Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án hành chính
Luật TTHC năm 2015 có một số quy định mới thể hiện bước chuyển biến vượt bậc của hệ thống pháp luật tố tụng hành chính ở nước ta từ trước đến nay. Những thay đổi quan trọng đó đều hướng đến bảo đảm hoạt động tố tụng hành chính được chính xác, khách quan, đúng pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức một cách hữu hiệu nhất. Bảo đảm quyền của đương sự trước hết được bảo đảm bằng biện pháp pháp lý, bảo đảm tính khách quan trong xét xử hành chính. Vì vậy, pháp luật TTHC hiện hành không chỉ quy định quyền của các đương sự mà còn quy định nguyên tắc, thủ tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ đồng thời quy định các biện pháp nhằm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong thực tế.
2.1.1. Thực trạng về ghi nhận quyền tố tụng cơ bản và thiết lập nghĩa vụ tố tụng đối ứng của đương sự
- Một số ưu điểm
Như đã phân tích ở Chương 1, các quyền cơ bản của đương sự bao gồm quyền quyết định về yêu cầu tố tụng trước Tòa án; được chứng minh, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án; được tiếp cận chứng cứ, tài liệu; được tranh tụng; được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý; được đề xuất với Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; được đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án; kháng cáo, khiếu nại, trong đó có khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.v.v… Kết quả đối chiếu lý luận và luật thực định cho thấy, căn cứ vào tính chất, mục đích của từng giai đoạn tố tụng cũng như các hành vi tố tụng mà đương sự cần phải thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, Luật TTHC năm 2015 đã cụ thể hóa quyền tố tụng này thành các quyền cụ thể quy định tại Điều 55. Ngoài ra, quyền được quyết định về yêu cầu tố tụng trước Tòa án của đương sự còn được cụ thể hóa thành các quyền tố tụng cụ thể khác đối với mỗi đương sự như quyền thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện (khoản 2 Điều 56); quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính bị khởi kiện; dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện (khoản 4 Điều 57); quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (khoản 1 Điều 58). Trong số các nguyên tắc Luật TTHC năm 2015 quy định thì nguyên tắc “bảo đảm tranh tụng trong xét xử” (Điều 18) là nguyên tắc hoàn toàn mới so với Luật TTHC năm 2010. Theo đó, tranh tụng trở thành một hoạt động tố tụng bắt buộc và được thực hiện trong xét xử hành chính, nhằm bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung quy định hoàn toàn mới tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đó là quy định về nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa tại Điều 175 và Điều 236, quy định này cũng phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức TAND năm 2014 theo hướng công khai, minh bạch. Như vậy, với những quyền đã được cụ thể hóa trong Luật TTHC năm 2015 sẽ giúp cho đương sự có cơ sở pháp lý để thực hiện các quyền của mình trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.
Bên cạnh việc ghi nhận các quyền tố tụng cụ thể, dựa trên lý luận về mối tương quan giữa quyền và nghĩa vụ của đương sự, Luật TTHC năm 2015 cũng đã thiết lập các nghĩa vụ đối ứng của đương sự nhằm bảo đảm cho việc thực hiện quyền của đương sự tại Điều 55, bổ sung đầy đủ, chặt chẽ hơn một số quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự như: “Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác”. Quy định bổ sung này nhằm hạn chế tình trạng đương sự lạm quyền ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của đương sự khác khi họ tham gia tố tụng. Bên cạnh đó, Luật TTHC năm 2015 bổ sung các nghĩa vụ như: “Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc, nếu có thay đổi địa chỉ nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án”. Để bảo đảm quyền được tiếp cận chứng cứ, tài liệu, quyền được tranh tụng của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khoản 9 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 đã thiết lập nghĩa vụ tố tụng đối ứng của đương sự: người khởi kiện có nghĩa vụ nộp bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để Tòa án gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác. Quy định này giúp đương sự được biết về yêu cầu và chứng cứ của người khởi kiện để người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện hiệu quả quyền tranh tụng. Để bảo đảm quyền đối thoại, tranh tụng của các đương sự, khoản 16 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 đã quy định mỗi đương sự có nghĩa vụ “phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án”; để bảo đảm quyền đối chất của đương sự thì khi có đương sự yêu cầu đối chất hoặc hỏi các về vấn đề liên quan đến vụ án thì các đương sự đối lập phải có nghĩa vụ có mặt tham gia đối chất và trả lời các câu hỏi liên quan đến vụ án theo yêu cầu của đương sự đã đề xuất. Có thể nói, những quy định trên góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, là căn cứ để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng hành chính nhằm giải quyết vụ án hành chính khách quan, chính xác và dân chủ, tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Một số hạn chế
- Một số hạn chế trong việc ghi nhận quyền của đương sự:
Bên cạnh những ưu điểm đạt được, một số quy định về quyền của đương sự chưa được Luật TTHC năm 2015 ghi nhận hoặc đã ghi nhận nhưng chưa thực sự khoa học và hợp lý. Cụ thể:
Khái niệm người khởi kiện, quyền khởi kiện và đối tượng khởi kiện chưa được quy định rõ ràng, đầy đủ và chính xác ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của đương sự.
Việc xác định người khởi kiện trong vụ án hành chính hiện nay chủ yếu dựa vào khái niệm người khởi kiện tại khoản 8 Điều 3 và một số điều khoản liên quan của Luật TTHC năm 2015. Theo đó người khởi kiện được hiểu là “cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân”. Nội dung khái niệm này đã lược bỏ điều kiện cá nhân, cơ quan, tổ chức phải cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, đây là khiếm khuyết của pháp luật TTHC hiện hành. Bởi lẽ về mặt lý luận thì điều kiện quyền và lợi ích của người khởi kiện phải bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính là đặc điểm quan trọng, luôn tồn tại với người khởi kiện trong vụ án hành chính. Sẽ không có tư cách người khởi kiện nếu quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính từ các chủ thể mang quyền lực nhà nước [23, tr.74]. Do vậy, việc không đề cập điều kiện trên vào nội dung khái niệm người khởi kiện là thiếu tính chuẩn xác, không phù hợp về mặt lý luận.
Về mặt thực tiễn, đây là cơ sở quan trọng nhất để Tòa án xác định người khởi kiện trong vụ án hành chính. Nếu quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức không bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính Tòa án cũng không thể xác định họ là người khởi kiện trong vụ án hành chính [26, tr.49]. Quy định này không chỉ gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định người khởi kiện mà người khởi kiện cũng lúng túng khi thực hiện quyền khởi kiện VAHC để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Ngoài ra, Luật TTHC 2015 chưa quy định cụ thể về quyết định hành chính, hành vi hành chính mà phải căn cứ vào các văn bản pháp luật chuyên ngành. Do đó, việc xác định đối tượng khởi kiện không chỉ gây khó khăn cho Tòa án khi thụ lý đơn khởi kiện mà còn gây khó khăn cho người khởi kiện khi thực hiện quyền khởi kiện VAHC và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác.
- Quy định quyền khiếu nại cụ thể của đương sự trong Luật TTHC năm 2015 chưa thực sự hợp lý, chưa đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền khiếu nại của đương sự
Quyền khiếu nại của đương sự là một trong những quyền cơ bản mà đương sự có thể sử dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi các chủ thể vi phạm quyền lợi hoặc vi phạm các quyền tố tụng của họ. Tuy nhiên, khoản 22 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 chỉ quy định đương sự có quyền khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án trong khi quá trình giải quyết vụ án thì ngoài bản án, quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hoặc chủ thể tiến hành tố tụng có thể ban hành nhiều loại văn bản tố tụng khác như thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời nhưng pháp luật hiện hành không quy định đương sự có quyền khiếu nại đối với các văn bản trên…đặc biệt là trong những trường hợp thông báo của Tòa án bỏ sót chủ thể được thông báo. Hạn chế này, một mặt dẫn tới không bảo đảm quyền khiếu nại của đương sự, mặt khác không bảo đảm quyền của đương sự được “nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình”. Ngoài ra, Điều 55 Luật TTHC năm 2015 cũng không quy định về quyền khiếu nại của đương sự đối với hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quyền này chỉ được đề cập tại điều khoản gần cuối Luật TTHC năm 2015 là Điều 327.
- Luật TTHC năm 2015 thiếu vắng quy định về quyền của đương sự trong việc đề nghị cá nhân, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC
Việc tiếp cận nghiên cứu các quy định của Luật TTHC năm 2015 cũng cho thấy một vụ án hành chính ngoài giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm còn có thể giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Tuy nhiên, tại khoản 23 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 chỉ quy định đương sự có quyền “đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” mà không đề cập đến quyền đề nghị của đương sự đối với thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Theo Điều 287 Luật TTHC năm 2015 thì nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán TANDTC xem xét lại quyết định đó. Để những cá nhân, cơ quan nêu trên thực hiện trách nhiệm yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì cần phải quy định về quyền của đương sự trong việc đề nghị cá nhân, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Việc ghi nhận quyền này là cần thiết vì đương sự là người trong cuộc và sự việc có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của họ, khi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì đương sự là người có khả năng phát hiện sớm nhất và cần được pháp luật trao cho quyền đề nghị tố tụng để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Pháp luật TTHC chưa quy định cụ thể về quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý
Có thể nhận thấy pháp luật TTHC Việt Nam tuy đã ghi nhận về sự độc lập, bảo đảm sự vô tư, khách quan của Tòa án [31, Điều 13, Điều 14] và lần đầu tiên ghi nhận quy định về “Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn do Luật này quy định” [31, Điều 16] nhưng chưa tiếp cận dưới góc độ quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan với một thời hạn hợp lý là một quyền con người hay quyền tố tụng cơ bản gắn với yêu cầu về chất lượng và hiệu quả của hoạt động tố tụng tư pháp. Mặc dù Luật đã ghi nhận nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và “Tòa án xét xử kịp thời” nhưng tại Điều 55 Luật TTHC năm 2015 lại không có một điều khoản nào ghi nhận quyền của đương sự được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan, trong một thời hạn hợp lý. Nhà lập pháp dường như chỉ ghi nhận nguyên tắc về cách hành xử của Tòa án mà chưa chú trọng tới mối liên hệ gắn kết giữa quyền này của đương sự với các quy định về nhiệm vụ, trách nhiệm đối ứng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng để bảo đảm quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan, với một thời hạn hợp lý của đương sự. Điều này có thể dẫn tới người tiến hành tố tụng không coi trọng hay không ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự.
- Luật TTHC năm 2015 chưa có quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện
Mặc dù khoản 10 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 quy định đương sự có quyền “Đề nghị Tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời” nhưng các quy định cụ thể của Luật TTHC năm 2015 về biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền này của đương sự. Luật cho phép đương sự có quyền yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện hoặc trong quá trình giải quyết vụ án [31, Điều 66] nhưng không cho phép yêu cầu áp dụng biện pháp này trước khi khởi kiện hoặc độc lập với vụ kiện chính. Điều này dẫn tới hạn chế hiệu quả thực hiện quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự trên thực tế.
