Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật và áp dụng pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 về các hình thức đồng phạm

Chế định đồng phạm là một chế định quan trọng của Luật hình sự Việt Nam. Xuất hiện ngay từ BLHS đầu tiên (Quốc triều Hình luật) và có quá trình hình thành phát triển lâu dài từ đó đến nay (BLHS 1999) chế định đồng phạm cùng với các quy định về tội phạm khác đã góp phần to lớn trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về đồng phạm như sau:

  1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
  2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.
  • Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
  • Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
  • Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
  • Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
  1. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Đến năm 2015, trước các yêu cầu của thực tiễn xã hội và tình hình tội phạm, cụ thể hóa nội dung của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật hình sự năm 1999 đã đươc sửa đổi, bổ sung. Điều 17 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 quy đinh về đồng phạm như sau:

  1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
  2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
  3. Người đồ ng phạm bao gồm người tổ chức , người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
  • Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
  • Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
  • Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
  • Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
  1. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Như vậy, ngoài việc đảo khoản 3 lên khoản 2 của điều luật, Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 còn có thêm một khoản quy định về trách nhiệm hình sự đối với hành vi vượt quá của người thực hành. Tuy nhiên, về mặt lập pháp hình sự, chế định đồng phạm hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm nói riêng, bởi lẽ các quy phạm pháp luật trong BLHS 1999 quy định về đồng phạm còn thiếu, nhiều điều luật hiện hành về đồng phạm quy định rải rác ở nhiều chương, các văn bản giải thích luật cũng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn… Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Chúng tôi tập trung phân tích các quy định về đồng phạm và hình thức đồng phạm của Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 như sau:

  • Khái niệm đồng phạm

Điều 20 BLHS 1999 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Khái niệm này được sửa đổi, bổ sung so với Điều 17 BLHS năm 1985 song vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi. Theo logic, đồng phạm là một hình thức phạm tội bên cạnh hình thức phạm tội đơn lẻ do một người thực hiện hoặc do nhiều người thực hiện nhưng không có đồng phạm. Do vậy, nên thay từ “trường hợp” bằng từ “hình thức tội phạm” thì thuật ngữ sẽ mang tính pháp lý hơn. Tiếp theo điều luật quy định đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Khái niệm người thực hành được quy định tại khoản 2 Điều 20 là “người trực tiếp thực hiện tội phạm”. Khái niệm trên về đồng phạm chưa làm sáng tỏ được trường hợp đồng phạm có đầy đủ bốn loại người trong đó có ba loại người không trực tiếp thực hiện tội phạm (tổ chức, xúi giục, giúp sức). Do vậy nên bổ sung thêm từ “tham gia” trước cụm từ “thực hiện” để pháp luật gần gũi, dễ hiểu hơn với mọi tầng lớp nhân dân.

Cần xem xét lại phạm vi đồng phạm trong một số loại tội cụ thể. Ví dụ Điều 22 BLHS quy định tội “không tố giác tội phạm” không phân biệt có hứa hẹn trước hay không. Theo chúng tôi, nếu có hứa hẹn trước nên coi là đồng phạm giúp sức về tinh thần cho những người thực hiện các tội phạm mà có hứa hẹn không tố giác.

  • Khái niệm người đồng phạm, các loại người đồng phạm

Khoản 2 Điều 20 BLHS 1999 quy định:

  • Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.
  • Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
  • Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
  • Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác hực hiện tội phạm.
  • Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Để đưa ra một khái niệm theo logic hình thức vẫn phải dựa vào một khái niệm khác đã rõ chứ không nên dựa vào cái chưa xác định (là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) để định nghĩa một cái chưa biết là người đồng phạm. Quy định như trên dẫn tới cách hiểu chỉ có đồng phạm mới có các loại người này. Thực tế tội phạm đơn lẻ vẫn có người trực tiếp thực hiện tội phạm, vẫn có người có hành vi xúi giục, giúp sức, tổ chức mặc dù họ không phải là người đồng phạm, họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình như trong các tội: Tội tổ chức đánh bạc (Điều 249); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197); Tội tổ chức đánh bạc, tổ chức tảo hôn; Tội cưỡng bức lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200); Tội chứa chấp việc sử dụng ma túy (Điều 198); Tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm (Điều 255); Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290)… Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Về khái niệm cụ thể các loại người đồng phạm tại đoạn 2 khoản 2 Điều 20 BLHS cho thấy: Đối với khái niệm người tổ chức, luật không mô tả vai trò, tính chất hành vi của họ mà dựa trên khái niệm khác là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy do vậy vẫn cần phải giải thích như thế nào thì được coi là người chủ mưu, người cầm đầu, người chỉ huy? Báo cáo công tác trấn áp phản cách mạng tại hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1986, Tòa án nhân dân tối cao đã phân biệt sự khác nhau giữa người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy [38]. Song cũng từ hướng dẫn đối với loại tội phạm cụ thể này đã đưa đến nhận thức cho rằng khái niệm người chủ mưu, người cầm đầu, người chỉ huy chỉ xuất hiện trong các vụ án phản cách mạng, chống phá chính quyền… còn những tội phạm khác không xuất hiện loại người này. Trên thực tế, đồng phạm xuất hiện ở tất cả các loại tội phạm. Cho đến nay vẫn chưa có văn bản chính thức rõ khái niệm này, song xuất phát từ hướng dẫn trên mà khoa học Luật hình sự đã đưa ra khái niệm người tổ chức gồm ba loại người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy.

Bộ luật Hình sự năm 1999 không coi đồng phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 48 và chỉ quy định tình tiết đồng phạm là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt ở một số rất ít tội phạm xuất phát từ đặc điểm của những tội đó như tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm, cưỡng dâm trẻ em với cách gọi “nhiều người hiếp một người”, “nhiều người cưỡng dâm một người”.

Hình thức đồng phạm – phạm tội có tổ chức tại khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”.

Cụm từ “Câu kết chặt chẽ” là một cụm từ định tính cao. Xây dựng được khái niệm phạm tội có tổ chức như quy định tại Điều 17 khoản 3 BLHS 1985 nay là khoản 3 Điều 20 BLHS 1999 là một bước tiến lớn, đánh dấu sự trưởng thành về chất trong kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta. Song để hiểu một cách thống nhất về cụm từ này Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết 02 ngày 16/11/1988 hướng dẫn bổ sung Nghị quyết 02/HĐTP ngày 5/1/1986 đã giải thích:

Trong các trường hợp đồng phạm những người phạm tội thường có bàn bạc trước và sự phân công thực hiện tội phạm, nhưng không phải bắt cứ trường hợp nào có bàn bạc trước và có phân công thực hiện tội phạm đều là phạm tội có tổ chức, vì phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Vì vậy, nếu việc thực hiện tội phạm giản đơn, không đòi hỏi phải có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo thì không phải là phạm tội có tổ chức. Thí dụ: Hai thanh niên muốn có tiều tiêu, nên rủ nhau đi ăn cắp xe đạp, khi gặp người để xe sơ hở đã phân công một người canh gác và một người lấy xe… .

Phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Trong thực tế, sự câu kết này có thể thể hiện dưới các dạng sau đây: Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

  1. Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội. Thí dụ: sau khi đã hết hạn tù, một số tên chuyên trộm cắp đã tập hợp nhau lại và thống nhất cùng nhau tiếp tục hoạt động phạm tội.
  2. Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước. Thí dụ: một số nhân viên nhà nước đã thông đồng với nhau tham ô nhiều lần; một số tên chuyên cùng nhau đi trộm cắp; một số tên hoạt động đầu cơ, buôn lậu có tổ chức đường dây để nắm nguồn hàng, vận chuyển, thông tin về giá cả…
  3. Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm. Thí dụ: Trong các trường hợp trộm cắp, cướp tài sản của công dân mà có phân công điều tra trước về nơi ở, quy luật sinh hoạt của gia đình chủ nhà, phân công chuẩn bị phương tiện và hoạt động của mỗi người đồng phạm; tham ô mà có bàn bạc trước về kế hoạch sửa chữa chứng từ sổ sách, hủy chứng từ, tài liệu hoặc làm giả giấy tờ; giết người mà có bàn bạc hoặc phân công điều tra sinh hoạt của nạn nhân, chuẩn bị phương tiện và kế hoạch che giấu tội phạm v.v…

Theo chúng tôi trường hợp a, c được coi là tội phạm có tổ chức là thỏa đáng song ở trường hợp b nếu “kế hoạch thống nhất từ trước” không thể hiện sự liên kết, tính thống nhất cao trong đồng phạm mà chỉ là kế hoạch đơn giản thì vẫn chưa thể hiện được bản chất của cụm từ “câu kết chặt chẽ”. Hướng dẫn của Nghị quyết 02 về cụm từ “câu kết chặt chẽ” vẫn còn chung chung, còn nhiều ý kiến tranh luận nên sẽ khó khăn khi vận dụng tình tiết này trong xét xử.

