Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Xác định nhiệm vụ Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, công bằng, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là nhiệm vụ cấp bách của ngành tư pháp nói chung và ngành Kiểm sát nói riêng và thực hiện có hiệu quả chủ trương nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 và Chiến lược cải cách tư pháp. Trong đó, tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và uy tín của ngành Kiểm sát trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm; nâng cao hiệu quả hoạt động THQCT và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm.

Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định quan điểm về cải cách tư pháp và đề cao đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian qua đã có nhiều khởi sắc, thực hiện tốt mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ nhân dân và phụng sự Tổ quốc. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là hoạt động xét xử, bảo vệ quyền công lý và quyền con người, đồng thời là công cụ sắc bén để bảo vệ pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tuy nhiên, việc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp vẫn còn có một số hạn chế, các cơ quan tư pháp cần phải khắc phục trong giai đoạn tới. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Nhận thức được ý nghĩa của chiến lược cải cách tư pháp cũng như vai trò của ngành Kiểm sát trong cán cân bảo vệ công lý, trong thời gian vừa qua, việc thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của ngành Kiểm sát nhân dân đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận và có nhiều chuyển biến tích cực trong đấu tranh, phòng, chống và phát hiện tội phạm. Phát huy được vai trò THQCT, đảm bảo phát hiện và xử lý nghiêm minh tội phạm. Thông qua đó, đã góp phần quan trọng trong công cuộc bảo vệ Hiến pháp và pháp luật. Thời gian vừa qua, VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại địa phương, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm mình, mọi hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm đều được phát hiện và xử lý kịp thời, thực hiện tốt chức năng của Ngành trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và bảo vệ lẽ phải. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đạt được, việc thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua công tác thực hành quyền công tố còn bộc lộ những thiếu sót cần khắc phục.

Thực hiện có hiệu quả, nâng cao chất lượng THQCT và hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, ngành KSND phải tiếp tục phát huy những thành tích đạt được và khắc phục những hạn chế, thiếu sót để không ngừng khẳng định vị thế của mình, xứng đáng là công cụ sắc bén trong công cuộc bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ pháp luật. Góp phần làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn về thực hiện quyền lực nhà lực Nhà nước thông qua hoạt động THQCT. Nhất là trong điều kiện hiện nay, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 27 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, đã đề ra nhiệm vụ hoàn thiện thể chế để VKSND thực hiện tốt chức năng THQCT phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; hoàn thiện và tăng cường trách nhiệm công tố xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; Xác định rõ hơn vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Tuy nhiên vẫn bảo đảm nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, thực hiện tốt quy định về phân công, phân quyền và phối hợp cũng như thực hiện chức năng kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan Nhà nước. Quy định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành pháp trong kiểm soát các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền tư pháp; của cơ quan tư pháp trong kiểm soát các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, quyền lập pháp…Vì vậy, học viên chọn đề tài: “Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông” làm luận văn thạc sĩ luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính mang tính cấp bách cả về lý luận và thực tiễn, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp, pháp luật vào đời sống.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Hiện này có nhiều tác giả nghiên cứu về công tác THQCT của Viện kiểm sát nhân dân, một số công trình nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí của Ngành, một số được đưa vào giáo trình phục vụ công tác giảng dạy như Luận văn Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của tác giả Phạm Văn Thanh Đại học Luật Hà Nội năm 2021; Luận văn Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong THQCT, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự và thực tiễn tại Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội của thạc sỹ Bùi Xuân Hùng năm 2020; Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học luật Hà Nội Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Ninh của thạc sỹ Đỗ Quỳnh Anh năm 2020; Luận văn thạc sĩ Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ thực tiễn quận Ba Đình, Hà Nội của thạc sỹ Lê Ngọc Diệp năm 2023 và nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả khác.

Bên cạnh đó, một số bài, công trình nghiên cứu của cán bộ, KSV, Lãnh đạo ngành Kiểm sát về công tác THQCT của VKSND được đăng tải trên tạp chí Kiểm sát, trang tin của VKSND tối cao, là tài liệu giúp cho cán bộ, KSV vận dụng trong công tác thực tiễn của toàn Ngành. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về “Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông”. Bản thân tôi là một Kiểm sát viên, công tác tại Viện KSND huyện Tuy Đức, với mong muốn đề ra những đề xuất nhằm hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về chức năng THQCT của Ngành kiểm sát, tôi quyết định chọn đề tài “Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông”.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

  • Mục đích: nghiên cứu để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn Thực hiện quyền lực Nhà nước của Viện KSND thông qua hoạt động THQCT của Viện kiểm sát nhân dân.
  • Nhiệm vụ: tác giả đề ra các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố;

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông;

Thứ ba, đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động THQCT của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định là thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố – Từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông (từ năm 2020 đến tháng 9 năm 2023).

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp Luận: Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của ĐCSVN về Nhà nước và pháp luật; về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Thể hiện rõ qua các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005; Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị và Nghị quyết 27/NQ/TW ngày 09/11/2022 hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCNVN trong giai đoạn mới. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, luận văn đã làm sáng tỏ được vai trò, trách nhiệm của VKSND thông qua hoạt động THQCT, đồng thời, đề ra các giải pháp thực hiện trong thời tới.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và khảo sát thực tế.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện KSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, qua đó có một số đóng góp mới sau đây:

  • Thứ nhất, thống qua lý luận và thực tiễn đã góp phần làm sáng tỏ thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động THQCT của VKSND;
  • Thứ hai, đánh giá bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông;
  • Thứ ba, tác giả đã đề ra một số giải pháp cụ thể, khả quan nhằm bảo đảm hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của ngành Kiểm sát. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần chung, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT – từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông .
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT – từ thực tiễn VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
  • Chương 3: Quan điểm giải pháp thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT – từ thực tiễn VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THÔNG QUA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ – TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện quyền lực Nhà nước

  • Khái niệm thực hiện quyền lực Nhà nước

Quyền lực Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, xuất hiện từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những giai cấp đối kháng. Quyền lực Nhà nước là những quyền năng chỉ có Nhà nước mới có, thông qua đó, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi hoạt động của một đất nước.

Quyền lực Nhà nước được thể hiện thông qua các hoạt động đối nội và đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, chính trị…quy định việc tổ chức, thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và được bảo đảm thực hiện bằng các chế tài, cưỡng chế bằng cơ quan Cảnh sát, nhà tù… Vì vậy, quyền lực Nhà nước mang tính chính trị, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp cũng như tôn giáo, giới tính”… Tư tưởng này đã được thể hiện qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và được hoàn thiện hơn trong bản Hiến pháp năm 2013. Nguyên tắc này cũng là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo được Đảng và Nhà nước ta quán triệt, kế thừa và liên tục đổi mới trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước qua 40 năm đổi mới đất nước.

