Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Tự do lập di chúc là một trong những nguyên tắc chung của pháp luật thừa kế nhằm bảo đảm quyền lập di chúc. Một di chúc được lập hợp pháp, phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc tự do, tự nguyện sẽ có hiệu lực pháp luật làm phát sinh quyền thừa kế của người thừa kế theo di chúc. Cũng trên nguyên tắc tự do di chúc, người để lại tài sản không có quyền lập di chúc mà còn có thể tự mình hủy bỏ di chúc đã lập.

Cũng như việc lập di chúc, việc hủy bỏ di chúc cũng phải tuân thủ những điều kiện do pháp luật quy định, nhất là các điều kiện về hình thức, sự tự nguyện của người lập di chúc. Mặc dù việc hủy bỏ di chúc là do ý chí tự do, tự nguyện của người để lại di sản, nhưng do di chúc có tính chất chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết, cũng như những hệ quả tiêu cực của việc hủy bỏ di chúc làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền của những người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc, nên vấn đề hủy bỏ di chúc được pháp luật chú trọng quy định, như các quy định về điều kiện hủy bỏ, hiệu lực hủy bỏ di chúc…

Qua tìm hiểu sơ bộ thực tiễn xét xử tại Việt Nam hiện nay cho thấy, các tranh chấp về thừa kế nói chung và tranh chấp về hủy bỏ di chúc nói riêng có xu hướng ngày càng tăng trong thực tế với tính chất ngày càng phức tạp. Sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp tòa án, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế của các cá nhân là những yếu tố làm cho tranh chấp về thừa kế theo di chúc ngày một tăng đồng thời làm cho các vụ kiện tranh chấp về thừa kế bị kéo dài, không dứt điểm. Hơn nữa, khi đời sống vật chất của con người càng cao, người ta càng nghĩ đến việc định đoạt tài sản như thế nào trước khi chết thông qua việc lập di chúc, nhưng quyền tự định đoạt của người lập di chúc có thể thay đổi theo thời gian, có thể cho người này nhưng hủy bỏ cho người khác là quyền của họ. Tuy vậy, nếu không hiểu rõ những quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc để nhận thức được quyền định đoạt tài sản của mình chỉ được thực hiện trong phạm vi nào, khi lập di chúc cần phải tuân thủ những điều kiện gì thì việc để lại thừa kế theo di chúc của họ lại là nguyên nhân làm bùng phát tranh chấp giữa những người thừa kế của họ về sau này. Việc định đoạt tài sản của người lập di chúc không đúng phạm vi luật định có thể còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của một số người khác dẫn đến những tranh chấp như đã và đang xảy ra trong thực tế là một trong những nguyên nhân làm tổn hại đến truyền thống đạo đức đã có từ lâu đời của dân tộc.

Tính chất phức tạp của vấn đề hủy bỏ di chúc không chỉ thể hiện ở thủ tục hủy bỏ, hệ quả pháp lý của việc hủy bỏ, mà còn thể hiện ở mức độ tranh chấp khá phổ biến trong thực tiễn, do có sự khó khăn trong việc phân biệt sự hủy bỏ di chúc với các trường hợp khác, hoặc có nhiều khả năng những người thừa kế ngụy tạo sự hủy bỏ di chúc, hoặc tại thời điểm hủy bỏ di chúc, người để lại tài sản không còn đủ điều kiện về minh mẫn, sức khỏe, tự nguyện trong việc hủy bỏ di chúc… nên thực tế đã có nhiều tranh chấp phát sinh trong thực tiễn rất phức tạp, khó giải quyết. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng là một vấn đề thuộc về đời sống dân sự đã có từ lâu đời và tương đối quen thuộc đối với nhân dân ta. Tuy nhiên, để xác định di chúc nào bị hủy bỏ và thể hiện nguyện vọng chính đáng của người để lại di chúc, tránh việc đem di chúc đã hủy bỏ để phân chia di sản không đúng nguyện vọng của người để lại di sản thừa kế là việc hết sức quan trọng. Việc nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật: “Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam” là sự cần thiết trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật về thừa kế trong đại bộ phận nhân dân ta.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

  • Về Giáo trình và Sách bình luận chung:

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Tài sản, quyền sở hữu, quyền thừa kế (TS. Lê Minh Hùng – CB), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam; Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Dân sự, tập 1, Nhà xuất bản Công an nhân dân … Nội dung của cả hai quyển giáo trình có dành một phần nhỏ để trình bày về vấn đề hủy bỏ di chúc, nhưng đây chỉ là những nội dung cơ bản, mang tính giáo khoa về vấn đề hủy bỏ di chúc nhìn góc độ pháp luật thực định.

Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2013) Bình luận khoa học BLDS năm 2005, tập 3, Hoàng Thế Liên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Sách đã bình luận từng điều luật, trong đó có phân tích về vấn đề thừa kế theo di chúc. Bình luận đã đề cập tương đối rõ ràng và cụ thể về điều khoản của BLDS năm 2005 quy định về hủy bỏ di chúc, chỉ dừng lại ở vấn đề phân tích về vấn đề thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán và phân chia di sản, nhưng nội dung của sách chỉ bình luận trực tiếp điều khoản về sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc, không đề cập tới việc giải quyết tranh chấp về hủy bỏ di chúc trong thực tiễn pháp lý hiện nay.

  • Nhóm sách chuyên khảo gồm có:

Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học- Những điểm mới của Bộ luật dân S Năn 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam. Trong công trình này, các tác giả bình luận về điểm mới trong quy định về vấn đề thừa kế theo di chúc nói chung, theo quy định của BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015. Trong sách, các tác giả không phân tích sâu vấn đề hủy bỏ di chúc.

Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản trẻ thành phố Hồ Chí Minh là một công trình khá chuyên sâu nhưng lại nghiên cứu về thừa kế nói chung. Trong công trình khoa học này, tác giả có nghiên cứu về thừa kế theo di chúc tại chương thứ hai với tiêu đề: Di chuyển di sản theo ý chí nhưng chỉ là một phần nhỏ so với toàn bộ công trình.

Trần Thị Huệ (2011) Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội. Trong tác phẩm này mặc dù các tác giả đã đi sâu phân tích, tìm hiểu về di sản thừa kế, nhưng vấn đề hủy bỏ di chúc cũng chưa được phân tích, đánh giá sâu. Tuy nhiên, cuốn sách này là nguồn tư liệu quý báu để tác giả nghiên cứu, tham khảo thực hiện đề tài này. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Phạm Thị Thảo (2015), Tìm hiểu các quy định pháp luật về di chúc, thừa kế và tài sản vợ chồng, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội. Cuốn sách đã nghiên cứu về thừa kế phụ thuộc vào việc có di chúc hay không, nội dung di chúc ra sao, di sản thừa kế trong di chúc của một người hay di chúc chung của vợ chồng… Hoặc tài sản riêng, chung của vợ chồng có liên quan gì đến việc lập di chúc riêng hoặc chung, việc phân chia di sản thừa kế của vợ hoặc chồng trong khối tài sản chung vợ chồng khi một người chết trước…cũng chưa làm rõ các trường hợp di chúc bị hủy bỏ.

Ngoài các tác giả và các công trình kể trên, cuốn: “Chế độ hôn sản và thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam” của Nguyễn Mạnh Bách (Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh) cũng là một công trình khoa học có liên quan đến vấn đề thừa kế theo di chúc. Trong công trình khoa học này, tác giả có đề cập một cách khái lược đến thừa kế theo di chúc bằng một số trang viết nhưng lại dựa vào quy định của BLDS Cộng hòa Pháp, BLDS Bắc Kỳ 1931, BLDS Trung Kỳ 1936 và các án lệ đã được giải quyết trong chế độ cũ để so sánh với các quy định trong Pháp lệnh thừa kế của nước ta.

  • Nhóm các bài báo trên các tạp chí:

Lê Minh Hùng (2006), “Một số bất cập trong việc thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ -chồng”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4, tr. 35. Bài viết cũng xác định huỷ bỏ di chúc là một quyền của người lập di chúc nhưng tác giả khai thác dưới góc độ là di chúc chung của vợ chồng, nêu những bất cập khi huỷ bỏ di chúc chung của vợ chồng. Tuy nhiên cũng chỉ dừng lại ở những vấn đề bất cập, chưa phân tích sâu, có hệ thống về vấn đề huỷ bỏ di chúc của tất cả các chủ thể khác.