- Một số quyền của đương sự thiếu cơ sở áp dụng, cách xử lý kết quả dẫn đến đương sự thực hiện quyền nhưng Tòa án không có cơ sở áp dụng và chưa có cách xử lý và giải quyết yêu cầu của đương sự
Khoản 18 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 quy định đương sự có quyền “đề nghị tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án” và tại khoản 1 Điều 141 quy định những căn cứ Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án gồm 06 trường hợp: đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo quy định của pháp luật; đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt… Như vậy, trong các trường hợp trên đây không có trường hợp “Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án” theo đề nghị của đương sự. Vì thế quyền đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án của đương sự chưa được hướng dẫn cụ thể và Tòa án cũng không biết áp dụng điều khoản nào để thực hiện quyền này của đương sự.
- Một số quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự chưa thống nhất gây ảnh hưởng đến quá trình áp dụng pháp luật tố tụng hành chính trên thực tế Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Việc chưa phân định rõ việc cung cấp tài liệu, chứng cứ là quyền hay nghĩa vụ của đương sự gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc áp dụng pháp luật trên thực tế. Tại khoản 1 Điều 9 Luật TTHC năm 2015 quy định “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Khoản 1 Điều 83 một lần nữa ghi nhận lại điều này khi quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Theo đó, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án… . Tuy nhiên, Điều 78 lại ghi nhận việc cung cấp chứng cứ chỉ là nghĩa vụ của các bên đương sự. Thậm chí còn quy định người khởi kiện phải nêu rõ lý do khi không cung cấp được chứng cứ. Rõ ràng, sự không thống nhất thể hiện ngay trong bản thân điều luật và giữa các điều luật với nhau. Bởi quyền và nghĩa vụ là hai chế định hoàn toàn khác nhau, trái ngược nhau về cả lý luận và thực tiễn. Nếu là quyền thì các bên đương sự có quyền cung cấp hoặc không cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Nhưng là nghĩa vụ thì các bên buộc phải cung cấp chứng cứ liên quan để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp và phải chịu trách nhiệm về những chứng cứ mình đưa ra cũng như khi không đưa ra được chứng cứ chứng minh.
Ngoài ra yêu cầu người khởi kiện phải cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án khi thực hiện quyền khởi kiện VAHC cũng không hợp lý, kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm [31, khoản 2 Điều 118]. Người khởi kiện có thể là người bị áp dụng quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc không phải là người bị áp dụng nhưng có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trong trường hợp này, họ không phải là người được nhận quyết định hành chính nên việc cung cấp bản sao quyết định là rất khó nếu người bị kiện không có thiện chí cấp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện. Ngoài ra, tài liệu, chứng cứ phần lớn thuộc về phía cơ quan, người có thẩm quyền quản lý. Vì vậy, yêu cầu việc cung cấp tài liệu, chứng cứ ngay khi nộp đơn khởi kiện cũng gây khó khăn cho người khởi kiện khi khởi kiện vì Tòa án sẽ không thụ lý nếu không đủ thủ tục khởi kiện.
- Một số hạn chế trong việc thiết lập nghĩa vụ đối ứng của đương sự:
Việc xác lập nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác là một trong những biện pháp hữu hiệu để bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu luật thực định cho thấy vấn đề xác lập các nghĩa vụ đối ứng của đương sự phía đối lập được quy định trong Luật TTHC năm 2015 còn chưa đầy đủ, thiếu thống nhất. Cụ thể:
Luật TTHC năm 2015 chưa quy định về nghĩa vụ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc gửi cho người khởi kiện văn bản thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Để bảo đảm cho người khởi kiện thực hiện quyền tranh tụng, được biết chứng cứ, tài liệu của vụ án thì cần quy định nghĩa vụ của đương sự phía đối lập đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Quyền tranh tụng, được biết chứng cứ, tài liệu của vụ án của người khởi kiện có thể được thực hiện một cách thuận lợi nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gửi cho người khởi kiện văn bản thể hiện quan điểm của mình đối với vấn đề khởi kiện. Việc ghi nhận và thực hiện nghĩa vụ này một cách nhanh chóng còn làm cho quyền được xét xử trong một thời hạn hợp lý của đương sự có thể được thực hiện. Tuy nhiên, Luật TTHC năm 2015 mới chỉ dừng lại ở việc quy định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án mà không quy định cụ thể về nghĩa vụ gửi cho người khởi kiện văn bản này và những tài liệu, chứng cứ kèm theo là chưa bảo đảm quyền của người khởi kiện, bởi lẽ việc này giúp cho người khởi kiện hiểu được quan điểm của người bị kiện để chuẩn bị phương án cho việc đối thoại. Do vậy, việc Luật TTHC năm 2015 không quy định nghĩa vụ đối ứng của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong phản hồi việc khởi kiện là chưa tạo điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện quyền thỏa thuận, quyền đối thoại của mình.
- Luật TTHC năm 2015 không quy định về nghĩa vụ gửi phản hồi kháng cáo và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự kháng cáo và coi việc phản hồi kháng cáo là quyền của đương sự thay vì là nghĩa vụ của họ
Khoản 2 Điều 210 và khoản 2 Điều 214 Luật TTHC năm 2015 quy định theo hướng đương sự có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Như vậy, có sự không thống nhất, thậm chí là mâu thuẫn về cách tiếp cận trong xây dựng các quy định về nghĩa vụ phản hồi việc thực hiện quyền khởi kiện và quyền kháng cáo của đương sự.
Đối với quyền khởi kiện, việc đương sự phía đối lập nộp ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, Luật TTHC năm 2015 tiếp cận dưới góc độ là nghĩa vụ tố tụng và người vi phạm có thể phải chịu hậu quả pháp lý nếu không thực hiện nghĩa vụ [31, điểm h khoản 2 Điều 126]. Trong khi đó, đối với quyền kháng cáo thì việc các đương sự không kháng cáo nộp văn bản nêu ý kiến phản hồi việc kháng cáo lại được Luật TTHC năm 2015 tiếp cận dưới góc độ là một quyền tố tụng. Việc không quy định đây là nghĩa vụ của đương sự có liên quan đến kháng cáo là chưa bảo đảm quyền tranh tụng, được biết chứng cứ, tài liệu của vụ án của đương sự kháng cáo. Đặc thù của việc giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm là không trải qua thủ tục đối thoại như giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Thông qua việc phản hồi kháng cáo thì quyền được biết chứng cứ, tài liệu của vụ án, quyền tranh tụng của đương sự kháng cáo sẽ được thực hiện, đồng thời giúp cho đương sự kháng cáo có thể cân nhắc thêm trong việc quyết định thực hiện quyền rút kháng cáo.
2.1.2. Thực trạng về bảo đảm quyền của đương sự thông qua vai trò của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Thông qua vai trò của người đại diện
Để phù hợp với sự thay đổi của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về người đại diện theo pháp luật trong tố TTHC đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người được Tòa án chỉ định; bổ sung quy định về người đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì các thành viên có thể ủy quyền cho một thành viên hoặc người khác làm đại diện tham gia tố tụng hành chính.
Trước đây, theo Luật TTHC năm 2010 thì người bị kiện có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia giải quyết VAHC; người đại diện không được ủy quyền lại cho người thứ ba và phải thực hiện toàn bộ các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người bị kiện. Quy định này trên thực tế đã nảy sinh bất cập đó là trong nhiều trường hợp người bị kiện ủy quyền cho cán bộ, công chức không nắm rõ hoặc không có thẩm quyền xem xét, giải quyết những việc liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, thậm chí có trường hợp ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng làm cho việc tổ chức đối thoại giữa các đương sự, việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tranh luận tại phiên tòa gặp khó khăn, không hiệu quả, việc giải quyết vụ án bị kéo dài, không bảo đảm để Tòa án xem xét giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Để khắc phục tồn tại này, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án thực chất và hiệu quả, khoản 3 Điều 60 Luật TTHC năm 2015 quy định “Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định của Luật này”. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Như vậy, Luật TTHC năm 2015 quy định về người đại diện có nhiều thay đổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự có thể có được người thay mặt thực hiện các quyền tố tụng trước Tòa án để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy có một số quy định về người đại diện trong Luật TTHC năm 2015 chưa được quy định hợp lý, rõ ràng gây khó khăn cho việc thực hiện quyền đại diện của đương sự.
- Quy định người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện vẫn chưa thực sự phù hợp
Thực tế giải quyết vụ án hành chính cho thấy, quy định này có hạn chế ở chỗ, cấp phó của người bị kiện cũng là lãnh đạo của cơ quan, tổ chức nên vì nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan mà không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ của người bị kiện, vắng mặt không có lý do hoặc xin hoãn phiên tòa nhiều lần hoặc có đơn xin vắng mặt. Việc vắng mặt của người bị kiện làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án (như không làm rõ được các nội dung liên quan đến việc khởi kiện, không đối thoại trực tiếp để thỏa thuận được và trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện cũng phải được sự đồng ý của người bị kiện…) làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án và gây tốn kém thời gian, công sức và các chi phí cho việc giải quyết. Hơn nữa, thực tế triển khai Luật TTHC năm 2015 gặp phải tình trạng là một số địa phương có số lượng khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng đến công tác quản lý hành chính nhà nước và việc phát triển an sinh xã hội, kinh tế của địa phương đó.
- Quy định của Luật TTHC năm 2015 về thời điểm đương sự có thể thực hiện việc ủy quyền trong tố tụng hành chính, chủ thể xác nhận việc ủy quyền và hình thức ủy quyền chưa đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền được có người đại diện tham gia tố tụng của đương sự
Đối với người đại diện theo ủy quyền chỉ được Tòa án chấp nhận khi việc ủy quyền đó là hợp pháp, tức là phải đảm bảo về mặt nội dung và hình thức ủy quyền. Về hình thức thì ủy quyền là một giao dịch dân sự nên chỉ cần các bên thể hiện được ý chí của mình thì việc ủy quyền đó phát sinh hiệu lực. Tuy nhiên, nếu việc ủy quyền đó không có công chứng, chứng thực, Thẩm phán không có căn cứ để xác định việc ủy quyền đó có đúng là ý chí của chủ thể có quyền tham gia tố tụng ủy quyền hay không, nên thông thường việc ủy quyền này phải được thể hiện bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, khi đương sự tiến hành công chứng hợp đồng ủy quyền, các tổ chức công chứng lại yêu cầu phải xuất trình các loại giấy tờ chứng minh người ủy quyền là đương sự trong vụ án (giấy triệu tập, thông báo về việc thụ lý vụ án…) mới công chứng văn bản ủy quyền. Nếu không có một trong các loại giấy tờ nêu trên thì các tổ chức công chứng không tiến hành công chứng với lý do: người ủy quyền không chứng minh được mình có các quyền và nghĩa vụ tố tụng đó. Mặt khác, vì phải xuất trình các loại giấy tờ nói trên nên đương sự chỉ được ủy quyền từng giai đoạn tham gia tố tụng. Như vậy nếu đương sự muốn ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện các quyền tố tụng từ thời điểm làm đơn khởi kiện và ủy quyền một lần cho cả quá trình tố tụng thì rất khó thực hiện. Luật TTHC năm 2015 không có điều khoản nào ghi nhận đương sự có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng từ trước khi khởi kiện nên sau khi đương sự trực tiếp khởi kiện và đã được Tòa án thụ lý vụ án thì đương sự mới có thể thực hiện được quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng. Đây là điểm hạn chế của pháp luật hiện hành dẫn tới không đáp ứng được yêu cầu về bảo đảm quyền được có người đại diện tham gia tố tụng của đương sự.
Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì văn bản ủy quyền phải được công chứng, chứng thực. Việc công chứng, chứng thực hiện nay thuộc thẩm quyền của tổ chức hành nghề công chứng, ủy ban nhân dân và hiện tại cũng không có điều khoản nào của Luật TTHC năm 2015 quy định về chủ thể có thể xác nhận việc ủy quyền ngoài hai cơ quan, tổ chức nói trên. Mặt khác, Luật TTHC năm 2015 không quy định rõ phạm vi thực hiện quyền của người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp văn bản ủy quyền không ghi rõ nội dung ủy quyền mà chỉ ghi chung là ủy quyền tham gia tố tụng dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Thông qua vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Trong TTHC, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có vai trò rất quan trọng đối với đương sự, bởi họ là người tư vấn, hỗ trợ và bảo đảm cho đương sự thực hiện và phát huy tốt các quyền mà pháp luật đã trao cho mình một cách hiệu quả nhất. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng, pháp luật TTHC đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại khoản 6 Điều 61 Luật TTHC năm 2015. Bao gồm các quyền như thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án; tham gia phiên tòa, phiên họp; thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự. Ngoài ra, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 9, 16, 19 và 20 Điều 55 Luật TTHC năm 2015.
Với những quy định này, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có những điều kiện thuận lợi để hỗ trợ cho việc thực hiện các quyền của đương sự. Tuy nhiên, điểm hạn chế đối với quy định về sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là họ không được tự mình yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nếu đương sự không yêu cầu. Trong khi đó Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, của đương sự trong vụ án hình sự có quyền “đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật” [37, điểm g khoản 3 Điều 84]. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng bằng chính các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình chứ không phải bằng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Do vậy, pháp luật TTHC phải trao cho họ có những quyền cơ bản nhất như quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định…, để họ có thể phát huy vai trò là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Ngoài ra, Luật TTHC năm 2015 chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người bảo vệ trợ giúp đương sự tham gia tố tụng như chưa đơn giản hóa về thủ tục đăng ký làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự. Khoản 5 Điều 61 Luật TTHC năm 2015 quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên trên thực tế, khi đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự đến Tòa án đăng ký tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nếu họ xuất trình các giấy tờ như thẻ luật sư, trợ giúp viên pháp lý…thì Tòa án nên xác nhận luôn vào giấy yêu cầu, trừ trường hợp cần xác minh tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì mới có thời hạn là 03 ngày làm việc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng góp phần bảo đảm sự đúng đắn, hiệu quả trong các hoạt động tố tụng và bảo đảm quyền của đương sự. Tuy nhiên, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày tại phiên tòa không phải lúc nào cũng được HĐXX ghi nhận. Vì vậy, vai trò tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự rất mờ nhạt. Do đó, cần phải xây dựng một số quy chế ràng buộc để nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm của HĐXX trong việc tôn trọng vai trò của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong hỗ trợ đương sự thực hiện các quyền tố tụng của họ. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
2.1.3. Thực trạng các quy định pháp luật tố tụng hành chính về trách nhiệm của Tòa án và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự
- Về trách nhiệm của Tòa án
Trong TTHC, Tòa án là cơ quan trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, phần lớn các quyền cụ thể của đương sự gắn liền với trách nhiệm của Tòa án. Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự được quy định ngay trong các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHC năm 2015. Đó là, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 5); Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ (khoản 2 Điều 9); Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng (khoản 1 Điều 18); Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ (khoản 2 Điều 19); Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án (Điều 20); Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án (khoản 1 Điều 26).
Dưới góc độ lý luận thì ngoài các nguyên tắc mang tính định hướng, trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền của đương sự còn được quy định cụ thể trong Luật TTHC năm 2015 tại các điều 72, 84, 93, 94, 97… Các quy định này có giá trị điều chỉnh hành vi của Tòa án nhằm bảo đảm cho các quyền của đương sự được tôn trọng và thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng buộc Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết VAHC, tránh sự lạm quyền của Tòa án, gây khó khăn cho đương sự thực hiện quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu luật thực định cho thấy, bên cạnh những ưu điểm thì Luật TTHC năm 2015 vẫn có những quy định chưa thực sự nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền của đương sự.
- Luật TTHC năm 2015 chưa có những quy định về trách nhiệm của Tòa án gắn liền với việc bảo đảm quyền của đương sự trong TTHC Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Luật TTHC năm 2015 chưa quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho các quyền của đương sự được thực thi trên thực tế cũng như trách nhiệm của Tòa án trong việc giải thích toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của đương sự cho đương sự từ thời điểm họ nộp đơn khởi kiện và các quyền cụ thể trong các giai đoạn tố tụng sau đó. Theo quy định của Luật TTHC năm 2015, Tòa án chỉ giải thích quyền và nghĩa vụ cho đương sự ở phiên tòa xét xử, nhưng thực tế từ thời điểm nộp đơn khởi kiện đương sự đã phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và khi họ thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ đó thì quyền tố tụng của đương sự phía đối lập mới được bảo đảm thực hiện vì thực tế không phải đương sự nào cũng hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện cho đúng.
- Không giới hạn thời hạn Tòa án có quyền thu thập tài liệu chứng cứ
Luật TTHC năm 2015 quy định Tòa án có quyền thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 84 nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đồng thời bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng, giới hạn thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự nhưng lại không giới hạn thời hạn mà Tòa án có quyền thu thập chứng cứ. Chính quy định này đã ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự, vì có một số trường hợp sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, Tòa án mới tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ nhưng đương sự không biết và Luật TTHC năm 2015 cũng không quy định Tòa án có nghĩa vụ thông báo cho đương sự về chứng cứ, tài liệu mới thu thập, dẫn tới đương sự không thực hiện được quyền được tiếp cận, sao chụp tài liệu, chứng cứ của vụ án và tại phiên tòa đương sự không có sự chuẩn bị để tranh tụng đối với các tài liệu, chứng cứ mới này, dẫn tới quyền tranh tụng của đương sự không được thực hiện hiệu quả.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng
Quá trình giải quyết vụ án hành chính diễn ra tại Tòa án và Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án là những chủ thể tiến hành tố tụng trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết vụ án. Mỗi chủ thể có một nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng họ đều được xem là người cầm cân nảy mực, đại diện cho công lý. Vì vậy, Luật TTHC năm 2015 cần quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiến hành tố tụng này để xác định trách nhiệm của họ trong việc bảo đảm quyền của đương sự trên thực tế.
- Thẩm phán: Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Trong TTHC, Thẩm phán là người tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án và chi phối trực tiếp các hoạt động tố tụng. Vì vậy, quyền của đương sự có được bảo đảm thực hiện hay không phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của Thẩm phán. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được quy định tại Điều 38 Luật TTHC năm 2015 khá cụ thể, chi tiết. Những quy định này giúp Thẩm phán có cơ sở pháp lý để hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện các quyền tố tụng. Trong đó, Luật TTHC năm 2015 trao cho Thẩm phán quyền chủ động trong việc xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thụ lý vụ án; quyền chủ động trong việc xác minh chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp nhằm bảo đảm các quyền khởi kiện, quyền đối thoại, quyền tranh tụng của đương sự.
Bên cạnh những ưu điểm thì Luật TTHC năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán còn có một số hạn chế như: Chưa có điều, khoản nào quy định cụ thể trách nhiệm của Thẩm phán trong việc bảo đảm, hỗ trợ cho đương sự thực hiện các quyền do pháp luật quy định như giải thích tổng thể các quyền tố tụng cụ thể cho đương sự từ thời điểm thụ lý. Thực tiễn cho thấy có nhiều trường hợp Thẩm phán không những không tạo điều kiện mà còn có những hành vi gây khó dễ cho các đương sự khi họ thực hiện quyền của mình, nhưng đương sự lại không có căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền đó. Chẳng hạn, tại khoản 8 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 quy định đương sự được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, nhưng tại Điều 38 Luật này quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán lại không có quy định về trách nhiệm của Thẩm phán là phải tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ. Khoản 20 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 quy định đương sự có quyền tranh luận tại phiên tòa, nhưng Luật lại không có quy định về trách nhiệm của Thẩm phán là phải hướng dẫn cho các đương sự thực hiện quyền tranh tụng như thế nào. Do vậy, có thể dẫn tới quyền tranh tụng của đương sự không được bảo đảm thực hiện do hiểu biết pháp luật của đương sự chưa cao và không phải đương sự nào cũng nắm rõ các quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện tốt nhất.
Luật TTHC năm 2015 quy định đương sự có nghĩa vụ chuyển giao các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án cho Tòa án để Tòa án gửi cho các đương sự khác, nhưng không quy định Thẩm phán phải có trách nhiệm giám sát, đôn đốc, yêu cầu các đương sự thực hiện nghĩa vụ đó nên quyền của đương sự về được biết về tài liệu, chứng cứ của nhau chưa được bảo đảm thực hiện, ảnh hưởng đến quyền tranh tụng. Mặt khác, vì không hiểu biết pháp luật nên đương sự cũng không biết phải thu thập hoặc cần phải nộp những tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và phục vụ cho việc thực hiện quyền tranh tụng. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Thư ký Tòa án:
Thư ký Tòa án là người giúp đỡ, hỗ trợ cho Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án. Thư ký cũng được xem là chủ thể tiến hành tố tụng, các hoạt động tố tụng của Thư ký cũng góp phần quan trọng trong việc quyết định các quyền của đương sự được thực thi hiệu quả hay không. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký được quy định tại Điều 41 Luật TTHC năm 2015 bao gồm: chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa; phổ biến nội quy phiên tòa; kiểm tra và báo cáo với HĐXX danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa; ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên Luật TTHC không có bất kỳ quy định nào gắn liền trách nhiệm của Thư ký với việc bảo đảm quyền của đương sự hoặc quy định Thư ký có trách nhiệm cùng với Thẩm phán hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự thực hiện các quyền của mình, đặc biệt là các quyền gắn liền với việc thu thập hoặc sao gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác. Do đó, sự hỗ trợ của Thư ký trong việc hướng dẫn cho các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ phù hợp với các giai đoạn tố tụng và hướng dẫn cụ thể về quy trình sao gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác, hướng dẫn thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án là rất cần thiết.