Việc thực thi quyền lực Nhà nước phải đảm bảo các yếu tố về tính nhân văn, phù hợp với đạo đức, xã hội và đề cao sự công bằng, hướng tới lợi ích chung của dân tộc. Vì vậy Đảng và Nhà nước luôn đề cao vai trò của người đứng đầu trong thực hiện quyền lực Nhà nước theo đúng quy định. Việc lạm quyền, vì động cơ vụ lợi, sử dụng quyền lực sai mục đích sẽ đánh mất lòng dân, mất đoàn kết nội bộ, trở thành điểm yếu cho các thế lực thù địch. Vì vậy, để có một xã hội công bằng, văn minh, đề cao quyền tự do của con người, xây dựng một Nhà nước vững mạnh thì phải có cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực Nhà nước giữa các cơ quan Nhà nước. Đây là yêu cầu tất yếu của một Nhà nước dân chủ mà nước ta đã và đang hướng đến.

Quyền lực Nhà nước bắt nguồn từ sự ra đời của Nhà nước đó, Nhà nước được đặt ra các mệnh lệnh, yêu cầu các chủ thể khác phải thực hiện. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu lực kiểm soát quyền lực Nhà nước cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực Nhà nước. Việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cần đảm bảo độc lập nhưng có sự phối hợp, hỗ trợ qua lại và có mối liên hệ mật thiết với nhau. Xác định và có quy định về quyền hạn và trách nhiệm của từng Ngành, bên cạnh đó, quy định cụ thể hơn về cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát quyền lực ở các cấp chính quyền.

Từ thực tiễn nói trên, Đảng ta đã xác định phương hướng, nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền lực Nhà nước với 3 nhiệm vụ chủ yếu:

Thứ nhất, xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo sự độc lập tương đối, phát huy được vị trí, vai trò riêng của từng cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Không cơ quan nào làm thay chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nào. Trong thực hiện có chủ trì, có phối hợp và đặc biệt đề cao tính kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực Nhà nước.

Thứ hai, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm từng cơ quan Nhà nước đồng thời quy định cụ thể hơn về phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Thứ ba, quy định rõ thẩm quyền cũng như trách nhiệm giữa các cơ ở Trung ương, địa phương và cấp chính quyền địa phương. Phát huy công tác kiểm tra, giám sát giữa cấp trên và cấp dưới, đảm bảo việc thực hiện quyền lực Nhà nước khách quan và hiệu quả. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

  • Khái niệm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
  • Về vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

Về vị trí pháp lý: Hiến pháp năm 2013 giữ quy định trong Hiến pháp năm 1992 về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện các hoạt động liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp; đảm đảm ổn định tổ chức bộ máy nhà nước. Với hai chức năng cơ bản đó, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy định về vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 là sự cụ thể hóa quy định về Viện kiểm sát nhân dân trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rằng: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp… Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát nhân dân thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”.

Có thể thấy, xét về vị trí và tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan độc lập và thống nhất. Hai đặc trưng cơ bản này phản ánh yêu cầu về một thiết chế có chức năng quan trọng giúp Quốc hội trong việc giám sát việc thi hành pháp luật của các Bộ, các ngành, các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức, cơ quan, cá nhân công dân, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (theo quy định trước năm 2001 của Hiến pháp năm 1992); kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố (kể từ năm 2001).

Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách đầy đủ và hoàn thiện nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Đây là một quy định mới phù hợp với chức năng Viện kiểm sát nhân dân được giao đảm nhiệm và là cơ sở pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm hơn trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến quyền con người, quyền của công dân.

Về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân: Hiến pháp năm 2013 quy định tại Khoản 2 Điều 107 “ Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân khác do Luật định”. Đây là quy định đảm bảo tính thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời tạo ra một quy phạm mở, giao quyền cho Quốc hội thiết lập mô hình Viện kiểm sát nhân dân các cấp thông qua việc sửa đổi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Quy định này cũng mở đường cho việc thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo lộ trình của Chiến lược cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW. Quy định này cũng đảm bảo được tính ổn định của Hiến pháp khi hệ thống các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân có sự thay đổi phù hợp với thực tiễn xã hội, góp phần đảm bảo phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của từng thời kỳ. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

  • Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân:

(1) Nguyên tắc “tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành”: Điều 109 Hiến pháp năm 2013 “Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Quy định này của Hiến pháp năm 2013 kế thừa các quy định trước đó của Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 về nguyên tắc tập trung thống nhất – nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, thể hiện qua việc xác định vai trò lãnh đạo của Viện trưởng đối với Viện kiểm sát nhân dân các cấp và sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với toàn ngành kiểm sát. (2) Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc “khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” (Khoản 2 Điều 109). Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc này như một nguyên tắc hiến định đối với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, bởi nó có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân.

Bên cạnh đó, nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành theo Hiến pháp năm 2013 không quy định về Ủy ban kiểm sát. Điều này không có nghĩa là Ủy ban kiểm sát không còn nữa, mà cơ chế của Ủy ban kiểm sát vẫn được xây dựng và quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được sửa đổi, bổ sung năm 2014 nhưng có sự thay đổi cơ bản về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kiểm sát trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, nhằm đề cao chế độ thủ trưởng chế của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Thực tiễn hoạt động cho thấy, Ủy ban kiểm sát là thiết chế quan trọng thuộc cơ cấu của Viện kiểm sát nhân dân. Trải qua các thời kỳ, địa vị pháp lý cũng như mức độ ghi nhận trong Hiến pháp về thiết chế Ủy ban kiểm sát được thể hiện khác nhau. Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 không quy định về Ủy ban kiểm sát. Thời kỳ này, Ủy ban kiểm sát chỉ được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và được xác định là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng. Hiến pháp năm 1992 đặt yêu cầu phải bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành với nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, trên cơ sở đó đã bổ sung quy định Ủy ban kiểm sát. Thay vì vai trò là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng, Ủy ban kiểm sát được quy định là cơ quan có thẩm quyền quyết định đối với một số vấn đề quan trọng do luật định. Hiến pháp năm 2013 sửa theo hướng bỏ các quy định liên quan đến Ủy ban kiểm sát, chỉ ghi nhận nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành là thể hiện sự tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Có thể nói, những nội dung mới nêu trên của chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ và nâng cao vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước ta, nhất là chức năng thực hành quyền công tố trong cơ chế thực hiện quyền lực Nhà nước.

Như vậy, thực hiện quyền lực nhà nước thông qua thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, thông qua chức năng của Ngành kiểm sát, thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với hành vi phạm tội được quy định trong BLHS, từ giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm đến khi kết thúc vụ án hình sự. Có thể thấy, việc thực hiện quyền lực Nhà nước của Viện kiểm sát được thực hiện một cách dán tiếp, thông qua hoạt động THQCT, Viện kiểm sát đã phát huy được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình để thực hiện quyền lực được Nhà nước phân công.

