Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại Việt Nam

Tình hình, kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2008 đến năm 2011, các CQHCNN đã tiếp nhận, xử lý 583.673 đơn khiếu nại, với 433.304 vụ việc, và đã thụ lý 290.565 vụ việc thuộc thẩm quyền, kết quả là đã giải quyết được 257.419 vụ việc khiếu nại trong tổng số 290.565 vụ việc đã thụ lý (đạt 88,14% vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền). Trong đó, năm 2009 các CQHCNN đã thụ lý 65.981 vụ việc khiếu nại, đã giải quyết được 55.403 vụ, đạt 83,97%. Năm 2010, các CQHCNN đã nhận 65.100 đơn khiếu nại, đã thụ lý 55.440 vụ khiếu nại và đã giải quyết 45.072 vụ (đạt tỷ lệ 81,3%). Năm 2011, các CQHCNN đã tiếp nhận, xử lý 105.033 đơn thư khiếu nại, đã thụ lý 69.064 vụ khiếu nại thuộc thẩm quyền, và đã giải quyết 52.338 vụ (đạt tỷ lệ 75,8%).

Trong nhiệm kỳ 5 năm từ năm 2011 đến năm 2016, hệ thống các CQHCNN đã tiếp nhận 688.425 đơn khiếu nại, tố cáo, và đã giải quyết 218.313 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền (đạt 86% tổng số vụ việc thuộc thẩm quyền). Trong đó, trong năm 2012, các CQHCNN đã tiếp nhận 86,800 đơn khiếu nại, đã thụ lý 45.500 vụ khiếu nại và đã giải quyết được 37.800 vụ (đạt tỷ lệ 83,1%). Năm 2015, các CQHCNN đã nhận 41.782 đơn khiếu nại, tố cáo; giải quyết 26.870 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền (đạt tỷ lệ 84%).

Qua những số liệu trên có thể thấy rằng số lượng vụ việc khiếu nại mà các CQHCNN đã thụ lý và giải quyết hàng năm là rất lớn, trung bình mỗi năm giải quyết khoảng 55.000 vụ. Điều đó chứng tỏ rằng việc KN và GQKN được sự quan tâm rất lớn từ cá nhân, cơ quan, tổ chức trong đời sống xã hội và cũng cho thấy rằng trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý đã ban hành rất nhiều QĐHC, HVHC trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Trong những vụ việc khiếu nại theo pháp luật khiếu nại đã được thụ lý, giải quyết thì các khiếu nại có đối tượng khiếu nại là QĐHC chiếm tỉ lệ cao nhất, khiếu nại về HVHC chiếm tỉ lệ ít hơn, còn khiếu nại về quyết định kỷ luật cán bộ, công chức chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ. Trên thực tế, các khiếu nại liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm phần lớn các khiếu nại được thụ lý, giải quyết trên phạm vi cả nước. Theo thống kê sơ bộ, trong tổng số các vụ việc khiếu nại được thụ lý, giải quyết hàng năm, các vụ khiếu nại liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm khoảng 70%; trong đó, người dân chủ yếu khiếu nại đến quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư (chiếm khoảng 70% các vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai); các quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất (chiếm khoảng 20%); cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chiếm khoảng 10%.

Nguyên nhân của thực trạng các khiếu nại về QĐHC chiếm phần lớn các vụ khiếu nại được thụ lý, giải quyết là bởi vì trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước chủ yếu ban hành các QĐHC để thực hiện hoạt động quản lý hành chính. Hơn nữa, pháp luật khiếu nại đã có những quy định hợp lý về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại để tạo điều kiện cho công tác khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân cũng như hiệu quả trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Dựa theo các báo cáo về công tác KN và GQKN của Thanh tra Chính phủ, các báo cáo hội nghị tổng kết công tác KN và GQKN của các CQHCNN, việc thực hiện các quy định của pháp luật khiếu nại về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại trong thực tiễn được thể hiện qua những thực trạng như sau:

Một là, việc pháp luật khiếu nại quy định QĐHC phải được thể hiện bằng hình thức văn bản đã giúp người khiếu nại dễ dàng hơn trong việc xác định một QĐHC có phải là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại cũng như giúp người khiếu nại bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình KN và GQKN. Khi được thể hiện bằng hình thức văn bản thì QĐHC có đủ khả năng thể hiện những nội dung trong QĐHC đó rõ ràng, cụ thể, có tính chính xác và ổn định cao và dễ dàng trong việc lưu trữ những thông tin, nội dung trong QĐHC đó và giúp cho người khiếu nại có bằng chứng cụ thể, rõ ràng cho việc khiếu nại của mình. Chính vì vậy mà trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý chủ yếu ban hành các QĐHC được thể hiện trong các văn bản giấy, điều này đã dẫn đến thực tế là người dân chủ yếu khiếu nại các QĐHC được thể hiện trong các văn bản giấy đó, rất ít các trường hợp khiếu nại các QĐHC tồn tại trong các dạng khác của văn bản. Bên cạnh đó, thực tế cho thấy, không chỉ các văn bản hành chính có tên gọi là “quyết định” mới được xác định là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại, mà các văn bản hành chính khác có tên gọi là công văn, thông báo, hướng dẫn,… vẫn được hầu hết địa phương xác định là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại và thụ lý giải quyết các khiếu nại này.

Hai là, với sự đa dạng các chủ thể ban hành QĐHC đã tạo ra nhiều ảnh hưởng đến việc khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong đời sống xã hội. Theo quy định của pháp luật khiếu nại, chủ thể ban hành QĐHC là các CQHCNN và người có thẩm quyền trong các CQHCNN, và với số lượng lớn chủ thể ban hành QĐHC như vậy đã dẫn đến thực trạng người dân rất khó xác định đâu là QĐHC do CQHCNN ban hành, đâu là quyết định do người có thẩm quyền trong CQHCNN ban hành để khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Hiện nay, các QĐHC do UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện và các cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện ban hành bị khiếu nại nhiều nhất, đó là những QĐHC liên quan đến lĩnh vực đất đai như quyết định thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất, bồi thường, giải phòng mặt bằng, hay liên quan đến các lĩnh vực khác như thuế, quản lý thị trường,… Nguyên nhân của thực tế này là do các QĐHC của các chủ thể trên ban hành là những QĐHC tác động đến những tài sản lớn của cá nhân, cơ quan, tổ chức và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của họ. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Thực tế cũng cho thấy, do việc người dân không có sự hiểu biết về pháp luật khiếu nại nên đã khiếu nại các QĐHC không phải do cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước theo thủ tục được pháp luật khiếu nại quy định. Khi nhận được những khiếu nại như vậy, hầu hết người tiếp nhận khiếu nại đã có sự hướng dẫn người dân khiếu nại đến chủ thể có thẩm quyền hoặc chuyển đơn khiếu nại, kiến nghị đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đó. Điều này cũng đã góp phần giúp đỡ người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ba là, pháp luật khiếu nại chỉ quy định QĐHC mang tính cá biệt mới là đối tượng khiếu nại, nhưng trên thực tế, người dân không những khiếu nại các quyết định hành chính mang tính cá biệt mà còn khiếu nại các QĐHC tổng thể, QĐHC quy phạm như quyết định về khung giá đất, giá đất bồi thường thu hồi đất,… Và khi nhận được khiếu nại của người dân liên quan đến QĐHC tổng thể hay QĐHC quy phạm, đa số người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đều không thụ lý khiếu nại đó, nhưng ở một số địa phương, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vẫn thụ lý và giải quyết khiếu nại đó của người dân. Điều đó cho thấy là cả người dân và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chưa hiểu biết rõ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật khiếu nại.

Bốn là, pháp luật khiếu nại quy định những QĐHC trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và QĐHC tính nội bộ cơ quan là những QĐHC không phải là đối tượng khiếu nại. Quy định này đã đảm bảo cho những bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và những những hoạt động mang tính nội bộ cơ quan hành chính nhà nước được bảo vệ, không bị xâm phạm bởi những cá nhân, cơ quan, tổ chức không có thẩm quyền trong xã hội. Tuy nhiên, do người dân chưa hiểu biết rõ những quy định của pháp luật khiếu nại về vấn đề này nên vẫn còn tình trạng khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, người dân đã đi khiếu nại những QĐHC trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và QĐHC mang tính nội bộ cơ quan và khi tiếp nhận đơn khiếu nại của người dân thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đều không thụ lý, trả lại đơn khiếu nại cho người dân.