Nguyễn Đình Huy (2001) “ Quyền thừa kế trong luật la mã cổ đại”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 4. Bài viết nghiên cứu Luật La Mã cổ đại, trong luật La Mã cổ đại đã xác định người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ di chúc bất kỳ lúc nào. Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước. Đây là những tư tưởng mà Bộ luật dân sự nước ta đã tiếp thu từ Luật La Mã cổ đại, song bài viết cũng không phân tích sâu về vấn đề huỷ bỏ di chúc.

Tưởng Bằng Lượng (2001) “ Giải quyết các tranh chấp thừa kế tại tòa án trong thời gian vừa qua. Tạp chí Khoa học pháp lý số 4. Bài viết nêu thực tiễn xét xử những trường hợp huỷ bỏ di chúc, di chúc giả mạo là cơ sở để Toà án bác di chúc.

Phạm Văn Tuyết (1997) “ Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc”, Tạp chí Luật học số 6. Bài viết phân tích thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người lập di chúc chết. Căn cứ để xác định ngày “người lập di chúc đã chết”. Cần xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc theo ý chí của người lập ra nó. Tuy nhiên cũng chưa phân tích sâu về hủy bỏ di chúc.

Những bài viết trên cũng phân tích sâu về vấn đề thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Trong đó, xác định rõ khái quát những vấn đề bất cập của pháp luật, đồng thời đưa ra những kiến nghị cụ thể, song cũng không phân tích kỹ vấn đề hủy bỏ di chúc.

Với tình hình trên, có thể nói rằng kể từ khi BLDS Việt Nam được ban hành, đề tài: ” Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam” là một luận văn nghiên cứu riêng và chuyên sâu về di chúc và là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng lặp với bất cứ một công trình nào của người khác. Tuy nhiên, để hoàn thành đề tài này chúng tôi có sử dụng một số bài viết đã được đăng trên các tạp chí, đồng thời có sử dụng và phát triển một số tư tưởng trong luận văn thạc sĩ mà mình đã thực hiện trước đây.

3. Mục đích nghiên cứu đề tài Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Mục đích của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của luật thực định về hủy bỏ di chúc, thực tiễn áp dụng luật thực định để giải quyết các tranh chấp về hủy bỏ di chúc trong hoạt động xét xử của tòa án. Qua đó tìm ra những bất cập, thiếu sót của luật thực định để nêu phương hướng hoàn thiện pháp luật về thừa kế theo di chúc.

  • Với mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến hủy bỏ di chúc làm cơ sở để nghiên cứu các phần tiếp theo của luận văn. Với nhiệm vụ này, chúng tôi xây dựng các khái niệm khoa học về di chúc, hệ quả pháp lý của việc hủy bỏ di chúc v.v… Qua đó phân tích để tìm ra mối liên hệ biện chứng và sự khác nhau giữa chúng.

Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về hủy bỏ di chúc. Với nhiệm vụ này, luận văn phân tích các quy định của BLDS, tìm hiểu mục đích, cơ sở của các điều luật nhằm đưa ra cách hiểu điều luật mang tính khoa học và phù hợp với thực tiễn nhất. Luận văn cũng tìm ra những bất cập, thiếu khoa học, thiếu chính xác trong quy định của pháp luật có liên quan về hủy bỏ di chúc làm tiêu đề cho hướng hoàn thiện các quy định của BLDS và các quy định của pháp luật có liên quan.

Đánh giá thực tiễn xét xử trong việc giải quyết các tranh chấp về hủy bỏ di chúc làm luận cứ đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của BLDS về hủy bỏ di chúc và các quy định của pháp luật có liên quan.

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu

4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Về không gian: Luận văn nghiên cứu chủ yếu là pháp luật Việt Nam về hủy bỏ di chúc và có so sánh (ở diện hẹp) về hủy bỏ di chúc của Cộng hòa Pháp, Nhật bản. Các bản án được trích dẫn chủ yếu của TANDTC, TAND thành phố Hồ Chí Minh, vụ việc xảy ra ở các địa phương trong nước.

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật về hủy bỏ di chúc theo quy định của BLDS năm 2015 và có đối chiếu với quy định trước đó về vấn đề này tại Việt Nam.

Về nội dung: Luận văn không nghiên cứu di chúc nói chung mà chỉ tập trung làm rõ quy định về hủy bỏ di chúc theo quy định của BLDS năm 2015 gồm các vấn đề: Chủ thể hủy bỏ di chúc, thời điểm di chúc bị hủy bỏ, hệ quả pháp lý của việc hủy bỏ di chúc. Ngoài ra, luận văn phân tích về các tranh chấp thừa kế có liên quan đến hủy bỏ di chúc.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Pháp luật chỉ mang tính khả thi khi quy định của nó phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội. Khi pháp luật phù hợp sẽ tác động tích cực vào đời sống xã hội và định hướng cho xã hội phát triển, ngăn chặn và loại trừ các mặt tiêu cực của xã hội. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tìm ra mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội, bởi chúng tôi luôn nhận thức rõ pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội được hình thành từ một cơ sở hạ tầng nhất định, là tấm gương phản chiếu xã hội và ngược lại, xã hội là cơ sở thực tiễn của pháp luật.

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic pháp lý, phương pháp chứng minh, phương pháp tổng hợp tác giả sử dụng tại Chương 1: Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các quy định hủy bỏ di chúc, trong đó làm sáng tỏ vấn đề hủy bỏ di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam trong BLDS năm 2005 (có so sánh, đối chiếu với BLDS năm 2015, pháp luật Nhật bản) và các văn bản pháp luật có liên quan, so sánh với pháp luật của một số nước. Phương pháp phân tích, phương pháp logic pháp lý dùng để làm rõ các quy định của pháp luật, chỉ ra các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng tác giả sử dụng phương pháp phân tích điều luật. Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh cho từng nhận định của tác giả. Phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng để rút lại vấn đề, đưa ra quan điểm cá nhân về từng vấn đề, phương pháp này được sử dụng ở tiểu mục, ở phần kết luận của từng chương và kết luận của luận văn để đối chiếu và so sánh những quy định mới của BLDS về hủy bỏ di chúc với những quy định trong các văn bản pháp luật trước đây, cũng như các quy định trong pháp luật một số nước trên thế giới nhằm làm rõ sự tương đồng của pháp luật nước ta .

Phương pháp diễn giải, phương pháp chứng minh, phương pháp tổng hợp, phương pháp logic pháp lý được tác giả sử dụng tại Chương 2: Phương pháp diễn giải khi trình bày các nội dung của Luận văn. Phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng để rút lại vấn đề, đưa ra quan điểm cá nhân về từng vấn đề, phương pháp này được sử dụng ở tiểu mục, ở phần kết luận của từng chương và kết luận của Luận văn. Phương pháp chứng minh ở chương này được sử dụng để chứng minh cho từng nhận định của tác giả. Phương pháp phân tích bản án, phương pháp logic pháp lý được sử dụng nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý trong các bản án có liên quan đến đề tài của Luận văn, đồng thời đánh giá việc áp dụng pháp luật trong bản án.

Mặt khác, chúng tôi cũng sử dụng các số liệu thống kê về thực tiễn xét xử tranh chấp về thừa kế của ngành tòa án và khảo sát thực tế công tác xét xử tranh chấp về thừa kế theo di chúc của các Tòa án cấp quận, huyện, TANDTC để nắm bắt tình hình áp dụng các quy định về thừa kế theo di chúc của BLDS trong thực tiễn xét xử của các cơ quan này.

