Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên

3.1.1. Thể chế hoá quan điểm của Đảng về bảo vệ quyền của người lao động trong quan hệ lao động

Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà Việt Nam tiến hành suốt hơn 35 năm qua, con người luôn được Đảng, Nhà nước ta đặt ở vị trí trung tâm, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền của NLĐ luôn là quan điểm, chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013”. Đồng thời, “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định” Đây là những yêu cầu xuất phát từ thực tiễn khách quan, đòi hỏi từ việc bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên trong QHLĐ, đặc biệt là quyền của NLĐ. Sách trắng về quyền con người năm 2018 khẳng định mạnh mẽ quan điểm của Việt Nam về quyền con người. Đó là việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia. Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương của UN có tính đến hoàn cảnh của mỗi nước để bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất. Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống, văn hóa… nên cách tiếp cận về quyền con người của mỗi quốc gia có thể khác nhau. Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan. Việt Nam ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người

Đối với quyền của NLĐ, với tư cách là một bộ phận của hệ thống quyền con người, thuộc phạm trù các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Việt Nam cần ghi nhận, thực thi và bảo đảm các quyền cơ bản của NLĐ, phù hợp với các cam kết quốc tế. Trong QHLĐ, việc bảo đảm quyền con người, quyền của NLĐ chủ yếu được thể hiện trong mối quan hệ với NSDLĐ, để chống lại các nguy cơ bị bóc lột, đối xử bất công hay phải lao động trong những điều kiện không đảm bảo về an toàn, vệ sinh lao động cũng việc thiếu tôn trọng đến từ phía NSDLĐ. Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền NLĐ chưa thành niên trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định CPTPP cần phải được tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng trong thời mới – thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, ngoài việc đưa ra những quan điểm về phát triển con người, xem con người là mục tiêu, động lực phát triển quan trọng của đất nước thì Văn kiện cũng tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và có hiệu quả của Việt Nam. Điều này một lần nữa cho thấy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến quyền con người trong mọi chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội.

Để đảm bảo, thúc đẩy thực hiện quyền lao động, Đảng cũng đã đặt ra yêu cầu phải tập trung hoàn thiện khung pháp lý và tạo lập môi trường thuận lợi để đại diện NSDLĐ hiệp hội doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động có hiệu quả nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật và chính sách về lao động. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của NSDLĐ trong việc chăm đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, thực hiện tốt “cơ chế ba bên” ở cấp ngành và địa phương về QHLĐ, nhằm thúc đẩy ký kết TƯLĐTT cấp ngành, cấp khu vực. Tăng cường cơ chế đối thoại, thương lượng giữa NSDLĐ và NLĐ. Quy định rõ quyền, trách nhiệm của NSDLĐ và NLĐ trong việc xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ. Kết hợp hài hòa các chính sách kinh tế và xã hội, đảm bảo bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực lao động.

3.1.2. Đảm bảo từng bước tiệm cận với chuẩn mực lao động quốc tế của tổ chức lao động quốc Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

Tiêu chuẩn lao động là tập hợp những điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động tối thiểu được công nhận trong phạm vi nhất định. Điều kiện lao động là tổng hợp các yếu tố tác động đến người lao động trong quá trình lao động ở không gian nhất định. Các tiêu chuẩn lao động quốc tế có thể hiểu là các nguyên tắc, định hướng của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về điều kiện lao động, sử dụng lao động, quyền nghĩa vụ và sự hợp tác của các bên hữu quan… đối với các nước thành viên. Trong lĩnh vực lao động, tiêu chuẩn lao động chiếm vị trí hết sức quan trọng, bởi nó liên quan đến điều kiện, môi trường làm việc, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người lao động. Có thể khẳng định rằng, pháp luật Việt Nam đã quy định các tiêu chuẩn lao động cơ bản như: Tiêu chuẩn về an toàn lao động, tiêu chuẩn về vệ sinh, môi trường lao động… Các quy định pháp luật không chỉ đòi hỏi người sử dụng lao động phải tuân thủ các tiêu chuẩn lao động trong quá trình điều hành doanh nghiệp mà bản thân người lao động cũng phải nghiêm túc thực hiện các tiêu chuẩn vì sự an toàn cho chính sức khỏe, tính mạng của họ.

Quá trình xây dựng và hoàn thiện BLLĐ qua các thời kỳ thể hiện quan điểm nhất quán: “Xây dựng, hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm đã xuất phát từ thực tiễn của các QHXH về việc làm, dựa trên sự tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các văn bản pháp luật lao động về việc làm trước đó; tiếp thu các Công ước, Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập, phê chuẩn. Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản đã được nội luật hóa trong hệ thống pháp luật lao động nước ta tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển, tạo và giải quyết ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ nhằm đảm bảo tốt nhất quyền có việc làm của NLĐ”. Do đó với tư cách là thành viên của ILO, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế được ghi nhận trong các văn kiện của ILO mà Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn.