Qua thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật khiếu nại, việc thụ lý, giải quyết khiếu nại và xác định đối tượng khiếu nại là QĐHC còn có những bất cập, vướng mắc chưa được tháo gỡ dẫn đến hoạt động KN và GQKN gặp rất nhiều cản trở, khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Những bất cập, vướng mắc này liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó vấn đề chủ yếu là do những quy định của pháp luật khiếu nại còn có rất nhiều bất cập liên quan đến quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại. Những bất cập trong quy định của pháp luật thể hiện qua những điểm sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Thứ nhất, pháp luật khiếu nại không quy định rõ tên gọi của các quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại

Như đã phân tích ở Mục 1.4 Chương một khóa luận này, quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại phải được thể hiện bằng văn bản, vì khi QĐHC được thể hiện dưới hình thức văn bản mới có đủ khả năng thể hiện một các rõ ràng, cụ thể, có tính chính xác và ổn định cao, dễ hiểu, dễ áp dụng và dễ lưu trữ những thông tin, nội dung trong QĐHC đó để làm bằng chứng cho việc KN và GQKN. Tuy nhiên, pháp luật khiếu nại hiện hành không có quy định chi tiết về tên gọi của QĐHC. Khi nhắc đến QĐHC thì hầu hết mọi người đều nghĩ QĐHC có tên gọi là “quyết định”, nhưng theo quy định của pháp luật khiếu nại thì “quyết định hành chính là văn bản”. Theo quy định tại Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn thể thức và trình bày văn bản hành chính thì trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước các chủ thể quản lý hành chính nhà nước được phép ban hành các quyết định hành chính có các tên gọi khác nhau như nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông báo, công văn, tờ trình,…. Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tuy pháp luật quy định mỗi loại QĐHC có tên gọi khác nhau như quyết định, thông báo, công văn,… sẽ có một chức năng khác nhau, nhưng trên thực tế, các chủ thể quản lý hành chính lại ban hành QĐHC có tên gọi này nhưng nội dung văn bản lại có chức năng khác với tên gọi.

Bên cạnh đó, pháp luật khiếu nại hiện hành cũng không đưa ra khái niệm thế nào là “văn bản” và cũng không có sự giải thích các dạng tồn tại cụ thể của văn bản, điều này đã gây khó khăn cho chủ thể khiếu nại và chủ thể giải quyết khiếu nại xác định đâu là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại. Bởi vì trên thực tế, văn bản không chỉ đơn thuần được thể hiện trên giấy tờ, mà văn bản còn được thể hiện ở rất nhiều dạng khác nhau như trên các bản giấy, các tệp tin điện tử, fax,… Việc quy định thiếu chi tiết như thế của pháp luật khiếu nại đã gây nhiều khó khăn cho người dân đi khiếu nại cũng như gây khó khăn cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong việc xác định đâu là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại khi mà một QĐHC không được ban hành dưới dạng bản giấy tờ như thông thường mà được ban hành dưới dạng một tệp tin điện tử. Khi gặp trường hợp như thế này, các chủ thể đều tỏ ra lúng túng, có người cho rằng đó không phải là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại vì nó không được ban hành bằng văn bản giấy tờ như thông thường mà nó chỉ là một tệp tin điện tử mà thôi; cũng có người cho rằng dạng tệp tin điện tử đó cũng chính là một QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại vì nó cũng là văn bản do CQHCNN hoặc người có thẩm quyền trong CQHCNN ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể, dù nó được ban hành dưới dạng tệp tin điện tử nhưng vẫn có giá trị pháp lý giống như được ban hành dưới dạng giấy tờ thông thường. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Việc pháp luật không có quy định về dạng tồn tại của văn bản cũng như việc pháp luật khiếu nại không quy định cụ thể tên gọi của QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại như vậy khiến cho người khiếu nại và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại rất khó khăn trong việc xác định một văn bản hành chính có phải là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại hay không. Có quan điểm cho rằng, chỉ những quyết định hành chính có tên là “quyết định” mới là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Theo quan điểm này, vì pháp luật định nghĩa QĐHC là “để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể” cho nên QĐHC phải có tên là “quyết định”. Cũng có quan điểm cho rằng, QĐHC theo quy định của pháp luật khiếu nại không chỉ được ban hành có tên là “quyết định” mà nó có nhiều tên gọi khác như thông báo, công văn, chỉ thị,… vì quan điểm này cho rằng pháp luật khiếu nại chỉ quy định QĐHC là “văn bản” được ban hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước mà thôi, nó không nhất thiết phải có tên là “quyết định” mà nó có thể có các tên gọi khác sao cho phù hợp với nội dung trong văn bản đó. Chính vì sự không có quy định, hướng dẫn chi tiết như vậy của pháp luật khiếu nại và có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định về QĐHC như vậy dẫn đến tình trạng là có những QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại nhưng không thụ lý giải quyết vì chủ thể thụ lý đơn khiếu nại cho rằng văn bản đó không có tên là “quyết định” nên không phải là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại, hoặc tình trạng một văn bản hành chính không phải là đối tượng khiếu nại nhưng vẫn được thụ lý giải quyết vì chủ thể thụ lý giải quyết cho rằng đó là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, hay là tình trạng cùng một QĐHC bằng văn bản có tên gọi và nội dung tương tự nhau, nhưng địa phương này lại thụ lý giải quyết vì cho rằng nó là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại còn địa phương khác lại cho rằng nó không phải là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại.

Ví dụ: Vụ bà Trương Thị Ngoan khiếu nại thông báo của Sở xây dựng Cao Bằng. Ngày 24/06/2015 bà Trương Thị Ngoan trú tại Tổ 13A, phường Bình Minh, Thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai gửi đơn khiếu nại đến Giám đốc Sở Xây dựng Lào Cai khiếu nại Thông báo số 159/TB-SXD ngày 05/06/2015 của Sở xây dựng Lào Cai (Thông báo 159) vì bà cho rằng thông báo này không đúng sự thật và không khách quan trong việc giải quyết đề nghị của bà (theo chỉ đạo của Thường trực UBND tỉnh tại Thông báo số 45/TB-VPUBND ngày 09/02/2015 của Văn phòng UBND tỉnh). Sau khi nhận đơn khiếu nại của bà Ngoan, Sở Xây dựng Lào Cai đã thụ lý đơn khiếu nại của bà, ngày 14/08/2015 Giám đốc Sở Xây dựng Lào Cai đã ban hành Quyết định số 264/QĐ-SXD ngày 14/08/2015 về giải quyết khiếu nại của bà Trương Thị Ngoan (Quyết định 264), trong thông báo có nội dung “…giữ nguyên Thông báo số 159/TB-SXD ngày 05/06/2015 của Sở Xây dựng Lào Cai về việc kết luận đối thoại với bà Trương Thị Ngoan, trú tại Tổ 13A, phường Bình Minh, Tp. Lào Cai, tỉnh Lào Cai”. Sau khi nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Xây dựng Lào cai, ngày 14/08/2015 bà Ngoan đã làm đơn khiếu nại lần hai gửi đến UBND tỉnh Lào Cai khiếu nại Quyết định 264. UBND tỉnh Lào Cai đã thụ lý đơn khiếu nại lần hai của bà Ngoan, sau quá trình xử lý, giải quyết đơn của bà, ngày 10/11/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 4073/QĐ-UBND ngày 10/11/2015 về giải quyết khiếu nại của bà Trương Thị Ngoan (Quyết định 4073). Theo Quyết định 4073, UBND tỉnh Lào Cai đã công nhận khiếu nại của bà Ngoan đối với Quyết định 264 và yêu cầu Giám đốc Sở xây dựng Lào Cai huỷ bỏ Quyết định 264. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Qua vụ việc trên cho ta thấy, tuy Thông báo 159 không mang tên gọi là “quyết định” nhưng Sở Xây dựng Lào Cai và UBND tỉnh Lào Cai coi thông báo này như là một QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Thông báo 159 chính là một QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, thông báo này đã thoả mãn các đặc điểm về QĐHC theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật khiếu nại, đó là: Thông báo 159 là văn bản do Giám đốc Sở Xây dựng ban hành để quyết định vấn đề kiến nghị của bà Ngoan và thông báo này áp dụng cho một đối tượng cụ thể đó chính là bà Ngoan. Vì Thông báo 159 là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại và thông báo này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên bà Ngoan đã khiếu nại Thông báo 264, khi nhận đơn khiếu nại của bà, Sở Xây dựng Lào Cai đã thụ lý giải quyết và sau đó ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (Quyết định 264). Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, bà Ngoan đã khiếu nại lần hai quyết định giải quyết khiếu nại đó và đã được UBND tỉnh Lào Cai thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật. Từ đó cho ta thấy, Thông báo 159 được các chủ thể trên xem đó là một quyết định hành chính thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại.

