà cả các quốc gia phát triển là Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu cho đến nay vẫn chưa dám áp dụng. Trong khi đó, với tư cách là đạo luật được ban hành gần đây nhất, quy định về cơ chế áp dụng trách nhiệm sản phẩm trong luật của Thái Lan được quy định tương đối chi tiết và đặc biệt, thiệt hại được mở rộng đến cả những thiệt hại về tinh thần. Một điểm đáng chú ý nữa là Thái Lan không sử dụng khái niệm sản phẩm có khuyết tật mà sử dụng khái niệm sản phẩm không an toàn. Tuy nhiên, bên cạnh một số khác biệt thì pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của các quốc gia ASEAN được nêu ở trên đều đã thể hiện sự tiếp cận tương đối đầy đủ với các lý thuyết về trách nhiệm sản phẩm của các nước phát triển và về cơ bản đều áp dụng nguyên tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt. Điều này khẳng định sự quan tâm đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng của các quốc gia ASEAN và đồng thời, thể hiện yêu cầu đối với các doanh nghiệp trong việc nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm đối với xã hội.
Như vậy, quy định về trách nhiệm sản phẩm cũng được xem là lĩnh vực pháp luật mới so với quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng cũng như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Có thể thấy rằng đặc điểm của pháp luật quốc tế về trách nhiệm sản phẩm có những nội dung như sau:
Thứ nhất, Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở các nước thuộc Cộng đồng châu Âu, phần lớn là các quốc gia Đông Âu, các nước ASEAN cũng như các quốc gia châu Á khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc… cơ bản xây dựng trên cơ sở sản phẩm có khuyết tật gây thiệt hại cho NTD, không phụ thuộc vào lỗi của nhà sản xuất.
Ở một số quốc gia Châu Âu và châu Á khác, quy định về trách nhiệm sản phẩm cũng tương tự về nội dung nguyên tắc, tính chất và điều kiện của trách nhiệm. Ví dụ, Thụy Điển không xem điện năng là sản phẩm; Thái Lan, Thụy Điển không sử dụng thuật ngữ “sản phẩm có khuyết tật” mà sử dung thuật ngữ “sản phẩm không an toàn”.
Thứ hai, trách nhiệm sản phẩm là loại trách nhiệm không phụ thuộc vào lỗi nên đa số các nước đã quy định trong một đạo luật riêng, không quy định chung trong Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, phụ thuộc vào truyền thống lập pháp, đặc điểm văn hóa, xã hội khác nhau nên có nước quy định trách nhiệm đối với sản phẩm khuyết tật trong Luật bảo vệ NTD như ở Anh, Philippin, Malaysia… hoặc đạo luật riêng về chất lượng như Thái Lan, Hàn Quốc, Thụy Sĩ… hoặc quy định bằng nguyên tắc trong BLDS nhưng quy định chi tiết trong các đạo luật chuyên ngành như ở Pháp. Dù có được quy định trong các đạo luật chuyên ngành nhưng trách nhiệm sản phẩm vẫn là một loại trách nhiệm dân sự nên các nguyên tắc của pháp luật dân sự vẫn được áp dụng để giải quyết trách nhiệm này. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
Thứ ba, Luật trách nhiệm sản phẩm các nước đều quy định trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm do mình sản xuất ra. Trong thời đại toàn cầu hóa, sản phẩm của mỗi quốc gia mang đến cho NTD ở các quốc gia khác không có giới hạn về biên giới như trước đây. Trong tư pháp quốc tế, ở đa số các nước, người xuất khẩu cũng có thể phải chịu trách nhiệm về khuyết tật của sản phẩm đối với người sử dụng ngoài những nghĩa vụ về bảo đảm chất lượng hàng hóa trước phía bên kia trong hợp đồng mua bán quốc tế. Việc chịu trách nhiệm sẽ được áp dụng bởi đạo luật của nước người bị thiệt hại. Hiện nay, nguyên tắc Luật nơi thực hiện hành vi (lex coci delicti comissi) được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Trần Tuyết Minh (2014, tr. 35).
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Luật pháp về trách nhiệm sản phẩm đã được phát triển thành một hệ thống riêng bên cạnh luật pháp về bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới, do nó có ý nghĩa rất lớn không chỉ với người tiêu dùng mà còn cả với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Trong khi vẫn công nhận các yếu thế của người tiêu dùng, đặc biệt là do tình trạng thiếu thông tin gây ra, hệ thống luật pháp cần đảm bảo cả tính khoa học pháp lý và tính công bằng, tránh gây cản trở không hợp lý cho việc doanh nghiệp tham gia thị trường (do chi phí tham gia thị trường bị đẩy lên cao, do việc tuân thủ các quy định của pháp luật). Bên cạnh một số khác biệt thì pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của các quốc gia ASEAN được nêu ở trên đều đã thể hiện sự tiếp cận tương đối đầy đủ với các lý thuyết về trách nhiệm sản phẩm của các nước phát triển và về cơ bản đều áp dụng nguyên tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt. Điều này khẳng định sự quan tâm đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng của các quốc gia ASEAN và đồng thời, thể hiện yêu cầu đối với các doanh nghiệp trong việc nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm đối với xã hội. Tại Việt Nam, đây là một lĩnh vực mới, mặc dù đã được pháp luật quy định song vẫn chưa thực sự được các bên tham gia áp dụng một cách triệt để. Do đó, người tiêu dùng chưa được bảo vệ đầy đủ, hoặc doanh nghiệp bị đối xử quá nghiêm ngặt trong việc quy trách. Vì vậy, việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, người tiêu dùng về trách nhiệm sản phẩm là hết sức cần thiết. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở VN