- Hội thẩm nhân dân:
Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHC năm 2015 là phiên tòa xét xử sơ thẩm phải có sự tham gia của HTND. HTND tham gia xét xử giúp bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân trực tiếp thực hiện quyền tư pháp cũng như đưa tiếng nói của nhân dân vào quá trình xét xử, giúp cho việc giải quyết vụ án chính xác, khách quan, phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân.
Để bảo đảm vai trò tham gia xét xử của HTND, Luật TTHC năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của HTND tại Điều 39. Trong đó Luật quy định HTND có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án nhưng lại không quy định phải nghiên hồ sơ vụ án từ giai đoạn nào của quá trình tố tụng. Thông thường thì thời gian để HTND nghiên cứu hồ sơ rất ngắn, mà HTND không phải là những người có chuyên môn nên với thời gian rất ngắn không thể có những đánh giá chính xác về nội dung vụ án. Vì vậy, trong thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, phần xét hỏi HTND không thể xác định được các tình tiết còn mâu thuẫn, cần phải làm sáng tỏ để đặt câu hỏi đối với các bên đương sự. Mặt khác, trong thủ tục tranh luận tại phiên tòa khi các bên đương sự đưa ra các lập luận và các căn cứ pháp lý để yêu cầu HĐXX chấp nhận cho yêu cầu của mình thì HTND khó có thể xác định các căn cứ pháp lý đó đúng hay sai, dẫn đến quyền tranh tụng của đương sự tại phiên tòa thực hiện không hiệu quả. Thực tế này đòi hỏi cần phải cho phép HTND tham gia tố tụng sớm hơn ngay từ khi Tòa án thụ lý vụ án để bảo đảm chất lượng xét xử, bảo đảm cho các quyền mà đương sự thực hiện trong quá trình tố tụng trở nên thực sự có ý nghĩa.
Ngoài ra, khi xét xử HTND có quyền hạn như Thẩm phán như quyền hỏi tại phiên tòa, biểu quyết để định đoạt các quyền của đương sự như quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, quyền thỏa thuận về giải quyết vụ án, nhưng việc HTND biểu quyết đồng ý hay không đôi khi phụ thuộc vào sự gợi ý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Vì vậy, sự tham gia của HTND trong nhiều trường hợp không bảo đảm các quyền của đương sự.
2.1.4. Thực trạng các quy định pháp luật tố tụng hành chính về cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Cơ chế kiểm sát hoạt động tố tụng nhằm bảo đảm quyền của đương sự được thực thi trên thực tế, VKS là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC. Để thực hiện chức năng đó, Luật TTHC năm 2015 quy định VKS có các nhiệm vụ, quyền hạn là kiến nghị, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án và tham gia phiên tòa theo các trường hợp luật định. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy một số quy định trong Luật TTHC năm 2015 về sự tham gia của VKS trong TTHC còn bộc lộ một số bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKS thực hiện hết chức năng kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự.
- Quy định của Luật TTHC năm 2015 chưa đáp ứng yêu cầu về kiểm sát việc bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự
Đối với yêu cầu kiến nghị của VKS, tại khoản 1 Điều 124 Luật TTHC năm 2015 quy định, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, VKS có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành thì VKS chỉ nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án còn các tài liệu liên quan thì trả lại cho người khởi kiện và lưu bản phô tô tại Tòa án (khoản 2 Điều 123). Như vậy, chỉ với một thông báo trả lại đơn khởi kiện để VKS kết luận việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án đúng hay sai là rất khó xác định. Quy định này chưa tạo điều kiện cho VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc thụ lý vụ án của Tòa án. Vì vậy, VKS chưa phát huy được chức năng kiểm sát để bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự.
- Quy định về quyền hạn của Viện kiểm sát tại phiên tòa chưa đáp ứng yêu cầu về kiểm sát thực hiện quyền của đương sự
Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, sự tham gia của VKS tại phiên tòa tạo nên sự kiềm chế, đối trọng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm quyền của đương sự được tôn trọng. Tuy nhiên, Luật TTHC năm 2015 quy định khi tham gia phiên tòa VKS không chỉ phát biểu sự tuân theo pháp luật trong TTHC mà còn phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án nhưng pháp luật không quy định về quyền đối đáp của đương sự với ý kiến của VKS nên sẽ không bảo đảm quyền tranh tụng của các đương sự. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
2.1.5. Thực trạng các quy định của pháp luật về chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự
Chế tài xử lý về các hành vi vi phạm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính được Luật TTHC năm 2015 quy định trong nguyên tắc chung xử lý người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật tại Điều 22 và Chương XX về xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính, Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân. Với những quy định này, pháp luật tố tụng đã có một cơ chế pháp lý để xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự trong TTHC. Tuy nhiên, có một số hành vi vi phạm quyền của đương sự chưa được pháp luật quy định về chế tài xử lý, dẫn đến quyền của đương sự chưa được bảo đảm thực hiện.
Việc thu thập, tài liệu chứng cứ và quyền được biết trước về tài liệu, chứng cứ của các đương sự đối lập có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự. Tuy nhiên, chế tài về việc xử lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án mà không chịu giao nộp tài liệu, chứng cứ chỉ đặt ra trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó không thi hành quyết định của Tòa án mà không đặt ra đối với trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không thực hiện đúng yêu cầu của đương sự. Mặt khác, Luật TTHC năm 2015 không quy định chế tài đối với hành vi cản trở đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của đương sự nên việc thu thập tài liệu, chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn. Tương tự đối với quyền được biết trước tài liệu, chứng cứ của nhau, Luật TTHC năm 2015 không quy định chế tài nếu các đương sự không thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự phía đối lập. Vì vậy, thực tế có nhiều trường hợp đương sự cố tình không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo luật định, cho nên việc thực hiện quyền của đương sự về tiếp cận chứng cứ, tài liệu của vụ án, quyền tranh tụng không hiệu quả.
Trong quá trình tham gia tố tụng, tình trạng đương sự lạm dụng quyền của mình để cố tình kéo dài thời gian giải quyết vụ án, đặc biệt là quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Điều này ảnh đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khác, dẫn đến quyền được xét xử trong thời hạn luật định không được bảo đảm. Tuy nhiên, trong Chương XX Luật TTHC năm 2015 không quy định chế tài khi đương sự lạm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
Chế tài là một trong những biện pháp có tính răn đe nhằm ngăn ngừa các chủ thể có hành vi xâm phạm quyền của đương sự trong VAHC. Tuy nhiên, Luật TTHC năm 2015 chỉ quy định các chế tài về hành vi cản trở hoạt động tố tụng mà chưa đặt ra trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp các chủ thể tiến hành tố tụng và các đương sự đối lập xâm phạm quyền của các đương sự khác. Việc chủ thể tiến hành tố tụng và các đương sự đối lập xâm phạm quyền của đương sự khác có thể gây ra các thiệt hại về vật chất và tinh thần cho các đương sự. Vì vậy, Luật TTHC năm 2015 không quy định chế tài bồi thường thiệt hại cho các đương sự bị xâm phạm là một thiếu sót và chưa có biện pháp chế tài đủ mạnh để bảo đảm thực hiện quyền của đương sự. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Luật TTHC năm 2015 quy định 09 hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp xử lý đối với người có những hành vi này sẽ căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản quy định cụ thể việc xử phạt hành chính đối với những hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính hoặc xử lý người có hành vi trái pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng hành chính. Do đó, việc quy định các biện pháp bảo đảm quyền của đương sự phải bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác thì mới có thể áp dụng được trong thực tiễn, nhằm góp phần bảo đảm quyền của đương sự.
Hiện nay, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nói chung được ghi nhận tại Điều 22 của Luật TTHC. Theo đó, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hành chính chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đây chỉ là quy định mang tính nguyên tắc. Pháp luật hiện hành chưa quy định các hành vi xâm phạm quyền của đương sự cũng như biện pháp xử lý cụ thể đối với các hành vi xâm phạm các quyền này của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong khi các hành vi xâm phạm quyền của đương sự từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thể gây ra những thiệt hại to lớn cho cá nhân, cơ quan, tổ chức về vật chất lẫn tinh thần.
2.2. Thực trạng về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
2.2.1. Khái quát tình hình giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên của Việt Nam, cách Thủ đô Hà Nội trên 1.410 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km, Đắk Lắk có dân số tính đến ngày 01/4/2019 là 1.869.322 người với 47 dân tộc anh em cùng sinh sống trên diện tích 13.125,37km2, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 70% dân số, phần lớn là di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh sống, lập nghiệp; các dân tộc bản địa sinh sống lâu đời và các dân tộc khác chiếm trên 30% dân số trong toàn tỉnh [71].
Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự do. Điều này đã gây nên sức ép lớn cho UBND các cấp trong toàn tỉnh về việc giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh – trật tự và môi trường sinh thái. Để bảo đảm cho sự phát triển ổn định trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của Đắk Lắk, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp đã đề ra nhiều quyết sách nhằm cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho phù hợp điều kiện thực tế ở địa phương. Tuy nhiên, những quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thuộc tỉnh Đắk Lắk không tránh khỏi những khiếu kiện, thậm chí là khiếu kiện gay gắt. Nổi lên trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh đã triển khai nhiều dự án thu hồi đất của UBND cấp huyện, cụ thể như ở thành phố Buôn Ma Thuột với một số dự án như: Hồ thủy lợi Ea Tam – phường Tự An; Khu dân cư phường Thành Nhất; Khu dân cư phường Tân An; Đại lộ Đông Tây; huyện Ea Súp, thị xã Buôn Hồ,…
Từ năm 2017 đến nay, tình hình khiếu kiện hành chính ở Đắk Lắk xảy ra khá phổ biến và tính chất phức tạp ngày càng tăng, một số vụ khiếu kiện rất phức tạp và nhạy cảm, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương. Nhìn chung, các khiếu kiện hành chính trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chủ yếu tập trung vào lĩnh vực quản lý đất đai (chiếm trên 70% số vụ án hành chính thụ lý hàng năm), bao gồm các khiếu kiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu kiện hành vi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khiếu kiện quyết định thu hồi đất, giải tỏa, bồi thường và chính sách tái định cư do thu hồi đất…; khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực thuế; khiếu kiện quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính,…
Theo số liệu thống kê thì tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk từ năm 2017 đến nay như sau: Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Năm 2017: Tổng thụ lý 179 vụ; đã giải quyết 154 vụ (đạt tỷ lệ 86%); còn lại 25 vụ (so với năm 2016, thụ lý tăng 43 vụ, giải quyết tăng 28 vụ). Trong đó:
- Sơ thẩm: Thụ lý 155 vụ; đã giải quyết, xét xử 130 vụ; còn lại 25 vụ.
- Phúc thẩm: Thụ lý và giải quyết 24 vụ.