Do tính chất của phạm tội có tổ chức là rất nguy hiểm nên BLHS 1999 quy định tình tiết “phạm tội có tổ chức” là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt của 76 điều luật và là tình tiết tăng nặng hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48. Bộ luật hình sự năm 1999 không có điều luật riêng biệt quy định những vấn đề thuộc về trách nhiệm hình sự của những người thực hiện tội phạm trong đồng phạm nhưng có đề cập đến trách nhiệm hình sự của người đồng phạm là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, người phạm tội có tổ chức, cụ thể:

Điều 3. Nguyên tắc xử lý

  1. Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.
  2. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

Hiện nay các vấn đề này không được quy định thành điều luật riêng trong BLHS. Cá biệt có những nguyên tắc được quy định ở một số điều luật rải rác trong phần tội phạm cụ thể. Thực tế xét xử, hầu hết chúng ta mặc nhiên thừa nhận những nguyên tắc trách nhiệm hình sự áp dụng trong đồng phạm theo các tài liệu nghiên cứu giảng dạy.

  • Cụ thể:

Đối với nguyên tắc những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm trong đồng phạm, điều 89 BLHS 1999 – Tội phá rối an ninh quy định:

Người nào nhằm chống phá chính quyền nhân dân mà hoạt động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Người đồng phạm khác bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Đối với nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự của người đồng phạm chúng ta áp dụng các điều luật như Điều 25 (miễn trách nhiệm hình sự); Điều 45 (căn cứ quyết định hình phạt); Điều 54 (miễn hình phạt); Điều 60 (án treo). Tương tự như các trường hợp phạm tội riêng lẻ. Ngoài ra có ba điều luật quy định riêng đối với đồng phạm đó là: Điều 53 quy định: “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm” như sau: “Khi quyết định hình phạt đối với những trường hợp đồng phạm phải xét đến tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm”. Điểm n khoản 1 Điều 48 quy định xúi giục người chưa thành niên phạm tội là tình tiết tăng nặng hình phạt.

Như vậy chỉ với những quy định rải rác trên chúng ta phải hiểu đường lối xét xử đối với người thực hành, người xúi giục (trừ trường hợp xúi giục vị thành niên) người giúp sức về cơ bản không có gì khác so với những trường hợp phạm tội riêng lẻ khác. Cá biệt đối với một số trường hợp phạm tội cụ thể (hiếp dâm,cưỡng dâm…) họ sẽ phải áp dụng tình tiết tăng nặng định khung do tính chất đồng phạm, tính chất của loại tội phạm cụ thể. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Xác định trách nhiệm hình sự đối với những người tham gia đồng phạm là một vấn đề tương đối phức tạp cần tổng hợp các quy phạm pháp luật nằm rải rác trong nhiều điều luật của BLHS. Do vậy, sẽ rất thuận lợi cho công tác áp dụng pháp luật nếu những quy định này được thống nhất, quy tụ trong một chương riêng biệt của BLHS.

  • Đối với việc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm chưa hoàn thành:

BLHS hiện hành chưa có quy định nào quy định về các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm. Theo lý luận khoa học Luật hình sự có các giai đoạn thực hiện tội phạm của người thực hành thì cũng có thể có các giai đoạn thực hiện tội phạm của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức nói riêng [37]. Hiện nay để xác định trách nhiệm hình sự đối với họ, chúng ta chỉ áp dụng tương tự các Điều 52 (quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt), Điều 17 (chuẩn bị phạm tội), Điều 18 (phạm tội chưa đạt). Việc áp dụng tương tự chỉ có tác dụng nhất thời phục vụ thực tiễn xét xử. Về mặt lý luận khoa học vẫn còn nhiều tranh cãi. (Ví dụ: trường hợp một đối tượng xúi giục người khác thực hiện hành vi phạm tội nguy hiểm như cướp giật tài sản bằng xe phân phối lớn cùng một hành vi xúi giục như nhau có thể được coi là phạm tội hoàn thành nếu người thực hành đã cướp được tài sản của người khác, có thể được coi là chuẩn bị phạm tội nếu vì lý do khách quan người thực hành không cướp được tài sản của người khác.

Như vậy đã quá tuyệt đối hóa vai trò của người thực hành, không xem xét đến tính độc lập tương đối của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức…)

Tóm lại: Đồng phạm là một chế định lớn và phức tạp trong Bộ luật Hình sự. Việc áp dụng các quy định của BLHS đối với những vụ việc có đồng phạm cần có cái nhìn tổng quát, sâu rộng thì mới có thể tránh được những sai lầm, phiến diện. Cùng với sự phát triển của khoa học Luật hình sự thì chế định đồng phạm cũng đang được hoàn thiện. Tuy vậy, cần phải khẳng định rằng các quy định về đồng phạm trong Bộ luật Hình sự hiện nay còn thiếu, một số quy định đã có thì còn có điểm chưa thống nhất trong nhận thức và nằm rải rác ở nhiều chương. Cần phải nhanh chóng xây dựng thêm các quy định trong Bộ luật Hình sự về đồng phạm làm cơ sở pháp lý vận dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.

2.2. Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự và một số tồn tại vướng mắc đối với việc xác định các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

2.2.1. Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Hà Giang là tỉnh miền núi cao nằm ở cực bắc tổ quốc, phía Bắc giáp các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây – Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Diện tích tự nhiên là 7.884,37 km².

Dân số tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009 là 724.537 người. Trong đó dân số thành thị là 84.338 người. Các dân tộc: Mông (chiếm 32,0% tổng dân số toàn tỉnh, Tày (23,3%), Dao (15,1%), Việt (13,3%), Nùng (9,9%)… Hà Giang với dải núi cao Tây Côn Lĩnh và cao nguyên Đồng Văn đã tạo nên địa hình cao dần về phía Tây Bắc, thấp dần về phía Đông Nam. Địa hình chia cắt thành các tiểu vùng mang đặc điểm khác nhau về độ cao, thời tiết khí hậu. Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi với nền văn hoá lâu đời thuộc niên đại đồ đồng Đông Sơn, có các di tích người tiền sử ở Bắc Mê, Mèo Vạc. Đây cũng là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thuộc vùng Đông Bắc sinh sống, với 22 dân tộc có nhiều phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và những lễ hội rất sinh động đã làm Hà Giang trở thành nơi hấp dẫn du khách đến tham quan.

Hà Giang là tỉnh miền núi với địa thế khá hiểm trở, cùng với nhiều diện tích rừng nguyên sinh, dân cư đa dạng các chủng tộc nên đây trở thành địa bàn khá thuận lợi cho các hoạt động tội phạm đặc biệt là các loại tội phạm như: Buôn lậu, ma túy, buôn bán người…

Các loại tội phạm thực hiện với hình thức đồng phạm ở Hà Giang chủ yếu là: mua bán trái phép chất ma túy, mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, buôn lậu… nhiều trong số các tội phạm này được thực hiện với hình thức phạm tội có tổ chức, mang tính chất tuyến đường dây qua biên giới Trung quốc và các tỉnh bạn ở khu vực đông bắc và tây bắc lân cận.

Tuy nhiên, số liệu về tình hình tội phạm liên quan đến đồng phạm, những vấn đề vướng mắc bất cập trong công tác xét xử các vụ án có đồng phạm chưa được Tòa án và các cơ quan tư pháp tỉnh Hà Giang tổng kết và có số liệu chính thức, điều này xuất phát từ việc không đặt ra chỉ tiêu thống kê cũng như những hạn chế khác của công tác tổng kết, thống kê báo cáo trong thực tiễn.

Theo báo cáo của Công an tỉnh Hà Giang, trong 5 năm gần đây (2010 – 2015) tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Giang vẫn có những diễn biến phức tạp, song từng bước giảm về số vụ, số đối tượng vi phạm. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang, số vụ án và số bị cáo được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hà Giang thụ lý, xét xử cơ bản ổn định, cụ thể:

  • Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số vụ án hình sự được thụ lý, giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang từ 2010 -1014

Theo báo cáo của Công an tỉnh Hà Giang, trong khoảng thời gian nêu trên, toàn tỉnh xảy ra 1.526 vụ, phát hiện 3.090 đối tượng phạm pháp hình sự. Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý 1.525 vụ/3.087 đối tượng. Về tai nạn, tệ nạn xã hội xảy ra 303 vụ trên tổng số 226 người chết. Tai nạn giao thông xảy ra 89 vụ, làm chết 74 người, bị thương 85 người, so với thời gian trước giảm 31 vụ, giảm 27 người chết, giảm 28 người bị thương. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Từ năm 2010 đến 2015 có 152 vụ/ 195 bị cáo được đưa ra xét xử phúc thẩm và đều được tòa án phúc thẩm tỉnh thụ lý và giải quyết.