5. Bố cục của Luận văn Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục bản án đính kèm, nội dung luận văn gồm 02 chương chính sau:

  • Chương 1: Các trường hợp hủy bỏ di chúc và điều kiện hủy bỏ di chúc
  • Chương 2: Hệ quả và các phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ

Chương 1 CÁC TRƯỜNG HỢP HỦY BỎ DI CHÚC VÀ ĐIỀU KIỆN HỦY BỎ DI CHÚC

1.1. Các trường hợp hủy bỏ di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Hoặc có định nghĩa khác: Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người (người để lại di sản) nhằm định đoạt toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc một phần tài sản của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi người đó chết.

Theo Điều 390 Quốc triều hình luật thì cha mẹ nhiều tuổi về già phải có trách nhiệm lo làm chúc thư để lại tài sản cho con cái, quy định này nhằm tránh sự tranh chấp tài sản về sau. Di chúc được lập dưới dạng văn bản gọi là chúc thư. Người có tài sản có thể tự viết chúc thư trong trường hợp không biết chữ thì chúc thư có thể nhờ xã trưởng viết thay và chứng thực (Điều 366 Quốc triều hình luật). Trong trường hợp chúc thư không tuân thủ hình thức do pháp luật quy định thì sẽ không có giá trị pháp lý lúc đó di sản thừa kế được chia theo pháp luật.

So với thời Lê, thời Nguyễn mà cụ thể là trong bộ Hoàng Việt Luật Lệ có rất ít chế định liên quan đến thừa kế. Tuy nhiên, những nguyên tắc về quan hệ tài sản và thừa kế cơ bản vẫn tương tự như luật thời nhà Lê nhưng đối với thừa kế theo di chúc thì trong Hoàng Việt Luật Lệ lại không quy định về hình thức của di chúc mà chỉ có quy định về người thừa kế theo di chúc có quyền nhận di sản sau khi cha mẹ chết (mục 10 quyển 6 Hộ Luật). Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Điều 321 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định người vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản riêng của mình nếu không được người chồng đồng ý. Người cha có thể lập chúc thư để định đoạt tài sản của mình tùy theo ý mình, nhưng phải giữ quyền lợi cho người vợ chính. Người lập chúc thư có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người trong những người được thừa kế. Việc truất quyền thừa kế phải lập thành văn bản do viên quản lý văn khế lập hoặc do lý trưởng nơi cư trú của người lập chúc thư. Chúc thư phải làm thành văn bản hoặc do viên quản lý văn khế làm ra hoặc có công chứng thị thực. Chúc thư không có viên chức thị thực phải do người lập chúc thư viết lấy và ký tên. Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thay thì phải có ít nhất hai người đã thành niên làm chứng.

Trước đây, Thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế ban hành ngày 24/07/1981. Theo quy định tại phần A mục IV của TT 81 ta thấy hình thức di chúc cũng được chia làm hai loại là di chúc viết và di chúc miệng.

  • Di chúc có những đặc điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự khác.

Trước hết, di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc, ý chí đơn phương này được thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (trường hợp lập di chúc chung vợ chồng thực chất thì vẫn là phần tài sản của ai thì người đó có quyền định đoạt). Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nội dung di chúc. Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc. Di chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc, không bị sự chi phối nào của người khác. Bằng việc lập di chúc, người để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc.

Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc. Người lập di chúc có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Nếu như trong hợp đồng dân sự các bên phải thể hiện ý chí thông qua thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc. Hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống nhất được những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng thì di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi đảm bảo các điều kiện do luật định.

  • Thứ hai, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực sau khi người lập di chúc chết.

Hợp đồng có hiệu lực sau khi ký kết, di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế.

Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc. Hủy bỏ, theo Từ điển Tiếng Việt, tức là bỏ đi, coi là hoàn toàn không còn có hiệu lực hoặc giá trị gì nữa, hoặc có nghĩa khác “hủy bỏ là làm cho văn bản đã lập không còn hiệu lực pháp luật”. Hủy bỏ di chúc là việc người để lại thừa kế từ bỏ di chúc của mình bằng cách không công nhận di chúc do mình lập ra là có giá trị. Theo quan điểm tác giả hủy bỏ di chúc là việc người lập di chúc hủy bỏ bằng nhiều cách thức khác nhau hoặc trong một thời hạn nhất định, di chúc sẽ không còn giá trị hoặc di chúc được thay thế di chúc đã lập bằng di chúc mới thì di chúc cũ cũng được coi là đã bị hủy bỏ. Trước thời điểm người lập di chúc chết, di chúc vẫn chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa có giá trị ràng buộc. Chính vì lẽ đó mà “người lập di chúc có thể hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào”.

Quy định trên đã tồn tại trong BLDS năm 1995 (khoản 1, Điều 665) và trong Pháp lệnh thừa kế năm 1990. Quyền hủy bỏ di chúc đã được ghi nhận từ khá lâu ở Việt Nam. Theo một tài liệu “cho tới khi chết người lập di chúc có quyền bãi bỏ chúc thư đã lập. Quyền này rất quan trọng, đã được án lệ Nam công nhận và đã được quy định đầy đủ trong hai bộ Dân Luật Bắc Trung”.

BLDS chỉ quy định cá nhân có quyền hủy bỏ di chúc, nhưng không quy định các trường hợp hủy bỏ như thế nào, trong trường hợp nào di chúc được coi là hủy bỏ.

1.1.1. Hủy bỏ minh thị Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Minh thị, theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là cho thấy rõ ràng, tỏ ý một cách rõ ràng. Hủy bỏ minh thị di chúc là việc người lập di chúc thể hiện ý chí công khai bằng một văn bản, nói rõ về việc người lập di chúc không thừa nhận giá trị của di chúc do mình đã lập trước đó. Trong các văn bản pháp luật hiện hành cũng không nói rõ văn bản thể hiện việc hủy bỏ di chúc minh thị có phải là di chúc hay không, song trên thực tế văn bản hủy bỏ di chúc vẫn có giá trị pháp lý, nếu đúng là ý chí của người lập di chúc.

Ví dụ: Bản án số 61/2009/DS-ST ngày 09/01/2009 của TAND thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là bản án số 61) có nội dung: Ngày 9/11/1998 bà Nượu lập di chúc nội dung để lại cho 02 người con là Vinh và Sương được trọn quyền thừa kế phần nhà thuộc sở hữu của bà Nượu và phần bà thừa kế của chồng trong căn nhà số 491/23 Huỳnh Văn Bánh. Di chúc lập tại Phòng Công chứng số 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 7/9/1999 bà Nượu lập di chúc tại UBND phường 14, quận Phú Nhuận, nội dung để lại tài sản chia đều cho 4 người con là ông Ba, bà Sương, bà Vinh, bà Nhẫn. Di chúc này thay cho di chúc lập ngày 9/11/1998. Đến ngày 26/12/2000 bà Nượu có đơn xin hủy di chúc lập ngày 7/9/1999 và yêu cầu sau khi chết tài sản được chia theo pháp luật, được UBND phường 14, quận Phú Nhuận xác nhận. Tòa án cho rằng: “việc bà Nượu lập tờ di chúc sau cùng vào ngày 26/12/2000 là hoàn toàn hợp lệ và phù hợp với quy định pháp luật như vậy bản di chúc ngày 26/12/2000 là bản di chúc cuối cùng có hiệu lực pháp luật”. Ở đây di chúc năm 1999 đã được người lập di chúc hủy bỏ một cách minh thị bằng đơn xin hủy bỏ nên di chúc này không có giá trị.