  • Khái niệm quyền công tố, thực hiện quyền công tố
  • Khái niệm quyền công tố

Tố tụng hình sự có 03 chức năng cơ bản, đó là: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Trong đó, hoạt động thực hiện chức năng buộc tội xuất hiện đầu tiên, mở đầu cho việc vận hành các chức năng tố tụng khác. Chức năng buộc tội là một định hướng hoạt động tố tụng của nhóm chủ thể nhằm mục đích phát hiện tội phạm, chứng minh sự phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự. Bên cạnh chức năng buộc tội của Viện kiểm sát sẽ có nhu cầu bác bỏ hoặc gỡ bỏ một phần sự buộc tội, từ đó làm cơ sở xuất hiện chức năng bào chữa. Chức năng bào chữa là một định hướng hoạt động tố tụng nhằm bảo đảm cho người bị buộc tội khả năng tự mình hoặc nhờ người khác đưa ra chứng cứ và lập luận bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Chức năng xét xử chỉ xuất hiện khi có sự hiện diện của chức năng buộc tội và chức năng bào chữa. Chức năng xét xử là hoạt động tố tụng của Tòa án, trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và quy định của pháp luật xem xét, quyết định những cáo buộc đối với bị cáo là có căn cứ hợp pháp hay không, bị cáo có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không.

Lịch sử tố tụng hình sự thế giới đã ghi nhận nhiều cách thức tổ chức thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự. Tùy vào mỗi mô hình tố tụng hình sự được lựa chọn (thẩm vấn, tranh tụng hay pha trộn), cũng như truyền thống pháp lý, điều kiện cụ thể về kinh tế – xã hội mà mỗi quốc gia có cách thức tổ chức vận hành các chức năng tố tụng không hoàn toàn giống nhau. Sự vận hành các chức năng cơ bản của tố tụng cũng tác động đến cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát trong lĩnh vực tư pháp; phân định hợp lý thẩm quyền của các chủ thể theo các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự sẽ giúp cho các hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành có tính chuyên nghiệp cao, tăng cường trách nhiệm của các chủ thể trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, là điều kiện quan trọng bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của tố tụng hình sự.

Có quốc gia, xuất phát từ mục tiêu tìm đến “sự thật tuyệt đối“, nên lựa chọn mô hình tố tụng không quá chú trọng đặt vấn đề phân định rành mạch các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự; các chức danh tư pháp (cảnh sát, công tố viên, thẩm phán) được phân công thực hiện đồng thời nhiều chức năng tố tụng khác nhau; còn bên bào chữa (bị can, bị cáo và người bào chữa của họ) không được xác định là một bên bình đẳng trong tố tụng hình sự. Có quốc gia lựa chọn mô hình tố tụng có sự phân định rành mạch các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự; từ đó phân định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể theo các chức năng cơ bản; mỗi chủ thể chỉ đảm nhiệm 01 chức năng tố tụng; nghĩa vụ chứng minh được san sẻ giữa các bên (bên buộc tội và bên bào chữa); Tòa án đóng vai trò thiên về Trọng tài, giám sát quá trình chứng minh của các bên và ra phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng dân chủ giữa các bên. Nhiều quốc gia, quá trình phát triển đã học hỏi, tiếp thu các yếu tố hợp lý của nhiều mô hình tố tụng hình sự, tạo nên mô hình pha trộn. Ví dụ các nước áp dụng mô hình tố tụng thẩm vấn có xu hướng mở rộng hơn sự tham gia của bên bào chữa, tăng tính tích cực của Công tố viên tại phiên tòa, tương ứng với đó là hạn chế bớt sự chủ động của Thẩm phán; các nước áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng ngày càng quan tâm hơn tới yêu cầu kiểm soát tội phạm, tăng cường vai trò chủ động cho Thẩm phán. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Công tố theo từ điển Tiếng Việt là điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án. Định nghĩa trên cho thấy, công tố là một chuỗi hoạt động độc lập, liên tiếp, kế tiếp nhau từ điều tra, truy tố đến buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án.

Quyền công tố Theo từ điển Luật học là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội. Theo đó, quyền công tố là quyền buộc tội, việc buộc tội này được thực hiện nhân danh quyền lực Nhà nước, hướng tới đối tượng là người phạm tội. Tố tụng hình sự nước ta đã quy định, bên cạnh chức năng bào chữa và chức năng xét xử thì chức năng buộc tội là một trong những chức năng cơ bản, giúp cho quá trình tố tụng được diễn ra một cách khách quan theo quy định. Trong đó, chức năng buộc tội là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện, chứng minh tội phạm và cáo buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội, là chức năng tiền đề, “khởi động” cho cả quá trình tố tụng hình sự, vì nếu không phát hiện, chứng minh được tội phạm và đề nghị xét xử thì tố tụng hình sự không thể tiến hành do không có đối tượng.

Qua đó, cho thấy, khái niệm quyền công tố và THQCT đã được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Đến bản Hiến pháp năm 2013, đã nêu cụ thể về quyền công tố ở nước ta và phân công nhiệm vụ THQCT cho ngành Kiểm sát, được quyền nhân danh Nhà nước để truy tố đối với người phạm tội và chỉ duy nhất trong lĩnh vực TTHS, bắt đầu từ khi tội phạm thực hiện và kết thúc khi Tòa án giải quyết bằng một Bản án hoặc một Quyết định có hiệu lực pháp luật và không bị kháng nghị. Tuy nhiên, QCT cũng có thể kết thúc trước khi mở phiên tòa khi có đủ căn cứ để đình chỉ điều tra, đình chỉ truy tố và đình chỉ xét xử khi có đầy đủ các căn cứ của pháp luật tố tụng hình sự.

  • Khái niệm thực hành quyền công tố

Hiến pháp năm 1945 và 1954 chưa trực tiếp đề cập đến THQCT, mãi đến năm 1980, THQCT mới chính thức được ghi nhận. Trước đây, hoạt động công tố gắn với xét xử và công tố trong một phạm vi hẹp. Kế thừa và phát huy những quy định của Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 2013 đã có điểm nhấn khác biệt về THQCT, qua đó, THQCT được đưa lên về trước của kiểm sát hoạt động tư pháp và ngày càng được nhấn mạnh, khẳng định vị trí, vai trò của ngành kiểm sát trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Đó là một chức năng quan trọng, được Nhà nước giao riêng biệt cho VKS.

THQCT là hoạt động của VKSND nhân danh Nhà nước để thực hiện chức năng buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, được thực hiện ngay từ giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm và xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, đến khi Bản án của Tòa án tuyên không và không bị kháng nghị.

Để nâng cao chất lượng trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật cũng như quy định cụ thể hơn về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, Nhà nước đã ban hành các Luật, văn bản dưới luật, trong đó quy định cụ thể các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố của VKS. Pháp luật Việt Nam quy định VKSND là cơ quan duy nhất được giao thực hiện chức năng THQCT. Vì vậy, VKSND phải sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý để phát hiện tội phạm, người phạm tội và kịp thời xử lý nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội. Luật Tổ chức VKSND năm 2014, quy định cụ thể về bản chất của chức năng buộc tội của VKS [8]. Cụ thể:

Thứ nhất: THQCT do một chủ thể là cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, ở nước ta THQCT được Hiến pháp năm 2013 quy định cho VKSND. Trong đó quy định cách thức tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước phải dựa vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội…phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Thứ hai: THQCT là hoạt động của VKSND thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người, pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Thứ ba: thời điểm bắt đầu thực hành quyền công tố chỉ khi tội phạm được phát hiện cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi đủ căn cứ để đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can theo quy định của BLTTHS.

Thứ tư: THQCT là việc áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để phát hiện và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, ngay từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi bản án của Tòa án tuyên có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị.