Một vụ việc khác liên quan đến vấn đề này là vụ việc “Khiếu nại thông báo của Ủy ban nhân dân huyện”30. Trước đây ngõ đi nhà anh Phó Đình Hùng đi một mình và ngõ này không tách rời mảnh đất nhà anh đang ở, nhưng sau đó anh cho một hàng xóm đi nhờ và hiện nay chính quyền xã vẽ thành đường công. Anh Hùng làm đơn khiếu nại đến UBND xã, UBND huyện đề nghị giải quyết. UBND huyện có thông báo là khiếu nại của anh không có cơ sở vì anh Hùng không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai. Anh Hùng đã khiếu nại thông báo đó nhưng Phòng Thanh tra cho rằng đơn anh gửi không phải là đơn khiếu nại. Câu hỏi đặt ra là việc trả lời như vậy của Phòng thanh tra có đúng theo quy định của pháp luật hay không.

Xung quanh vụ việc này đã có nhiều quan điểm khác nhau về việc thông báo của UBND huyện nêu trên có phải là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại hay không. Có quan điểm cho rằng, thông báo của UBND huyện không phải là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, cụ thể: “Theo khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đối chiếu với trường hợp của này, UBND huyện có thông báo cho rằng đơn yêu cầu của ông là không có cơ sở giải quyết chứ không phải là UBND huyện ra “quyết định” về việc giải quyết vấn đề đó. Thông báo này của UBND huyện không được coi là “quyết định hành chính” nên ông không thể khiếu nại thông báo đó”31. Theo quan điểm này, quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại phải có tên là “quyết định”, quan điểm này căn cứ vào khái niệm về QĐHC là dùng để “quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”, theo đó, quyết định hành chính phải có tên là “quyết định” thì mới dùng để quyết định vấn đề cụ thể được, còn những văn bản không có tên là “quyết định” mà có tên gọi khác như “thông báo, công văn, nghị quyết,…” không phải là QĐHC. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Quan điểm khác lại cho rằng, thông báo của UBND huyện nêu trên chính là một QĐHC. Theo quan điểm này, vì Luật khiếu nại chỉ định nghĩa “quyết định hành chính là văn bản…” nên một văn bản hành chính có đủ các đặc điểm của quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại thì nó chính là một QĐHC, không bắt buộc văn bản đó có tên gọi là “quyết định” mà nó có thể có nhiều tên gọi khác nhau. Hơn nữa, quan điểm này cho rằng, nếu QĐHC phải có tên gọi là “quyết định” thì Luật khiếu nại đã đưa ra khái niệm QĐHC giống như khái niệm về quyết định kỷ luật cán bộ công chức tại khoản 10 Điều 2 Luật khiếu nại, đó là: “Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản”, trong khi nêu khái niệm QĐHC thì Luật khiếu nại chỉ đưa ra QĐHC là “văn bản” mà thôi. Cho nên, dù văn bản đó của UBND huyện nói trên có tên là “thông báo” nhưng nó đã thoả mãn hết những điều kiện của một QĐHC như được UBND huyện (cơ quan hành chính nhà nước) ban hành dưới dạng văn bản và nó dùng để quyết định việc trả lời đề nghị (vấn đề cụ thể) của người đề nghị (đối tượng cụ thể).

Do pháp luật khiếu nại chưa có quy định chi tiết về thể thức cũng như tên gọi của QĐHC nên trường hợp trên khó có thể xác định được thông báo của UBND huyện nêu trên có phải là một QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại hay không. Theo như khái niệm và các đặc điểm của quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại đã được phân tích trong Mục 1.4 Chương một của khóa luận này thì chúng tôi cho rằng thông báo của UBND huyện nói trên chính là một QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại vì thông báo đó đã có đầy đủ các dấu hiệu, đặc điểm của một quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại Việt Nam.

Thứ hai, việc quy định về chủ thể ban hành quyết định hành chính còn chưa được rõ ràng, đầy đủ

Theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật khiếu nại thì QĐHC chỉ được ban hành bởi CQHCNN và người có thẩm quyền trong CQHCNN, quy định này đã giới hạn chủ thể ban hành QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Theo quy định của pháp luật hành chính, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, có rất nhiều chủ thể được quyền ban hành các QĐHC, đó là các cơ quan nhà nước, các cơ quan, tổ chức khác được nhà nước trao quyền (tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước,…), các cá nhân có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó, và những cá nhân khác được nhà nước trao quyền. Các QĐHC do các chủ thể trên ban hành đều có khả năng xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và có thể phát sinh việc khiếu nại cần được giải quyết. Việc quy định giới hạn chủ thể ban hành quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại đã gây ra một số vướng mắc nhất định, cụ thể:

Một là, theo quy định của Điều 3 Luật khiếu nại, các cơ quan, tổ chức khác như đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước và các cơ quan khác của Nhà nước sẽ áp dụng những quy định của Luật khiếu nại để thực hiện hoạt động KN và GQKN trong những cơ quan, tổ chức này. Khi giải quyết khiếu nại trong các cơ quan, tổ chức trên, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ căn cứ vào quy định của Luật khiếu nại về đối tượng khiếu nại là QĐHC để xác định QĐHC do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức trên ban hành có phải là đối tượng khiếu nại hay không. Mà theo quy định của Luật khiếu nại thì quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại chỉ do CQHCNN và người có thẩm quyền trong CQHCNN ban hành nên QĐHC do cơ quan, tổ chức; cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan trên không phải là QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Nhưng khi một QĐHC của các cơ quan nói trên bị khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vẫn coi QĐHC đó là thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại và thụ lý giải quyết khiếu nại đó theo quy định của pháp luật khiếu nại. Từ đó dẫn đến vướng mắc là việc các QĐHC do các cơ quan, tổ chức kể trên ban hành ra có phải là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại hay không. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Hai là, theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính, người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu khi tàu bay, tàu biển, tàu hoả rời khỏi sân bay, bến cảng, nhà ga có quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Khi thực hiện thủ tục tạm giữ người theo thủ tục hành chính này thì các chủ thể nói trên phải ban hành quyết định bằng văn bản. Quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính đó chính là một QĐHC bằng văn bản do chủ thể có thẩm quyền ban hành để quyết định một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần cho một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quyết định này đã tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng nên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chủ thể bị áp dụng cần đi khiếu nại quyết định đó đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết. Nhưng theo quy định của pháp luật khiếu nại thì người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu không phải là những người có thẩm quyền trong các CQHCNN mà chỉ là những cá nhân được nhà nước trao quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, vì không phải là chủ thể ban hành quyết định hành chính thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại nên quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu không phải là quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Từ đó dẫn đến vướng mắc là khi bị áp dụng quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì chủ thể bị áp dụng có được quyền khiếu nại quyết định đó theo pháp luật khiếu nại hay không.

Ba là, theo quy định tại khoản 3 Điều 151 Luật đất đai năm 2013 thì Ban quản lý khi kinh tế có quyền ban hành các quyết định hành chính về việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, giao lại đất, cho thuê đất cho người có sử dụng đất trong khu chức năng của khu kinh tế. Và cũng theo quy định tại Điều 204 Luật đất đai năm 2013 “người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai ”35 và “trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại ”. Cho nên việc giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính của Ban quản lý khu kinh tế sẽ dựa vào quy định của pháp luật khiếu nại. Tuy nhiên, Ban quản lý khu kinh tế không phải là một cơ quan hành chính nhà nước mà nó chỉ là một cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh, nên QĐHC của Ban quản lý khu kinh tế không phải là một QĐHC được định nghĩa trong quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật khiếu nại. Từ đó dẫn đến vướng mắc là việc khiếu nại QĐHC của Ban quản lý khu kinh tế có được giải quyết theo quy định của pháp luật khiếu nại hay không. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Thứ ba, pháp luật khiếu nại chưa quy định rõ quyết định hành chính mang tính cá biệt

Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật khiếu nại nói riêng chưa có quy định giải thích thế nào là QĐHC mang tính cá biệt, việc giải thích QĐHC mang tính cá biệt mới chỉ được giải thích dưới góc độ lý luận trong các giáo trình, bài viết, công trình nghiên cứu pháp lý. Điều này dẫn đến việc rất khó xác định QĐHC do chủ thể có thẩm quyền ban hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước có phải là QĐHC mang tính cá biệt hay không, điều này dẫn đến tình trạng rất khó xác định QĐHC đó có phải là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại hay không, vì QĐHC thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại phải mang tính cá biệt. Tình trạng này sẽ dẫn đến việc người khiếu nại và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xác định sai đối tượng khiếu nại hoặc làm cho người khiếu nại mất quyền khiếu nại do người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại từ chối thụ lý đơn khiếu nại.