Trong bản án này, nhận thấy: Tòa án cho rằng tờ đơn xin hủy bỏ di chúc của bà Nượu là di chúc cuối cùng, song theo tác giả, đây không phải là di chúc mà là văn bản hủy bỏ di chúc. Lý do là vì khoản 1, Điều 656, BLDS năm 1995 quy định: Nội dung của di chúc bằng văn bản: Di chúc phải ghi rõ: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Như vậy, trong pháp luật hiện hành về hủy bỏ di chúc minh thị tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc UBND cấp xã thì chỉ có những di chúc đã được công chứng hoặc chứng thực mới là đối tượng để thực hiện thủ tục hủy bỏ. Còn những di chúc không được công chứng hoặc chứng thực thì không điều chỉnh. Nếu hủy bỏ di chúc đã công chứng thì thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào thực hiện việc công chứng hủy bỏ. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc hủy bỏ di chúc. Việc hủy bỏ di chúc đã chứng thực cũng thực hiện tại bất kỳ cơ quan có thẩm quyền chứng thực nào; cơ quan đã thực hiện việc hủy bỏ di chúc phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã chứng thực trước đây về nội dung hủy bỏ di chúc để ghi chú vào sổ chứng thực hợp đồng, giao dịch. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

1.1.2. Hủy bỏ mặc nhiên

Hủy bỏ mặc nhiên là hủy bỏ một cách tự nhiên, ưng thuận bằng cách yên lặng không lên tiếng phản đối. Là trường hợp một người để lại tài sản bằng một di chúc nhưng sau đó lại lập một di chúc khác hoặc định đoạt đối với tài sản đó bằng một hành vi pháp lý khác. như tặng, cho, mua bán, cầm cố, thế chấp, hay dùng tài sản đó bảo lãnh cho một nghĩa vụ mà sau đó tài sản này đã bị xử lý để trả nợ. Hủy bỏ mặc nhiên còn thể hiện trong một thời hạn (sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ).

Hủy bỏ di chúc mặc nhiên bao gồm chúc khác, hủy bỏ bằng một hành vi pháp lý định (di chúc miệng). các loại: Hủy bỏ bằng việc lập một di khác và hủy bỏ trong một thời hạn nhất

1.1.2.1. Hủy bỏ mặc nhiên bằng việc lập di chúc khác.

Khoản 3, Điều 640, BLDS năm 2015 quy định: Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc đã lập bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ. Có thể hiểu rằng đây là việc người để lại di sản lập di chúc khác thay thế cho di chúc cũ vì họ cho rằng những quyết định của mình trong di chúc trước không còn phù hợp với ý chí họ nữa. Do đó, di chúc trước coi như không có, vì chính người lập di chúc đã hủy bỏ nếu như việc thay thế di chúc trong lúc họ còn minh mẫn sáng suốt. Trong thực tế có trường hợp một người lập nhiều bản di chúc vào vào thời điểm khác nhau mà nội dung di chúc không phủ định lẫn nhau thì tất cả các di chúc đều có hiệu lực. Ngược lại, nếu nội dung phủ định nhau thì thì coi như thay thế di chúc, mà di chúc đã bị thay thế thì coi như đã hủy bỏ.

Ví dụ: Theo Quyết định 175/2010/DS-GĐT ngày 27/4/2010 của Tòa Dân sự TANDTC: Ngày 1/7/1990 cụ Tảng lập di chúc để lại tài sản cho các con là Lẹt (Hai Xẹt), Lang (Tư Xét), Đạm (Bảy Chôm), Đực (Tám Dặm) và Đực (Út Nhỏ); theo di chúc cụ Tảng chia cho ông Đực (Út Nhỏ) ruộng, đất triền, đất nhà ở (theo ranh hiện hữu). Tuy nhiên, ngày 15/9/1992 cụ Tảng lập một di chúc khác để lại nhà đất cho ông Đực (Tám Dặm). Trên thực tế sau khi lập di chúc ngày 15/9/1992 cụ Tảng giao nhà, đất cho ông Đực (Tám Dặm) quản lý, sử dụng. Tòa án cấp giám đốc thẩm cũng đã nhận định: “Trong trường hợp di chúc năm 1992 cụ Tảng tự nguyện lập, khi minh mẫn và không bị lừa dối thì di chúc năm 1990 không có hiệu lực vì đã có di chúc năm 1992”. Như vậy cho thấy di chúc năm 1990 đã bị hủy bỏ bởi di chúc năm 1992. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Khi di chúc bị hủy bỏ bởi di chúc mới thì người có tên trong di chúc bị hủy bỏ không được hưởng tài sản đã được định đoạt lại và nếu di chúc mới (đồng thời hủy bỏ di chúc cũ ) có giá trị pháp lý thì người có tên trong di chúc mới được hưởng di sản. Đây là trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản và di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật.

Đối với việc hủy bỏ di chúc cũ bằng di chúc mới câu hỏi đặt ra là di chúc mới có nhất thiết phải theo hình thức di chúc cũ không? Hiện nay theo quy định tại Khoản 3 Điều 421 BLDS năm 2015 về hợp đồng quy định : “ Hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu”. Về hình thức di chúc tại điểm b, khoản 1, Điều 630 BLDS năm 2015 quy định:…” hình thức di chúc không trái quy định của luật”, chứ không quy định rõ khi hủy bỏ di chúc phải tuân theo hình thức ban đầu. Hoặc trong trường hợp di chúc miệng tiếp tục hủy bỏ bằng di chúc miệng thì pháp luật cũng chưa quy định. Vậy vấn đề đặt ra là pháp luật quy định mốc thời gian và các điều kiện kèm theo để hủy bỏ di chúc nhưng pháp luật không quy định cụ thể ai có thẩm quyền hủy bỏ, và ai sẽ yêu cầu tổ chức công chứng, cơ quan có thẩm quyền chứng thực việc hủy bỏ di chúc đã công chứng, chứng thực.

1.1.2.2. Hủy bỏ mặc nhiên bằng giao dịch khác di chúc.

Hủy bỏ mặc nhiên bằng giao dịch khác di chúc là việc người lập di chúc đã phân chia tài sản trong di chúc nhưng sau đó lại thực hiện một hành vi pháp lý định đoạt tài sản (tặng cho, bán) thì di chúc đã lập trước đó mặc nhiên bị hủy bỏ. Khác với hủy bỏ bằng việc lập di chúc khác ở chỗ tài sản trong di chúc đã không còn thuộc sở hữu của người lập di chúc mà đã được định đoạt bằng ý chí của người lập di chúc, cho nên tài sản trong di chúc không còn thì di chúc mặc nhiên bị hủy bỏ.

Ví dụ: Quyết định 471/2011/DS-GĐT ngày 21/6/2011 của Tòa dân sự TANDTC có nội dung: Cụ Phát, cụ Đừng đã cho ông Phong đất, sau đó lại lập di chúc cho tài sản của mình cho ông Linh, bà Xuối, bà Đơn. Khi di chúc chưa phát sinh hiệu lực (năm 2005) cụ Phát thay đổi ý nguyện của mình đòi lại đất đã cho ông Phong nhưng sau đó lại cho ông Phong diện tích đất đó. Mặc dù cụ Phát không có văn bản thay thế di chúc nhưng thực tế cụ Phát đã cho đất ông Phong nên đã đào mương để phân ranh và ông Phong đã làm nhà kiên cố để ở từ đó đến trước khi cụ Phát chết không ai có khiếu kiện gì. Nay cụ Phát chết, ông Phong đã đứng tên trong sổ địa chính, xét thấy nên tôn trọng ý nguyện của cụ Phát khi còn sống là đã cho ông Phong phần đất của mình”. Ở đây di chúc ông Phát cho ông Linh, bà Xuối và bà Đơn đã bị hủy bỏ bởi ông Phát đã tặng cho tài sản cho ông Phong nên di chúc cho ông Linh, bà Xuối, bà Đơn mặc nhiên bị hủy bỏ. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Theo Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày tháng 4 năm 2016 của Chánh án TANDTC: Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.

Hoặc trong vụ án người có tài sản sau khi lập di chúc lại tặng cho tài sản đã nêu trong di chúc cho phép suy luận rằng người này đã hủy bỏ di chúc. Cụ thể ngày 19/12/2001 bà Nhớn lập tờ tặng cho nhà đất cho bà Trang. Trong khi trước đó bà Nhớn lập di chúc ngày 18/01/1997. Như vậy về mặt ý chí bà Nhớn đã thay đổi ý định, không muốn để lại tài sản của bà sau khi qua đời cho những người được thừa kế theo di chúc mà bà đã lập trước đây. Tuy bà Nhớn không lập tờ hủy bỏ di chúc ngà 18/01/1997 nhưng theo quy định của pháp luật khi bà Nhớn lập tờ tặng cho nhà đất cho bà Trang thì ý chí của Nhớn đã thay đổi, như vậy mặc nhiên tờ di chúc đã lập bị hủy bỏ.