Để bảo đảm thực hiện việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKSND trong các giai đoạn tố tụng (giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm; giai đoạn điều tra – truy tố – xét xử) Viện kiểm sát phải thực hiện tốt chức năng THQCT và kiểm sát xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án và phát huy chức năng buộc tội, công tố tại phiên tòa, đảm bảo mọi tội phạm phải được trừng trị theo quy định của pháp luật.

Do đó, THQCT là việc VKSND thực hiện các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật TTHS để buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.

  • Đặc điểm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

THQCT là chức năng mà Nhà nước chỉ giao cho cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất đó là VKS.

THQCT là thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội. không làm oan, sai người vô tội.

Quyền công tố là công cụ sắc bén giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, thông qua đó để phòng, chống tội phạm. QCT được thực hiện trong lĩnh vực TTHS, từ khi tội phạm xảy ra cho đến khi phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. QCT cũng có thể kết thúc trước khi mở phiên tòa khi có đủ căn cứ để đình chỉ điều tra, đình chỉ truy tố và đình chỉ xét xử khi có đầy đủ các căn cứ của pháp luật tố tụng hình sự. Do đó, quyền công tố với tính chất là công quyền hoàn toàn không thể tách rời khỏi sự ra đời của Nhà nước. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Nghiên cứu về khái niệm QCT, hiện nay có nhiều khía cạnh khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung đều thống nhất khẳng định nội dung của QCT là quyền truy tố đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội tại phiên Toà, là bước khởi đầu cho quyền xét xử của Toà án. Do đó để đảm bảo tính khách quan và sự công bằng thì quyền công tố và quyền xét xử của Tòa án là hai quyền độc lập.

  • Đối tượng của quyền công tố

THQCT là nhân danh Nhà nước để để thực hiện chức năng buộc tội, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước và đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm minh, hiệu quả. Vì vậy, đối tượng của QCT là các hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự.

Phạm vi THQCT: phạm vi THQCT duy nhất chỉ có trong lĩnh vực TTHS và được bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận được tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án có căn cứ đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.

1.1.2. Vai trò thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

Nhằm bảo đảm quyền lực Nhà nước được thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và trong phạm vi thẩm quyền quy định, dù theo nguyên tắc phân công hay phân quyền đều phải được kiểm soát và giám sát. Việc kiểm soát quyền lực Nhà nước được phân công cho nhiều cơ quan, trong đó VKSND là một thiết chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong hoạt động tư pháp.

  • Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014: Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

THQCT là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người và pháp nhân phạm tội. Bắt đầu từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, đến khi Bản án, quyết định của TAND có hiệu lực không bị kháng cáo. VKS thực hiện tốt chức năng THQCT góp phần bảo vệ pháp luật và đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, đảm bảo việc thực thi pháp luật thực chất và hiệu quả. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và phối hợp, khi phát hiện vi phạm, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm sẽ kịp thời Kiến nghị, yêu cầu và thực hiện các quyền năng pháp lý để ngăn chặn và xử lý khi có đủ căn cứ.

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền con người, quyền công dân cần phải được xem xét kỹ lưỡng và thật phù hợp, trường hợp lạm quyền, thiếu căn cứ VKS sẽ không phê chuẩn, yêu cầu hủy bỏ hoặc trực tiếp giải quyết vụ án.

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định về sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; xác định sự phân công, phối hợp kiểm soát là một trong những mục tiêu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững trong thời gian tới.

Ở nước ta, quyền lực Nhà nước được phân thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội là cơ quan Lập pháp, thực hiện việc xây dựng luật và sửa đổi, bổ sung luật, quyền lực thuộc về toàn thể nhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân là Quốc hội; Chính phủ là cơ quan hành pháp, Căn cứ theo Hiến pháp để soạn thảo, ban bố các quy định của luật và thực hiện theo quy định của luật; Tư pháp là để trừng trị kẻ phạm tội và giải quyết các tranh chấp giữa các nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức…, quyền tư pháp được giao cho hệ thống Tòa án để xét xử và giải quyết các tranh chấp. Để thực hiện quyền lực Nhà nước mang lại hiệu quả, việc phân định ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm đảm đảo việc thực hiện quyền lực Nhà nước luôn có sự kiểm tra, giám sát qua lại. Đây cũng là một nhu cầu khách quan và tất yếu.

Thông qua hoạt động THQCT, trong tố tụng hình, VKS thực hiện quyền lực Nhà nước, nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và xuyên suốt trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Ngoài ra, pháp luật có quy định thêm về thẩm quyền của CQĐT VKSND tối cao điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp, thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan THAHS… CQĐT của VKSQS Trung ương có thẩm quyền điều tra các tội phạm tương ứng xảy ra trong HĐTP của lực lượng tư pháp trong Quân đội. Việc luật quy định thêm thẩm quyền điều tra của VKS nhằm nâng cao vai trò của ngành Kiểm sát trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là nhóm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp.

Chức năng của VKS là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, theo quy định đó, nhiều hoạt động của Tòa án trong quá trình xét xử được pháp luật quy định thuộc phạm vi kiểm soát của Viện kiểm sát, thông qua hình thức kiểm soát trực tiếp đối với hoạt động xét xử, việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và Bản án của Tòa án. Qua đó, VKSND phát hiện các vi phạm và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị.

1.2. Nội dung, hình thức và phạm vi thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

1.2.1. Nội dung thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

Thông qua chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan Nhà nước trong quá trình thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Nhà nước đã có sự phân, phối hợp thực hiện quyền lực trong việc thực hiện ba quyền trên. Trong mỗi quyền lại có sự phân công cụ thể, trong cơ quan hành pháp cũng có sự phân công giữa Chính phủ với các cơ quan hành chính Nhà nước; sự phân công trong các cơ quan hành pháp, giữa ngành Kiểm sát, Tòa án, Công an. Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước phân công và phạm vi pháp luật quy định.

Theo đó, tổ chức và kiểm soát quyền lực Nhà nước là hai hoạt động gắn bó mật thiết, không thể tách rời nhau. Để tiếp thu hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, quyền lực Nhà nước ta không theo xu hướng phân quyền mà quán triệt quan điểm phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước vừa theo chiều dọc giữa trung ương và địa phương, vừa theo chiều ngang giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quy định về phân công thực hiện quyền lực như trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức và kiểm soát quyền lực Nhà nước, giúp Nhà nước kiểm soát được việc lạm quyền và mang lại hiệu quả trong hoạt động quản lý Nhà nước. Là yếu tố thúc đẩy sự hoàn thiện trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước, giúp các cơ quan Nhà nước thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình một cách khách quan, toàn diện.