Là một quốc gia phê chuẩn Công ước xóa bỏ các hình thức lao động chưa thành niên tồi tệ nhất số 182 (1999) và Công ước độ tuổi tối thiểu số 138 (1973) của ILO lần lượt vào ngày 24/6/2003 và 19/12/2000; Việt Nam đã cam kết giải quyết lao động chưa thành niên thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và xây dựng thể chế liên quan. Kể từ khi tham gia các công ước nêu trên, Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến tuổi lao động tối thiểu và xoá bỏ các hình thức lao động chưa thành niên tồi tệ nhất, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật về các vấn đề này thông qua các chương trình ở cấp độ quốc gia; tăng cường quản lí nhà nước và thanh tra lao động đối với vấn đề lao động chưa thành niên; lồng ghép mối quan tâm về lao động chưa thành niên vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội; tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh xóa bỏ lao động chưa thành niên. Kết quả cuộc điều tra do Bộ LĐ,TB&XH (Bộ LĐTBXH) phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy tỉ lệ lao động chưa thành niên tại Việt Nam thấp hơn khoảng 2% so với tỉ lệ trung bình của khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.

Nhìn chung, pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên đã tương thích với những quy định cơ bản của Công ước số 138 và 182 của ILO. Tuy nhiên, xét trên một số vấn đề cụ thể thì vẫn còn bất cập; điều này được thể hiện thông qua số liệu Điều tra quốc gia về lao động chưa thành niên do ILO do Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố năm 2020 có thể thấy vẫn có tới 198.505 trẻ em, chiếm 12,9% làm các công việc tự sản, tự tiêu (trong tổng số 344.166 trẻ em 5-17 tuổi hoạt động kinh tế với các công việc thuộc nhóm sản phẩm tự sản, tự tiêu thuộc nhóm đối tượng được loại trừ theo tinh thần của Công ước 138) được xác định là lao động chưa thành niên do đã tham gia vào các công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ em. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là một số quy định chưa tương thích với các tiêu chuẩn lao động của ILO. Từ đó, dẫn đến tình trạng sử dụng lao động chưa thành niên và xâm phạm đến quyền của lao động chưa thành niên xảy ra khá phổ biến, tình trạng lao động cưỡng bức, phân biệt đối xử về vùng miền, độ tuổi, giới tính,… ở những mức độ khác nhau diễn ra không chỉ trong các doanh nghiệp mà còn ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

Do vậy, hoàn thiện các quy định pháp luật bảo vệ quyền NLĐ chưa thành niên phải bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật lao động quốc gia với tiêu chuẩn lao động quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện trong các khuôn khổ pháp lý quốc tế khác nhau

3.1.3. Khắc phục những hạn chế bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam

Người chưa thành niên là thế hệ tương lai của đất nước, do đó việc học tập đối với họ là rất quan trọng, điều này góp phần trang bị cho họ kiến thức để xây dựng đất nước. Chính vì vậy, việc đối tượng này tham gia vào quan hệ lao động không được Nhà nước và xã hội khuyến khích. Tuy nhiên, nếu pháp luật quy định theo hướng cấm hoàn toàn người chưa thành niên tham gia lao động sẽ không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay. Nước ta là nước có nền nông nghiệp lâu đời, quy mô sản xuất kinh doanh chủ yếu nhỏ lẻ, thường mang tính chất gia đình.Đặc biệt đối với các ngành nghề thủ công truyền thống, việc sử dụng LĐCTN trở nên phổ biến bởi tính chất công việc nhẹ nhàng, phù hợp với đặc điểm của họ là sự nhanh nhẹn và khéo léo. Mặt khác, xuất phát từ nhận thức của người lớn, người chưa thành niên tham gia làm việc cũng bố mẹ ngoài giờ học là cần thiết, vừa giúp gia đình có thêm thu nhập, vừa giúp các em trưởng thành, có kinh nghiệm, kỹ năng phát triển thể lực và nhân cách.

Nhìn chung , ngoài các quy định áp dụng cho tất cả người lao động nói chung thì nhà làm luật đã chú trọng tới những quy định riêng áp dụng cho đối tượng lao động đặc thủ là người chưa thành niên. Các quy định riêng này đã hình thành một hành lang pháp lý để điều chỉnh đối với NLĐ chưa thành niên về các vấn đề việc làm, học nghề, hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, giải quyết tranh chấp lao động và các quy định về thanh tra, xử lý vi phạm… Các quy định trên đã được xây dựng và ban hành trên cơ sở hoàn cảnh hiện tại của xã hội và tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế cơ bản.