Năm 2018: Tổng thụ lý 157 vụ; đã giải quyết 144 vụ (đạt tỷ lệ 91,7%); còn lại 13 vụ (so với năm 2017, thụ lý giảm 28 vụ). Trong đó:
- Sơ thẩm: Thụ lý 149 vụ; đã giải quyết, xét xử 137 vụ; còn lại 12 vụ.
- Phúc thẩm: Thụ lý 08 vụ; giải quyết 07 vụ; còn lại 01 vụ.
Năm 2019: Tổng thụ lý 167 vụ; đã giải quyết 153 vụ (đạt tỷ lệ 91,6%); còn lại 14 vụ (so với năm 2018, thụ lý tăng 18 vụ). Trong đó:
- Sơ thẩm: Thụ lý 152 vụ; đã giải quyết, xét xử 138 vụ; còn lại 14 vụ.
- Phúc thẩm: Thụ lý và giải quyết 15 vụ.
Năm 2020: Tổng thụ lý 207 vụ; đã giải quyết 184 vụ (đạt tỷ lệ 88,9%); còn lại 23 vụ (so với năm 2019, thụ lý tăng 40 vụ). Trong đó:
- Sơ thẩm: Thụ lý 190 vụ; đã giải quyết, xét xử 167 vụ; còn lại 23 vụ.
- Phúc thẩm: Thụ lý và giải quyết 17 vụ.
Năm 2021: Tổng thụ lý 184 vụ; đã giải quyết 137 vụ (đạt tỷ lệ 74,5%); còn lại 47 vụ. Trong đó:
- Sơ thẩm: Thụ lý 173 vụ; đã giải quyết, xét xử 126 vụ; còn lại 47 vụ.
- Phúc thẩm: Thụ lý và giải quyết 11 vụ.
Năm 2022: Tổng thụ lý 235 vụ; đã giải quyết 226 vụ (đạt tỷ lệ 96,2%); còn lại 09 vụ. Trong đó:
- Sơ thẩm: Thụ lý 226 vụ; đã giải quyết, xét xử 217 vụ; còn lại 09 vụ.
- Phúc thẩm: Thụ lý và giải quyết 09 vụ [51].
Qua số liệu thực tế đã nêu nhận thấy, số lượng vụ án hành chính trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua có sự tăng lên đáng kể về số lượng. Nguyên nhân chính chủ yếu là do: Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Thứ nhất, trước năm 2003 dân di cư tự do vào Đắk Lắk tự tìm nơi ở, khai hoang, phá rừng làm nương rẫy. Dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, dân bản địa sử dụng đất một thời gian dài không đăng ký quyền sử dụng đất, chuyển nhượng đất đai không tuân thủ quy định của pháp luật. Từ năm 2017, trên địa bàn tỉnh ngày càng phát sinh nhiều dự án, xây dựng các cụm, khu công nghiệp dẫn đến việc thu hồi đất của nhiều hộ dân làm phát sinh việc khiếu kiện.
Thứ hai, chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất tuy đã có sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn bất cập, chậm được triển khai thực hiện trên thực tế. Các văn bản hướng dẫn về Luật đất đai câu chữ còn chồng chéo, không có sự thống nhất dẫn đến việc hiểu và vận dụng pháp luật vào thực tiễn quản lý hành chính không thống nhất và không được sự đồng tình của nhân dân.
Thứ ba, việc quy hoạch, quản lý đất đai của cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh chưa rõ ràng, không đúng pháp luật. Việc ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính của chính quyền địa phương chưa tuân thủ trình tự, thủ tục do pháp luật quy định gây ra sự bức xúc trong quần chúng nhân dân, dẫn tới việc khiếu kiện hành chính ngày càng gia tăng và phức tạp.
2.2.2. Kết quả đạt được về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Kể từ khi Luật TTHC năm 2015 có hiệu lực thi hành, TAND tỉnh Đắk Lắk đã kịp thời triển khai áp dụng một cách có hiệu quả. Trên cơ sở đó, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án hành chính TAND tỉnh Đắk Lắk đã tuân thủ đầy đủ, chặt chẽ các quy định của Luật TTHC và các văn bản có liên quan nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng; không để xảy ra tình trạng án giải quyết quá hạn luật định; hạn chế mức thấp nhất tình trạng án bị huỷ, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; góp phần bảo đảm tính ổn định, thông suốt và hiệu lực của công tác quản lý hành chính tại địa phương. Trong những năm qua, công tác giải quyết án hành chính của tỉnh Đắk Lắk đạt kết quả ổn định và bền vững, tỷ lệ giải quyết án luôn đạt ở mức cao, vượt chỉ tiêu của ngành đề ra. Kết quả giải quyết nêu trên không chỉ thể hiện vai trò của Tòa án trong hoạt động TTHC mà còn đánh giá được thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong quá trình giải quyết VAHC trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Về cơ bản, các quyền của đương sự đã được Tòa án bảo đảm thực hiện trên thực tế, thể hiện ở những nội dung sau: Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Thứ nhất, người khởi kiện đã nhận thức rõ hơn về địa vị pháp lý của mình trong tố tụng hành chính nên đã chủ động trong việc thực hiện quyền khởi kiện VAHC và định đoạt việc khởi kiện, chủ động hơn trong việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Khi đương sự khởi kiện vụ án đáp ứng được các quy định của pháp luật thì đều được chấp nhận, bằng chứng là số lượng đơn khởi kiện được TAND tỉnh Đắk Lắk thụ lý ngày một tăng, việc thụ lý cũng dễ dàng và thuận lợi hơn nhờ các quy định về mở rộng thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của TAND cũng như quy định về điều kiện khởi kiện, năng lực tố tụng hành chính, việc ủy quyền của người khởi kiện, quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện cụ thể và chi tiết hơn. TAND tỉnh Đắk Lắk đã có nhiều biện pháp tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân thực hiện quyền khởi kiện nói chung và khởi kiện vụ án hành chính nói riêng, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền của đương sự được thực thi trên thực tế như niêm yết tại Tòa án mẫu đơn khởi kiện, thành lập Bộ phận hành chính tư pháp tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận đơn, thư khởi kiện, khiếu nại của đương sự, cử cán bộ tiếp dân hàng ngày để kịp thời hỗ trợ cho người dân đến nộp đơn, phân công cho một số Thẩm phán có nhiều kinh nghiệm, trình độ chuyên môn để xem xét, xử lý đơn khiếu kiện hành chính trong thời hạn luật định.
Thứ hai, việc thực hiện quyền mời luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được chú trọng. Nhận thức rõ hơn vai trò của luật sư, người đại diện trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên hầu hết các vụ kiện hành chính tại TAND tỉnh Đắk Lắk đều có sự tham gia của luật sư với tư cách là người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Cụ thể, số lượng vụ án hành chính có sự tham gia của luật sư trong năm 2017 là 26 vụ, năm 2018 là 19 vụ, năm 2019 là 37 vụ, năm 2020 là 22 vụ, năm 2021 là 24 vụ, năm 2022 là 48 vụ [51]. Đồng thời luật sư còn tham gia tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, TGPL miễn phí và tham gia vào các dịch vụ pháp lý khác. TAND tỉnh Đắk Lắk cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của luật sư với vai trò là đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong việc làm thủ tục đăng ký người bảo vệ ngay sau khi nhận được hồ sơ đề nghị, sao chụp tài liệu chứng cứ.
Thứ ba, chất lượng dịch vụ TGPL cho các đương sự cũng ngày càng được nâng cao. Hiện tại, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk có 14 Trợ giúp viên pháp lý; 05 Luật sư ký hợp đồng cộng tác thực hiện TGPL; 19 tổ chức đăng ký tham gia TGPL (18 Văn phòng luật sư và 01 Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh, trong đó có 54 Luật sư và 03 Tư vấn viên). Năm 2017, số vụ án hành chính có sự tham gia của TGPL là 10 vụ; năm 2018 là 06 vụ; năm 2019 có 06 vụ; năm 2020 có 04 vụ; năm 2021 có 12 vụ; năm 2022 có 05 vụ. Các đối tượng được TGPL miễn phí chủ yếu là hộ nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, người có công với cách mạng, người cao tuổi, người khuyết tật [55], [72]. Qua đó cho thấy một số đương sự đã được đội ngũ người thực hiện TGPL tư vấn, hỗ trợ trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của họ khi tham gia VAHC. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Thứ tư, nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết các vụ án nói chung và vụ án hành chính nói riêng đã được TAND tỉnh Đắk Lắk đặc biệt quan tâm. Thể hiện ở việc các Thẩm phán trong quá trình giải quyết VAHC đã thực hiện tốt việc sao gửi đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ của người khởi kiện cho các đương sự khác, đồng thời tạo điều kiện cho các đương sự trong việc sao chụp tài liệu chứng cứ do đương sự khác giao nộp và Tòa án thu thập được, bảo đảm cho họ quyền và nghĩa vụ chứng minh tại phiên tòa. Rõ nét nhất là thủ tục hỏi, tranh luận và đối đáp tại phiên tòa, Thẩm phán đã dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động tranh tụng như: trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời, đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án… Vì vậy, nhiều VAHC được giải quyết căn cứ vào kết quả thu thập chứng cứ và tranh tụng tại phiên toà. Chính vì thế các đương sự cũng có ý thức tốt hơn trong việc chuẩn bị, nghiên cứu tài liệu, chứng cứ nhằm thực hiện hiện tốt các quyền tố tụng khác, bảo đảm sự công bằng, chính xác, khách quan trong hoạt động TTHC.
Thứ năm, trong quá trình giải quyết VAHC, TAND tỉnh Đắk Lắk đã chú trọng việc tổ chức đối thoại giữa người khởi kiện và người bị kiện nên nhiều vụ án sau khi đối thoại, các bên đã thống nhất cách thức giải quyết và người khởi kiện đã rút đơn khởi kiện. Theo số liệu thống kê của Văn phòng TAND tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2017 đến năm 2022 trong số 915 vụ án hành chính đã giải quyết thì có 172 vụ án Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ vào kết quả của việc đối thoại khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện và người bị kiện huỷ bỏ quyết định hành chính bị khiếu kiện, chiếm tỷ lệ 18,8%. Điều này chứng minh rằng thực tiễn xét xử quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự cũng như trách nhiệm tổ chức đối thoại rất được Tòa án chú trọng thực hiện. Trong số các vụ án đã được đưa ra xét xử sơ thẩm thì số vụ án bác yêu cầu khởi kiện là 375/693 vụ (chiếm tỷ lệ 51,4%) cao hơn số vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, một phần yêu cầu khởi kiện là 318/693 vụ (chiếm tỷ lệ 45,9%) được thể hiện cụ thể tại Bảng 2.1.