Ở nước ta, quyền lực Nhà nước là quyền lực của nhân dân trao cho các cơ quan Nhà nước thực hiện dựa trên ý chí và lợi ích của nhân dân. Sự phân công giữa các cơ quan Nhà nước vừa có sự độc lập vừa có sự phối hợp, phụ thuộc lẫn nhau, bảo đảm tính chuyên nghiệp nhưng cũng có sự ràng buộc từ các cơ quan trong một cơ chế thống nhất của bộ máy Nhà nước. Do đó, sự phân công, phối hợp, kiểm soát thực hiện quyền lực một cách nhịp nhàng và đồng bộ, đảm bảo việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Chính phủ là cơ quan hành pháp nhưng giữ vai trò chủ chốt trong việc soạn thảo các dự án luật, giúp Quốc hội thực hiện quyền lập pháp được tốt hơn. Ngược lại, trong quá trình thực hiện chức năng của mình, Quốc hội và các cơ quan tư pháp đã giúp Chính phủ thi hành pháp luật được hiệu quả hơn. Trong tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước, việc thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát được thực hiện bằng cách sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc truy cứu TNHS sự đối với người, pháp nhân phạm tội. Vì vậy, ở nước ta chỉ có VKS mới là cơ quan THQCT. Song việc thực hành quyền công tố trong thực hiện quyền lực Nhà nước có nội dung đặc thù như sau:

  • Về phân công hoạt động thực hành quyền công tố Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Chức năng thực hành quyền công tố được Hiến pháp năm 2013 phân công cho VKS thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội và chỉ được thực hiện trong tố tụng hình sự để bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Chức năng thực hành quyền công tố của VKSND được thực hiện qua các giai đoạn của tố tụng hình sự từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể, rành mạch về chức năng này của VKSND khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm (Điều 159), trong việc khởi tố (khoản 1 Điều 161), điều tra (Điều 165), truy tố (Điều 236) và xét xử (Điều 266). Đây là một trong những điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 (nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố chỉ được quy định cụ thể trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Điều 112 BLTTHS năm 2003). Ở phương diện chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, VKS được phân công thực hiện chức năng buộc tội.

  • Về phối hợp trong hoạt động thực hành quyền công tố

Trong giai đoạn khởi tố, điều tra: như đã nêu tại điểm a mục này, xuất phát từ đặc điểm mô hình tố tụng hình sự nước ta và từ trách nhiệm của VKS trong tố tụng hình sự, mặc dù pháp luật không quy định cụm từ “phối hợp” trong giai đoạn này, nhưng cả trên phương diện pháp luật và tổ chức thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố có sự phối hợp chặt chẽ giữa VKS và CQĐT để bảo đảm cho VKS chủ động nắm chắc chứng cứ và kiểm sát chặt chẽ toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra để đưa ra các quyết định tố tụng đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; VKS song hành cùng CQĐT từ khi tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm đến khi kết thúc điều tra.

Trong giai đoạn xét xử: xuất phát từ nguyên tắc đặc thù của hoạt động xét xử “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều 23 BLTTHS), các luật hầu như không có quy định về phối hợp của VKS với Tòa án khi thực hành quyền công tố; quy định như vậy là phù hợp, tránh những tác động, ảnh hưởng đến nguyên tắc hiến định nêu trên khi tiến hành xét xử. Bên cạnh đó, thời gian qua, một số thông tư liên tịch giữa TANDTC với các cơ quan tư pháp cũng được ban hành để quy định về quan hệ phối hợp trong quá trình tiến hành tố tụng, tuy nhiên, nội dung phối hợp trong các thông tư liên tịch này chỉ nhằm quy định cụ thể hơn, chi tiết trách nhiệm và thời hạn của mỗi cơ quan để giúp việc giải quyết vụ án được khẩn trương, chính xác.

  • Về kiểm soát hoạt động thực hành quyền công tố Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Kiểm soát giữa các cơ quan tư pháp trong hoạt động thực hành quyền công tố được quy định tại Luật Tổ chức VKSND và Luật Tổ chức TAND năm 2014, BLTTHS năm 2015. Đây là quy định có tính nguyên tắc, đặt nền tảng cho việc cụ thể hóa cơ chế kiểm soát đối với VKS (bao gồm hoạt động thực hành quyền công tố) trong các luật tố tụng. Theo quy định của pháp luật, khi thực hành quyền công tố, VKS chịu sự kiểm soát của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Tòa án. Cơ chế kiểm soát được thực hiện thông qua việc kiến nghị, yêu cầu đối với VKS hoặc không chấp nhận các yêu cầu, quyết định của VKS…

CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra kiểm soát hoạt động thực hành quyền công tố thông qua quyền kiến nghị. Theo đó, nếu không nhất trí với một số quyết định của VKS, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp; VKS cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Ở chiều ngược lại, nếu kiến nghị của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ, VKS thông báo rõ cho cơ quan đã kiến nghị biết việc không chấp nhận kiến nghị và lý do.

Tòa án kiểm soát hoạt động thực hành quyền công tố của VKS thông qua việc thực hiện chức năng xét xử. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền kiến nghị; không chấp nhận các yêu cầu, quyết định của VKS; trả hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung; yêu cầu VKS bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ; trả hồ sơ vụ án cho VKS đã truy tố để chuyển đến VKS có thẩm quyền truy tố nếu thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình; xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố hoặc xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố; quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh liên quan tại phiên tòa khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình; tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu KSV trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; xem xét tính hợp pháp của hành vi và quyết định tố tụng của KSV trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; kiến nghị Viện trưởng VKS cùng cấp hoặc Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp nếu thấy việc rút quyết định truy tố của KSV tại phiên tòa không có căn cứ; khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm; tuyên bị cáo vô tội; Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền không chấp nhận kháng nghị của VKS và giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc hủy bản án sơ thẩm, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để điều tra lại. Ở chiều ngược lại, nếu thấy quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án không có căn cứ thì VKS có văn bản nêu rõ lý do, giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án; nếu thấy việc bác kháng nghị của Tòa án không đúng, VKS có quyền tiếp tục kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm.

1.2.2. Hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

VKSND thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố và xuyên suốt trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm và xét xử vụ án hình sự;

Cụ thể, Luật tổ chức VKS ND năm 2014 đã quy định rõ, khi thực hiện chức năng THQCT, VKS thực hiện những hoạt như yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS quy định;

Ngoài ra điều tra một số loại tội phạm và THQCT trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định cụ thể của BLTTHS.

Thông qua hoạt động THQCT, Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu (điều tra, xác minh nguồn tin về tội phạm; bổ sung tài liệu, chứng cứ xét phê chuẩn khởi tố; hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật); quyền kiến nghị khi phát hiện vi phạm về thủ tục tố tụng, vi phạm thời hạn… và quyền kháng nghị khi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có dấu hiệu oan sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Thực hiện việc truy tố và buộc tội bị cáo tại phiên tòa. Bên cạnh đó, Luật còn quy định thêm chức năng của Cơ quan điều tra VKSND tối cao có thẩm quyền điều tra các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp;

1.2.3. Phạm vi của thực hành quyền công tố

  • Phạm vi quyền công tố Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Quyền công tố chỉ tồn tại trong hoạt động TTHS, bắt đầu từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, điều tra, truy tố và xét xử khi Tòa án kết thúc bằng một Bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, đúng quy định và có căn cứ. Quyền công tố của VKS nhân danh Nhà nước thực hiện trong các giai đoạn trên luôn có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau, kết thúc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nếu không thuộc trường hợp không khởi tố, sẽ bắt đầu cho giai đoạn điều tra; Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, đề nghị truy tố sẽ bước qua giai đoạn truy tố của VKS và qua giai đoạn xét xử của TAND. Thực hiện tốt các giai đoạn trên đảm bảo việc thực hiện chức năng QCT của Viện kiểm sát ngày càng được nâng cao và phát huy tốt chức năng buộc tội mà Hiến pháp và Luật quy định.