Bên cạnh những kết quả đạt được thì hệ thống pháp luật về bảo vệ NLĐ chưa thành niên vẫn còn một số quy định chưa hợp lý, chưa đủ hoặc chưa được tuân thủ trên thực tế. Vấn đề bảo vệ NLĐ chưa thành niên chưa thực sự nhận được sự quan tâm của xã hội. Quá trình ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về NLĐ chưa thành niên hầu như chưa có sự khảo sát, đánh giá thực tế, nhiều quy định chỉ mang tính phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật lao động quốc tế về mặt hình thức, chưa được cụ thể hay chưa thường xuyên cập nhật, bổ sung mới. Điều này khiến thực trạng sử dụng lao động chưa thành niên ở Việt Nam đang trở thành vấn đề nổi cộm khiến dư luận hết sức quan tâm. Do đó, cần cần phải khắc phục ngay những bất cập, hạn chế trong quy định về bảo vệ NLĐ chưa thành niên; bảo đảm hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất trong việc bảo vệ các quyền của con người nói chung, lao động chưa thành niên nói riêng.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

3.2.1. Hoàn thiện quy định về bảo vệ việc làm của người lao động chưa thành niên

Thứ nhất, Hoàn thiện các quy định tại Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.

Một là, mục 68 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 09/2020 quy định về công việc phải mang vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng lao động chưa thành niên đối với nhóm tuổi từ 180 tháng (15 tuổi) đến dưới 216 tháng (18 tuổi) nên mở rộng phạm vi áp dụng cho tất cả các công việc, ngành nghề cấm sử dụng lao động chưa thành niên, không chỉ riêng loại hình công việc mang vác.

Hai là, cần bổ sung danh mục các ngành nghề, công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên theo tiêu chuẩn mà ILO đã đưa ra tại Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức lao động chưa thành niên tồi tệ nhất và Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu như các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp (cày, bừa…). Trung Quốc đã đưa ra danh sách các ngành nghề cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam là nước tương tự, phát triển mạnh về nông ngư nghiệp, có một số các nghề có yếu tố độc hại, nguy hiếm trong lĩnh vực này cần được bổ sung vào danh mục. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các hình thức công việc luôn được đổi mới mà pháp luật chưa kịp thời điều chỉnh. Đồng thời, làm rõ phạm vi công việc trên tàu đi biển bao gồm công việc đánh bắt hải sản và chế biến hải sản tại Mục 35 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 09/2020 để tránh việc người sử dụng lao động lợi dụng sự không rõ ràng trong quy định pháp luật để lạm dụng, bóc lột lao động chưa thành niên.

Thứ hai, bổ sung các quy định để hỗ trợ phát triển thị trường lao động trong nước thông qua việc hoàn thiện các quy định nhằm nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm quốc gia về dự báo và thông tin thị trường lao động và các Trung tâm giới thiệu việc làm để phối hợp, thu thập, xử lý, phân tích, dự báo, quản lý và cung cấp thông tin thị trường lao động theo các cấp trình độ, các ngành nghề, lĩnh vực, lứa tuổi, giới tính. Trong đó cần có quy định về định hướng nghề nghiệp, đào tạo nghề miễn phí, tiếp cận thông tin về cầu lao động cho người lao động chưa thành niên. Cụ thể, cần bổ sung quy định riêng về chức năng tư vấn, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm miễn phí cho người lao động chưa thành niên của các Trung tâm giới thiệu việc làm. Quy định trên cũng phù hợp với Điều 1, Điều 6 và Điều 8 Công ước số 88 (1948) về dịch vụ việc làm trong việc yêu cầu các nước thành viên cần có quy định riêng với dịch vụ việc làm công miễn phí cho người lao động chưa thành niên. Điều này giúp cho họ có được định hướng nghề nghiệp, qua việc được tư vấn, họ có điều kiện hiểu biết về công việc sẽ làm, hiểu được các quy định pháp luật lao động để có thể tự phòng ngừa sự vi phạm và điều quan trọng hơn thông qua Trung tâm giới thiệu việc làm tin cậy các em có thể tìm được việc làm phù hợp. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

Thứ ba, bổ sung quy định riêng, cụ thể về việc tuyển dụng người lao động chưa thành niên cần phải thông qua hình thức giới thiệu việc làm. Cụ thể, khi các em đến tuổi lao động sẽ được cấp một mã số thẻ lao động (giống một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc…, để quản lý lực lượng lao động, nắm rõ nguồn cung lao động làm cơ sở cho việc xây dựng, hoạch định các chính sách về lao động, việc làm… Nhà nước sẽ đầu tư kinh phí xây dựng một kho dữ liệu về lực lượng lao động, gồm những người trong độ tuổi lao động, trong đó kho dữ liệu sẽ lưu giữ thông tin cá nhân, thông tin về quá trình lao động của người lao động và mỗi cá nhân sẽ được cấp một mã số thẻ lao động) và sẽ đăng ký tại trung tâm giới thiệu việc làm. Sau khi đăng ký xong, các em sẽ được trung tâm này tập huấn miễn phí và cấp chứng nhận về việc đã được tập huấn những kiến thức cơ bản về lao động, việc làm, về quyền lợi, nghĩa vụ của các em khi tham gia quan hệ lao động, về những công việc được làm, không được làm…Bên cạnh đó, căn cứ vào những thông tin chứa trong mỗi mã số thẻ lao động và căn cứ nhu cầu làm việc của các em, các trung tâm giới thiệu việc làm có thể sắp xếp, giới thiệu việc làm hoặc cung cấp đúng đối tượng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động.