Số vụ án tồn đọng vẫn còn, tuy nhiên từ năm 2013 trở về đây số vụ tồn đọng chưa được giải quyết có chiều hướng giảm (Năm 2014 còn tồn 3 vụ/9 bị cáo).

Nhìn chung, việc xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, trong thời hạn luật định, không xảy ra oan sai. Mức hình phạt được áp dụng đều tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

  • Bảng 2.2: Tương quan về một số tội của đồng phạm

Nhìn từ bảng số liệu trên chúng ta thấy rằng loại tội phạm có đồng phạm tham gia nhiều nhất trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2011 đến 2015 là tội phạm về ma túy, kể cả số vụ án và bị cáo đều có chiều hướng tăng lên theo từng năm.

Qua nghiên cứu các vụ án hình sự – trong 50 vụ án hình sự được phân loại có đồng phạm được tác giả nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên trong 5 năm, cho thấy:

Các vụ án có đồng phạm chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng số các vụ án đã xét xử của Tòa án, đa số các vụ cho thấy đa số các tội phạm có thông mưu trước, tập trung vào các vụ án: cố gây thương tích, trộm cắp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, các tội phạm về ma túy, một số tội giết người, mua bán người, tội phạm tham những, tội buôn lậu.

Các vụ án về các tội xâm phạm trật tự an toàn công cộng, xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thì xuất hiện hình thức đồng phạm ngày càng nhiều.

Các vụ án đồng phạm có thông mưu xuất phát từ những động cơ vụ lợi liên quan đến tài sản, những mâu thuẫn trong cuộc sống nhưng thường là các mâu thuẫn nhỏ nhặt. Trong những trường hợp này, các đồng phạm có sự cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội, chấp nhận hậu quả xảy ra và hoàn toàn có khả năng thấy trước tính nguy hiểm của hành vi và hậu quả có thể xảy ra. Sự bàn bạc, thống nhất hành vi phạm tội có trường hợp xảy ra tức thời, và thực hiện nhanh chóng nhưng cũng có trường hợp bàn bạc với nhau trong thời gian lâu hơn.

Do pháp luật hiện hành không quy định khái niệm hình thức đồng phạm có thông mưu trước, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó, nên trong một số bản án được phân tích chưa nhận thức đúng về hình thức đồng phạm này.

Trong đó, phạm tội có tổ chức có 20 vụ, tập trung vào các vụ án về các tội tham nhũng, buôn lậu, cướp tài sản, và các tội liên quan đến ma túy và mua bán người. Tòa án áp dụng tình tiết “phạm tội có tổ chức” là tình tiết tăng nặng định khung là 7 vụ và tình tiết tăng nặng theo Điều 48 khoản 1 điểm a BLHS là 11 vụ.

Trong 50 vụ, có 12 vụ có đồng phạm giản đơn, tập trung vào các loại tội gây rối trật tự công cộng, tối cố ý gây thương tích, hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, tội giết người, tội chống người thi hành công vụ. Đây thường là những trường hợp phạm tội có đồng phạm có ít hoặc không có sự bàn bạc thống nhất từ trước. Sự cấu kết giữa những người phạm tội là không đáng kể, chỉ dừng ở việc mỗi người đồng phạm chỉ biết về hành động phạm tội của một hay nhiều người khác tại thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm hay trong quá trình thực hiện tội phạm.

2.2.2. Một số tồn tại trong việc xác định các hình thức đồng phạm và nguyên nhân Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Trong 50 vụ án hình sự được phân loại có đồng phạm được tác giả nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên trong 5 năm, đa số các vụ này thỏa mãn các dấu hiệu khách quan và chủ quan của đồng phạm.

  • Đa số các vụ án được Tòa án nhân dân hai cấp xác định đúng hình thức đồng phạm.

Ví dụ 1: Ngày 31/7/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang vừa mở phiên tòa xét xử lưu động tại UBND thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang vụ án “Mua bán người” và tội “Mua bán trẻ em” đối với các bị cáo: Đinh Thị Lan, Hứa Viết Trưởng, Đinh Thị Bình cùng trú tại thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang cùng với Lù Văn Xanh, sinh năm 1993, trú tại thôn Cốc Héc, xã Trung Thành, huyện Vị xuyên, tỉnh Hà Giang, bị cáo Vinh Triều Binh trú tại thôn Mèo Pả, trấn Điền Bồng, huyện Phú Ninh, châu Vân Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2014 đến ngày 31/7/2014, Đinh Thị Bình (SN 1972), Đinh Thị Lan (SN 1968), Hứa Viết Trưởng (SN 1990), Lù Văn Xanh (SN 1993) đã ba lần đưa 6 bị hại gồm: Tráng Thị Nguyệt, sinh ngày 01/11/1998; Lù Thị Bích, sinh ngày 25/11/1996, cùng trú tổ 11, thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên (Hà Giang); Nguyễn Thị Phương Mai, sinh ngày 09/10/1999 trú tại tổ 12, thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên (Hà Giang); Lý Thị An sinh ngày 01/12/1996, trú tại đội 5, thôn Đồng Tâm, huyện Bắc Quang (Hà Giang); Sải Thị Liêm sinh ngày 29/01/1999, trú tại thôn Tả Chải, xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, (Hà Giang) và Đặng Thị Chẩy sinh ngày 16/3/1998, trú tại Bản Khoéc, xã Thượng Sơn, huyện Vị Xuyên (Hà Giang) sang Trung Quốc, để Vừ Thị Mỷ (tức Sình) (SN 1983), trú tại tổ 6, thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn (Hà Giang) bán cho Vinh Triều Binh (tức Dùng Sào Pín, SN 1970), trú tại thôn Mèo Pả, trấn Điền Bồng, huyện Phú Ninh, châu Vân Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Mục đích các bị cáo Lan, Bình, Trưởng, Xanh đưa 06 bị hại sang Trung Quốc bán để cho người khác lấy làm vợ và đưa đi làm thuê, còn không biết người mua với mục đích gì. Đối với bị cáo Vinh Triều Binh, mục đích mua các bị hại Nguyễn Thị Tuyết Mai và Lý Thị An để đưa đi làm gái bán dâm. Tính đến ngày các bị hại bị mua và bán có tuổi đời chỉ từ 14 – 17 tuổi, cụ thể: Tráng Thị Nguyệt được 15 tuổi 5 tháng; Lù Thị Bích được 17 tuổi 5 tháng; Nguyễn Thị Phương Mai được 14 tuổi 8 tháng 17 ngày; Lý Thị An được 17 tuổi 6 tháng 25 ngày; Sải Thị Liêm được 15 tuổi 6 tháng 2 ngày; Đặng Thị Chẩy được 16 tuổi 4 tháng 14 ngày. Đối với bị can Vừ Thị Mỷ, sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang đã ra quyết định truy nã và tách vụ án để điều tra, xử lý sau. Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo Đinh Thị Lan, Lù Văn Xanh, Vinh Triều Binh mỗi bị cáo 20 năm tù, Đinh Thị Bình 21 năm tù, Hứa Viết Trưởng 23 năm tù về tội “Mua bán người” và “Mua bán trẻ em”.

Ví dụ 2: Ngày 25/5/2014, Hoàng Đình Đ, Nguyễn Thị H, Nguyễn Sỹ C, Nguyễn Văn V, Trần Thị K ở tỉnh Hà Giang đã có hành vi mua bán trái phép 190,4g Hêroin và bị bắt. Tất cả các bị cáo đều bị truy tố theo điểm b khoản 4 Điều 194 BLHS, với khung hình phạt từ hai mươi năm đến chung thân hoặc tử hình. Trong vụ án này Đ và V có vai trò chính, còn H (là vợ Đ), K (là vợ V), C (là chú H), có vai trò thứ yếu chỉ làm theo sự chỉ dẫn của Đ và V. Căn cứ vào định lượng Hêrôin mà các bị cáo mua bán, đối chiếu với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 thì hai bị cáo Đ và V có vai trò chính trong vụ án có xử nghiêm cũng chỉ đến hai mươi năm tù (Nghị quyết này hướng dẫn xử phạt hai mươi năm tù nếu Hêrôin hoặc Côcain có trọng lượng từ 100 gam đến dưới 300gam), và đương nhiên các bị cáo còn lại sẽ phải chịu mức án thấp hơn Đ và V là dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Trong khi các bị cáo chỉ có tình tiết khai báo thành khẩn, nếu áp dụng đúng quy định tại Điều 47 và các văn bản hướng dẫn nêu trên thì không thể xử các bị cáo thấp hơn mức khởi điểm của khung hình phạt được vì trái với quy định tại Điều 47. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Tuy nhiên, do không nắm vững những dấu hiệu của đồng phạm, còn có bản án còn mắc phải sai lầm khi xét xử trong việc nhận định đúng đồng phạm và hình thức đồng phạm cụ thể.