  • Phạm vi của thực hành quyền công tố

Phạm vi của THQCT và QCT là đồng nhất với nhau. Tuy nhiên, không phải tội phạm nào xảy ra cũng đều được phát hiện và xử lý kịp thời, cũng như không phải mọi trường hợp việc THQCT đã được thực hiện đều được kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, trong một số trường hợp, khi có đủ các căn cứ để đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự thì Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án sẽ ban hành Quyết định đình chỉ tùy thuộc vào thẩm quyền của từng giai đoạn. Như vậy, trong thực tế, phạm vi của THQCT thường hẹp hơn, bắt đầu từ khi phát sinh tội phạm, thực hiện các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ để xác định có hành vi phạm tội hay không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Những hạn chế, thiếu sót trong quá trình điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ sẽ ảnh hưởng và tác động tiêu cực đến chất lượng THQCT cũng như việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của người thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, trách nhiệm THQCT luôn gắn liền với hoạt động điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra. Công tác phối hợp được thực hiện kịp thời, bám sát tiến độ giải quyết của CQCSĐT sẽ đảm bảo truy cứu TNHS có căn cứ và hợp pháp.

1.3. Điều kiện bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

1.3.1. Điều kiện pháp lý

Pháp lý là căn cứ, cơ sở lý luận của luật pháp được thể hiện dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau trong đời sống pháp luật nói chung và thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND nói riêng. Trong đó, hình thức pháp luật, quy phạm pháp luật, trạng thái thực hiện pháp luật, kể cả thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND là những biểu hiện phong phú của yếu tố pháp lý. Ở các quốc gia phát triển, với một hệ thống pháp luật minh bạch, dân chủ, tiến bộ và một nền kinh tế thị trường lành mạnh là yếu tố thuận lợi tác động đến hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS. Theo đó, mục đích điều chỉnh của pháp luật bảo đảm được tính kịp thời và thích ứng. Trong yếu tố pháp lý, nguồn pháp luật là một trạng thái của yếu tố pháp lý có tác động quan trọng đến thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS. Đối với các quốc gia thừa nhận nguồn pháp luật không chỉ là văn bản quy phạm pháp luật, việc điều chỉnh pháp luật và xây dựng pháp luật sẽ linh hoạt, kịp thời và thích ứng hơn các quốc gia quan niệm nguồn pháp luật là văn bản pháp quy của Nhà nước, do Quốc hội, Chính phủ, bộ, ngành ban hành. Do đó, yếu tố pháp lý là nhân tố tác động tích cực đối với việc thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND khi thừa nhận sự đa dạng của nguồn pháp luật, ngược lại, nếu không mở rộng nguồn pháp luật, không nhìn nhận hệ thống pháp luật trong đời sống thực của nó trong xã hội, pháp luật được thể hiện qua từng mối quan hệ xã hội…thì nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND thậm chí biến thành một hệ thống pháp luật không bao giờ đủ sức và kịp thời điều chỉnh mối quan hệ pháp luật làm cơ sở áp dụng pháp luật trong quá trình thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS.

Là yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng, trạng thái xã hội và mối quan hệ mà pháp luật đang điều chỉnh. Sự tác động tích cực đến hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND chỉ khi pháp luật quy định rõ ràng, khoa học về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện QCT; Đồng thời, pháp luật là căn cứ để bảo đảm mọi hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND phải được tiến hành thành nề nếp, bài bản, khách quan, minh bạch, bảo đảm hoạt động truy tố, công tố và tranh tụng một cách có hiệu quả. Đây chính là điều kiện bảo đảm phát huy tính tích cực đến hiệu quả hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS. Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật thiếu tính ổn định, thiếu thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo, tạo lực cản cho quá trình phát triển của kinh tế, xã hội và công cuộc đổi mới đất nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS.

1.3.2. Điều kiện chính trị Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Yếu tố chính trị là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả thực hiện quyền lực Nhà nước. Một đất nước có nền chính trị ổn định là điều kiện bảo vệ quyền lợi của giai cấp và Nhà nước. Vì vậy, chính trị còn tồn tại khi còn giai cấp và Nhà nước. Điều đó cho thấy rằng, chính trị là yếu tố gắn liền với sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Cũng chính vì vậy, chính trị quyết định đến hoạt động THQCT. Vì vậy, chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết, góp phần nâng cao chất lượng thực thi pháp luật. Đó là yếu tố củng cố niềm tin của người dân dưới sự dẫn dắt của Đảng. Ngược lại, sự bất ổn của một nền chính trị sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước nói chung và tác động tiêu cực đến chất lượng thực hiện pháp luật.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền chính trị – xã hội của nước ta luôn ổn định và phát triển bền vững. Đó chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật trong đó có thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS, đây là yếu tố quan trọng củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Ở nước ta, yếu tố chính trị gắn liền với nguyên tắc về chế độ chính trị nhất nguyên, không đa nguyên đa đảng. Do đó, kiên định với nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo là căn cứ để đường lối, chính sách của Đảng được hoạch định, từ đó thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ XHCNV. Vai trò của thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSNDđược phát huy trên cơ sở cụ thể hoá đường lối, chủ trương không ngừng được đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Trong yếu tố chính trị, công tác quán triệt, triển khai chính sách, đường lối của Đảng đến từng đối tượng cán bộ, đảng viên ngành kiểm sát đa dạng, hiệu quả, dễ nhớ, dễ hiểu có tác động tích cực đến nhận thức nên đảm bảo dễ thực hiện trong quá trình thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND. Quan trọng hơn cả là việc bố trí cán bộ lãnh đạo, đảng viên đủ năng lực, bản lĩnh chính trị vào các vị trí lãnh đạo và cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu các đơn vị tại các Viện kiểm sát các cấp. Cùng với việc nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, quyết liệt đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác chuyên môn, cán bộ là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS.Ngược lại, nhân tố cán bộ, nhất là vị trí lãnh đạo ở các Viện kiểm sát nhân dân các cấp sẽ là yếu tố kìm hãm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSNDnếu việc bố trí cán bộ kiểm sát không có năng lực, không có chuyên môn, không có tinh thần trách nhiệm tham gia các hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS. Tính tích cực chính trị và trách nhiệm chính trị của đảng viên trong cơ quan có chức năng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSNDlà yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS.