- Bảng 2.1. Thống kê kết quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của TAND tỉnh Đắk Lắk
Điều này cho thấy cơ quan quản lý hành chính Nhà nước vẫn còn có sai sót, chẳng hạn như: UBND chậm thực hiện các thủ tục bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng tái định cư làm phát sinh thêm số tiền phải đền bù về chênh lệch giá đất giữa thời điểm có quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường với thời điểm giải quyết bồi thường, hỗ trợ thiệt hại; việc kiểm kê hiện trạng đất bị thu hồi còn chưa chính xác dẫn đến trường hợp quyết định bồi thường đã ban hành phải thu hồi, hủy bỏ hoặc phải bổ sung nhiều lần do sai diện tích đất, sai hiện trạng đất, sai loại đất, sót tài sản, sót đối tượng phải hỗ trợ; trong việc thu thuế, truy thu thuế thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,… Vì vậy, việc đối thoại càng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Đối với án hành chính phúc thẩm thì đa số kết quả giải quyết là bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Điều này cho thấy việc xét xử vụ án hành chính của Tòa án đảm bảo về thủ tục tố tụng, nội dung phán quyết phù hợp với quy định pháp luật. Các vụ còn lại thì sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy quyết định hành chính hoặc hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án được cụ thể tại Bảng 2.2.
- Bảng 2.2. Thống kê kết quả xét xử phúc thẩm vụ án hành chính của TAND tỉnh Đắk Lắk
Thứ sáu, qua công tác kiểm sát, VKSND tỉnh Đắk Lắk cũng đã phát hiện các vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án hành chính về thủ tục tố tụng cũng như nội dung vụ án, góp phần bảo đảm quyền của đương sự. Cụ thể:
- Năm 2017, VKS đã ban hành 02 kháng nghị phúc thẩm, trong đó Tòa án chấp nhận 01 kháng nghị chiếm tỷ lệ 50%, có 03 kiến nghị vi phạm thủ tục TTHC.
- Năm 2018, ban hành 03 kháng nghị phúc thẩm, trong đó Tòa án chấp nhận 01 kháng nghị chiếm tỷ lệ 33,3%, có 02 kiến nghị vi phạm thủ tục TTHC.
- Năm 2019, ban hành 03 kháng nghị phúc thẩm, trong đó Tòa án chấp nhận 01 kháng nghị chiếm tỷ lệ 33,3%, có 03 kiến nghị vi phạm thủ tục TTHC.
- Năm 2020, ban hành 02 kháng nghị phúc thẩm và 02 kiến nghị vi phạm thủ tục TTHC.
- Năm 2021, ban hành 08 kháng nghị phúc thẩm, trong đó Tòa án chấp nhận 03 kháng nghị chiếm tỷ lệ 37,5%, có 02 kiến nghị vi phạm thủ tục TTHC.
- Năm 2022, ban hành 08 kháng nghị phúc thẩm, trong đó Tòa án chấp nhận 02 kháng nghị chiếm tỷ lệ 25%, có 04 kiến nghị vi phạm thủ tục TTHC [62].
Với những kiến nghị, kháng nghị kịp thời của VKS đã góp phần bảo đảm thực hiện quyền của đương sự trong TTHC.
2.2.3. Hạn chế về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Hạn chế trong việc thực hiện các quy định của pháp luật TTHC về quyền của đương sự và nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác
Vụ án hành chính thường là những vụ án rất phức tạp, các khiếu kiện liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước. Để giải quyết VAHC kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không chỉ Tòa án tích cực trong việc thụ lý và giải quyết VAHC mà còn đòi hỏi các đương sự phải tích cực thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nguyên tắc… Thế nhưng, trong thực tế tình trạng đương sự đối lập không thực hiện nghĩa vụ của họ, dẫn đến quyền của đương sự khác không thực hiện được vẫn còn tồn tại. Nhiều VAHC không thể thụ lý do người khởi kiện chậm nộp tiền tạm ứng án phí, chậm giao nộp, cung cấp chứng cứ cho Tòa án, vắng mặt tại phiên toà mặc dù Tòa án đã triệu tập nhiều lần, không có thiện chí đối thoại với người bị kiện; khiếu nại, tố cáo nhiều lần nhằm trì hoãn việc giải quyết VAHC.
Ngoài ra, bất cập trong quy định người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện gây rất nhiều trở ngại cho việc giải quyết VAHC tại TAND tỉnh Đắk Lắk. Vì hầu hết người bị kiện thường không trực tiếp tham gia tố tụng mà ủy quyền cho cấp phó, đồng thời cử ra tổ giúp việc (các thành viên thường là cán bộ Văn phòng, Bộ phận tiếp dân, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai …) để nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, tham mưu soạn thảo văn bản trình bày ý kiến và cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tòa án rất khó để triệu tập đại diện của người bị kiện đến làm việc hoặc tham gia phiên họp, phiên tòa mà thường có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc người bị kiện vắng mặt tại phiên tòa đôi khi là do yếu tố khách quan (có thể vì là lãnh đạo nên rất nhiều công việc phải giải quyết, nguyên nhân này không phải là chủ yếu) hoặc vì là lãnh đạo nên đa số người bị kiện, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện đều không muốn tham gia hoặc rất ngại đến Tòa án để tranh tụng với các đương sự khác trong vụ án. Nguyên nhân chính là bởi vì nhiều lãnh đạo chỉ nắm được tổng thể các nội dung về vụ án chứ hầu hết đều không nắm được cụ thể, tường tận các nội dung liên quan đến yêu cầu khởi kiện của vụ án như là cán bộ chuyên môn, đặc biệt là quy định về trình tự, thủ tục và căn cứ pháp lý để ban hành quyết định hành chính, do đó họ rất ngại đến tòa để tranh luận với người khởi kiện nên cách tốt nhất là có đơn xin xét xử vắng mặt. Điều này vô hình chung đã gây ra khó khăn cho việc giải quyết các VAHC của Tòa án và sau cùng, người phải chịu bất lợi nhiều nhất trong vụ án chính là người khởi kiện và các đương sự khác trong vụ án bởi vì họ không được thực hiện quyền tranh tụng công khai tại phiên tòa.
Một số vụ án phức tạp, có đông người khởi kiện thì người được ủy quyền thường không tự quyết định được mà phải xin ý kiến chỉ đạo của người đứng đầu hoặc cấp trên trực tiếp, dẫn đến việc phải xin hoãn phiên họp, đối thoại, phiên tòa. Trong khi đó, Tòa án vẫn phải tiến hành và thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục tố tụng, đó là phải lần lượt triệu tập để lấy lời khai, yêu cầu cung cấp chứng cứ, tiến hành đủ hai lần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, hai lần triệu tập xét xử hợp lệ mới đưa vụ án ra xét xử vắng mặt được. Đương sự khác thì không đồng tình việc Tòa án hoãn phiên tòa hoặc tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện nên phản ứng rất gay gắt và phát sinh khiếu nại, có trường hợp làm đơn yêu cầu thay đổi Thẩm phán, gây khó khăn, kéo dài trong việc giải quyết vụ án. Số liệu tại Bảng 2.3 dưới đây chứng minh rõ điều này.
- Bảng 2.3. Thống kê việc tham gia tố tụng vụ án hành chính của người bị kiện tại TAND tỉnh Đắk Lắk
Ngoài ra, phía bên người bị kiện thường rất chậm giao nộp văn bản trình bày ý kiến, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; thậm chí có nhiều vụ án thụ lý đã lâu (có nhiều vụ hơn 01 năm) nhưng người bị kiện vẫn chưa có ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện và chưa cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan cho Tòa án dẫn tới quyền tiếp cận chứng cứ, tài liệu của vụ án, quyền tranh tụng của đương sự đối lập không được bảo đảm thực hiện. Chẳng hạn như vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 06/2017/TLPT-HC ngày 01 tháng 11 năm 2017 về “Kiện tranh chấp quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa người khởi kiện ông Lê Quốc Khiên, địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk và người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ea H’ Leo. Vụ án được TAND huyện Ea H’leo thụ lý từ năm 2013 nhưng trong quá trình giải quyết, người bị kiện chưa cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại để chứng minh Quyết định giải quyết khiếu nại của mình là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, TAND tỉnh Đắk Lắk đã yêu cầu UBND huyện Ea H’Leo cung cấp toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại đối với Quyết định giải quyết khiếu nại số 2895/QĐ-UBND ngày 07/9/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ea H’Leo, tuy nhiên đến ngày xét xử phúc thẩm vụ án 31/7/2019, người bị kiện vẫn không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Việc này đã gây rất nhiều khó khăn cho Tòa án trong việc đánh giá chứng cứ, làm kéo dài quá trình giải quyết vụ án, phải hủy đi hủy lại nhiều lần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các đương sự.
- Hạn chế trong việc thực hiện các quyền của đương sự thông qua người đại diện và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Như đã đề cập tại mục 2.1.2.1 về thực trạng quy định của pháp luật đối với chế định người đại diện có những bất cập dẫn đến thực tiễn thực hiện tại TAND tỉnh Đắk Lắk cũng có sự không thống nhất về phạm vi đại diện của người đại diện giữa các Thẩm phán, Thư ký Tòa án. Cụ thể, nếu như trong văn bản ủy quyền, người ủy quyền không ghi rõ nội dung ủy quyền, chỉ ghi chung chung là “tham gia tố tụng tại tòa cho đến khi vụ án kết thúc”. Trong quá trình tham gia tố tụng người được ủy quyền có đơn khởi kiện bổ sung, đơn thay đổi nội dung khởi kiện. Trường hợp này, một số Thẩm phán không đồng ý việc người được ủy quyền bổ sung, thay đổi nội dung khởi kiện vì trong nội dung ủy quyền không có việc người được ủy quyền có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến nội dung vụ án và yêu cầu người khởi kiện trực tiếp làm đơn. Tuy nhiên, cũng có Thẩm phán chấp nhận yêu cầu trên của người được ủy quyền vì cho rằng việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện phát sinh trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án. Như vậy, với hai cách hiểu khác nhau Thẩm phán đưa ra hai phán quyết khác nhau, dẫn tới quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của đương sự không được bảo đảm thực hiện.
Một số vụ án, Thẩm phán, Thư ký chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự tham gia tố tụng dẫn đến quyền nhờ người bảo vệ quyền lợi của đương sự không được thực hiện. Ví dụ như khi thực hiện quy định về thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì có một số Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính khi tiếp nhận lại chậm trễ trong việc xem xét và vào sổ đăng ký. Quá trình tiếp cận với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng phải mất khá nhiều thời gian đi lại để làm đơn đề nghị sao chụp, chờ Thẩm phán đồng ý, sắp xếp thời gian phù hợp để gặp được Thẩm phán, Thư ký sao chụp hồ sơ. Một số vụ án khi có tài liệu chứng cứ mới do đương sự giao nộp hoặc Tòa án thu thập được thì việc tiếp cận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp còn chậm do không được Tòa án thông báo, hơn nữa họ phải chủ động làm đơn sao chụp nhiều lần thay vì được Tòa án chủ động sao gửi tài liệu, chứng cứ. Vì vậy mà việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự cũng gặp nhiều khó khăn.