1.1.2.3. Hủy bỏ mặc nhiên sau một thời hạn luật định

Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ13. Điều 629, BLDS năm 2015 bỏ quy định: “Do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác”, quy định trước đây tại khoản 1, Điều 561 BLDS năm 2005. Việc loại bỏ quy định này tạo ra một quy định ngắn gọn, chặt chẽ và dễ áp dụng hơn trong việc giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế theo di chúc miệng. Bởi vì quy định: “Do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác” rất chung chung, rất khó xác định và còn có thể bị suy luận sai.

  • Như vậy, Di chúc miệng là loại di chúc mặc nhiên hủy bỏ khi có ba điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện về thời gian để một di chúc miệng “mặc nhiên bị huỷ bỏ” là sau ba tháng được tính kể từ thời điểm người di chúc miệng thể hiện ý chí sau cùng. Pháp luật cho rằng khoảng thời gian ba tháng là đủ để người di chúc miệng có thể hồi phục lại sức khoẻ hay phục hồi khả năng lập lại loại di chúc bằng văn bản.

Thứ hai, điều kiện về sức khoẻ là người di chúc miệng là vẫn còn sống. Để xác định một người còn sống là một điều rất dễ dàng nhưng pháp luật không nêu rõ tình trạng của người di chúc miệng còn sống là phải “khoẻ mạnh” hay “hồi phục sức khoẻ” và đã thoát khỏi tình trạng tính mạng “bị cái chết đe doạ” hay không. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Thứ ba, điều kiện về nhận thức là “minh mẫn, sáng suốt” thì đây là điều kiện tương tự tại thời điểm di chúc miệng. Nên xác định yêu cầu về nhận thức sẽ xác định tương tự điều kiện nhận thức tại thời điểm lập di chúc như đã phân tích ở phần trên.

Thực tiễn xét xử tranh chấp về di chúc miệng có trường hợp công nhận có trường hợp không công nhận di chúc tùy vào những tình tiết vụ án: Theo bản án số 14/2006/DSPT ngày 15/2/2006 của Tòa phúc thẩm, TANDTC tại thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là bản án số 14/2006) thì vào lúc 1h 55 phút ngày 6/2/2002 ông Nam có di chúc miệng là giao căn nhà 179/2A Nơ trang Long và chiếc ô tô Mercedes cho bà Linh và bà Tỵ, có 2 người làm chứng là bà Hương và bà Lang cùng ký vào văn bản ghi chép lại ý nguyện của ông Nam. Bản án này đã chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, công nhận di chúc miệng này có hiệu lực.

Tuy nhiên, bản án số 14/2011/DS-PT ngày 12/12/2011 của Tòa phúc thẩm, TANDTC tại Đà Nẵng thì không công nhận di chúc miệng, nội dung vụ án như sau: Ngày 20/3/2002 ông ông Bình có di chúc miệng bằng hình thức ghi âm và ghi hình nhân ngày giỗ tại nhà ông Hân, đến ngày 01/01/2004 ông Bình chết. Bản án sơ thẩm công nhận di chúc miệng, nhưng bản án phúc thẩm không chấp nhận, vì thời hạn từ khi di chúc đến khi ông Bình chết đã quá lâu (quá 3 tháng).

Với bản án dân sự sơ thẩm số 24/2007/DSST ngày 5/9/2007 TAND Thành phố Nam Định (gọi tắt là bản án số 24/2007) có nội dung như sau: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị M có ba người con một trai và hai gái là Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị và Nguyễn Thị H.Ngày 2/4/2004 bà M chết không để lại di chúc, ngày 5/8/2006 ông K chết và có để lại di chúc miệng với nội dung như sau: tôi có để lại cho con trai là Nguyễn Anh T căn nhà và đất đang ở trị giá 200.000.000 đồng còn hai người con gái là Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị H đã đi lấy chồng cho mỗi người 1 cây vàng. Di chúc miệng được anh con trai thu băng ghi âm lại. Tòa nhận thấy ông K khi gọi các con lại lập di chúc miệng là rất minh mẫn và tự nguyện, trước khi chết vài ngày ông có dặn dò lại các con là cho anh T toàn bộ nhà đất cho chị N và chị H mỗi người một cây vàng, hôm dặn dò đấy có người làm chứng là Bà Hoàng Thị L (hàng xóm) và ông Nguyễn Xuân D (hàng xóm). Bà N và bà H yêu cầu Tòa án chia thừa kế di sản của ông K theo pháp luật hai bà không thừa nhận cuốn băng ghi âm anh T xuất trình là di chúc miệng của ông K là có hiệu lực pháp luật. Toà án đã công nhận di chúc miệng trên.

Di chúc miệng trên được lập năm 2006 khi BLDS năm 2005 có hiệu lực. Trong trường hợp trên di chúc không được ghi chép lại dưới dạng văn bản mà chỉ có bản ghi âm, nhưng TAND thành phố Nam Định vẫn chấp nhận di chúc miệng hướng xét xử này đã vượt ra ngoài các quy định của BLDS năm 2005. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Trong vụ việc trên, anh T có đầy đủ căn cứ để chứng minh có tồn tại di chúc miệng thông qua bản ghi âm và lời khai của người làm chứng. Nhưng những người làm chứng đã không ghi chép lại và đi công chứng di chúc miệng theo đúng thủ tục của pháp luật. TAND thành phố Nam Định vẫn chấp nhận di chúc miệng trên vì Toà cho rằng có đầy đủ căn cứ để xác định bản di chúc miệng là ý chí đích thực của ông K, hướng xử lý này của Toà án tạo ra một hướng mới về “vấn đề hiệu lực di chúc miệng lập không đúng thủ tục”.

So với pháp luật hiện hành, ở bản án số 14/2006, mặc dù di chúc miệng không tuân thủ về mặt thể thức như: công chứng, chứng thực trong thời hạn 5 ngày. Song việc lập di chúc này xác định có thật, có 2 người làm chứng, đều ghi chép , có chữ ký và các đương sự thừa nhận đúng với ý chí cuối cùng của người lập di chúc.

Với bản án số 24/2007, một vấn đề pháp lý đặt ra là di chúc miệng được ghi lại bằng ghi âm hay ghi hình thì có được coi là hình thức của di chúc miệng không? TAND TP. Nam Định đã chấp nhận di chúc miệng được ghi âm. Hướng xử lý của Toà án đã vượt ra ngoài quy định của BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 về di chúc miệng. Trong trường hợp bản ghi âm có được thừa nhận là một loại hình thức di chúc hay là di chúc miệng không? Hay bản ghi âm chỉ là căn cứ để chứng minh cho di chúc miệng? Vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn và hoàn thiện hệ thống án lệ để làm rõ vấn đề này, gỡ nút thắt trong việc xét xử về di chúc miệng, tạo sự đồng nhất cho quá trình áp dụng pháp luật.

Theo quan điểm của tác giả di chúc miệng theo quy định hiện hành còn bất cập, liên quan đến việc mặc nhiên bị hủy bỏ hay bị vô hiệu do vi phạm về hình thức. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Thứ nhất, đối với di chúc miệng mặc nhiên hủy bỏ sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt. Trong trường hợp này pháp luật đã hạn chế quyền của người lập di chúc miệng. Bởi vì, nếu người lập di chúc miệng vẫn giữ nguyên ý chí của mình mà không muốn hủy bỏ di chúc miệng đã lập thì tại sao pháp luật lại không ghi nhận. Bởi vì một trong những nguyên tắc cơ bản của BLDS là tôn trọng ý chí của đương sự.