Bên cạnh đó, chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS. Đó là yếu tố củng cố niềm tin của người dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền công tố. Ngược lại, sự bất ổn của một nền chính trị sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước nói chung và tác động tiêu cực đến chất lượng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền chính trị – xã hội của nước ta luôn ổn định và phát triển bền vững. Đó chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật trong đó có thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS, đây là yếu tố quan trọng củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Đối với cán bộ Kiểm sát, việc trau dồi kỹ năng nghiệp vụ và ý thức giác ngộ chính trị là hai yếu tố có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành lý tưởng và lập trường tư tưởng của KSV. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là điều kiện cốt lõi giúp cho KSV có một thế giới quan khoa học, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, kiên định với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, có lý tưởng bảo vệ công lý, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xây dựng lập trường tư tưởng chính trị vững vàng thực hiện tốt chức năng THQCT, luôn đảm bảo truy tố đúng người và đúng quy định pháp luật, có bản bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường kiên định trước mọi cám dỗ và lợi ích vật chất, xứng đang với lời dạy của Bác, cán bộ Kiểm sát phải “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn.

Để được bổ nhiệm KSV, ngoài những tiêu chí theo quy định của Luật tổ chức VKS hiện hành, cần đề cao yếu tố lập trường tư tưởng chính trị, đây là yếu tố tiền đề vững chắc bảo đảm cho hoạt động THQCT. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay với những mặt trái của nó, bên cạnh những khó khăn thì đây cũng là điều kiện để mài dũa, rèn luyện phẩm chất của người cán bộ Kiểm sát. Bên cạnh đó, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng là tiêu chí quan trọng tạo nên nhân cách KSV và xác định vị trí của KSV trong xã hội.

1.3.3. Điều kiện văn hóa – xã hội Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Bên cạnh yếu tố về chính trị, thì yếu tố văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước nói chung và thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKS nói riêng.

Pháp luật Việt Nam quy định, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tôc, địa vị xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật của nhân dân chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi các phong tục tập quán, các hương ước trong cộng đồng xã hội. Ở mỗi vùng miền, mỗi dân tộc sẽ có những sự khác nhất định. Bên cạnh đó, việc thực hiện pháp luật còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ nhận thức pháp luật của người dân. Nhận thức của các tầng lớp nhân dân là không đồng đều, những địa phương vùng sâu, vùng sa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức về pháp luật của người còn nhiều hạn chế. Do đó, là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các tội phạm như cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan, mại dâm… Do phong tục tập quán còn lạc hậu, trình độ học vấn của người dân còn thấp, tại các bon, bản trẻ em trong độ tuổi đến trường tham gia học tập là rất ít, đa phần đều đã nghỉ học, một số trường hợp nghỉ học để ở nhà xây dựng gia đình. Với phong tục lạc hậu, trẻ em gái độ tuổi từ 11-13 tuổi, chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nhưng đã sống chung như vợ chồng. Tảo hôn là một trong những vi phạm về Luật hôn nhân và gia đình, tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, xuất phát từ nguyên nhân trên dẫn đến phát sinh về tội phạm. Từ việc nhận thức chưa chín chắn, dẫn đến cuộc sống chung xảy ra nhiều mâu thuẫn, sau đó bố, mẹ của một trong các bên có đơn tố giác tội phạm về hành vi Hiếp dâm, giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi…một số hành vi vi phạm pháp luật khác không được phát hiện và xử lý kịp thời vì người dân tự giải quyết bằng cách áp dụng các hương ước, tục lệ của địa phương, dân tộc như đền bù bằng trâu, bò, sử dụng vật chất để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn… dẫn đến tội phạm không được phát hiện và tố giác để giải quyết theo quy định của pháp luật. Những khó khăn trên xuất phát từ việc nhận thức về pháp luật của người dân còn hạn chế, chính những người bị hại cũng chưa hiểu hết các quyền, lợi mà bản thân mình được hưởng, được pháp luật quy định. Khi bị ảnh hưởng đến tinh thân, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc chính mạng sống, để lại hậu quả nặng nề cho bản thân, gia đình và xã hội. Mặc dù BLTTHS đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người bị hại, trong đó, có quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, quyền được yêu cầu luật sư… nhưng không phải ai cũng biết và nhận thức được các quyền trên. Vì vậy, một số trường hợp, người dân không thực hiện hết các quyền mà pháp luật quy định. Do đo, việc nâng cao nhận thức, hiểu biết về pháp luật cho người dân là một trong những tiêu chí quan trọng để nhân dân thực hiện quyền của mình. Vì vậy, yếu tố văn hóa – xã hội là một trong những điều kiện có ý nghĩa, quyết định đến chất lượng thực hiện quyền lực Nhà nước.

Phát triển văn hóa không chỉ chú ý đến những tác động tích cực như: niềm tự hào về truyền thống văn hoá pháp lý tốt đẹp; địa vị hiến định quan trọng của cán bộ kiểm sát, giá trị xã hội của đội ngũ kiểm sát viên, giá trị đạo đức, văn hoá và sự lan toả xã hội hoạt động thực hiện quyền lưc Nhà nước nói chung, hoạt động THQCT là nghề nghiệp đặc thù kiểm sát nói riêng để tạo ra tính khoa học, khách quan, toàn diện trong quá trình thực hiện quyền công tố mà còn phải chú ý đến tác động tiêu cực từ phía xã hội đến THQCT như đề cao lợi ích cá nhân hoặc tạo thói quen làm việc hời hợt, chủ quan, vô cảm với lợi ích của những người thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, thậm chí để lợi ích nhóm chi phối, ảnh hưởng đến những lợi ích chung của cộng đồng và hình ảnh cũng như uy tín của cán bộ, công chức trong ngành kiểm sát. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Yếu tố văn hoá tác động tích cực đến chất lượng công tác THQCT, xây dựng và duy trì nền văn hoá pháp lý nhằm xác định trách nhiệm, duy trì lòng trung thành, bảo vệ tính liêm chính, nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp, tôn trọng tính độc lập và duy trì sự tận tụy của các cán bộ ngành kiểm sát. Bởi lẽ, văn hoá và truyền thống pháp lý có vai trò bảo vệ lợi ích của đất nước và nhân dân, tác động đến tư tưởng của cán bộ ngành kiểm sát, thúc đẩy, tạo động lực mạnh mẽ để cho công việc, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ và tạo uy tín cho cá nhân và cho chính ngành kiểm sát v…v… Văn hoá pháp lý tác động đến thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND chính là việc hình thành thái độ, tác phong và tinh thần tuân thủ pháp luật, coi các tính chất của hệ thống pháp luật vì nhân dân, dân chủ, ổn định, toàn diện, thống nhất, công khai, minh bạch là các tiêu chí xây dựng và hoàn thiện pháp luật, duy trì và bảo vệ chân giá trị của pháp luật để đảm bảo rằng luật pháp được thi hành nghiêm túc và là cơ sở để tiến hành các biện pháp cần thiết đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật. Như vậy, văn hóa – xã hội tác động mạnh mẽ và là định hướng cho việc thực hiện pháp luật nói chung và hoạt động THQCT của VKSND nói riêng. Văn hóa – xã hội phát triển sẽ đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về giá trị tinh thần, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật cho cán bộ kiểm sát. Vì vậy, giá trị văn hóa – xã hội sẽ trở thành định hướng cho hoạt động thực hiện quyền quyền lực Nhà nước, trong đó có hoạt động THQCT của VKSND.