3.2.2. Hoàn thiện quy định về bảo vệ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động chưa thành niên

Thứ nhất, sửa đổi quy định về thời gian làm việc của các đối tượng là NLĐ chưa thành niên từ đủ 15 tuổi tới chưa đủ 18 tuổi, cụ thể là tại Khoản 2 Điều 146 của BLLĐ năm 2019 theo hướng như sau: “Thời gian làm việc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được quá 06 giờ trong 01 ngày và 30 giờ trong 01 tuần.”

Về phương diện thực tiễn, giai đoạn từ đủ 15 tuổi tới chưa đủ 18 tuổi là giai đoạn quan trọng đối với trẻ em khi vấn đề tâm sinh lý của trẻ thay đổi khá lớn. Trẻ em trong giai đoạn này đòi hỏi sự quan tâm, bồi dưỡng, giáo dục về mọi khía cạnh trong cuộc sống nhằm phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần. Do vậy, với quy định về thời gian làm việc không quá 08 giờ một ngày và 40 giờ trong một tuần, trẻ em ở giai đoạn này sẽ bị hạn chế các cơ hội để phát triển toàn diện và hoàn thiện bản thân về thể chất, tâm lý và trí tuệ. Thời gian làm việc tối đa giảm xuống, trẻ em có thể được tạo điều kiện để tham gia các khóa học nhằm bồi dưỡng và phát triển bản thân.

Thứ hai, Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của NLĐ chưa thành niên trong thời gian tới nhà làm luật nên cân nhắc việc bổ sung quy định về thời giờ nghỉ ngơi riêng đối với lao động chưa thành niên, đảm bảo các em có đủ thời gian để phát triển thể lực, trí lực và hoạt động học tập. Theo quy định của BLLĐ năm 2019, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động nói chung bao gồm: Nghỉ giữa ca, nghỉ chuyển ca, nghỉ hàng tuần, nghỉ ngày lễ, nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng. Người lao động chưa thành niên vẫn có thể áp dụng các quy định như người lao động nói chung về chế độ nghỉ lễ, tết (11 ngày), nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng. Tuy nhiên, chế độ nghỉ giữa ca, nghỉ chuyển ca và nghỉ hàng tuần nên xem xét để điều chỉnh cho phù hợp với thể trạng của người lao động chưa thành niên. Cụ thể: Nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút; nghỉ chuyển ca ít nhất 18 giờ; nghỉ hàng tuần ít nhất 02 ngày, liên tục 48 tiếng. So với lao động trưởng thành, lao động chưa thành niên chưa có sự phát triển toàn diện về mặt sinh học, sự tiêu hao trí não, thần kinh, cơ bắp sẽ diễn ra nhanh hơn. Vì vậy, lao động chưa thành niên cần có thời gian nghỉ ngơi phù hợp để phục hồi sức khỏe. Đồng thời, pháp luật nên xóa bỏ quy định về làm thêm giờ, làm việc ban đêm đối với lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

3.2.3. Hoàn thiện quy định về bảo vệ tiền lương và thu nhập đối với lao động chưa thành niên Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

Về kỹ thuật lập pháp thì Bộ luật Lao động năm 2019 hiện nay chỉ quy định về mức lương tối thiểu chung cho người lao động mà chưa quy định về tiền lương của người lao động chưa thành niên. Thực tiễn cho thấy NSDLĐ ít lựa chọn việc ký kết hợp đồng lao động với người lao động chưa thành niên vì rõ ràng thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên ít hơn, hiệu suất lao động cũng vì thế mà ít hơn của NLĐ bình thường. Điều này là một trong những lý do khiến các doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn hạn chế sử dụng người lao động chưa thành niên; do đó các lao động chưa thành niên chủ yếu làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ, cơ sở sản xuất gia công nhỏ lễ, tự phát. Chính vì vậy, trên thực tế NSDLĐ đang sử dụng người lao động chưa thành niên làm công việc mang tính ổn định lâu dài nhưng lại không áp dụng mức lương tối thiểu vùng mà tính đơn giá tiền lương theo giờ, dẫn đến việc mức lương người lao động chưa thành niên tại nhiều địa phương thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định, gây thiệt thòi cho người lao động chưa thành niên.

Do đó theo tác giả để giải quyết tình trạng trên cần duy trì quy định về tiền lương tối thiểu và hoàn thiện quy định về tiền lương đối với người lao động chưa thành niên  theo hướng tập trung vào quy định về một cơ chế điều chỉnh tiền lương tối thiểu sao cho lương tối thiểu được điều chỉnh kịp thời cùng với sự biến động giá cả trên thị trường hoặc cùng với tốc độ trượt giá, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế để đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động chưa thành niên.