Ví dụ: để triển khai thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, UBND tỉnh HT đã ban hành Quyết định số 2701/QĐ-UBND ngày 13/4/2014 về giá bồi thường thu hồi đất và giải phóng mặt bằng (Quyết định 2701), quyết định này chỉ quy định áp dụng cho 30 hộ dân trên địa bàn xã XĐ, không có danh sách hay văn bản quy định chi tiết từng hộ được nhận tiền bồi thường. Trên cơ sở Quyết định 2701 của UBND tỉnh HT, UBND huyện NX đã ban hành các thông báo về nhận tiền đền bù và gửi đến từng hộ dân. Hộ gia đình anh H là người nhận được thông báo về nhận tiền bồi thường thu hồi đất (Thông báo 234), nhưng khi nhận được thông báo thì anh H thấy số tiền bồi thường không thoả đáng, anh chỉ nhận được 50% tiền bồi thường so với thiệt hại của anh. Vì cảm thấy việc bồi thường không thoả đáng nên anh H muốn khiếu nại việc này lên cơ quan có thẩm quyền để xem xét, nhưng câu hỏi đặt ra là anh H sẽ khiếu nại Quyết định 2701 của UBND tỉnh HT hay là khiếu nại Thông báo 234 của UBND huyện NX. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Có quan điểm cho rằng, anh H chỉ có thể khiếu nại Thông báo 234 của UBND huyện NX chứ không thể khiếu nại Quyết định 2701 của UBND tỉnh HT. Quan điểm này cho rằng, Thông báo 234 là QĐHC mang tính cá biệt do UBND huyện NX ban hành áp dụng một lần đối với hộ gia đình anh H, nên anh H khiếu nại QĐHC này. Anh H không thể khiếu nại Quyết định 2701 của UBND tỉnh HT vì Quyết định 2701 không phải là QĐHC mang tính cá biệt, quyết định này không áp dụng cho một hay một số đối tượng cụ thể nào (vì không có danh sách hay văn bản quy định chi tiết từng hộ dân được nhận bồi thường). Quan điểm này sẽ dẫn đến vướng mắc rất lớn đó là khi khiếu nại Thông báo 234 thì chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ không thể giải quyết yêu cầu của anh H về giá bồi thường thu hồi đất, do Thông báo 234 chỉ là văn bản hành chính dựa trên Quyết định 2701 mà thôi, việc quyết định giá bồi thường đã được quy định trong Quyết định 2701. Tuy nhiên, anh H lại không thể khiếu nại Quyết định 2701, cho nên, quyền và lợi ích hợp pháp của anh H sẽ bị xâm phạm do không giải quyết được.

Quan điểm khác lại cho rằng, anh H có thể khiếu nại Quyết định 2701 vì quyết định này là quyết định mang tính cá biệt. Theo quan điểm này, Quyết định 2701 tuy không có danh sách hay văn bản quy định chi tiết từng hộ dân được nhận đền bù nhưng quyết định này lại được áp dụng cho một số đối tượng cụ thể là 30 hộ dân trên địa bàn xã XĐ, việc xác định các đối tượng cụ thể nhận bồi thường đã được xác định trong các văn bản khác có liên quan nên anh H có thể khiếu nại Quyết định 2701 để yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét Quyết định 2701 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ tư, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về quyết định hành chính mang tính nội bộ cũng như chưa công bố danh mục quyết định hành chính mang tính chất bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao Luật khiếu nại đã được Quốc hội thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2012, nhưng cho đến thời điểm hiện tại Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn thế nào là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan cũng như công bố danh mục QĐHC mang tính bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao. Vì chưa có văn bản hướng dẫn nên trong quá trình KN và GQKN, các chủ thể rất khó khăn trong việc xác định một QĐHC có phải là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan, QĐHC mang tính chất bí mật nhà nước thuộc những trường hợp không được thụ lý giải quyết hay không.

Tại khoản 1 Điều 11 Luật khiếu nại quy định QĐHC mang tính nội bộ cơ quan là những QĐHC trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ và những QĐHC trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới. Tuy nhiên, quy định này chỉ liệt kê một cách chung chung, không có sự giải thích thế nào là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan, không quy định cụ thể những QĐHC nào là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan. Hơn nữa, pháp luật khiếu nại quy định về QĐHC mang tính nội bộ cơ quan có sự khác biệt so với quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010 đã có sự giải thích QĐHC mang tính nội bộ cơ quan, đó là: “Quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó”. Tiếp thu quy định này, khoản 6 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 đã có sự giải thích QĐHC mang tính nội bộ cơ quan cụ thể, rõ ràng hơn, theo đó “Quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức”. Tuy được ban hành sau Luật tố tụng hành chính năm 2010 nhưng Luật khiếu nại lại không có giải thích thế nào là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan mà chỉ liệt kê một cách không cụ thể, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại cũng không có quy định hướng dẫn cụ thể để thi hành quy định này. Điều này dẫn đến tình trạng là rất khó xác định một QĐHC có phải QĐHC mang tính nội bộ cơ quan hay không, hoặc là tình trạng tuy cùng một QĐHC nhưng chủ thể này xác định QĐHC đó mang tính nội bộ cơ quan, chủ thể khác lại xác định QĐHC đó lại không phải, hoặc nguy hiểm hơn là tình trạng sau khi ban hành QĐHC, tuy đó là QĐHC không mang tính nội bộ cơ quan nhưng chủ thể ban hành lại cho đó là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan nhằm loại bỏ quyền khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tác động bởi QĐHC đó. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Ví dụ: Bà Phan Thị Phương Nga – trú tại số nhà 98 Trưng Trắc, phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, đại diện cho tập thể tiểu thương chợ Phan Thiết gửi đơn khiếu nại Quyết định số 283/QĐ-UBND ngày 31/12/2012 của Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết về phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình chợ Phan Thiết đến Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết38. Đơn khiếu nại của bà Nga được Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết giải quyết với nội dung là không đồng ý với khiếu nại của bà Nga. Sau đó, bà Nga đã khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận với nội dung: “Khi chưa có văn bản đồng thuận và chưa công khai Quyết định số 2283/QĐ-UBND ngày 31/12/2012 về phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình chợ Phan Thiết, nhưng Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết vẫn thông qua hoạt động của Ban Quản lý chợ Phan Thiết để ép buộc tiểu thương đóng tiền cọc, đăng ký chợ mới, đăng ký chợ tạm, bốc thăm chợ tạm, giao mặt bằng chợ Phan Thiết… là hành vi áp đặt, cưỡng ép trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của tiểu thương chợ Phan Thiết…”. Sau khi nhận được đơn của bà Nga, qua kết quả kiểm tra, rà soát vụ việc tại Công văn 941/TTBT-P1 ngày 3/6/2014 của Thanh tra tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận trả lời khiếu nại của bà Phan Thị Phương Nga lần hai và cũng là lần cuối cùng với nội dung là giải thích việc làm của UBND thành phố Phan Thiết là đúng với quy định của pháp luật, trong đó có nội dung “Quyết định số 2283/QĐ-UBND ngày 31/12/2012 của Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết về phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình chợ Phan Thiết, là quyết định hành chính mang tính chất nội bộ của UBND thành phố Phan Thiết trong việc quản lý dự án đối với Dự án đầu tư chợ Phan Thiết; chưa có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân nên không phải là đối tượng khiếu nại theo quy định pháp luật. Do đó, việc khiếu nại của bà Phan Thị Phương Nga đối với quyết định này là không phù hợp với quy định pháp luật, nên không có căn cứ để Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quyết định giải quyết khiếu nại theo các yêu cầu của bà Nga và đã được Chủ tịch UBND tỉnh trả lời cụ thể, rõ ràng tại Công văn số 725/UBND-NCPC ngày 6/3/2014”.

Vụ việc trên đã gây nên nhiều tranh cãi về việc Quyết định số 2283/QĐ-UBND ngày 31/12/2012 của Chủ tịch UBND thành phố Phan Thiết về phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình chợ Phan Thiết (Quyết định 2283) có phải là QĐHC mang tính chất nội bộ của UBND thành phố Phan Thiết trong việc quản lý dự án đối với Dự án đầu tư chợ Phan Thiết hay không.