Thứ hai, đối với trường hợp trong thời hạn 5 ngày di chúc miệng phải được phải được công chứng, chứng thực đã “hành chính hóa quan hệ dân sự”. Bởi vì, như chúng ta đều biết bản thân di chúc miệng ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt “cái chết đe dọa” thì trong khoản thời gian này gia đình, người thân (có thể người được chỉ định hưởng di sản trong di chúc miệng) tập trung cứu chữa người lập di chúc, nếu sau đó người lập di chúc miệng chết thì phải lo ma chay, không ai lại có thời gian hoặc nghĩ đến việc công chứng, chứng thực. Mặc khác, tập quán của người Việt Nam ít khi làm việc này trong thời hạn 5 ngày. Vì xã hội sẽ xem thường những dạng người “cha mẹ chưa chết mà đã đi lo nghĩ về tài sản”. Trong Sắc luật năm 1925-1929 (Sắc luật Điền thổ năm 1925) quy định trong lúc cư tang không được chia di sản hoặc trong Án lệ Nam Bộ cũng thừa nhận trong thời kỳ cư tang thì di chúc chưa thực hiện. Như vậy, Quy định này không phù hợp với đạo đức xã hội Việt Nam. Mặc khác, về hình thức di chúc vẫn cho phép không cần công chứng, chứng thực, vẫn phát sinh hiệu lực. Miễn sao, khi phân chia di sản phải chứng minh di chúc miệng đó là có thật, ý chí người lập di chúc là đúng sự thật. Do đó, theo tác giả, quy định về công chứng, chứng thực đối với di chúc miệng trong thời hạn 5 ngày chỉ nên quy định là điều khoản tùy nghi.

Thứ ba, đối với trường hợp di chúc miệng được ghi lại hình ảnh kèm theo âm thanh cũng có thể được xem xét công nhận trong thực tiễn xét xử nếu phù hợp với các chứng cứ khác thể hiện ý chí của người lập di chúc là có thật, khách quan. Bởi vì trong điều kiện hiện nay việc ghi hình ảnh, âm thanh diễn ra trong thực tế rất dễ dàng, thuận tiện bằng các phương tiện như: điện thoại, máy quay phim, trong điều kiện “cái chết đe dọa” thì chỉ làm được những việc như vậy là phù hợp với thực tế. Trường hợp ghi chép lại đôi khi “tam sao thất bản” có khi không đúng với nội dung người lập di chúc mong muốn. Như trong trường hợp bản án của TAND thành phố Nam Định có thể chưa hợp pháp theo pháp luật hiện hành, song đảm bảo phù hợp với thực tiễn vì lẽ công bằng.

Về quy định: sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ. Quy định này nên sửa đổi, không thể bị hủy bỏ bởi ý chí pháp luật và chưa thể hiện đầy đủ. Trong trường hợp cá nhân muốn hủy bỏ di chúc miệng trước 3 tháng thì pháp luật quy định như thế nào?

  • Từ những phân tích nêu trên, kiến nghị về hủy bỏ đối với di chúc miệng như sau:

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2007/DSST ngày 5/9/2007 của TAND Thành phố Nam Định để thông qua án lệ và đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố bản án này thành án lệ.

Bổ sung quy định tại Điều 629, Bộ Luật dân sự 2015: “sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ” theo hướng trường hợp người lập di chúc miệng tiếp tục hủy bỏ bằng di chúc miệng thì chính bản thân người lập di chúc miệng đến tổ chức đã công chứng, chứng thực yêu cầu công chứng hoặc chứng thực văn bản huỷ bỏ bản di chúc mà người làm chứng đến công chứng, chứng thực và tuân theo hình thức ban đầu.

1.1.3. Hủy bỏ toàn bộ, hủy bỏ từng phần di chúc Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Trong BLDS năm 2015 không có quy định về hủy bỏ di chúc toàn bộ mà chỉ có quy định di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp nhất định. Ở đây chúng ta không đi vào phân tích từng nội dung về hiệu lực đối với di chúc cụ thể mà chỉ khái lược về hình thức của việc hủy bỏ toàn phần di chúc. Tức là, trong từng trường hợp cụ thể di chúc sẽ bị hủy bỏ toàn bộ. Trong trường hợp này sẽ được coi không tồn tại di chúc nào và di sản sẽ được chia theo pháp luật. Xuất phát từ quy định: Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ. Ở đây luật không nói rõ trước đó có bao nhiêu bản di chúc mà cứ có hành vi lập di chúc sau thay thế cho di chúc trước thì di chúc trước bị hủy bỏ toàn bộ. Tương tự như vậy, khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực và đương nhiên những bản di chúc trước cũng sẽ bị hủy bỏ.

Di chúc bị hủy bỏ từng phần, tức là phần bị hủy bỏ sẽ không có hiệu lực. Trong BLDS năm 2015 cũng không có khái niệm hủy bỏ từng phần, song chỉ có khái niệm di chúc có hiệu lực một phần trong một số trường hợp nhất định theo quy định tại Điều 643, BLDS 2015. Hoặc trong 01 bản di chúc xác định một phần hợp pháp, một phần không hợp pháp mà chủ yếu là người lập di chúc đã định đoạt tài sản của người khác, không phải của mình. Theo quy định của BLDS năm 2005, 1995 “khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật”. BLDS năm 2015 tiếp tục quy định: “Trong trường hợp di chúc có nội dung trái pháp luật, có hai khả năng: hoặc toàn bộ di chúc không hợp pháp, hoặc một phần di chúc không hợp pháp nếu phần này không ảnh hưởng tới phần còn lại của di chúc”.

Trong thực tế, cá nhân thường định đoạt tài sản riêng của mình trong di chúc nhưng cũng có trường hợp định đoạt luôn phần tài sản của người khác (thường là tài sản chung) trong di chúc của mình. Trong thực tiễn xét xử, các cấp tòa án thường công nhận một phần di chúc, tức là đối với phần tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người lập di chúc hoặc không công nhận đối với phần tài sản không thuộc sở hữu của người lập di chúc hoặc không công nhận toàn bộ di chúc do vi phạm về hình thức, nội dung… Tuy nhiên, hệ quả pháp lý của phần di chúc không phát sinh hiệu lực cần phải xác định rõ để việc chia thừa kế đảm bảo thuyết phục. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Ví dụ: Theo Quyết định số 179/2006/DT-GĐT ngày 27/7/2006 của TANDTC: Vợ chồng cụ Nhiên và cụ Diễn sinh được 8 người con chung (01 người con chết trước vợ chồng cụ và không có con). Cụ Nhiên chết ngày 03/11/1987 không để lại di chúc, cụ Diễn chết ngày 1/7/1996 nhưng trước đó, ngày 20/5/1996 cụ Diễn lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất của 2 cụ cho ông Trù (bản di chúc có xác nhận của UBND xã Thủy Sơn ngày 23/5/1996). Cụ Diễn đã định đoạt phần di sản cụ Nhiên là không đúng pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm xác định di chúc hợp pháp 1/2 và 1/2 còn lại của di chúc không hợp pháp (hủy bỏ một phần). Tuy nhiên cách giải quyết của tòa án là chưa hoàn toàn thuyết phục. Trong Bộ luật dân sự không xác định rõ được phần hợp pháp và phần không hợp pháp. Theo quan điểm tác giả cần xác định rõ phần không hợp pháp, phần hợp pháp một cách cụ thể để áp dụng trong việc xét xử đảm bảo sự công bằng và đúng pháp luật. Trong vụ án này, phần không phát sinh hiệu lực ít hơn 1/2 tài sản và phần phát sinh hiệu lực nhiều hơn 1/2 tài sản. Bởi vì cụ Diễn định đoạt 1/2 tài sản của cụ Nhiên thì phần 1/2 không chỉ là 1/2 nữa mà lớn hơn, có một kỷ phần của cụ Diễn (do cụ Nhiên chết trước, không có di chúc và thời điểm chết đến khi cụ Diễn lập di chúc chưa quá 10 năm) nên cụ Diễn được hưởng thừa kế theo pháp luật với một kỷ phần là 1/16 trong khối tài sản chung (7 người con và cụ Diễn là hàng thừa thế thứ nhất). Như vậy, tổng cộng phần di chúc phát sinh hiệu lực sẽ lớn hơn 1/2 khối tài sản chung, tức là: 1/2+1/16 = 9/16 toàn bộ tài sản ban đầu của vợ chồng. Phần không có hiệu lực sẽ nhỏ hơn 1/2 trong khối tài sản chung, tức là : 1/2- 1/16 = 7/16.