Ví dụ, khi chỉ số sinh hoạt do Tổng cục thống kế công bố tăng trên 10% so với thời điểm điều chỉnh tiền lương tối thiểu trước thì cần điều chỉnh lại lương tối thiểu…

3.2.4. Hoàn thiện quy định về bảo vệ an toàn và vệ sinh lao động đối với lao động chưa thành niên

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn Luật An toàn, vệ sinh lao động cần thiết phải có một hệ thống quản lý thống nhất an toàn, vệ sinh lao động, do một Bộ, thường là Bộ Lao động chủ trì. Tại một số quốc gia, các tổ chức nghiên cứu, đào tạo, huấn luyện và triển khai hoạt động an toàn, vệ sinh lao động được cấp kinh phí hoạt động chủ yếu từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động. Chính phủ chi cấp kinh phí cho hoạt động quản lý như thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Đây là một kinh nghiệm mà Việt Nam có thể áp dụng để giảm đầu tư từ ngân sách nhà nước, tang tính xã hội hóa các hoạt động an toàn, vệ sinh lao động. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

Thứ hai, đổi mới quy định về mô hình quản lý, triển khai hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động của các tổ chức an toàn, vệ sinh lao động nói chung là mô hình rất hiệu quả và thống nhất, nhưng vẫn được xã hội hóa rất cao, giúp cho các doanh nghiệp, đối tượng huấn luyện, tiếp cận các dịch vụ huấn luyện một cách dễ dàng. Đồng thời, hệ thống chương trình, tài liệu được quản lý thống nhất trên cơ sở nghiên cứu, đóng góp của các tổ chức khoa học, giáo dục và các chuyên gia huấn luyện hàng đầu.

Thứ ba, đổi mới quy định cách tiếp cận để phòng ngừa tai nạn, mất vệ sinh lao động, theo đó tiếp cận dựa vào rủi ro để tăng cường cấp độ an toàn, vệ sinh lao động trên tổng thể; tăng cường cách tiếp cận thông thường trong những lĩnh vực nguy cơ cao; các mục tiêu và biện pháp cụ thể được mô tả rõ ràng trong các lĩnh vực ưu tiên; cải thiện liên tục cấp độ an toàn, vệ sinh lao động thông qua việc giới thiệu cách tiếp cận hệ thống quản lý ở cấp quốc gia.

Thứ tư, đề xuất sửa đổi bổ sung quản lý tổ chức bộ máy quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Quy định rõ ràng hơn trách nhiệm đối với người sử dụng lao động xây dựng và hoàn thiện hệ thống phân định trách nhiệm về công tác an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở; Quy định rõ ràng hơn nội dung, nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho người sử dung lao động trong việc tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh của bộ phận an toàn, vệ sinh lao động, bộ phận y tế doanh nghiệp; Quy định rõ ràng hơn việc Hội đồng bảo hộ lao động ở doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh là tổ chức phối hợp, tư vấn về hoạt động an toàn, vệ sinh lao động và bảo đảm quyền được tham gia và kiểm tra giám sát về công tác an toàn, vệ sinh lao động của tổ chức công đoàn và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng bảo hộ lao động.

Thứ năm, cần xem xét và mở rộng quy định của Luật an toàn, vệ sinh lao động về đối tượng áp dụng và pham vi điều chỉnh, cần bao quát tới tất cả các đối tượng lao động có quan hệ lao động và không có quan hệ lao động (trong doanh nghiệp, ngoài doanh nghiệp). Tuy nhiên, việc mở rộng đối tượng này cũng cần được nghiên cứu có lộ trình để bảo đảm tính khả thi của luật.

Nội dung điều chỉnh cần đẩy đủ, bao trùm cả nội dung về cải thiện điều kiện lao động gắn an toàn, vệ sinh lao động với bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu; vấn đề xã hội hóa công tác an toàn, vệ sinh lao động và cơ chế huy động nguồn lực cho công tác an toàn, vệ sinh lao động; trách nhiệm của doanh nghiệp và các đối tượng liên quan; các chế độ chính sách đối với người lao động trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động; đào tạo, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; cơ chế giám sát, chế tài xử phạt nghiêm minh và đủ để Luật được thực hiện nghiêm minh.