Có quan điểm cho rằng, Quyết định 2283 là QĐHC mang tính nội bộ của UBND thành phố Phan Thiết, giống như cách giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận trong vụ việc trên. Theo quan điểm này, Quyết định 2283 chỉ là quyết định phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình chợ Phan Thiết do Ban Quản lý chợ Phan Thiết (trực thuộc UBND thành phố Phan Thiết, là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng và có chức năng quản lý các hoạt động của chợ và tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ theo quy định pháp luật) trình trên nên quyết định này là quyết định mang tính nội bộ cơ quan, hơn nữa quyết định này chưa có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân nào. Cho nên, Quyết định 2283 là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan nên nó không phải là đối tượng khiếu nại theo pháp luật quyết nại. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Quan điểm khác lại cho rằng, Quyết định 2283 không phải QĐHC mang tính nội bộ cơ quan của UBND thành phố Phan thiết. Quan điểm này cho rằng, Quyết định 2283 là quyết định phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình chợ Phan Thiết (quyết định về việc đầu tư, xây dựng, hoạt động và quản lý Chợ Phan Thiết), nó có ảnh hưởng rất lớn đến người dân trong thành phố Phan Thiết, đặc biệt là những tiểu thương buôn bán trong chợ này, nên Quyết định 2283 không thể là QĐHC mang tính nội bộ cơ quan được. Hơn nữa, quan điểm này cho rằng cách giải thích của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận là không hợp lý, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận chỉ giải thích Quyết định 2283 “chưa có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân”, nghĩa là hiện tại nó chưa có ảnh hưởng nhưng không biết sau này có ảnh hưởng hay không, chứ không phải là “không có ảnh hưởng”. Cho nên Quyết định 2283 chính là một quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, bà Nga và những người bị ảnh hưởng bởi quyết định này có quyền đi khiếu nại quyết định này theo quy định của pháp luật khiếu nại.

Cũng tương tự như việc xác định QĐHC mang tính nội bộ cơ quan, việc xác định QĐHC thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định cũng rất khó khăn trên thực tế, bởi vì danh mục bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao do Chính phủ quy định chưa được công bố rộng rãi. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 49/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 06 năm 2012 quy định danh mục các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, đây chính là cơ sở để xác định một QĐHC thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao không được thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, Nghị định 49/2012/NĐ-CP lại là một văn bản mang tính bí mật, chỉ những cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền mới biết được nội dung của nghị định này, người dân không thể tiếp cận nó. Chính vì người dân không thể biết QĐHC nào thuộc danh mục các QĐHC, HVHC thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao do Chính phủ quy định nên người dân không thể xác định một QĐHC có thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao do Chính phủ quy định hay không, và khi người dân đi khiếu nại QĐHC đó nhưng bị trả lại đơn khiếu nại với lý do là “quyết định hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao do Chính phủ quy định” thì người dân cũng không thể biết là việc trả lại đơn khiếu nại như vậy có đúng hay không.

Thứ năm, chưa có quy định của pháp luật về căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính bị khiếu nại

Theo quy định của pháp luật khiếu nại, việc giải quyết khiếu nại đối với QĐHC bị khiếu nại được hiểu là việc chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét lại QĐHC bị khiếu nại có phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng hay không, hay nói các khác là chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại. Khác với thẩm quyền của Hội đồng xét xử vụ án hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, pháp luật khiếu nại quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không chỉ có quyền đánh giá tính hợp pháp mà còn có quyền đánh giá tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại. Đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý một QĐHC là vấn đề rất quan trọng trong giải quyết khiếu nại đối với các khiếu nại có đối tượng khiếu nại là QĐHC. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Tính hợp pháp của QĐHC được hiểu là thuộc tính của QĐHC thể hiện nêu cầu của Nhà nước về sự phù hợp của quyết định với các quy phạm pháp luật về hình thức quyết định, thẩm quyền ban hành, thủ tục xây dựng, nội dung quyết định và sự vi phạm những quy định đó có thể ảnh hưởng đến giá trị của QĐHC. Còn tính hợp lý của QĐHC là sự thể hiện phương án được lựa chọn để điều chính đối tượng quản lý trong QĐHC là phương án tốt nhất. QĐHC có tính hợp lý khi QĐHC đó phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị văn hoá, xã hội, đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu quản lý nhà nước trong từng giai đoạn nhất định và phát huy hiệu quả trên thực tế40. Tính hợp pháp và tính hợp lý là hai thuộc tính phản ánh chất lượng của quyết định hành chính và giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau, tạo nên giá trị pháp lý và giá trị xã hội của QĐHC.

Tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC là căn cứ quan trọng để chủ thể giải quyết khiếu nại ra quyết định cuối cùng của mình. Việc đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC sẽ là cơ sở để người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định không chấp nhận khiếu nại của người khiếu nại và giữ nguyên QĐHC bị khiếu nại hoặc chấp nhận khiếu nại của người khiếu nại và huỷ bỏ QĐHC bị khiếu nại nếu QĐHC đó ban hành trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cần phải có những căn cứ chuẩn mực về mặt pháp lý để làm cơ sở cho việc đưa ra quyết định về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, nhưng hiện nay, việc ban hành QĐHC bị chi phối bởi quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau dẫn đến có sự mâu thuẫn, chồng chéo về mặt nội dung và không có quy định về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC. Do đó, cần phải có những nguyên tắc xác định văn bản quy phạm pháp luật nào làm tiêu chuẩn để áp dụng khi đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC.

Từ đó có thể thấy, để đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC thì chủ thể giải quyết khiếu nại cần phải xác định những căn cứ, tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng cho việc đánh giá đó. Việc đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC là cơ sở để giải quyết khiếu nại đối với QĐHC bị khiếu nại và nó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của việc giải quyết khiếu nại. Nhưng do pháp luật chưa có quy định về căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC nên việc giải quyết khiếu nại đối với QĐHC bị khiếu nại gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Thứ sáu, một số quy định về quyết định hành chính của pháp luật khiếu nại chưa đồng bộ với pháp luật tố tụng hành chính

Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính là những quy định pháp luật khác nhau, không có quy định nào, kể cả Hiến pháp, xác định mối quan hệ giữa hai quy định pháp luật này một cách trực tiếp. Tuy nhiên, từ góc độ lý luận và những quy định chi tiết trong pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính thì ta có thể khẳng định rằng pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính có mối quan hệ gần gũi và rất mật thiết với nhau. QĐHC là đối tượng khiếu nại, đối tượng khởi kiện quan trọng và chủ yếu trong khiếu nại hành chính và tố tụng hành chính. Theo quy định tại Điều 7 Luật khiếu nại: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính”, do đó, một QĐHC vừa có thể bị khiếu nại theo pháp luật khiếu nại vừa có thể bị khởi kiện theo pháp luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, phân tích khái niệm, đặc điểm, các dấu hiệu của QĐHC thì quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại và quyết định hành chính – đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là khác nhau. Sự khác nhau đó thể hiện trong quy định về khái niệm, chủ thể ban hành và các quy định khác của pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính.

Về khái niệm QĐHC: pháp luật khiếu nại quy định “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”42; còn pháp luật tố tụng hành chính quy định “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Hai khái niệm này tương đối giống nhau, nhưng khi phân tích cụ thể thì hai khái niệm này có những điểm khác nhau nhất định. Một là, về chủ thể ban hành QĐHC: chủ thể ban hành QĐHC theo pháp luật tố tụng hành chính rộng hơn quy định của pháp luật khiếu nại. Theo quy định của Luật khiếu nại thì chủ thể ban hành QĐHC chỉ có “cơ quan hành chính nhà nước” và “người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước”. Còn theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2010 thì QĐHC do “cơ quan hành chính nhà nước”, “cơ quan, tổ chức khác” hoặc “người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó” ban hành; đến Luật tố tụng hành chính năm 2015 (thay thế Luật tố tụng hành chính năm 2010) thì chủ thể ban hành QĐHC là “cơ quan hành chính nhà nước”, “cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước” hoặc “người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó”. Hai là, khoản 8 Điều 2 Luật khiếu nại sử dụng thuật ngữ “quản lý hành chính nhà nước”, còn khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010 lại sử dụng thuật ngữ “quản lý hành chính” (khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thay thế cho Luật tố tụng hành chính năm 2010 cũng tiếp thu quy định này); câu hỏi đặt ra là hai thuật ngữ này là một hay hai thuật ngữ này là những thuật ngữ khác nhau. Dưới góc độ lý luận khoa học Luật hành chính, thì hầu hết các học giả cho rằng hai thuật ngữ này là một và chúng được sử dụng thay thế cho nhau; nhưng theo một số học giả khác lại không đồng ý với ý kiến đó, chúng cần được hiểu khác nhau, thuật ngữ “quản lý hành chính” là “hành chính”, còn “quản lý hành chính nhà nước” là “hành chính nhà nước”, nghĩa là hai thuật ngữ này khác nhau. Còn về góc độ thực tiễn quy định của pháp luật thì việc quy định của pháp luật có cách sử dụng thuật ngữ khác nhau như vậy phải chăng là do hai thuật ngữ này là khác nhau. Cho nên, chúng ta cần phải có sự nghiên cứu vấn đề này một các cụ thể hơn thì mới có thể giải thích được. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Về QĐHC mang tính nội bộ cơ quan: theo quy định của Luật khiếu nại thì QĐHC mang tính nội bộ cơ quan bao gồm “những quyết định hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ và những quyết định hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới”. Còn theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2010 thì QĐHC mang tính nội bộ cơ quan chỉ là “những những quyết định chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó”, Luật tố tụng hành chính năm 2015 có sự sửa đổi, bổ sung về QĐHC mang tính nội bộ cơ quan là “những quyết định chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức”.