Một vấn đề thực tiễn khác là trong các vụ án đồng phạm thì việc phân loại và tính số đồng phạm thực hiện tội phạm không có thông mưu trước và có thông mưu trước gặp khó khăn. Nhiều bản án chỉ nhận định rằng: bọn chúng rủ nhau phạm tội hoặc bọn chúng bàn nhau song không nêu rõ nội dung bàn bạc.

Hầu hết các bản án không phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của vụ án từ việc phân tích các hình thức đồng phạm đơn giản – phức tạp; có thông mưu trước – không có thông mưu trước. Nhiều bản án nhận định chung chung: bọn chúng bàn nhau. Không nêu rõ nội dung bàn bạc như thế nào nên khó xác định được hình thức đồng phạm. Chỉ có 2 bản án nhắc đến các từ “có thông mưu trước”, “không có dự định trước”.

Mặt khác, thực tiễn xét xử cho thấy thường có sự nhầm lẫn giữa vai trò người thực hành trực tiếp thực hiện tội phạm thành người giúp sức. Trong một số bản án không phận biệt rạch ròi giữa người tổ chức và người xúi giục nên ít áp dụng tình tiết xúi giục người chưa thành niên phạm tội. Nhiều bản án không phân tích rõ tính chất của đồng phạm, phân tích tính chất và mức độ tham gia của những người đồng phạm còn mang tính chất cào bằng, chưa lượng hóa được hành vi phạm tội cụ thể của từng người tham gia trong vụ án (thường sử dụng những từ chung như: đồng phạm với vai trò tích cực, vai trò ngang nhau) dẫn đến việc xét xử các bị cáo mức án không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi do các bị cáo gây ra.

Các nguyên tắc trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người đồng phạm tuy không được quy định thành điều luật riêng biệt, áp dụng đối với trường hợp phạm tội dưới hình thức đồng phạm, song về cơ bản những nguyên tắc này đã được áp dụng thống nhất trong quá trình xét xử. Một số vụ án có thiếu sót, sai phạm mang tính chất cá biệt không điển hình. Theo nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, luật hình sự Việt Nam đã xác định: Tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, bị truy tố, xét xử về cùng một tội danh, theo cùng một điều luật, trong phạm vi những chế tài điều luật ấy quy định. và phải chịu trách nhiệm về tình tiết tăng nặng định khung hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 48 Bộ luật Hình sự liên quan đến hành vi phạm tội chung nếu họ cùng gây ra hoặc cùng nhận thức được tình tiết đó. Tuy vậy, không phải trong mọi trường hợp cứ có nhiều người cùng thực hiện một tội phạm đều là đồng phạm.

Ví dụ 3: Tại bản án số 12 /2010/HSST ngày 15/4/2010 của Toà án quân sự khu vực H tỉnh HG đã xét xử vụ án có nội dung như sau: Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Nguyễn Văn B là chỉ huy, có tư thù cá nhân với cấp dưới của mình là Lê Văn H nên đã chỉ đạo cho Trần Hữu T và Lê Văn V. (cũng là cấp dưới của B.) làm nhục H. để trả thù. B. gọi T và V đến nhà mình để bàn bạc địa điểm và cách hành động…

Có quan điểm cho rằng, đó là phạm tội có tổ chức trong một vụ án đồng phạm vì có sự phân công phân cấp, có sự bàn bạc và câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm có người chủ mưu, cầm đầu chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Trong vụ án này người tổ chức là Nguyễn Văn B., còn người thực hành là T và V. Thế nhưng có quan điểm thứ hai cho rằng, đây không thể là phạm tội có tổ chức vì đây không phải là vụ án đồng phạm.

Khi xác định tội danh thấy rằng cả B, T và V cùng trong quân đội. B sẽ phạm vào tội: “Làm nhục đối với cấp dưới” theo quy định tại Điều 320 Bộ luật Hình sự. Còn T và V phạm vào tội: “Làm nhục đồng đội” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Và như vậy trong trường hợp này sẽ không có đồng phạm vì không cùng một tội danh. Đồng phạm là “cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Đã không có đồng phạm thì sự câu kết chặt chẽ, sự phân công phân cấp, sẽ không còn ý nghĩa gì và như thế sẽ không thể là phạm tội có tổ chức. Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai.

Rõ ràng trong vụ án này cả người tổ chức và người thực hành đều với một mục đích là làm nhục nhưng Bộ luật Hình sự lại quy định hai điều khác nhau là làm nhục đối với cấp dưới và làm nhục đồng đội. Điều này cũng dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau khi xác định trách nhiệm hình sự cho mỗi bị cáo.

Đối với nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm, Luật hình sự Việt Nam đã xác định nguyên tắc thứ hai trong việc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm là: Mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm. Việc xác định trách nhiệm hình sự của người thực hành trong đồng phạm tất yếu chịu sự thống nhất về nguyên tắc này. Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người đồng phạm, người thực hành khác. Hành vi vượt quá của đồng phạm là hành vi vượt ra ngoài ý định chung của những người đồng phạm khác và hành vi đó có thể đã cấu thành tội khác hoặc cấu thành tình tiết tăng nặng định khung. Hành vi vượt quá thông thường là hành vi vượt quá của người thực hành.

Tuy nhiên để xác định đâu là hành vi vượt quá của người thực hành là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp, đặc biệt là với những vụ án xâm hại tính mạng sức khoẻ. Trong quá trình thực hiện ý định phạm tội chung thì không chỉ có người thực hành mà cả những người đồng phạm khác cũng có thể có hành vi vượt quá, làm sai với sự thoả thuận trước của cả bọn. Người thực hành có vai trò quan trọng trong vụ án có đồng phạm. Tội phạm có được thực hiện hay không, thực hiện đến mức nào đều phụ thuộc vào kết quả hành vi của người thực hành. Nhưng trong số những hành vi mà người thực hành thực hiện để đạt kết quả mà bản thân người thực hành và những người đồng phạm khác mong muốn, có thể có những hành vi vượt quá ý định ban đầu của những người đồng phạm khác. Khi đó người thực hành đã thực hiện hành vi thái quá trong đồng phạm.

Trong thực tiễn xử lý một số vụ án Cố ý gây thương tích, ngoài những trường hợp “Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê” mà Bộ luật Hình sự đã qui định là tình tiết định khung tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 104 thì cũng còn trường hợp đồng phạm khác là dạng “đâm chém giúp”. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Nó khác trường hợp qui định ở điểm h khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự nêu trên ở chỗ mặc dù không có “hợp đồng thuê” (là loại hợp đồng có đền bù, vô hiệu do nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng lại rất được kẻ phạm tội thực thi nghiêm chỉnh mà ta hay nói là dạng “đâm thuê, chém mướn”) nhưng quyết tâm phạm tội và hậu quả tội phạm gây ra còn cao hơn những dạng thông thường và nhiều khi cũng chẳng kém trường hợp được thuê, bởi vì chúng thực hiện hành vi phạm tội rất manh động và táo tợn do nhận thức lệch lạc và nhân cách méo mó, cộng với trạng thái tâm lý đám đông bị kích động và thường xuất hiện sau những cuộc nhậu nhẹt.

Với hình thức phạm tội là ở dạng nhiều người cùng chung ý chí và hành động, khi thực hiện tội phạm thì hầu hết đều là người thực hành và nói chung họ đều phải chịu cùng tội danh về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng trong thực tiễn xét xử có rất nhiều trường hợp phạm tội ý chí chủ quan không hoàn toàn thể hiện bằng những hành động hoặc lời nói cụ thể; hoặc sự thống nhất ý chí giữa các đối tượng cùng tham gia việc phạm tội không thể hiện đầy đủ, rõ ràng nên dẫn đến rất nhiều quan điểm khác nhau trong việc định tội danh cũng như xác định điều khoản áp dụng cụ thể đối với hành vi của các bị cáo. Vì vậy, việc định tội danh đối với trường hợp tội phạm vượt quá cũng cần phân biệt một cách cụ thể hơn theo vai trò của mỗi đồng phạm.