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền cho người lao động chưa thành niên Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

3.3.1. Giải pháp chung

  • Đối với tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp

Trong cơ chế ba bên, tổ chức đại diện NLĐ tại doanh nghiệp đóng vai trò là cầu nối NLĐ với NSDLĐ và Nhà nước, là người đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của NLĐ, có trách nhiệm cùng với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ. Vì vậy, tổ chức đại diện NLĐ tại doanh nghiệp có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội, một trong những chức năng của tổ chức đại diện NLĐ tại doanh nghiệp là cùng với đại diện của NSDLĐ xây dựng QHLĐ lành mạnh, môi trường lao động hài hòa, ổn định. Tuy nhiên, trong những năm qua, chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ tại doanh nghiệp có nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy hết vai trò của mình trong mối quan hệ với Nhà nước, NSDLĐ, chưa thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy đối với NLĐ, điển hình là công đoàn cơ sở. Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ tại doanh nghiệp còn hạn chế là do việc làm và thu nhập của cán bộ công đoàn cơ sở thực tế phụ thuộc nhiều vào NSDLĐ. Có ý kiến nhận định: “Từ chỗ lệ thuộc về kinh tế, tổ chức công đoàn cơ sở rất khó hoặc không thể độc lập thực sự về phương diện tổ chức. Đây có thể coi là cản trở lớn nhất cho việc thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ NLĐ của tổ chức đại diện NLĐ tại doanh nghiệp”. Do vậy, các quy định của pháp luật lao động cần nâng cao hơn nữa sự độc lập trong hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ tại doanh nghiệp với NSDLĐ trong việc bảo vệ lợi ích của NLĐ.

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động

Thứ nhất, hoạt động QLNN về lao động phải tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia QHLĐ, không can thiệp trực tiếp vào quyền tự chủ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, quyền thương lượng và tự định đoạt của các bên QHLĐ theo quy định của pháp luật lao động. Nhà nước quy định hành lang pháp luật hợp lý và mềm dẻo để cả người lao động và NSDLĐ có thể thực hiện được; hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính vào QHLĐ của hai bên, bảo đảm hài hoà lợi ích của các chủ thể trong QHLĐ; tạo điều kiện để các bên cùng nhau thương lượng, đạt được thoả thuận về những điều kiện thuận lợi hơn cho người lao động so với quy định pháp luật lao động. Đồng thời, hướng dẫn hai bên xây dựng mối QHLĐ mới, hài hoà và ổn định vì sự phát triển của doanh nghiệp và sự phồn vinh của đất nước.

Thứ hai, QLNN về lao động phải phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở hiện tại và tương lai, nhất là công tác thông tin, quy hoạch phát triển thị trường lao động. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

Thời gian qua, công tác hệ thống dự báo ở cấp quốc gia cũng như ở từng địa phương và thông tin thị trường lao động chưa được quan tâm thích đáng đã dẫn đến công tác hướng dẫn, định hướng hoạt động thị trường lao động còn bị động, hiệu quả thấp; đào tạo chưa gắn với nhu cầu; người lao động và người thất nghiệp thiếu thông tin về việc làm; NSDLĐ thiếu thông tin về cung cầu trên thị trường lao động, ảnh hưởng đến đầu tư, phát triển sản xuất; cơ quan QLNN thiếu thông tin để phân tích, đánh giá và xây dựng chính sách thị trường lao động phù hợp với nhu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế.

Không những thế, quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội, đô thị chưa đồng bộ, chưa tính đến phát triển nguồn nhân lực của từng tỉnh, từng vùng. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo hiện tượng đô thị hóa khá tập trung, không đồng đều giữa các tỉnh, các vùng và phát triển không đồng bộ đã gây nên sự chênh lệch ở các địa phương. Nơi tập trung quá nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất lại là nơi dân số ít, nguồn lao động không nhiều. Một số địa phương tập trung thu hút đầu tư để phát triển kinh tế, không tính toán đến cung cầu lao động cũng như hạ tầng cơ sở đáp ứng yêu cầu dịch chuyển lao động.

Do vậy, trong công tác QLNN về lao động, Nhà nước cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, dự báo xu hướng việc làm, nhu cầu của NSDLĐ, chi phí đào tạo, tỷ lệ hoàn trả của đào tạo,… Đồng thời cung cấp đầy đủ các thông tin về dự báo kinh tế, triển vọng đầu tư, các dự án phát triển, trên cơ sở đó các doanh nghiệp sẽ dự kiến phát triển kinh tế, nhu cầu nguồn nhân lực và chủ động xây dựng các kế hoạch nhân lực của mình. Đặc biệt cần đầu tư công tác thống kê, phân tích dữ liệu thông tin thị trường lao động ở các tỉnh, thành phố và thiết lập hệ thống thông tin giữa các tỉnh nhằm cung cấp, điều phối lao động. Nói khác đi, QLNN về lao động cần có sự kết hợp hài hòa giữa các quy định pháp luật, cơ quan QLLĐ, các phương pháp QLNN với công tác thống kê, xây dựng chiến lược, quy hoạch sử dụng lao động, nhất là định hướng và dự báo nhu cầu lao động trong xã hội để người lao động và NSDLĐ chủ động trong việc điều chỉnh quan hệ cung cầu lao động tránh sử dụng nguồn nhân lực lãng phí, bóc lột nhân công.