Những quy định khác nhau về QĐHC kể trên giữa pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính đã dẫn đến nhiều bất cập trong công tác KN và GQKN cũng như công tác giải quyết vụ án hành chính. Những bất cập này đã dẫn đến tình trạng một QĐHC là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại nhưng lại không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo pháp luật tố tụng hành chính nên không được thụ lý giải quyết hoặc tình trạng ngược lại là một QĐHC là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo pháp luật tố tụng hành chính nhưng lại không phải đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Điều này sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân do người dân bị mất quyền khiếu nại hoặc quyền khởi kiện vụ án hành chính.

2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Cùng với sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng trong công tác KN và GQKN, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đã xây dựng và hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại, giải quyết khiếu nại. Qua đó, công tác KN và GQKN ngày càng được chú trọng, đạt được hiệu quả cao và đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, những quy định của pháp luật khiếu nại đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước và quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là những quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại như đã phân tích ở phần trên. Chính vì vậy, các cơ quan Nhà nước cần có những sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn cụ thể các quy định của pháp luật khiếu nại để hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật khiếu nại nói chung cũng như những quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại nói riêng. Từ những nghiên cứu dưới góc độ lý luận và phân tích những quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, chúng tôi xin đưa ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện những quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại Việt Nam.

  • Kiến nghị về mặt pháp lý

Thứ nhất, quy định về chủ thể ban hành quyết định hành chính – đối tượng khiếu nai theo pháp luật khiếu nại cần có sự sửa đổi cho phù hợp

Như đã phân tích ở phần trên, trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước, có rất nhiều chủ thể có quyền ban hành các QĐHC và các QĐHC đó có thể trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nên cần có cơ chế KN và GQKN các QĐHC đó để đảm bảo được quyền và lợi ích của người dân. Trong khi Điều 3 Luật khiếu nại lại có quy định việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước và các cơ quan khác của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại. Hơn nữa, các quy định về khiếu nại trong pháp luật tố tụng, pháp luật xử lý vi phạm hành chính đều có những quy định dẫn chiếu để áp dụng Luật khiếu nại. Tuy nhiên, khoản 8 Điều 2 Luật khiếu nại lại quy định chủ thể ban hành quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại chỉ có CQHCNN và người có thẩm quyền trong CQHCNN, các QĐHC do các chủ thể khác liệt kê ở trên không phải là đối tượng khiếu nại. Việc quy định chủ thể ban hành quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại giới hạn như vậy và sự mâu thuẫn giữa các điều khoản của pháp luật khiếu nại đã dẫn đến rất nhiều bất cập, vướng mắc trong hoạt động KN và GQKN như đã phân tích ở phần trước. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Chính vì thế, pháp luật khiếu nại cần có sự sửa đổi, bổ sung để mở rộng chủ thể ban hành quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại. Theo chúng tôi, chủ thể ban hành quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật hiếu nại cần phải mở rộng để đồng bộ với chủ thể quản lý hành chính nhà nước, bao gồm “cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó và những cá nhân khác có thẩm quyền” và cần có sự hướng dẫn, giải thích, liệt kê những cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó và những cá nhân khác có thẩm quyền là như thế nào; hoặc pháp luật khiếu nại cần sửa đổi về chủ thể ban hành QĐHC đồng bộ với quy định trong Luật tố tụng hành chính năm 2015 “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành”.

Thứ hai, phải có những quy định cụ thể để xác định rõ ràng đâu là quyết định hành chính mang tính nội bộ và công bố danh mục quyết định hành chính mang tính chất bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao Điều 11 Luật khiếu nại đã liệt kê những QĐHC mang tính nội bộ cơ quan,

đó là những QĐHC trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ và QĐHC trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới. Tuy nhiên, Luật khiếu nại đã có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2012 và đã được thi hành trong một khoảng thời gian dài, nhưng cho đến thời điểm hiện tại Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản giải thích, hướng dẫn chi tiết để xác định QĐHC mang tính nội bộ cơ quan, nên trong quá trình KN và GQKN, các chủ thể rất khó khăn trong việc xác định QĐHC nào là QĐHC mang tính nội bộ. Hơn nữa, với việc quy định khác nhau về QĐHC mang tính nội bộ cơ quan giữa pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính đã khiến cho việc xác định QĐHC mang tính nội bộ cơ quan cho việc giải quyết khiếu nại và giải quyết vụ án hành chính trở nên khó khăn hơn khi QĐHC trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới (mang tính nội bộ cơ quan) là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, nhưng lại không phải là đối tượng khởi kiện theo pháp luật tố tụng hành chính. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Cho nên, để khắc phục những bất cập đó, Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có văn bản giải thích, hướng dẫn cụ thể về QĐHC mang tính nội bộ cơ quan và những quy định này phải đồng bộ với những quy định của pháp luật tố tụng hành chính để đảm bảo pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính được áp dụng thống nhất, minh bạch và hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân không bị xâm phạm. Theo chúng tôi, QĐHC mang tính nội bộ cơ quan nên được thống nhất giải thích như sau: “Quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan là những quyết định chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý và các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới trực tiếp”.

Về danh mục QĐHC mang tính chất bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao đã được Chính phủ quy định trong Nghị định số 49/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 06 năm 2012 quy định danh mục các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, nhưng đây lại là một văn bản mang tính bí mật. Điều này đã gây ra nhiều hạn chế cho người dân khi không biết những loại QĐHC nào thuộc danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao. Do hạn chế đó, chúng tôi kiến nghị Chính phủ cần công bố Nghị định số 49/2012/NĐ-CP cho người dân được biết, vì Nghị định số 49/2012/NĐ-CP của Chính phủ là một văn bản quy phạm pháp luật, nên cần được công bố văn bản này ra công chúng để người dân có thể tiếp cận được danh mục QĐHC mang tính chất bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân không bị xâm phạm cũng như đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Thứ ba, một số quy định của pháp luật khiếu nại về quyết định hành chính cần được được đồng bộ, thống nhất với pháp luật tố tụng hành chính Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Như đã phân tích, pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính có mối quan hệ gần gũi và rất mật thiết với nhau và QĐHC vừa là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại vừa là đối tượng khởi kiện theo pháp luật tố tụng hành chính. Nhưng việc quy định khác nhau về khái niệm, chủ thể ban hành QĐHC và quy định về QĐHC mang tính nội bộ cơ quan đã dẫn đến sự không đồng bộ giữa pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính. Do đó, pháp luật khiếu nại cần có sự chỉnh sửa nhất định để thuận lợi trong việc khiếu nại hoặc khiếu kiện của cá nhân, cơ quan và tổ chức. Theo chúng tôi, cần có sự sửa đổi theo hướng như sau:

Một là, về khái niệm, pháp luật cần có sự thống nhất sử dụng thuật ngữ “quản lý hành chính nhà nước” trong các văn bản quy phạm pháp luật và có khái niệm để giải thích thuật ngữ này, chứ không nên để tình trạng văn bản quy phạm pháp luật này sử sụng thuật ngữ “quản lý hành chính nhà nước” văn bản quy phạm pháp luật khác lại sử dụng thuật ngữ “quản lý hành chính”. Cần sửa đổi thuật ngữ “quản lý hành chính” tại khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính và tại các quy định khác thành thuật ngữ “quản lý hành chính nhà nước”. Bởi lẽ, thuật ngữ “quản lý hành chính nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, sách, báo, tạp chí, bài viết, công trình nghiên cứu pháp lý. Hơn nữa, do thuật ngữ “quản lý hành chính” có nội hàm rất rộng, không chỉ riêng “quản lý hành chính nhà nước” mà còn có cả “quản lý hành chính nhân sự”, “quản lý hành chính văn phòng” nên cần sử dụng thuật ngữ “quản lý hành chính nhà nước” để phân biệt với các hoạt động quản lý hành chính khác.