- Hạn chế về trách nhiệm của Tòa án và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng
Hoạt động giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính là một trong những hoạt động quan trọng của Tòa án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm bởi các quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật. Mỗi năm, TAND tỉnh Đắk Lắk tiếp nhận và giải quyết số lượng không nhỏ đơn khiếu nại về quyết định, hành vi trong tố tụng. Điều này đã thể hiện vị trí quan trọng của quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng hành chính còn chậm, không đúng thời hạn, làm cho người khởi kiện phải chờ đợi kết quả nhằm tiếp tục bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chẳng hạn, nếu người khởi kiện khiếu nại về hành vi trả lại đơn kiện mà việc giải quyết khiếu nại này của Tòa án bị chậm trễ hoặc Tòa án không giải quyết thì người khởi kiện sẽ không có cơ chế nào khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài ra, việc xác định đối tượng khởi kiện, người bị kiện trong nhiều vụ án vẫn chưa chính xác, điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án. Thực tế xét xử vụ án hành chính tại TAND tỉnh Đắk Lắk cho thấy nhiều vụ án bị hủy do cấp sơ thẩm xác định sai đối tượng khởi kiện, người bị kiện trong vụ án. Do hiện nay cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TTHC năm 2015 để quy định chi tiết cách xác định đối tượng khởi kiện, đồng thời không phải mọi QĐHC, HVHC có nguy cơ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều có thể là đối tượng khởi kiện. Cá nhân, tổ chức chỉ được khởi kiện các QĐHC, HVHC tuân thủ các Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 3 và Điều 30 Luật TTHC năm 2015. Tuy nhiên, việc quy định về đối tượng khởi kiện của pháp luật hiện hành còn nhiều mẫu thuẫn và chưa thống nhất giữa các điều khoản như đã phân tích ở mục 2.1.1.2 của Luận văn làm ảnh hưởng đến việc nhận diện đối tượng khởi kiện vụ án hành chính của các Thẩm phán khi tiếp nhận đơn khởi kiện vụ án hành chính cũng như đối với cá nhân, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính.
Thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Đắk Lắk cho thấy vẫn còn tình trạng Tòa án thực hiện không đúng quy định của pháp luật xâm phạm các quyền tố tụng cụ thể của đương sự. Sự vi phạm này được thể hiện trong các bản án của Tòa án.
Ví dụ: Tại Bản án hành chính phúc thẩm số: 60/2022/HC-PT ngày 08/3/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa người khởi kiện ông Phan Anh Đức, địa chỉ: Thôn Tây Hà 6, xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk với người bị kiện UBND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đã nhận định: [1.1] Phan Anh Đức sinh năm 2002; Phan Quốc Bảo sinh 2004 đều chưa đủ 18 tuổi nhưng Tòa cấp sơ thẩm không cử người giám hộ là trái với khoản 2 Điều 48 BLDS, ngoài ra Phan Anh Đức là người bị thiểu năng tuần hoàn não, có dấu hiệu bị hạn chế năng lực hành vi nhưng cấp sơ thẩm không hướng dẫn làm thủ tục giám định tâm thần để giải quyết việc dân sự theo Điều 362 và trái với Điều 22 BLDS. Mặc khác, do Phan Anh Đức có dấu hiệu bị hạn chế năng lực hành vi nên việc ủy quyền cho ông Trương Hùng tham gia tố tụng không bảo đảm giá trị pháp lý. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Như vậy trong trường hợp trên, Tòa án đã vi phạm thủ tục tố tụng không cử người đại diện theo pháp luật cho người khởi kiện, việc ủy quyền tham gia tố tụng không hợp pháp làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự.
Bên cạnh đó, tình trạng Tòa án xác định không đúng tư cách hoặc thiếu người tham gia tố tụng nên đã không triệu tập đương sự tham gia tố tụng, dẫn đến đương sự không thực hiện được các quyền của mình vẫn còn tồn tại. Điển hình như trong vụ án trên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cũng nhận định: [1.2] Người khởi kiện: Yêu cầu huỷ Giấy GCNQSD đất số BA 016495 do UBND thị xã Buôn Hồ cấp ngày 20/8/2010 cho ông Phan Trung và yêu cầu huỷ phần chỉnh lý biến động sang nhượng giữa ông Phan Trung và ông Phạm Thanh Tùng do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Buôn Hồ xác nhận biến động ngày 02/3/2017. Hơn nữa, tất cả các bản gốc là chứng cứ của vụ án đang lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đãng ký đất đai thị xã Buôn Hồ nhưng cấp sơ thẩm không đưa chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Buôn Hồ tham gia tố tụng là thiếu sót.
Có vụ án các đương sự trình bày lời khai có nhiều mâu thuẫn, nhưng Tòa án không tiến hành đối chất để xác định bản chất của vấn đề là không bảo đảm quyền được đối chất với nhau của các đương sự. Chẳng hạn: Tại Bản án hành chính phúc thẩm số: 306/2021/HC-PT ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa người khởi kiện bà Lê Thị Xuân Trang, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn 5, xã Hòa Phong, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk với người bị kiện UBND huyện Krông Bông. HĐXX phúc thẩm nhận định:
Như vậy, mặc dù các đương sự có lời khai khác nhau về việc chuyến nhượng quyền sử dụng đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đối chất, thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để xác định ông Nguyễn Ngọc Sơn, bà Nguyễn Thị Mận có thực sự nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 799,4m2 đất từ bà Lê Thị Xuân Trang, ông Phạm Ngọc Hùng không? nhưng lại khẳng định trình tự, thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Nguyễn Ngọc Sơn, bà Nguyễn Thị Mận đúng pháp luật là không đủ căn cứ vững chắc”… Lẽ ra, khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần tiến hành đối chất giữa ông Sơn, bà Mận và bà Tâm để làm rõ có hay không việc ông Sơn là người trực tiếp đến nhờ bà Tâm ký xác nhận hộ liền kề để xem xét về trình tự, thủ tục công khai hồ sơ đăng ký cấp Giấy CNQSDD của hộ ông Sơn, bà Mận. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Cũng tại Bản án trên Thẩm phán đã không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được Luật TTHC quy định đó là việc thu thập tài liệu chứng cứ, mặc dù đương sự trong vụ án có yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ giải quyết vụ án nhưng Thẩm phán đã không chấp nhận, dẫn đến phán quyết chưa thấu tình đạt lý.
Về việc thu thập tài liệu liên quan đến quá trình sử dụng đất: Bà Lê Thị Xuân Trang khai từ khi khai hoang đất năm 1993 đến năm 2009, bà Trang, ông Hùng vẫn quản lý, sử dụng đất tại thửa đất nêu trên. Sau đó, ông bà chuyển nhượng một phần cho bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh. Năm 2014, bà Trang cho người đổ đất và cho bà Hạnh thuê đất để trồng cỏ chăn nuôi, đến năm 2019 khi thấy gia đình ông Sơn đưa máy xúc đến để san lấp và xây dựng cây xăng, thì bà Trang khiếu nại. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà Trang đã có yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ, nhưng không được chấp nhận; ngoài ra, việc Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xem xét, thẩm định để xác định thực trạng sử dụng đất, hiện nay thửa đất này đã xây dựng cây xăng hay vẫn do bà Hạnh sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp? nhưng đã nhận định “Từ năm 2003 đến nay, bà Trang, ông Hùng không sử dụng đất” là không có căn cứ. Đây là một trong những tình tiết quan trọng để xác định việc sử dụng đất ổn định và là một trong các điều kiện để công nhận quyền sử dụng đất, nhưng vấn đề này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh, làm rõ”.
Các bản án nêu trên đều có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đều bị TAND cấp cao tại Đà Nẵng hủy án để giải quyết lại.
Ngoài ra, một số quyền khác của đương sự cũng chưa thực sự được Tòa án thực hiện một cách nghiêm túc như quyền được cấp, trích lục bản án, quyết định của Tòa án. Theo quy định, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải gửi bản án sơ thẩm cho đương sự nhưng thời hạn này thường bị kéo dài hơn rất nhiều, có trường hợp không gửi cho đương sự mà đương sự phải đến Tòa nhiều lần mới “xin” được bản án. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền kháng cáo bản án của đương sự.
Đối với Thư ký Tòa án thường mắc phải các sai sót trong việc ghi chép biên bản phiên tòa, ghi sai thời gian diễn ra phiên tòa, nhầm lẫn tên thành viên HĐXX, không đúng diễn biến phiên tòa dẫn đến việc Tòa án cấp trên phải hủy án do vi phạm thủ tục tố tụng, việc xét xử lại vụ án sẽ kéo dài quá trình tố tụng nên không được bảo đảm quyền được xét xử trong một thời hạn hợp lý của đương sự. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Đối với HTND, việc không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đại diện cho tiếng nói của nhân dân trong quá trình giải quyết VAHC dẫn đến các phán quyết thiếu căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự trong vụ án.
Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền của đương sự còn thể hiện thông qua việc bảo đảm sự độc lập, khách quan của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tình trạng “duyệt án”, “báo cáo án” diễn ra một cách phổ biến, hàng tuần, các lãnh đạo Tòa án, bao gồm Chánh án và các Phó Chánh án tổ chức họp và các Thẩm phán trong Tòa án phải báo cáo cho lãnh đạo Tòa án về tiến độ các VAHC mà họ đang giải quyết và dự kiến phương án giải quyết như thế nào, trong trường hợp cần thiết thì lãnh đạo Tòa án cũng góp ý hoặc chỉ đạo hướng giải quyết. Như vậy, việc Thẩm phán xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án hoặc Tòa án cấp dưới xin ý kiến chỉ đạo của Tòa án cấp trên đã làm mất đi tính độc lập của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án. Vì đã định hướng trước phương án giải quyết nên quy trình xem xét, thu thập, đánh giá tài liệu, chứng bị chi phối bởi ý chí chủ quan của Thẩm phán, dẫn đến tình trạng tại phiên tòa vấn đề tranh tụng giữa các đương sự chỉ mang tính chất hình thức, quyền được tranh tụng của đương sự đã không được bảo đảm thực hiện đúng mức. Do vậy, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được quy định trong Luật TTHC chưa được bảo đảm thực hiện. Việc này kéo theo các quy định về quyền tố tụng của đương sự cũng chỉ mang tính hình thức, như quyền phát biểu khi tranh luận và đối đáp của đương sự; quyền được xét xử một cách khách quan để HĐXX ban hành các phán quyết phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, nhưng với tình trạng “thỉnh thị án” thì dường như là quyền của đương sự đã không thực hiện được có hiệu quả. Xét đến cùng thì quyền tranh tụng của đương sự không được bảo đảm thực hiện. Những vấn đề nêu trên đã ảnh hưởng và đe dọa nghiêm trọng đến tính độc lập của Thẩm phán trong xét xử. Vì vậy, tình trạng bị hủy án, sửa án do Thẩm phán không đánh giá đầy đủ, khách quan các tài liệu, chứng cứ của vụ án vẫn tồn tại.