1.3.4. Điều kiện kinh tế

Bên cạnh phát triển về Văn hóa – xã hội thì điều kiện kinh tế là một trong những yếu tố có ý nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện pháp luật. Đi đôi với sự phát triển kinh tế là nhận thức về pháp luật của người dân cũng không ngừng được nâng cao, một đất nước có nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để người dân tiếp cận với pháp luật, ngược lại pháp luật điều chỉnh xã hội phải đáp ứng được yêu cầu và tầm nhìn của phát triển kinh tế. Một đất nước có nền kinh tế xã hội phát triển bền vững, bắt kịp với xu thế sẽ là điều kiện thúc đẩy nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật của người dân. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bản thân mình, đòi hỏi người dân phải tự vận động, nâng cao nhận thức về pháp luật. Khi có điều kiện kinh tế, người dân có thể tự mình hoặc thông qua người ủy quyền, người đại diện theo pháp luật, qua Luật sư… để thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật. Do đó, phát triển kinh tế sẽ kéo theo phát triển về nhận thức pháp luật của người dân. Đây là điều kiện thuận lợi, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật cũng như ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Ngược lại, nếu nền kinh tế tụt hậu, thiếu năng động sẽ tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật. Do đó, yếu tố kinh tế là cơ sở, nền tảng của nhận thức và thực hiện pháp luật của nhân dân, đây là yếu tố thuận lợi giúp các chủ thể thi hành pháp luật được chất lượng và hiệu quả hơn. Điều này được thể hiện rõ ở những mặt sau.

Điều kiện kinh tế có ảnh hưởng đến tư tưởng, quan điểm, cũng như niềm tin của người dân đối với pháp luật. Điều kiện về kinh tế phát triển, đời sống vật chất của người dân được nâng cao, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì người dân sẽ có niềm tin vào chính sách pháp luật của Đảng Nhà nước. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Nền kinh tế phát triển sẽ cải thiện với đời sống vật chất và tinh thần của người dân, các nhu cầu vật chất và tinh thần không ngừng được nâng cao, người dân có cơ hội để tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, nắm bắt được các quy định của pháp luật thông qua báo, đài…. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng được triển khai thực hiện và người dân tiếp thu được hiệu quả; nhu cầu trang bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu thiết yếu, trở thành điều kiện tất yếu giúp nâng cao trình độ nhận thức về pháp luật cho người dân, hạn chế xảy ra vi phạm và tội phạm.

Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế có sự tác động lớn đến nhận thức của người dân, sống trong xã hội có nền kinh tế phát triển, là điều kiện thúc đẩy con người không ngừng trau dồi, nâng cấp bản thân, ý thức xây dựng cuộc sống năng động, sáng tạo và ngày càng văn minh hơn. Kinh tế phát triển tạo điều kiện nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng làm phát sinh những mặt trái, xem nhẹ giá trị đạo đức, có những hành vi sai, đặt lợi ích kinh tế lên trên hết. Là nguyên nhân phát sinh các dạng tội phạm mới như tội phạm về tín dụng đen, công nghệ cao…

Nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển và hội nhập quốc tế, đòi hỏi nền pháp luật Việt Nam không ngừng hoàn thiện, điều chỉnh được các mối quan hệ phát sinh trong tình hình mới và có tầm nhìn xa, rộng hơn. Giữa kinh tế và ý thức thực hiện pháp luật của người dân có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, kinh tế phát triển là điều kiện thuận lợi góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân, ngược lại hệ thống pháp luật cũng không ngừng được hoàn thiện, bảo vệ và phục vụ lợi ích của nhân dân.

1.3.5 Các điều kiện khác

Ngoài các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội thì giám sát của các thiết chế xã hội cũng là một trong những điều kiện đảm bảo thực hiện quyền lực Nhà nước, trong đó có hoạt động THQCT của VKS. Trong đó, giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy việc thực hiện quyền lực Nhà nước nói chung và hoạt động THQCT của VKS nói riêng. Thông qua hoạt động giám sát, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy và sử dụng một cách triệt để nhất. Đặc biệt, hoạt động giám sát của Ban pháp chế Hội đồng nhân dân trong hoạt động tố tụng, giám sát hoạt động trực tiếp kiểm sát của VKS, hoạt động xét xử của Tòa án… THA của các cơ quan tư pháp. Trong kế hoạch công tác hằng năm, về hoạt động trực tiếp kiểm sát của Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, Đồn biên phòng, Công an xã… luôn có sự quan tâm, phối hợp của các cơ quan giám sát. Đảm bảo hoạt động của các cơ quan tố tụng cũng như các cơ quan hữu quan trong công tác đấu tranh, phòng và chống tội phạm phải là cơ quan gương mẫu, đi đầu trong việc thực thi và áp dụng pháp luật. Ngoài ra, thông qua các phiên họp Hội đồng nhân dân, các cơ quan tư pháp phải trả lời chất vấn của Đại biểu HĐND, giải đáp những khó khăn, vướng mắc và đề ra các phương án giải quyết phù hợp. Đó là cách thực hiện giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Thông qua hoạt động giám sát, VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo sự phân công của Đảng và Nhà nước một cách hiệu quả, có trách nhiệm. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

Kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của nhân dân, cán bộ nói chung và cán bộ, KSV ngành Kiểm sát nói riêng, kịp thời chấn chỉnh cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm thực hiện pháp luật một cách triệt để và hiệu quả. Do đó, khi làm việc với người dân, cần lắng nghe ý kiến của Nhân dân, nắm bắt tâm tự nguyện vọng của nhân dân để có căn cứ vững chắc ngay từ giai đoạn ban đầu, củng cố căn cứ vững chắc trong suốt quá trình thụ lý, giải quyết vụ án hình sự. Vì vậy, hoạt động giám sát của Nhân dân luôn giữ vai trò quan trọng, đảm bảo sự khách quan, trách nhiệm trong thực hiện quyền lực Nhà nước của các chủ thể được nhân dân lựa chọn, trao quyền, thay mặt nhân dân quản lý Nhà nước. Bên cạnh đó, việc giám sát của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng là thiết thực và cần thiết, đảm bảo hoạt động tố tụng được khách quan, kịp thời và đúng quy định của pháp luật. Do vậy, sự giám sát của Nhân dân là động lực giúp cho các cơ quan tư pháp nói chung và VKSND nói riêng thực hiện có trách nhiệm, kiên quyết hơn trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã phân những vấn đề lý luận cơ bản và đưa ra khái niệm về “thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT” của VKSND, làm sáng tỏ nhận thức về vấn đề này. Trên cơ sở nhận thức về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT, tác giả phân tích khái niệm, đối tượng, nội dung, phạm vi THQCT.

Chương 1 đã phân tích và luận giải các khái niệm, đặc điểm về thực hành quyền công tố; thực hiện quyền lực nhà nước thông qua THQCT của VKS. Bên cạnh đó, cũng đưa ra được những điều kiện đảm bảo thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT, trong đó đáng chú ý là những điều kiện pháp lý, chính trị …. Những phân tích trên là cơ sở cho việc đánh giá, làm rõ thực trạng, điều kiện bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố

2 thoughts on “Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quyền lực NN thông qua quyền công tố

  2. Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố says:

    Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464