Hai là, cần thống nhất chủ thể ban hành QĐHC trong quy định của pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Theo đó, pháp luật khiếu nại và pháp luật tố tụng hành chính cần mở rộng chủ thể ban hành quyết định hành chính, bao gồm “cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó và những cá nhân khác có thẩm quyền”. Hoặc chí ít pháp luật khiếu nại cần phải quy định chủ thể ban hành QĐHC giống như quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 như đã phân tích ở trên. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Thứ tư, pháp luật khiếu nại cần có quy định hướng dẫn về căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính bị khiếu nại

Đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giải quyết khiếu nại, vì đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC là cơ sở để ra quyết định về việc một quyết định hành chính bị khiếu nại có trái pháp luật hay không. Cho nên, pháp luật khiếu nại cần bổ sung những quy định về căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của các QĐHC để các chủ thể giải quyết khiếu nại khi giải quyết các vụ việc khiếu nại có căn cứ thống nhất trong việc đưa ra các quyết định giải quyết khiếu nại của mình. Trước mắt, Chính phủ cần phải ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời các chủ thể giải quyết khiếu nại về các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của từng loại QĐHC bị khiếu nại để tránh tình trạng các chủ thể giải quyết khiếu nại ban hành quyết định giải quyết khiếu nại không khách quan vì không có căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại. Chúng tôi cho rằng, cần đưa ra các căn cứ sau để đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại. Căn cứ đánh giá tính hợp pháp cần có những tiêu chuẩn sau: tiêu chuẩn về thẩm quyền ban hành QĐHC; tiêu chuẩn về hình thức và nội dung QĐHC; tiêu chuẩn về trình tự và thủ tục ban hành QĐHC; tiêu chuẩn về thời hiệu, thời hạn ban hành QĐHC; tiêu chuẩn về quan hệ giữa QĐHC và đối tượng áp dụng QĐHC đó. Còn về căn cứ đánh giá tính hợp lý cần có những tiêu chuẩn như: tiêu chuẩn về sự phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong từng thời điểm, giai đoạn nhất định; tiêu chuẩn về sự phù hợp, đồng bộ, thống nhất với QĐHC khác có liên quan; và tiêu chuẩn về sự ban hành kịp thời, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong từng giai đoạn, từng thời điểm nhất định. Khi đưa ra những tiêu chuẩn để làm căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại như vậy không những có căn cứ pháp lý đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC để thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại mà còn làm cơ sở cho việc kiểm tra, xử lý các QĐHC được các chủ thể có thẩm quyền ban hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Thứ năm, pháp luật khiếu nại cần quy định rõ ràng tên gọi của các quyết định hành chính Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Như đã phân tích, việc pháp luật khiếu nại không có quy định, hướng dẫn rõ ràng về hình thức của các QĐHC như không đưa ra khái niệm thế nào là “văn bản”, không có sự giải thích các dạng tồn tại cụ thể của văn bản cũng như không có quy định chi tiết về tên gọi của QĐHC đã dẫn đến rất nhiều bất cập, vướng mắc trong hoạt động KN và GQKN. Cho nên, pháp luật khiếu nại cần phải có những quy định về hình thức của QĐHC. Theo chúng tôi, pháp luật khiếu nại và các quy định khác pháp luật cần phải đồng bộ với nhau về ban hành quyết định hành chính, pháp luật cần phải quy định theo hướng: một là, cần đưa ra khái niệm “văn bản” trong hoạt động quản lý nhà nước theo hướng “văn bản là nơi chứa đựng những quyết định, thông tin quản lý do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền, hình thức và nội dung nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ quản lý nhà nước giữa các chủ thể quản lý nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội”. Hai là, hệ thống pháp luật cần có quy định về các dạng tồn tại nhất định của văn bản. Do khoa học – công nghệ ngày càng phát triển nên văn bản giờ đây không chỉ đơn thuần tồn tại trên giấy tờ thông thường mà nó có rất nhiều dạng tồn tại khác nhau như tệp tin điện tử, fax,… Cho nên, pháp luật cần quy định QĐHC phải được thể hiện trong các dạng tồn tại nhất định của văn bản. Ba là, cần phải có quy định về tên gọi của QĐHC theo hướng các quyết định phải mang tên gọi nhất định và chỉ khi mang tên gọi như đã quy định thì nó mới có hiệu lực pháp lý và mới được xem là QĐHC. Theo đó, pháp luật khiếu nại cần bổ sung quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại tương tự như quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân Tối cao ngày 29 tháng 7 năm 2011 về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính, đó là “quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn”.

Thứ sáu, cần hướng dẫn đầy đủ về quyết định hành chính mang tính cá biệt

Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hàng ngày, các cơ quan nhà nước nói chung, các CQHCNN nói riêng ban hành rất nhiều QĐHC mà dưới góc độ lý luận thì ta có thể phân chia các quyết định hành chính thành ba loại là QĐHC chủ đạo, QĐHC quy phạm và QĐHC mang tính cá biệt. Và như đã đề cập, pháp luật khiếu nại quy định chỉ những QĐHC mang tính cá biệt mới là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật khiếu nại nói riêng chưa có quy định liệt kê, giải thích thế nào là QĐHC mang tính cá biệt, điều này dẫn đến những bất cập như đã phân tích đó là việc rất khó xác định QĐHC do chủ thể có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành có phải là QĐHC mang tính cá biệt hay không. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Do có nhiều bất cập, vướng mắc nên một số học giả nghiên cứu đã có những giải thích để xác định một QĐHC mang tính cá biệt. Đã có nghiên cứu đưa ra để giải thích về xác định đối tượng khiếu nại đối với các QĐHC mang tính tổng thể. Theo đó, QĐHC tổng thể không có danh sách kèm theo hoặc không có văn bản quy định chi tiết từng hộ, cá nhân có ảnh hưởng quyền, nghĩa vụ thì không phải là QĐHC mang tính cá biệt nên không phải là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Trong trường hợp QĐHC mang tính tổng thể nhưng có danh sách kèm theo hoặc có văn bản quy định chi tiết đối với từng hộ gia đình, cá nhân kèm theo, qua đó xác định được cụ thể quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình như thế nào thì họ có khiếu nại đối với phần xác định cụ thể đó, có nghĩa là quyết định này là QĐHC mang tính cá biệt nên đó là đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Cách giải thích này có giá trị tham khảo rất cao để cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội tham khảo, học hỏi. Tuy nhiên, vì chỉ có giá trị tham khảo nên chưa được áp dụng nhiều trong thực tế hoạt động KN và GQKN.

Chính vì vậy, pháp luật cần có những quy định để hướng dẫn cụ thể, giải thích thế nào là QĐHC mang tính cá biệt trong các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật; hoặc pháp luật có thể quy định các chủ thể quản lý nhà nước khi ban hành QĐHC mang tính cá biệt phải tuân thủ những quy định về hình thức cũng như nội dung của một QĐHC mang tính cá biệt. Từ việc quy định, hướng cụ thể, rõ ràng về QĐHC mang tính cá biệt thì các chủ thể trong xã hội sẽ dễ dàng xác định một QĐHC có phải là một QĐHC mang tính cá biệt hay không. Để sau đó làm tiền đề cho việc thực hiện các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước liên quan đến QĐHC mang tính cá biệt như kiểm tra, xử lý QĐHC mang tính cá biệt, giải quyết vụ án hành chính có đối tượng khởi kiện là QĐHC,…

Thứ bảy, cần sớm xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ban hành quyết định hành chính

Với việc pháp luật chưa có quy định thống nhất trong việc ban hành QĐHC đã dễn đến nhiều bất cập trong khiếu nại hành chính nói riêng và trong quản lý hành chính nhà nước nói chung. Ví dụ: thiếu quy định về thẩm quyền ban hành QĐHC sẽ dẫn đến hậu quả là thiếu cơ sở để xác định trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình quản lý hành chính, hay thiếu quy định về nội dung của QĐHC sẽ có nguy cơ xâm phạm quyền và lợi ích của các chủ thể trong đời sống xã hội. Trên thực tế, một số QĐHC được ban hành trái pháp luật đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, và có thể sẽ làm giảm lòng tin của người dân đối với cơ quan nhà nước.