1.1.4. Hủy bỏ bằng cách hủy hoại ( xé, đốt…) di chúc

Đối với trường hợp người lập di chúc xé, đốt, tiêu hủy di chúc: Đây không phải là trường hợp hiếm có trên thực tế. Tuy nhiên, thông thường những di chúc đã bị xé, đốt, tiêu hủy rồi thì coi như người để lại di sản không lập di chúc vì các đương sự không ai có thể xuất trình được di chúc để yêu cầu chia thừa kế theo di chúc. Tuy vậy, việc xé, đốt, tiêu hủy di chúc của người lập di chúc vẫn chưa thể đảm bảo tuyệt đối rằng mầm mống của việc tranh chấp thừa kế theo di chúc đó không còn tiềm ẩn; bởi vì, khi người lập di chúc chết mà không để lại di chúc nào khác, nếu người được thừa kế theo di chúc có bản phô tô di chúc (di chúc đảm bảo tính hợp pháp được mọi người thừa nhận, các đương sự khác chỉ khai là đã bị người lập di chúc xé, đốt, tiêu hủy) yêu cầu chia thừa kế theo di chúc. Lý do không có bản di chúc gốc, người đó có thể khai là do bị thất lạc, do nhà bị hỏa hoạn… nên không còn; các đương sự khác đều thừa nhận có di chúc này, nhưng cho rằng người lập di chúc đã xé, đốt, tiêu hủy di chúc, nhưng những chứng cứ thể hiện cho việc tiêu hủy thường là không có vì nếu có việc xé, đốt, tiêu hủy di chúc thì không ai lại lập thành văn bản để xác nhận có việc tiêu hủy. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Ở đây, chúng ta thấy rằng có sự khác biệt với các hình thức hủy bỏ minh thị, hủy bỏ mặc nhiên mà hủy bỏ di chúc bằng cách xé, đốt di chúc là do ý chí của người lập di chúc. Tuy nhiên, không phải cứ có hành vi người lập di chúc xé, đốt di chúc thì coi như di chúc đã hủy bỏ. Trong BLDS không mô tả cách thức hủy bỏ di chúc như thế nào. Do đó, nếu thực tế xảy ra việc hủy bỏ di chúc bằng cách xé, đốt thì cũng cần phải có nghiên cứu để xác định hiệu lực của việc việc hủy bỏ di chúc bằng cách xé, đốt.

Giả sử trường hợp một người đã lập di chúc bằng hình thức có 2 người làm chứng và người đó đã xé, đốt tất cả các bản di chúc này không còn tồn tại trên thực tế thì đương nhiên di chúc đã bị hủy bỏ. Bởi không thể xác định được bản di chúc nào tồn tại trên thực tế. Và trường hợp này cũng giống như trường hợp di chúc bị thất lạc, hư hại. Và theo quy định về di chúc bị thất lạc, hư hại thì: Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, đối với các trường hợp di chúc có công chứng, chứng thực mà người lập di chúc chỉ đốt, xé bản di chúc bản gốc họ đang nắm giữ hoặc di chúc có người làm chứng vẫn chưa đốt, xé hết tất cả các bản di chúc được lập thì cũng khó có thể xác định di chúc đã bị hủy bỏ hoàn toàn. Vì nếu như di chúc đang còn lưu giữ tại tổ chức công chứng, chứng thực thì theo quy định tại Điều 641, BLDS năm 2015 tổ chức đó phải có nghĩa vụ giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Hoặc trường hợp người lập bản di chúc có người làm chứng theo đúng quy định pháp luật. Và di chúc này bị xé bản gốc chẳng hạn còn bản photocopy thì đương nhiên bị hủy bỏ hay không? Hoặc trong trường hợp xé, đốt di chúc không xuất phát từ người lập di chúc mà từ người khác thì không có cơ sở khẳng định người lập di chúc đã thay đổi ý định nên không coi đây là trường hợp hủy bỏ di chúc (tức di chúc vẫn còn giá trị pháp lý). Sau thời điểm mở thừa kế, công chứng viên công bố di chúc và gửi bản sao di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc. Khi có tranh chấp xảy ra, người thừa kế yêu cầu chia thừa kế theo di chúc được lưu giữ ở công chứng nhà nước thì Tòa án vẫn phải xem xét yêu cầu của họ, nếu những người khác không có chứng cứ chứng minh di chúc đã bị người lập di chúc tự nguyện hủy bỏ.

Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam chưa quy định về hình thức hủy bỏ di chúc mà chỉ đưa ra một trường hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 640 mà thực chất quy định này là thay thế di chúc. Vì vậy, để pháp luật được thực hiện thống nhất, góp phần hạn chế những tranh chấp phát sinh từ việc không quy định này, chúng tôi đề nghị cần quy định rõ về hình thức thể hiện việc hủy bỏ di chúc. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Pháp luật Nhật Bản không quy định về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc như pháp luật dân sự Việt Nam, nhưng tại mục V, BLDS Nhật Bản quy định về “Rút di chúc”. Về bản chất, việc rút di chúc cũng chính là sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc, chỉ khác nhau về cách gọi.

Điều 1022 BLDS Nhật Bản quy định: “Bất cứ lúc nào người lập di chúc cũng có thể rút lui toàn bộ hoặc một phần di chúc của mình tuân theo một trong những hình thức di chúc”.

Điều 1023 BLDS Nhật Bản quy định: “Nếu di chúc trước không phù hợp với di chúc sau, thì phần không phù hợp của di chúc trước coi như được rút lui…”.

Điều 1024 BLDS Nhật Bản quy định: “Nếu người lập di chúc cố tình hủy bỏ di chúc, thì phần di chúc đã hủy bỏ được coi như đã rút lui. Quy định này được áp dụng kể cả khi người lập di chúc cố ý phá hủy di sản theo di chúc”.

Theo BLDS Pháp thì thay thế, hủy bỏ di chúc được quy định tại mục VIII chương V thiên II. Điều 1035 quy định: “Di chúc chỉ có thể bị hủy toàn bộ hoặc một phần bởi một di chúc sau hoặc một chứng thư tuyên bố thay đổi ý chí do công chứng viên lập ra”. Điều 1036 quy định: “Những di chúc sau nếu không viết rõ ràng là hủy di chúc trước thì chỉ hủy những điều trong di chúc trước không thích hợp hoặc trái với những quy định trong di chúc sau”.

Như trên đã phân tích thì trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới, thì di chúc trước bị hủy bỏ. Di chúc mới có thể khẳng định trong nội dung về việc di chúc cũ không còn hiệu lực, nhưng nếu di chúc mới không nói tới việc mất hiệu lực của di chúc cũ thì di chúc cũ cũng đương nhiên mất hiệu lực. Di chúc là ý chí của người lập di chúc nhằm định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác. Ý chí của người lập di chúc có thể bị thay đổi phụ thuộc vào các thời điểm, do nhiều nguyên nhân khác nhau: Do tình cảm với từng người thân trong những giai đoạn khác nhau có sự khác nhau, do sự chăm sóc, quan tâm của các người thân với người lập di chúc trong các giai đoạn khác nhau có khác nhau, do thương người thân có hoàn cảnh khó khăn nhất… Vì vậy, ở các thời điểm khác nhau thì người lập di chúc có ý chí khác nhau trong việc định đoạt tài sản. Nếu chí của người lập di chúc được thể hiện ra bằng di chúc thì di chúc trước đó bị mất hiệu lực, nếu như cả hai di chúc đều định đoạt một loại tài sản và đây chính là việc thay thế di chúc.

1.2. Điều kiện hủy bỏ di chúc Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

  • Điều kiện đối với người hủy bỏ di chúc:

Là toàn bộ những quy định của pháp luật để một người thực hiện thủ tục hủy bỏ di chúc theo một trình tự nhất định.

  • Người yêu cầu công chứng, chứng thực việc hủy bỏ di chúc phải là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự;
  • Người hủy bỏ di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
  • Người hủy bỏ di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng hủy bỏ di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng hủy bỏ di chúc;
  • Trường hợp công chứng viên nghi ngờ người lập hủy bỏ di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập hủy bỏ di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì công chứng viên đề nghị người lập hủy bỏ di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng;
  • Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng đủ số lượng theo luật định;
  • Người làm chứng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng.
  • Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời, nếu người yêu cầu công chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Trường hợp người yêu cầu công chứng không thông thạo tiếng Việt thì họ phải có người phiên dịch.