Ví dụ 4: Bản án số: 01/2013/HSST ngày 01 tháng 02 năm 2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử các bị cáo H, S, B. Vụ án có nội dung như sau:

Do có mâu thuẫn cá nhân giữa H và A, H nói với S, B về việc H bị A đánh chửi để S dằn mặt A. Khoảng 16 giờ ngày 19/11/2009, H đưa S đi chỉ nhà của A nhưng không gặp A. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H và bạn là L đi xem văn nghệ ở trường. H gọi điện nhờ S mua hộ một bó hoa đem đến trường. S rủ thêm B và C đi cùng. Khi đến cổng trường, S đưa hoa cho H rồi cùng B, C ngồi uống nước ở quán ngoài cổng trường. H và L cầm hoa đi vào trong trường thấy A cũng đang xem văn nghệ, H gọi điện cho S và bảo “A đang ở trong này, anh vào đi”. Đợi một lúc không thấy S vào, H và L ra chỗ S đang ngồi uống nước thì B nói “Bọn anh không đánh nhau trong trường được”. H và L tiếp tục vào trường xem văn nghệ.

Khoảng 21 giờ, A và các bạn ra về, H và L đi theo sau. H gọi điện cho S bảo”A đang đi ra cổng, anh vào đi”. S đứng dậy nói với B “Đi vào đây với tao” rồi đi vào cổng trường, B chạy theo sau. B cầm điện thoại của S thì đúng lúc đó H gọi tới, B bật loa ngoài thấy H nói “Bọn nó đang ra cổng rồi anh này”. B hỏi H “A là thằng nào”. H trả lời “Thằng đánh em đứng cạnh thằng mặc quần trắng, áo nâu đang đứng ở cổng”. S đi đến chỉ vào mặt A nói “Thằng nào là thằng A đánh H em tao”. A gạt tay S thì B nhảy vào tát A một cái, S xông vào đấm đá A. A loạng choạng lao về phía cổng trường. S túm cổ áo A kéo lại, A quay người lại thì bị S bật lưỡi dao bấm (S mang sẵn trong túi) đâm vào ngực. H và L chứng kiến sự việc xảy ra rồi đi sang bên kia đường. Lúc này có người can ngăn nên S bỏ đi, B cũng chạy theo S. A chạy một đoạn vào cổng trường thì ngã gục, mọi người đưa A đi cấp cứu song A đã chết trên đường đi cấp cứu.

Tại cơ quan điều tra, H thừa nhận “Ý cháu là nhờ các anh ấy đánh A hộ cháu”. L thừa nhận có nghe H nói “các anh ấy gọi A ra để đánh”. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

  • Xung quanh vụ án này có nhiều quan điểm khác nhau về tội danh đối với các bị cáo:

Quan điểm thứ nhất: S, B, H cùng đồng phạm về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự với tình tiết tăng nặng định khung “Có tính chất côn đồ”. B, H với vai trò là người giúp sức.

Quan điểm thứ hai: S phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự. H, B đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Quan điểm thứ ba cho rằng: S phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự vì S phạm tội với A vì lý do A đã có mâu thuẫn với H. Còn H, B đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” vì ban đầu H chỉ định nhờ H, B dằn mặt A chứ không có ý định đánh chết A; Thực tế B cũng chỉ có hành vi đấm đá A.

Quan điểm thứ tư: S phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự. H, B đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích ” theo khoản 3 Bộ luật Hình sự.

Theo quan điểm thứ tư, việc S mang theo hung khí H, B không biết. Từ đầu tới cuối sự việc không có hành động, lời nói nào của H,B thể hiện ý chí muốn tước đoạt sinh mạng của A. Sự việc diễn biến rất nhanh nên chính H,B cũng hết sức bất ngờ với hành vi dùng dao đâm A của S. Vì vậy không đủ căn cứ khẳng định H, B đồng phạm với S về tội “Giết người”. Mặt khác, do diễn biến sự việc xảy ra trong thời gian rất ngắn nên hành vi của H,B không thoả mãn dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng” nên không có căn cứ xét xử H, B về tội danh này.

Ở vụ án này, việc xác định đâu là hậu quả chung do các đồng phạm hướng tới qua xem xét toàn diện dấu hiệu thuộc mặt khách quan trong mối liên quan chặt chẽ với những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm cũng chưa rõ ràng căn cứ để xác định hậu quả chung cũng như tội danh cụ thể đối với hành vi của từng bị cáo..

Theo tác giả, việc truy tố S về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, để xác định H, B có phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; hoặc tội “Gây rối trật tự công cộng “theo quy định tại điều 245 hay không cần xem xét hành vi của H, B một các khách quan. Cụ thể phải xem xét hành vi của H có gây ra thương tích cho A hay không; thương tích đó có đủ yếu tố cấu thành tội gây thương tích hay không? Mặt khác, thương tích đó có dẫn đến hậu quả trực tiếp gây nên cái chết cho A hay không?

Trường hợp này, S đã dùng dao đâm A. Đây là hành vi S thực hiện vượt quá ý chí chủ quan và hành vi khách quan mà các đồng phạm khác là H và B đặt ra thì S phải chịu trách nhiệm độc lập về hậu quả do hành vi của S gây ra. Và như vậy, B, H không phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết người do S gây ra; H, B không phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Về tội “Gây rối trật tự công cộng” qua diễn biến nội dung vụ án thì thấy rằng: Ngay từ ban đầu, các bị cáo đã có ý định đánh A tại khu vực trong trường hoặc ở cổng trường. Hôm đó tại trường có tổ chức biểu diễn văn nghệ nên chắc chắn các bị cáo hiểu rằng nơi đây sẽ rất đông người, các bị cáo tìm cách đánh A tất nhiên sẽ gây nên sự mất trật tự, ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Mặc dù hành vi của các bị cáo diễn ra rất nhanh, trong khi H, B chưa kịp nhìn thấy, chưa kịp hiểu ra thì S đã dùng dao đâm A xong. Sau đó các bị cáo bỏ đi ngay khỏi hiện trường. Khi đó, buổi biểu diễn văn nghệ của trường cũng vừa tan ra, mặt độ người ra vào cổng trường là rất đông. Hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra là A ngã gục trong tình trạng máu me tại cổng trường đã làm nhiều người có mặt sợ hãi, gây nên tình trạng hỗn loạn, ách tắc giao thông tại khu vực này. Vì vậy, có căn cứ để khẳng định H, B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999

Tóm lại, việc nghiên cứu một số tồn tại, vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người thực hành cho phép chúng ta rút ra một số nguyên nhân cơ bản của thực trạng này như sau:

  • Nguyên nhân khách quan:

Với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội hiện nay, nhất là trong thời kỳ mới hội nhập, các quan hệ nảy sinh ngày càng đa dạng; theo đó tình hình tội phạm ngày càng gia tăng. Số lượng cũng như tính chất phức tạp của các vụ án hình sự tăng lên rất nhiều. Một vụ án nhưng có thể có nhiều hành vi xâm hại nhiều quan hệ được pháp luật bảo vệ; mỗi vụ án có thể có rất nhiều bị cáo với nhiều loại hành vi khác nhau cùng tham gia, thậm chí có nhiều loại hành vi rất khó đánh giá, nhận biết đã xâm hại mối quan hệ nào, cấu thành tội danh nào. Việc xử lý đối với những vụ án này cũng khó khăn, phức tạp. Một loại người tham gia việc phạm tội nhưng có thể ở nhiều dạng hành vi, ở nhiều giai đoạn phạm tội khác nhau tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể nên rất khó nhận biết. Việc xác định chính xác vị trí, vai trò của những người đồng phạm trong vụ án hình sự từ trước vẫn được coi là một vấn đề không dễ, thường xảy ra nhầm lẫn thì đến nay, trong bối cảnh tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, vấn đề này lại càng trở nên khó khăn.

Quy định về đồng phạm nói chung, người thực hành nói riêng còn ở mức độ khái quát nên có thể dẫn đến những cách hiểu, cách suy đoán khác nhau khi áp dụng vào các tình huống thực tế.

Có thể thấy, đây là nguyên nhân rất quan trọng, vì chế định về đồng phạm nói chung và người thực hành trong đồng phạm nói riêng là cơ sở pháp lý cho cơ quan xét xử trong xác định tội danh, áp dụng hình phạt đảm bảo tính đúng đắn và thống nhất.

Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng thể chế, chúng ta dù coi trọng việc nghiên cứu khoa học và tổng kết điều tra thực tiễn nhưng công tác thống kê tội phạm còn nhiều bất cập, thiếu nhiều tiêu chí thống kê. Nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn chưa được đánh giá đúng mức ý nghĩa, hệ quả của chúng, từ đó việc xây dựng các quy định không sát, không hợp lý, không sửa đổi kịp thời, tính dự báo không cao. Kinh nghiệm lập pháp còn hạn chế, việc xây dựng án lệ từ thực tiễn xét xử mới được đặt ra gần đây nhưng chưa được hiện thực hóa do còn quá mới mẻ ở nước ta hiện nay.

  • Nguyên nhân chủ quan:

Trước hết, đó là sự nhận thức về người thực hành và những loại người trong đồng phạm của những người tiến hành tố tụng có sự khác nhau. Cùng một nội dung quy định trong pháp luật nhưng có nhiều cách hiểu, nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Trong cùng một trường hợp thực tế, có người xác định vai trò này, có người lại xác định tư cách khác. Hoặc trong những trường hợp khác nhau nhưng hành vi có cùng bản chất, việc xác định tội danh, trách nhiệm hình sự cũng khác Về hình thức đồng phạm, trong cùng một vụ án phạm tội có đồng phạm, có quan điểm cho rằng phạm tội có tổ chức, có quan điểm cho rằng chỉ là đồng phạm phức tạp. Từ đó, khi so sánh giữa các vụ án có đồng phạm với nhau, lại tồn tại thêm các quan điểm khác nhau. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số bộ phận cán bộ, công chức cơ quan xét xử còn hạn chế dẫn đến việc vận dụng các quy định pháp luật để giải quyết vụ án hình sự không được chính xác. Việc nhận thức các vấn đề của luật nội dung có nơi còn chưa thống nhất dẫn tới áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng các quy định về chế định đồng phạm còn có sự nhầm lẫn, hời hợt. Các bản kết luận điều tra, cáo trạng, luận tội và đặc biệt là bản án chưa có đánh giá chưa thỏa đáng về vị trí, vai trò của các bị cáo trong các vụ án có đồng phạm, về nội dung và hình thức của đồng phạm. Điều này cũng có một phần nguyên nhân là do số lượng cán bộ có chuyên môn trong các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ để giải quyết, đặc biệt là ngành Tòa án, nhiều địa phương thiếu nguồn tuyển dụng cán bộ và bổ nhiệm Thẩm phán. Điều này đã tạo ra áp lực công việc rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ, công tác xét xử. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ ngành Công an, Viện kiểm sát, Tòa án chưa được chú trọng, chưa có sự đổi mới về cách thức tiến hành và giáo trình tập huấn, chưa đảm bảo được sự đầu tư đúng mức. Trong đào tạo, bồi dưỡng chưa có kế hoạch tổng thể mang tính chiến lược; chất lượng chưa cao, nhiều khi chỉ mang tính hình thức.

2.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về các hình thức đồng phạm

2.3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về các hình thức đồng phạm

Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Bộ luật Hình sự là công cụ pháp luật sắc bén, hữu hiệu của Đảng, Nhà nước để đảm bảo pháp chế, củng cố và duy trì trật tự pháp luật, góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như bảo vệ một cách hữu hiệu lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tuy nhiên, do ban hành từ năm 1999, dù được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các thành tựu của Bộ luật Hình sự năm 1985 và tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong suốt quá trình từ khi lập nước đến khi xây dựng Bộ luật này, nhưng qua quá trình áp dụng, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế về kỹ thuật lập pháp, chưa đồng bộ, chưa logic hoặc chưa phù hợp với quy định của các ngành luật khác có liên quan;… Mặt khác trong quá trình xây dựng thể chế chúng ta chưa coi trọng việc nghiên cứu khoa học và thiếu sự tổng kết điều tra thực tiễn. Nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn chưa được làm sáng tỏ, nên việc xây dựng các quy định không sát, không hợp lý, không sửa đổi kịp thời, tính dự báo không cao, một số vấn đề được hướng dẫn thì văn bản hướng dẫn đã quá lâu, nhiều vấn đề được hướng dẫn nhiều lần nhưng có vấn đề vướng mắc từ lâu nhưng lại chưa được hướng dẫn. Các văn bản hướng dẫn còn thiếu tập trung và đôi khi còn chưa thống nhất dẫn đến khi áp dụng các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng, không thống nhất quan điểm trong việc xác định hành vi có cấu thành tội phạm hay không; nếu có thì phạm tội theo điều khoản nào của Bộ luật Hình sự, trách nhiệm hình sự đối với mỗi bị cáo, mỗi người đồng phạm, người thực hành ra sao… một số quy định của Bộ luật Hình sự – đặc biệt là một số quy định tại phần chung về đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm – còn chưa đầy đủ, chặt chẽ và chính xác về nội dung, chưa phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm; còn nhiều quy định cần có sự hướng dẫn thống nhất và kịp thời của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa thể chế hoá được những quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tinh thần của nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, X, XI. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 với việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tính cách là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Theo đó, một mặt, BLHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tạo điều kiện thuận lợi để người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng. Cuối năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015 đã được ban hành thể hiện được các định hướng nêu trên, tuy nhiên, chế định đồng phạm về cơ bản không có sự sửa đổi đáng kể nào, chưa khắc phục được các bất cập của chế định đồng phạm và các hình thức đồng phạm mà chúng tôi đã đề cập.

Như vậy, chúng tôi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chế định đồng phạm, góp phần khắc phục những kẽ hở, lỗ hổng của chế định, loại trừ những quy định chưa rõ ràng, lạc hậu, không chính xác về khoa học, không phù hợp với thực tiễn, cũng như cập nhật những quan điểm, chính sách, đường lối mới trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Hoàn thiện PLHS về đồng phạm là cần thiết để khắc phục các hạn chế đã chỉ ra, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung và tội phạm do nhiều người cùng thực hiện, tội phạm thực hiện theo các hình thức đồng phạm nói riêng. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Về các quy định pháp luật về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, Về kết cấu điều luật: Điều 20 và Điều 53 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về trường hợp đồng phạm. Điều 20 Bộ luật Hình sự mô tả trường hợp đồng phạm nói chung và một trường hợp đồng phạm đặc biệt. Với cách quy định này, đồng phạm được xác định là hình thức phạm tội cố ý đặc biệt so với hình thức phạm tội cố ý thông thường chỉ do một người thực hiện.

Bên cạnh đó, với việc xác định và mô tả các tội danh trong BLHS, nhà làm luật chỉ mới tạo cơ sở pháp lý cho việc truy cứu TNHS đối với người có hành vi thực hiện tội phạm. Trong khi đó, cùng với hành vi thực hiên tội phạm, còn có các hành vi tham gia thực hiện tội phạm và cũng có tính nguy hiểm cho xã hội cần phải truy cứu TNHS. Đó là hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức thực hiện tội phạm cố ý. Người thực hiện hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức thực hiện tội phạm cố ý có thể thực hiện dưới hình thức đồng phạm hoặc phạm tội cố ý, thông thường chỉ do một người thực hiện. Để có cơ sở pháp lý cho việc truy cứu TNHS của người tham gia thực hiện tội phạm cố ý, cần có quy định tại Phần chung BLHS. Trong điều luật chung này, nhà làm luật cần mô tả hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tham gia thực hiện tội phạm để xác định đặc điểm của người thực hiện, từng loại người tham gia thực hiện tội phạm; quy định nguyên tắc xác định mức độ TNHS của từng loại người tham gia thực hiện tội phạm trong mối quan hệ với người thực hiện tội phạm. Điều 20 BLHS tuy có mô tả hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tham gia thực hiện tội phạm, nhưng điều luật này chỉ là cơ sở pháp lý cho việc truy cứu TNHS đối với các trường hợp thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm tại khoản 1, không quy định TNHS của những người tham gia thực hiện tội phạm trong trường hợp không có đồng phạm. Điều 20 BLHS không xác định rõ mức độ trách nhiệm của người tham gia thực hiện tội phạm so với người thực hiện tội phạm.