- Hạn chế về cơ chế kiểm sát và chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự
Thực tiễn giải quyết VAHC tại TAND tỉnh Đắk Lắk cho thấy tình trạng VKS thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình dẫn đến quyền của đương sự chưa được bảo đảm vẫn còn tồn tại. Đó là việc Kiểm sát viên không phát hiện được những vi phạm tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết, nội dung phán quyết của HĐXX xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng không kháng nghị, kiến nghị. Có thể thấy tỷ lệ kháng nghị của VKS đối với án hành chính còn thấp hơn rất nhiều so với các loại án hình sự, dân sự; số vụ án kháng nghị có căn cứ được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận cũng khá thấp chứng tỏ việc kiểm sát giải quyết án hành chính còn chưa chặt chẽ và được quan tâm đúng mực.
Đối với chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự, kết quả nghiên cứu thấy rằng trong các báo cáo tổng kết của ngành nói chung và của đơn vị nói riêng không thống kê số lượng các chủ thể bị áp dụng chế tài xử lý. Do đó, không có số liệu cụ thể để xác định tỷ lệ vi phạm quyền của đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế các hành vi vi phạm dẫn đến quyền của đương sự không được bảo đảm thực hiện vẫn tồn tại nhưng chưa bị áp dụng chế tài. Cụ thể như việc đương sự ngụy tạo chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án Tòa án chỉ nhận định và không xem xét chứng cứ đó chứ không có chế tài gì áp dụng đối với đương sự. Hay việc người làm chứng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trốn tránh khi Tòa án thực hiện thủ tục dẫn giải đến phiên tòa, phiên họp gây khó khăn cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án nhưng cũng không bị áp dụng chế tài nào.
2.3 Nguyên nhân dẫn đến quyền của đương sự không được đảm bảo thực hiện Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Quyền của đương sự chưa được bảo đảm thực hiện trên thực tế là do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngoài bất cập về các quy định của pháp luật tố tụng đã phân tích trong phần 2.1 của Chương 2, còn có các nguyên nhân sau đây đã ảnh hưởng đến việc thực thi quyền của đương sự:
Thứ nhất, do khả năng hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của đương sự Mặc dù số lượng vụ án hành chính ngày càng tăng rõ rệt qua các năm, làm giảm tải khiếu nại hành chính, nhưng nhìn chung số lượng khiếu kiện hành chính còn rất nhỏ so với các khiếu nại hành chính. Thực tế, khi có tranh chấp hành chính người dân vẫn chủ yếu chọn con đường khiếu nại bằng thủ tục hành chính và ít kiện ra Toà án hơn. Thực tế này do nhiều nguyên nhân nhưng không thể không nói đến nhận thức của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với quyền khởi kiện vụ án hành chính. Một mặt, do tâm lý của người khởi kiện không muốn “đụng chạm” và kiện cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền ra Tòa án. Mặt khác, với suy nghĩ khi kiện ra Tòa án cũng rất dễ bị thua kiện hoặc với suy nghĩ “con kiến kiện củ khoai” cho nên từ tâm lý đó mà người dân chọn cách khiếu nại tới cơ quan hành chính Nhà nước khi có tranh chấp hành chính.
Tòa hành chính đã được thành lập từ năm 1996 nhưng nhận thức về pháp luật tố tụng hành chính, về quyền khởi kiện và quyền tố tụng khác còn khá xa lạ đối với một số người dân, nhất là ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số thì sự hiểu biết về pháp luật TTHC còn hạn chế hơn. Điều này đã khiến cho họ chưa nhận thấy vị trí, vai trò của mình một cách có hiệu quả nhất, đồng thời quyền của đương sự khác cũng không được bảo đảm. Trong khi việc tuyên truyền phổ biến pháp luật TTHC còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào giới thiệu Luật tố tụng hành chính. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của một số đương sự chưa được cao nên gây khó khăn, trở ngại cho các đương sự khác thực hiện quyền tố tụng của họ. Đây là lý do mà đương sự thường có hành vi chống đối, chây ỳ khi Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng như thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc gây khó khăn cho chủ thể tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án. Do không am hiểu pháp luật nên việc thực hiện các quyền của đương sự cũng rất khó khăn, ví dụ như quyền tranh tụng tại phiên tòa, phần hỏi đương sự phải hỏi các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ các tình tiết còn mâu thuẫn của vụ án, nhưng đương sự cũng không biết phải tiến hành như thế nào nên hiệu quả thực hiện các quyền này rất thấp. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến các quyền của đương sự không được thực hiện hữu hiệu.
- Thứ hai, do trình độ năng lực, trình độ, quan điểm nhận thức của người tiến hành tố tụng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến bản án bị hủy, sửa chủ quan là do trình độ, chuyên môn nghiệp vụ của những người tiến hành tố tụng còn hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu thực tế đặt ra, trong khi đó các tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh ngày càng phức tạp, tinh vi hơn. Do trình độ chuyên môn hạn chế nên nhận thức không đúng các quy định của pháp luật, dẫn đến vi phạm các quyền của đương sự. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho các quyền của đương sự không được tôn trọng, bảo vệ. Trong thực tiễn xét xử vụ án hành chính tình trạng sai phạm vẫn tồn tại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích của đương sự, gây hậu quả xấu cho xã hội, cho người dân mà có một phần nguyên nhân là do các chủ thể tiến hành tố tụng không giữ được phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm và chủ quan trong quá trình giải quyết vụ án, áp dụng sai văn bản quy phạm pháp luật do không thường xuyên cập nhật văn bản quy phạm pháp luật nên đã ra các quyết định hoặc thực hiện các hành vi tố tụng bị khiếu nại nhiều lần vì xác định sai chủ thể khởi kiện, bị kiện, đối tượng khởi kiện và căn cứ áp dụng để giải quyết vụ án hành chính.
Chẳng hạn tại TAND tỉnh Đắk Lắk, năm 2020, số bản án, quyết định hành chính bị hủy, sửa là 16 vụ/ 167 vụ đã giải quyết, chiếm tỷ lệ là 9,6%, trong đó do nguyên nhân chủ quan là 14 vụ chiếm 87,5%, nguyên nhân khách quan là 02 vụ, chiếm 12,5%. Năm 2021, số bản án, quyết định hành chính bị hủy, sửa là 14 vụ/ 126 vụ đã giải quyết, chiếm tỷ lệ là 11,1%, trong đó do nguyên nhân chủ quan là 13 vụ chiếm 92,9%, nguyên nhân khách quan là 01 vụ, chiếm 7,1% [51]. Như vậy, tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy và bị sửa do nguyên nhân chủ quan của Tòa án chiếm tỷ lệ cao hơn so với các nguyên nhân khác. Việc hủy án làm kéo dài quá trình giải quyết vụ án nên không bảo đảm quyền được xét xử trong một thời hạn hợp lý của đương sự và các quyền tố tụng khác.
- Thứ ba, thiếu sự hỗ trợ của tổ chức trợ giúp pháp lý và đội ngũ luật sư
Trong việc bảo đảm quyền của đương sự thì sự hỗ trợ của tổ chức TGPL và đội ngũ luật sư có vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác tổ chức hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung và sự tham gia hoạt động của tổ chức TGPL và đội ngũ luật sư nói riêng. Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức này còn tồn tại một số hạn chế nhất định, dẫn đến đương sự chưa được nhận sự hỗ trợ tốt nhất của các tổ chức này trong quá trình tố tụng để bảo đảm quyền của đương sự. Đối với đội ngũ luật sư, những năm gần đây đã có gia tăng nhanh chóng về số lượng nhưng thiếu sự cân đối, chủ yếu mới phát triển ở các thành phố lớn, chưa phát triển được đủ về số lượng ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời chất lượng của đội ngũ luật sư cũng chưa đồng đều. Do đó, sự tham gia của luật sư để hỗ trợ và bảo đảm quyền của đương sự ở miền núi, vùng sâu, vùng xa rất hạn chế. Mặt khác, trong đội ngũ luật sư, có một số luật sư chưa nỗ lực rèn luyện phẩm chất, trình độ chuyên môn để làm tốt trách nhiệm hỗ trợ pháp lý cho đương sự. Vẫn còn tồn tại một số luật sư vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ luật sư và niềm tin khách hàng vào chất lượng cung cấp dịch vụ, vì vậy chưa phát huy được vai trò của luật sư trong việc bảo đảm quyền của đương sự. Đối với tổ chức TGPL bên cạnh những thành tựu đã đạt được như đương sự được TGPL ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, sự TGPL của tổ chức TGPL cũng có một số hạn chế nhất định. Cụ thể, pháp luật chưa có cơ chế hữu hiệu để quản lý, kiểm tra, đánh giá chất lượng của các vụ án TGPL để trên cơ sở đó nâng cao vai trò của trợ giúp viên trong việc bảo đảm quyền của đương sự; ngoài ra đối tượng đương sự được hưởng TGPL vẫn đang còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 của Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật TTHC và thực tiễn thực hiện các quy định này trong giải quyết vụ án hành chính tại TAND tỉnh Đắk Lắk từ năm 2017 đến nay. Luận văn đã chỉ ra được những hạn chế, bất cập chủ yếu của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền của đương sự trong TTHC. Các hạn chế này bao gồm: Thứ nhất, một số quyền tố tụng cụ thể của đương sự chưa được pháp luật ghi nhận đầy đủ hoặc chưa hợp lý nên không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn; Thứ hai, một số nghĩa vụ tố tụng đối ứng của đương sự chưa được xác lập hoặc không có quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nên chưa đáp ứng yêu cầu về tính hiệu quả; Thứ ba, một số quy định về người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự còn hạn chế vai trò của chủ thể này trong việc bảo vệ quyền của đương sự; Thứ tư, một số quy định về trách nhiệm của Tòa án và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng chưa hợp lý hoặc chưa gắn với việc bảo đảm quyền của đương sự; Thứ năm, quy định về cơ chế kiểm sát của VKS trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự chưa phát huy được hết chức năng, quyền hạn của mình; Thứ sáu, một số chế tài chưa bao quát hết được các hành vi vi phạm hoặc một số chế tài cần thiết chưa được thiết lập trong pháp luật hiện hành.
Trên cơ sở phân tích các tồn tại, hạn chế trong pháp luật và vướng mắc, bất cập từ thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự tại TAND tỉnh Đắk Lắk, luận văn đã luận giải nguyên nhân dẫn đến các bất cập, vướng mắc từ khiếm khuyết của pháp luật; trình độ hiểu biết pháp luật của các đương sự về quyền tố tụng được pháp luật quy định còn hạn chế và những tồn tại từ năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Kết quả nghiên cứu tại Chương 1 và Chương 2 là tiền đề quan trọng cho việc đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm có hiệu quả quyền của đương sự trong giải quyết VAHC tại Chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án