3.3.2. Giải pháp cụ thể tại Tỉnh Bình Dương

  • Tăng cường chính sách kinh tế hỗ trợ tới đối tượng chưa thành niên thuộc diện hộ nghèo

Nghèo đói và không công bằng là nhân tố dẫn đến việc người chưa thành niên phải tham gia lao động sớm, làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm. Một trong những giải pháp thiết thực cần thực hiện là tăng cường các chính sách cho trẻ em, ví dụ như mở rộng lứa tuổi và diện trẻ em được hưởng chính sách về y tế, giáo dục, văn hóa. Ngoài ra, cẩn phát triển hơn nữa các trường dạy nghề gắn với việc làm cho đối tượng là con em gia đình nghèo, gia đình thuộc diện chính sách. Cần triển khai sâu rộng trong cả nước kế hoạch thực hiện Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em để tạo điều kiện cho cuộc sống và sự phát triển của người chưa thành niên, qua đó khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ NLĐ chưa thành niên. Bên cạnh đó, cần có biện pháp hỗ trợ các gia đình nghèo ngay tại địa phương để giải quyết triệt để tình trạng di dân vì lý do kinh tế, tạo việc làm và thu nhập ổn định đối với các gia đình nghèo, đảm bảo cho trẻ em được đi học.

Thứ nhất, Hỗ trợ tín dụng và sinh kế: Thông thường được thực hiện qua các chương trình tín dụng nhỏ. Hỗ trợ về sinh kế cũng có thể thông qua việc giới thiệu hoặc tạo công ăn việc làm cho người lớn và thanh thiếu niên trong gia đình đã đến tuổi lao động.

Thứ hai, Hỗ trợ vật chất có điều kiện: Thể hiện ở việc cung cấp cho cha mẹ của trẻ những khoản hỗ trợ, bằng tiền mặt hoặc vật chất, thường xuyên hoặc không thường xuyên, kèm theo các điều kiện có liên quan đến phòng chống lao động chưa thành niên.

  • Cải thiện điều kiện và môi trường làm việc đối với lao động chưa thành niên. 

Môi trường và điều kiện làm việc là yếu tố có ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công việc, sức khỏe và tâm lý của người lao động. Cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cần được thực hiện đồng bộ và kịp thời để bảo đảm cho NLĐ chưa thành niên điều kiện làm việc tốt nhất nhằm phát huy được khả năng và trí lực của họ. Đồng thời, duy trì được thể lực, phát triển đúng với lứa tuổi. Như vậy, cần tăng cường công tác thanh tra, thông qua việc ban hành và bổ sung quy chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra lao động. Đặc biệt cần phải có những thanh tra viên lao động chuyên trách về vấn đề NLĐ chưa thành niên. Việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ NLĐ chưa thành niên phải được tiến hành thường xuyên hơn và giám sát NSDLĐ trong việc tạo điều kiện lao động tốt nhất, an toàn nhất cho NLĐ chưa thành niên

  • Thúc đẩy giáo dục cho người chưa thành niên Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

Để giáo dục phát huy tác dụng phòng ngừa và giảm thiểu lao động chưa thành niên, cấp giáo dục tiểu học (còn gọi là giáo dục cơ bản) phải thật sự miễn phí. Cần có biện pháp giảm thiểu, xoá bỏ những chi phí phụ hoặc chi phí không công khai trong giáo dục, ví dụ như chi phí đi lại, đồng phục, ăn uống, sách vở, sưởi ấm và chiếu sáng trong lớp học… Thêm vào đó, cần quan tâm đặc biệt đến giáo dục cho trẻ em gái, trẻ em bỏ học và trẻ em phải lao động sớm, lao động trong những điều kiện nặng nhọc, nguy hại để giúp các em có thể trở lại trường hoặc theo học các chương trình giáo dục thay thế. Ở những nơi hệ thống trường học chính quy không đáp ứng được nhu cầu học tập, cần tổ chức những chương trình giáo dục không chính quy và giáo dục nghề nghiệp cho trẻ em.

  • Tăng cường thanh tra, kiểm tra sử dụng lao động chưa thành niên

Đề cao trách nhiệm của gia đình đối với NLĐ chưa thành niên. Ngoài ra, cần có các biện pháp can thiệp để trợ giúp trẻ em nghèo khỏi môi trường đang làm việc, tăng cường cơ chế kiểm tra việc thi hành pháp luật có liên quan đến NLĐ chưa thành niên ở các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có sử dụng NLĐ chưa thành niên.