Do đó, cần sửa đổi, đưa nội dung xác định dấu hiệu của người thực hiện, những người tham gia thực hiện tội phạm và mức độ trách nhiệm của người tham gia thực hiện tội phạm trong mối quan hệ với người thực hành lên thành (điều) khoản đầu tiên. Tiếp đó là quy định hình thức phạm tội đồng phạm và trường hợp đặc biệt của hình thức phạm tội này là phạm tội có tổ chức, Khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Trong quy định này, thuật ngữ “trường hợp” được sử dụng có ngoại diên quá rộng, rất khó thống nhất áp dụng theo logic hình thức, thì việc đưa ra khái niệm là một thao tác logic nhằm vạch ra nội hàm của khái niệm đó và phương pháp phổ biến là phương pháp định nghĩa theo quan hệ giống – loài, tức là quy khái niệm đồng phạm vào khái niệm khác có ngoại diện rộng hơn bao hàm cả ngoại diện đồng phạm. khái niệm có ngoại diện rộng hơn chính là hình thức phạm tội, bởi lẽ hình thức phạm tội có thể do một người thực hiện, có thể do nhiều người thực hiện nhưng không có đồng phạm hoặc có thể do hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm (đồng phạm). Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Thứ hai, về nội dung điều luật: Định nghĩa đồng phạm tại Điều 20 BLHS không những không chính xác về mặt khoa học, mà còn không phù hợp với thực tiễn. Định nghĩa này mới chỉ đề cập được một trường hợp đồng phạm giản đơn, chỉ có người thực hành bởi vì sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện tội phạm” mà không đề cập đến trường hợp đồng phạm phức tạp còn có những loại người tổ chức, xúi giục, giúp sức – vì thực chất ba loại người đồng phạm này không trực tiếp thực hiện tội phạm mà chỉ “cùng tham gia” vào việc thực hiện tội phạm.

Vì vậy, nên sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 Bộ luật hình sự theo hướng: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm…”., Khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự quy định: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Quy định trên chưa tuân thủ đầy đủ quy tắc của logic hình thức. Khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1985 cũng như khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm…, trong khi đó khoa học luật hình sự nước ta thừa nhận đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt [42]. Mâu thuẫn logic dễ dàng nhận thấy: đồng phạm là hình thức phạm tội; phạm tội có tổ chức… là hình thức đồng phạm.

Thuật ngữ “câu kết” không chính xác bằng “cấu kết” là thuật ngữ mà các văn bản pháp luật hình sự của ta đã sử dụng nhất là trong các Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sau năm 1945. Mặt khác, thuật ngữ cấu kết trong Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh được giải thích là kết lại, xây dựng [1], cho nên dùng thuật ngữ cấu kết chính xác hơn. Cụm từ câu kết chặt chẽ mang tính chất định tính, có thể dẫn đến các cách hiểu khác nhau. Do đó, trong văn bản hướng dẫn, giải thích Bộ luật hình sự cần phải lượng hóa đặc điểm này để bảo đảm áp dụng thống nhất. Từ sự phân tích ở trên cũng như qua nghiên cứu thực tiễn xét xử, có thể sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 20 theo hướng diễn đạt rõ là “đồng phạm có tổ chức” thay vì “phạm tội có tổ chức”, coi đây là một trường hợp đặc biệt của hình thức phạm tội là đồng phạm và nội hàm của khái niệm “đồng phạm có tổ chức” được hiểu như sau: “Đồng phạm có tổ chức là hình thức phạm tội có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm…”., Về thuật ngữ luật hình sự trong chế định TNHS trong đồng phạm:

Thuật ngữ “người thực hành” cần được sửa đổi thành “người thực hiện”. Bởi vì, thực hành có thể được hiểu theo hai nghĩa: Áp dụng lý thuyết vào thực tế và nghĩa vụ thực hiện. Thuật ngữ “người thực hành” theo BLHS được hiểu theo nghĩa “người thực hiện”. Do đó, việc sửa đổi thuật ngữ “người thực hành” thành “người thực hiện” làm cho thuật ngữ rõ ràng hơn, Về nội dung điều luật quy định định nghĩa người đồng phạm: Còn quá đơn giản và chưa đầy đủ, cần bổ sung thêm, cụ thể như sau:

Dạng người thực hiện tội phạm thông qua người khác mà người này không phải chịu TNHS đã có trong lý luận khoa học và thực tiễn, trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới, nhưng chưa chính thức được ghi nhận trong định nghĩa về người thực hành. Trong BLHS cũng chưa ghi nhận thuật ngữ “người đồng thực hiện” trong khi đó đây là loại người đồng phạm xảy ra tương đối phổ biến trong thực tiễn. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Định nghĩa người tổ chức (Điều 20) liệt kê các dạng người tổ chức, nhưng tên gọi trừu tượng và cũng không được định nghĩa chính thức trong BLHS – chủ mưu, cầm đầu, chỉ Nhà làm luật đã sử dụng những thuật ngữ không rõ để định nghĩa cho thuật ngữ chưa biết.

Định nghĩa người xúi giục (Điều 20) liệt kê một số thủ đoạn của người xúi giục có thể thực hiện: Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy. Việc liệt kê như vậy chưa khái quát được các dấu hiệu cơ bản của người xúi giục mà chỉ phản ánh được một số biểu hiện cụ thể.

Về TNHS của các loại người tham gia thực hiện tội phạm thì hiện chưa có quy định về mức độ TNHS của từng loại người đồng phạm. Theo chúng tôi, cần khẳng định người xúi giục phải chịu TNHS như người thực hiện tội phạm; người giúp sức được giảm nhẹ TNHS hơn người thực hiện tội phạm; người tổ chức chịu trách nhiệm cao hơn người thực hiện tội phạm, Về việc quy định về tổ chức tội phạm cũng như trách nhiệm của người thành lập và tham gia tổ chức tội phạm, hiện nay mới chỉ có quy định tại Điều 3. Nguyên tắc xử lý BLHS năm 2015 về nguyên tắc xử lý, theo đó “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” và “Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Trong khi đó, ở Việt Nam, thực tiễn đấu tranh chống tội phạm nói chung và đặc biệt tội phạm do các băng, nhóm tội phạm gây ra ngày càng tăng. Bên cạnh đó, với trách nhiệm của quốc gia thành viên Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Việt Nam không thể đi ngược với xu hướng chung của thế giới là tăng cường đấu tranh chống tội phạm có tổ chức bằng việc đưa vào BLHS quy định tổ chức tội phạm trong Phần chung, bổ sung tội danh thành lập và tham gia tổ chức tội phạm trong Phần các tội phạm. Theo đó, người thành lập, người tham gia tổ chức tội phạm phải chịu TNHS về hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức tội phạm được quy định trong Phần các tội phạm của BLHS. Ngoài ra, người thành lập, tham gia tổ chức tội phạm còn phải chịu TNHS về tội phạm cụ thể do tổ chức tội phạm thực hiện. Theo chúng tôi, cần đưa vào Bộ luật hình sự vấn đề tổ chức tội phạm, đó là “nhóm gồm từ ba người trở lên có sự liên kết, phân cấp tương đối chặt chẽ, ổn định, lâu dài giữa các thành viên nhằm mục đích thực hiện các tội phạm”. Luật cũng nên quy định người thành lập, người tham gia tổ chức tội phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức tội phạm theo quy định tại Phần các tội phạm của Bộ luật này. Ngoài ra, người thành lập còn phải chịu trách nhiệm hình sự là người tổ chức về các tội phạm cụ thể mà tổ chức tội phạm thực hiện. Người tham gia còn phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm cụ thể mà tổ chức tội phạm đã thực hiện và họ cũng là người thực hiện hoặc tham gia thực hiện.

Ngoài ra cần có điều luật quy định về tự ý nửa chứng chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong đồng phạm. Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đến cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hiện tội phạm thực hiện đến giai đoạn nào, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn đó, Cần có quy định về chủ thể đặc biệt trong đồng phạm. Đối với các tội phạm đòi hỏi chủ thể đặc biệt thì chỉ riêng đối với người thực hiện phải có những đặc điểm của chủ thể đó còn những người đồng phạm khác không cần phải có đặc điểm của chủ thể đặc biệt.

2.3.2. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm về các hình thức đồng phạm Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

  • Về áp dụng pháp luật

Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về đồng phạm tạo cơ sở pháp lý và là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định chính xác vai trò trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án hình sự. Tuy nhiên xác định có chính xác hay không còn phụ thuộc vào quá trình vận dụng các quy định pháp luật để giải quyết từng vụ án cụ thể. Như đã trình bày ở trên, thực tế, hoạt động áp dụng pháp luật không phải lúc nào cũng luôn đúng đắn. Để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp khắc phục như:

Khi áp dụng pháp luật phải hiểu một cách đầy đủ, chính xác các khái niệm và nội dung quy định của pháp luật về đồng phạm. Nhìn nhận quy định về hình thức đồng phạm trong mối quan hệ tổng thể với những quy định về đồng phạm. Có sự so sánh đối chiếu giữa các trường hợp, lật đi lật lại một vấn đề để hiểu được bản chất của từng loại người và xác định được dấu hiệu quan trọng cho việc phân biệt người thực hành liên quan với những người đồng phạm khác.