  • Người phiên dịch phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thông thạo tiếng Việt và ngôn ngữ mà người yêu cầu công chứng sử dụng.
  • Người phiên dịch do người yêu cầu công chứng mời và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phiên dịch của mình.

Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó. Đây là quy định khó có tính khả thi và có nguy cơ sẽ được khai thác để làm triệt tiêu những giao dịch qua đó người lập di chúc định đoạt lại tài sản của mình nhưng không thông báo việc hủy bỏ di chúc cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc. Trong tương lai cần sửa quy định này (Vì đối với trường hợp hủy bỏ mặc nhiên bằng giao dịch khác với di chúc) thì không thông báo di chúc này vẫn bị hủy bỏ và trong thực tế cá nhân không thực hiện việc thông báo thì vẫn không ảnh hưởng đến hiệu lực việc hủy bỏ di chúc.

Ví dụ: Theo Bản án số 31/2011/DSST ngày 19/8/2011 của TAND huyện Nhà Bè. Bà Trần Thị Lập di chúc tài sản cho một người con nhưng sau đó lập tặng cho tài sản này cho người khác (bà Phạm Thị), để làm căn cứ cho việc tuyên bố tặng cho vô hiệu, Tòa án đã xét rằng “mặt khác bà Phạm Thị phải báo” cho UBND xã biết để xóa bảng di chúc trên. Như vậy theo Tòa án người thụ hưởng trong việc định đoạt mới phải báo cho cơ quan xác nhận di chúc để xóa bảng di chúc (nếu không thông báo thì tặng cho bị ảnh hưởng). Yêu cầu này của Tòa án là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý vì hiện nay không có quy định nào buộc người được tặng cho trong hợp đồng tặng cho (ngầm hủy bỏ di chúc trước) phải thông báo cho UBND để xóa bỏ di chúc và không có quy định nào cho rằng nếu không thông báo hủy bỏ di chúc đến UBND thì hợp đồng tặng cho sẽ vô hiệu.

Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản hủy bỏ di chúc có vấn đề chưa rõ, việc giao kết có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của giao dịch chưa được mô tả cụ thể thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Giấy tờ do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp hoặc công chứng, chứng thực ở nước ngoài để sử dụng cho giao dịch dân sự tại Việt Nam phải được Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam hoặc Bộ Ngoại giao hợp pháp hóa lãnh sự (trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại).

Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Về điều kiện hủy bỏ di chúc theo quy định tại khoản 1, Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 thì công chứng viên yêu cầu người lập di chúc phải xuất trình bản chính di chúc đã lập trước đây. Nhưng trên thực tế có trường hợp không xuất trình bản chính (mà chỉ có bản pho to) hoặc nộp không đầy đủ di chúc đã lập thì có công chứng được văn bản hủy bỏ di chúc? Qua khảo sát các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Gia Lai thì có 03 hướng giải quyết khác nhau. Cách thứ nhất: Yêu cầu người yêu cầu công chứng văn bản hủy bỏ di chúc đến trình báo công an việc mất bản chính di chúc. Cách thứ hai: cho người yêu cầu công chứng viết cam đoan chịu trách nhiệm việc về việc làm thất lạc di chúc. Các thứ ba: Cho người yêu cầu công chứng trích lụt bản sao di chúc từ tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện công chứng di chúc trước đây. Theo quan điểm tác giả chỉ cần cam đoan là đủ. Xuất phát từ quy định người lập di chúc có quyền hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào. Cho nên để quyền của người hủy bỏ di chúc được thực hiện dễ dàng thì không hạn chế bằng các “rào cản”.

Từ những phân tích nêu trên, tác giả kiến nghị về thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc, theo tác giả cần sửa đổi, bổ sung khoản 3, điều 56 Luật Công chứng 2014 theo hướng thay thế chủ thể có nghĩa vụ thông báo từ người lập di chúc sang nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, thủ tục công chứng văn bản hủy bỏ di chúc không nhất thiết phải nộp tất cả các bản di chúc cụ thể như sau:

Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì tổ chức công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó. Trường hợp người lập di chúc không nộp lại đầy đủ các bản chính di chúc hoặc thất lạc bản chính di chúc đã lập thì cam đoan và chịu trách nhiệm về việc để thất lạc.

Việc sửa đổi chủ thể phải thông báo từ “người lập di chúc” sang chủ thể tổ chức hành nghề công chứng sẽ phù hợp với thực tiễn và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Thứ nhất, thực tiễn khi thực hiện thủ tục này người lập di chúc thường không thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc và nếu họ không thực hiện nghĩa vụ này cũng không ảnh hưởng đến hệ quả pháp lý của di chúc bị hủy bỏ, mà ở đây tổ chức công chứng thực hiện việc này nhằm giúp cho việc quản lý hồ sơ công chứng được thống nhất, phục vụ cho việc trích lục dễ dàng sau này. Đây là trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng chứ không phải trách nhiệm của công dân. Vì công dân không thực hiện thì vẫn không ảnh hưởng đến hệ quả pháp lý.

Thứ hai, việc sửa đổi này sẽ thống nhất với khoản 2, Điều 38, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Vì cùng một thủ tục hành chính như nhau nhưng khi thực hiện ở tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải có nghĩa vụ thông báo còn khi thực hiện tại UBND cấp xã thì nghĩa vụ này thuộc UBND cấp xã.

Khoản 2, điều này quy định: Việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch được thực hiện tại cơ quan đã chứng thực hợp đồng, giao dịch. Trường hợp sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể chứng thực tại bất kỳ cơ quan có thẩm quyền chứng thực nào; cơ quan đã thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã chứng thực trước đây về nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc để ghi chú vào sổ chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Việc bổ sung cam đoan việc thất lạc di chúc vào khoản 3, Điều 56 Luật công chứng năm 2014 sẽ đảm bảo quyền của người lập văn bản hủy bỏ di chúc được thực thi trên thực tế. Mặc khác, các công chứng viên cũng có đầy đủ cơ sở pháp lý khi thực hiện thủ tục hành chính này, mà không cần phải nghĩ ra thủ tục hành chính. Đi ngược lại với những nguyên tắc của thủ tục hành chính hiện nay là đơn giản, minh bạch, mẫu hóa.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Qua nghiên cứu các trường hợp hủy bỏ di chúc có thể rút ra được một số kết luận sau:

Một là, để xác định có hành vi hủy bỏ di chúc thì cần phải xem xét toàn diện, phân loại đó là trường hợp những trường hợp nào (hủy bỏ minh thị, hủy bỏ mặc nhiên, hủy bỏ toàn bộ, hủy bỏ từng phần…). Đồng thời phải chứng minh bằng những chứng cứ thuyết phục nhằm xác định trường hợp hủy bỏ di chúc đó là khách quan, phù hợp với quy định của pháp luật.

Hai là, cần bổ sung quy định hủy bỏ di chúc miệng trong thời hạn 03 tháng theo hướng trường hợp người lập di chúc miệng tiếp tục hủy bỏ bằng di chúc miệng thì chính bản thân người lập di chúc miệng đến tổ chức đã công chứng, chứng thực yêu cầu công chứng hoặc chứng thực văn bản huỷ bỏ bản di chúc miệng mà người làm chứng đến công chứng, chứng thực và tuân theo hình thức ban đầu. Vì luật thực định chỉ quy định di chúc miệng bị hủy bỏ sau 3 tháng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt mà không quy định trong thời hạn 3 tháng người lập di chúc đã minh mẫn và muốn hủy bỏ di chúc.

Ba là, điều kiện hủy bỏ di chúc ngoài việc phải đảm bảo về năng lực chủ thể, năng lực hành vi, về thủ tục hành chính khi thực hiện hủy bỏ di chúc cần hoàn thiện thể chế này phù hợp với thực tiễn, cụ thể cần sửa đổi bổ sung Điều 56, Luật công chứng năm 2014 như tác giả đã phân tích ở trên. Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464