Hiện BLLĐ chỉ áp dụng cho NLĐ thuộc khu vực kinh tế chính thức có quan hệ lao động, trong khi phần lớn NLĐ chưa thành niên lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức và trong nhóm không có quan hệ lao động. Như vậy, NLĐ chưa thành niên gần như không được bảo vệ do việc thanh tra, kiểm tra, giám sát tại các khu vực kinh tế nằm ngoài khu vực kinh tế chính thức còn yếu.Vì vậy, muốn kiểm soát tình trạng NLĐ chưa thành niên thì cần tập trung vào việc thanh tra, kiểm tra tình hình sử dụng NLĐ chưa thành niên trong các cơ sở sản xuất thuộc thành phần kinh tế tư nhân, cá thể. Đồng thời bồi dưỡng kiến thức về NLĐ chưa thành niên cho các cán bộ trực tiếp triển khai thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra này.Phải phát động người dân,tất cả các tổ chức chính trị- xã hội và toàn xã hội tham gia vào việc giám sát hoạt động của các cơ sở lao động có sự tham gia của người chưa thành niên,phát hiện, tố cáo những vi phạm liên quan đến sử dụng lao động chưa thành niên. Ngoài ra, sự giám sát của người dân là một biện pháp quan trọng trong việc bảo vệ NLĐ chưa thành niên.

Kết luận Chương 3 Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

  • Qua nghiên cứu chương 3, tác giả rút ra một số kết luận sau:

Người lao động chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần nhưng không phải là người không biết cảm nhận được về sự an toàn hay nguy hiểm. Do đó, khi được lao động và sống trong một môi trường được bảo vệ, họ sẽ được tự do phát triển lành mạnh, tự do học tập, vui chơi, làm việc và có cơ hội phát triển hết khả năng, tài năng, trí lực và tình cảm của mình. Vì vậy, việc bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, mà pháp luật là một công cụ tất yếu trong sự nghiệp bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.Việt Nam cần nỗ lực hơn trong việc bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên, đồng thời điều chỉnh pháp luật tiến bộ để phù hợp với điều kiện của xã hội, cũng như pháp luật quốc tế trong vấn đề này.

Trên thực tế, muốn tìm kiếm một giải pháp độc lập hữu hiệu, có hiệu quả và tiến tới giảm thiểu tình trạng vi phạm về lao động chưa thành niên là việc rất khó. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý của người lao động chưa thành niên, điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và xu thế chung của quốc tế mà chúng ta xác định phương hướng hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên cho phù hợp. Những phương hướng này góp phần làm hạn chế việc sử dụng lao động chưa thành niên bất hợp pháp hiện nay ở nước ta.

Hoàn thiện pháp luật về nội dung bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên phải sửa đổi, bổ sung các nội dung quy định về tiền lương, việc làm, an toàn vệ sinh lao động vvv. Bên cạnh việc thiện pháp luật cần có giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên; đó là tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, vai trò của tổ chức đại diện NLĐ và các giải pháp khác.

KẾT LUẬN

Với rất nhiều những nỗ lực được thực hiện bởi các quốc gia, các tổ chức quốc tế, rất nhiều các công ước quốc tế đã ra đời thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE. Đó là Công ước số 138 năm 1973 của Tổ chức Lao động quốc tế về “Tuổi tối thiểu được đi làm việc”, với mục đích là xóa bỏ hiệu quả LĐTE – là những công việc gây nguy hiểm cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức của trẻ, ảnh hưởng đến giáo dục bắt buộc của trẻ hoặc đơn giản những công việc mà trẻ con quá nhỏ để làm và Công ước số 182 năm 1999 của Tổ chức Lao động quốc tế về “Nghiêm cấm và những hành động khẩn cấp để xóa bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất” đưa ra danh sách những công việc tồi tệ nhất và cần những hành động tức thời của các quốc gia để ngăn chặn LĐTE tồi tệ nhất. Để đảm bảo trẻ em không bị bóc lột sức lao động, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước 138, Công ước 182 và cam kết thực hiện các biện pháp giải quyết tình trạng LĐTE thông qua việc xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, thiết lập một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ, phù hợp với bối cảnh quốc gia và hài hòa với luật pháp quốc tế. Mặc dù đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong việc nội luật hoá các tiêu chuẩn lao động quốc tế về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên từng bước tạo sự tương thích với những quy định cơ bản của luật quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên hiện còn một số hạn chế, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện; từ đó dẫn đến nhiều thách thức cho Việt Nam trong việc phòng ngừa, giảm thiểu tiến tới xóa bỏ LĐTE dưới mọi hình thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên là vấn đề cần thiết. Việc hoàn thiện này phải khắc phục được những nhược điểm còn đang tồn tại trong hệ thống pháp luật lao động và đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Ngoài ra, việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên còn phải bảo đảm phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế. Các giải pháp cho việc hoàn thiện tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung những quy định còn chưa hợp lý. Đồng thời còn là việc bổ sung những quy định mới cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội hiện tại cũng như bổ sung một số quy định mới khác mang tính dự trù, dự liệu trong tương lai nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên

2 thoughts on “Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng PL bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên

  2. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên says:

    Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ quyền của NLĐ chưa thành niên

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464