Khi áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án hình sự không chỉ áp dụng hai ngành luật là hình sự và tố tụng hình sự, mà cần có sự bao quát và áp dụng cả các quy định của những ngành luật khác có liên quan.

Trong từng vụ án cụ thể cần xác định những hành vi, hậu quả cụ thể của mỗi tội phạm, mỗi bị cáo của vụ án hình sự để đưa ra giải quyết. Tránh tình trạng xác định nhầm, giải quyết không hết hoặc giải quyết vượt quá hành vi, hậu quả phạm tội của mỗi bị cáo.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bên cạnh việc xác định có hành vi phạm tội hay không, vấn đề trách nhiệm hình sự là trọng tâm, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần coi trọng cả việc xác định rõ vai trò, mức hình phạt của bị cáo trong vụ án vụ án hình sự. Trên thực tế có vụ án hình sự bị hủy do việc đánh giá vai trò, quyết định hình phạt không phù hợp.

Vụ án nào có khó khăn hoặc bất đồng quan điểm về tội danh, vai trò, trách nhiệm của người thực hành nên nghiên cứu kỹ hồ sơ; tìm hiểu tài liệu và các quy định của pháp luật về những vấn đề chưa rõ. Nếu không chắc chắn hay khó xác định có thể đưa ra trao đổi với đồng nghiệp để cùng bàn bạc thảo luận xem ý kiến nào là hợp lý nhất, từ đó rút ra được cách giải quyết đúng đắn.

Đẩy mạnh công tác xây dựng án lệ để có đánh giá đúng, thống nhất về các vụ án hình sự nói chung và các vấn đề liên quan đến đồng phạm nói riêng. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Làm tốt hơn nữa công tác tổng kết thực tiễn giải quyết các vụ án và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án có người thực hành trong đồng phạm. Đặc biệt là đối với ngành Tòa án, việc đúc rút những vướng mắc, kinh nghiệm từ công tác xét xử là rất cần thiết.

  • Về công tác cán bộ

Để áp dụng đúng các quy định của pháp luật; giải quyết vụ án hình sự một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan, toàn diện, ngoài việc phải hoàn thiện pháp luật, chúng ta cần quan tâm đến công tác cán bộ với những nội dung sau:

Làm tốt công tác tổ chức cán bộ, đảm bảo đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực sở trường. Từng bước tuyển dụng đủ cán bộ và làm tốt khâu tuyển chọn theo hướng lựa chọn những người có đủ tiêu chuẩn theo quy định và có năng lực. Đặc biệt là trong ngành Tòa án, cần tiếp tục đổi mới cơ chế tuyển chọn, đổi mới quy trình bổ nhiệm, tái nhiệm Thẩm phán theo hướng nhanh gọn, hiệu quả để ngành Toà án luôn được đáp ứng đủ số lượng Thẩm phán phục vụ công tác chuyên môn. Thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động, biệt phái cán bộ trong cả ba ngành Điều tra, Kiểm sát và Tòa án để tăng cường cho các đơn vị có nhiều án nhưng chưa đủ cán bộ theo yêu cầu của công việc.

Tăng cường việc đào tạo, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho Thẩm phán, cán bộ. Tổ chức thực hiện tốt việc tập huấn chuyên môn nghiệp vụ theo hướng có chất lượng, hiệu quả. Tạo điều kiện thuận lợi và động viên, khuyến khích cán bộ, công chức tự học tập nâng cao năng lực trình độ; mở rộng quan hệ quốc tế để cử người đi học tập, nâng cao kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án hình sự đang ngày càng phức tạp trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay. Đồng thời quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người cán bộ đảm bảo mọi cán bộ đều có tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.

Tăng cường công tác quản lý cán bộ, thanh tra, kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời đối với các tập thể và cá nhân cán bộ, công chức có vi phạm, đặc biệt là xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng nghề nghiệp, chức vụ, quyền hạn làm trái với các quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng và thiệt hại đến quyền lợi của những người tham gia tố tụng.

Tóm lại, việc hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung và pháp luật hình sự quy định về đồng phạm nói riêng là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay. Đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực thi pháp luật hình sự ngày càng hoàn thiện, thống nhất. Có như vậy, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành pháp nói chung và các cơ quan xét xử nói riêng mới ngày càng được củng cố, đảm bảo cao nhất pháp chế và đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa trong việc duy trì, bảo vệ trật tự an ninh xã hội của đất nước.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Vấn đề nổi cộm khi nghiên cứu việc áp dụng các quy định của BLHS về đồng phạm trong thực tiễn xét xử chính là chưa có nhận thức thống nhất về những dấu hiệu khách quan và chủ quan của đồng phạm, dẫn tới xác định lẫn lộn giữa có hay không có đồng phạm; tuyệt đối hóa tính nguy hiểm của phạm tội dưới hình thức đồng phạm so với phạm tội đơn lẻ; nhầm lẫn giữa thuật ngữ đồng phạm với tòng phạm và tùng phạm trước đây, coi người đồng phạm chỉ là kẻ a dua, a tòng, giữ vai trò phụ trong vụ án; việc áp dụng tình tiết “câu kết chặt chẽ” trong phạm tội có tổ chức chưa thống nhất dẫn tới xét xử không công bằng… Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên, trong đó nguyên nhân thiếu các quy định về đồng phạm, các văn bản hướng dẫn, giải thích pháp luật không kịp thời là những nguyên nhân cơ bản cần tập trung khắc phục.

Đồng phạm là chế định lớn, cơ bản trong Luật hình sự Việt Nam. Để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS 1999 về đồng phạm trước tiên phải phấn đấu xây dựng được một hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự về đồng phạm hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu của khoa học pháp lý và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm. Cần kịp thời có văn bản hướng dẫn, giải thích pháp luật của cơ quan có thẩm quyền để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra.

KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Đồng phạm là chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý để đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm. Trong các hình thức đồng phạm thì phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có thủ đoạn cũng như hành vi phạm tội tinh vi và phức tạp nhất, có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao. Do vậy, việc nghiên cứu về mặt lý luận để ban hành những văn bản quy định liên quan đến chế định đồng phạm là rất quan trọng.

Lịch sử lập pháp của Việt Nam từ xưa tới nay, vấn đề đồng phạm và đã được đề cập, nghiên cứu ở nhiều công trình, tác phẩm với những khía cạnh khác nhau. Các công trình, tác phẩm này đều hướng tới mục tiêu chung nhất là ngày càng hoàn thiện lý luận về mặt khoa học đối với các vấn đề liên quan đến đồng phạm để từ đó có được các quy phạm pháp luật xử lý một cách chính xác, đúng đắn nhất hành vi của những người đồng phạm. Để đạt được mục đích như vậy, Luật hình sự Việt Nam đã trải qua một quá trình dài kế thừa, phát triển, phát huy những kiến thức khoa học của nhiều thế hệ; học hỏi, tiếp thu những kiến thức về khoa học Luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên, các hình thức đồng phạm là rất đa dạng, phong phú, phức tạp. Điều đó đòi hỏi các nhà lý luận và hoạt động thực tiễn phải luôn tìm tòi, nghiên cứu để bao quát cũng như dự báo được những thiên hướng tội phạm được thực hiện bởi đồng phạm; lý giải và đưa ra được những giải pháp xử lý hành vi phạm tội ngày càng phức tạp, tinh vi và bền chặt của những người đồng phạm trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Trong nhiều năm gần đây, các vụ án có đồng phạm và đặc biệt các vụ án có đồng phạm có tổ chức hay tổ chức tội phạm lớn xuyên quốc gia đã xuất hiện và ngày càng đã tăng lên đáng kể với mức độ nguy hiểm về tính chất tội phạm và mức độ phức tạp về hành vi ngày càng cao, gây nên những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đời sống xã hội. Các quy định của pháp luật cũng như lý luận đối với một số vấn đề liên quan đến đồng phạm theo Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bộc lộ quá nhiều bất cập khi áp dụng cụ thể vào việc xét xử đối với những hành vi cụ thể của đồng phạm.

Vì vậy nghiên cứu, hoàn thiện những vấn đề liên quan đến đồng phạm là công việc rất cần thiết, góp phần to lớn vào việc hoàn thiện pháp luật nói chung đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp cũng như phục vụ tốt nhất cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tương lai. Luận văn: Pháp luật về các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang.

Với mong muốn góp phần của mình vào việc hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với chế định đồng phạm, tác giả hy vọng những kiến nghị, giải pháp được nêu tại luận văn này sẽ được các nhà nghiên cứu, các học giả tham khảo, xem xét trong tiến trình hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung và pháp luật liên quan đến chế định đồng phạm nói riêng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464