Hiện nay đã có dự thảo Luật ban hành quyết định hành chính nhưng vẫn chưa được xem xét để thông qua. Chính vì vậy, cần sớm xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ban hành QĐHC nhằm góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên. Khi có quy định thống nhất của pháp luật về ban hành QĐHC thì QĐHC sẽ được các chủ thể có thẩm quyền ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, hình thức và nội dung. Việc ban hành QĐHC đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, hình thức và nội dung không chỉ tạo khuôn khổ hoạt động cho nền hành chính mà còn có ý nghĩa bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

  • Kiến nghị về mặt thực tiễn

Một là, nâng cao trách nhiệm, năng lục của chủ thể giải quyết khiếu nại

Giải quyết khiếu nại là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, trong đó những chủ thể có thẩm quyền trong các CQHCNN có vai trò quyết định đến hiệu quả của hoạt động giải quyết khiếu nại, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu CQHCNN. Nhưng với thực trạng hiện nay là việc giải quyết khiếu nại được thực hiện bởi bộ phận giúp việc, văn phòng hoặc cơ quan chuyên môn của các CQHCNN, sau đó trình quyết định giải quyết khiếu nại lên người đứng đầu cơ quan – người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ký đã làm giảm trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong hoạt động giải quyết khiếu nại. Cho nên, cần hoàn thiện chế độ công vụ để ràng buộc trách nhiệm của của chủ thể giải quyết khiếu nại trong công tác giải quyết khiếu nại. Do chủ thể giải quyết khiếu nại là người đứng đầu CQHCNN, trực tiếp thực hiện công tác quản lý hoạt động của CQHCNN nên phải gắn công tác giải quyết khiếu nại với công tác quản lý, mỗi một QĐHC được ban hành đều phải được người đứng đầu cơ quan kiểm tra, xem xét đến tính hợp pháp, tính khả thi và khả năng giải quyết khiếu nại nếu có phát sinh việc khiếu nại, có như vậy người đứng đầu CQHCNN mới có ý thức trách nhiệm trong hoạt động công vụ của cơ quan cũng như công tác giải quyết khiếu nại.

Bên cạnh đó, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, các chủ thể hỗ trợ công tác giải quyết khiếu nại cần phải thường xuyên bồi dưỡng kiến thức pháp luật khiếu nại, học hỏi kinh nghiệm giải quyết khiếu nại, rút kinh nghiệm qua từng vụ việc giải quyết khiếu nại, xác định được mục đích, ý nghĩa và vai trò của công tác KN và GQKN, coi đó là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Có như vậy thì công tác giải quyết khiếu nại mới được thực hiện hiệu quả, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Hai là, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, lãnh đạo, giám sát hoạt động thụ lý và giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Để hoạt động thụ lý giải quyết khiếu nại các QĐHC được diễn ra hiệu quả thì cần có sự quản lý, kiểm tra của các CQHCNN cấp trên, cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, cũng như cần có sự lãnh đạo, giám sát của Đảng, tổ chức chính trị – xã hội. Các CQHCNN cấp trên, cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp cần phải tăng cường công tác quản lý việc thụ lý và giải quyết khiếu nại, qua đó kiểm tra, xử lý những quyết định, hành vi sai phạm hoặc những cá nhân có quyết định, hành vi sai phạm trong giải quyết quyết khiếu nại của chủ thể giải quyết khiếu nại. Bên cạnh đó, cần phải tăng cường sự lãnh đạo, giám sát của Đảng đối với công tác giải quyết khiếu nại trong thời gian tới, thông qua các biện pháp như: lãnh đạo chặt chẽ việc thi hành pháp luật về những lĩnh vực dễ phát sinh khiếu nại như lĩnh vực đất đai, thuế, xử lý vi phạm hành chính; để rồi nắm bắt, chỉ đạo kịp thời việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước để hạn chế nguyên nhân phát sinh khiếu nại; bố trí cán bộ, công chức có đủ năng lực đảm nhận công tác thụ lý và giải quyết khiếu nại theo pháp luật khiếu nại; xử lý nghiêm khắc những cán bộ, công chức thụ lý, giải quyết khiếu nại là Đảng viên thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ thụ lý và giải quyết khiếu nại.

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật khiếu nại cho người dân

Với số lượng vụ đơn thư khiếu nại gửi đến các CQHCNN hàng năm rất lớn, nhưng các CQHCNN chỉ thụ lý và giải quyết khoảng một phần hai số đơn đó, số còn lại không được thụ lý là do nhiều nguyên nhân, như khiếu nại sai đối tượng khiếu nại, hết thời hiệu khiếu nại, khiếu nại không đúng thẩm quyền,… Nguyên nhân của tình trạng này là người dân chưa hiểu biết về những quy định của pháp luật khiếu nại, đặc biệt là những quy định về đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, hiểu biết kiến thức pháp luật khiếu nại cho người dân có vai trò hết sức quan trọng, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật khiếu nại cho người dân cần được tiến hành sâu rộng đến từng địa phương, từng tổ chức, cá nhân, và có thể thực hiện qua các hình thức sau đây: Một là, qua các phương tiện truyền thông – thông tin đại chúng, như hệ thống loa phát thanh, bảng tin, bảng thông báo tuyên truyền, phổ biến pháp luật của từng xóm, làng, xã, tổ, khu phố,… Hai là, tổ chức các buổi tuyên truyền tư vấn pháp luật, bằng việc tổ chức các trò chơi lồng ghép tìm hiểu kiến thức pháp lý, giải đáp những thắc mắc, tư vấn về pháp luật khiếu nại sẽ giúp người dân có hiểu biết nhiều hơn về pháp luật khiếu nại. Ba là, tổ chức các lực lượng tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật khiếu nại đến từng hộ gia đình, trường học,… Ngoài ra, cần kết hợp công tác tiếp công dân với công tác tuyên truyền, giải thích, tư vấn pháp luật để người dân có hiểu biết hơn về pháp luật nói chung và pháp luật khiếu nại nói riêng.

Tóm lại, nghiên cứu Chương hai cho ta thấy dù Luật khiếu nại ban hành đã có nhiều quy định hợp lý, nhưng qua thực trạng thực hiện, quy định của pháp luật pháp luật khiếu nại Việt Nam về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại còn có nhiều bất cập, hạn chế như: pháp luật khiếu nại không quy định rõ tên gọi của các QĐHC là đối tượng khiếu nại; việc quy định về chủ thể ban hành QĐHC còn chưa rõ ràng, đầy đủ; chưa quy định rõ QĐHC mang tính cá biệt; chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về QĐHC mang tính nội bộ cũng như chưa công bố danh mục QĐHC mang tính chất bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao; chưa có quy định của pháp luật về căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại; và một số quy định về QĐHC của pháp luật khiếu nại chưa đồng bộ với pháp luật tố tụng hành chính. Từ đó đưa ra những kiến nghị về mặt pháp lý cũng như thực tiễn để hoàn thiện quy định của pháp luật khiếu nại về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại Việt Nam.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

Quyết định hành chính là một trong các loại đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, việc xác định đúng quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại có vai trò rất quan trọng trong KN và GQKN. Do đó, việc hoàn thiện quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người cá nhân, cơ quan, tổ chức mà còn góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về KN và GQKN.

Qua quá trình nghiên cứu, khóa luận của chúng tôi đã phân tích khái niệm, đặc điểm của đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, phân tích khái niệm, đặc điểm của từng loại đối tượng khiếu nại, phân tích ý nghĩa của việc xác định quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, và đặc biệt, chúng tôi đã có sự phân tích cụ thể quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại. Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện pháp luật và những bất cập trong quy định của pháp luật về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại, khóa luận đưa ra một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này. Khóa luận đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện về mặt pháp lý để hoàn thiện quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo quy định của pháp luật khiếu nại như: quy định về chủ thể ban hành quyết định hành chính – đối tượng khiếu nai theo pháp luật khiếu nại cần có sự sửa đổi cho phù hợp; phải có những quy định cụ thể để xác định rõ ràng đâu là QĐHC mang tính nội bộ và công bố danh mục QĐHC mang tính chất bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao; một số quy định của pháp luật khiếu nại về QĐHC cần được được đồng bộ, thống nhất với pháp luật tố tụng hành chính; pháp luật khiếu nại cần có quy định hướng dẫn về căn cứ đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC bị khiếu nại; pháp luật khiếu nại cần quy định rõ ràng tên gọi của các QĐHC; cần hướng dẫn đầy đủ về QĐHC mang tính cá biệt; cần sớm xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ban hành QĐHC. Bên cạnh đó, khóa luận cũng đã đưa ra một số kiến nghị về mặt thực tiễn như: nâng cao trách nhiệm, năng lục của chủ thể giải quyết khiếu nại; tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, lãnh đạo, giám sát hoạt động thụ lý và giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật khiếu nại cho người dân.

Với những kiến nghị này, chúng tôi mong muốn có thể góp phần công sức vào quá trình hoàn thiện quy định về quyết định hành chính – đối tượng khiếu nại theo pháp luật khiếu nại nói riêng, pháp luật khiếu nại nói chung. Đồng thời, chúng tôi hi vọng những kiến nghị của chúng tôi sẽ góp phần tạo cơ chế thuận lợi cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội, tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước và đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận văn: Thực trạng pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Quyết định pháp luật hành chính đối tượng khiếu nại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464