Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn:  Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Từ việc phân tích những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước và thực tiễn thực hiện công tác này tại tỉnh Bình Dương, tác giả cho rằng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết và cấp bách. Theo đó, hoạt động này cần phải đảm bảo được những định hướng như sau:

Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động áp dụng pháp luật về hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và nguồn nước nói riêng. Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách về việc quản lý, kiểm soát, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này tại từng địa phương. Sự lãnh đạo của Đảng chỉ đạt hiệu quả khi có các chủ trương, chính sách, đường lối đúng đắn để việc áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước của từng cá nhân, tổ chức có liên quan tới công tác này trên thực tế đạt hiệu quả cao, góp phần đảm bảo môi trường sống lành mạnh cho người dân. Đồng thời, tạo nên tư liệu giúp cho việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này tiết kiệm, hiệu quả và là bước đệm trong quá trình sản xuất, kinh doanh góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ hai, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước cần phải đảm bảo sự tương thích giữa với các văn bản pháp luật liên quan trong nước và quốc tế. Cụ thể, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước không chỉ nằm trong mối quan hệ của hệ thống pháp luật quốc gia như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Luật Xử lý vi phạm hành chính, … mà còn phải phù hợp với những văn bản pháp luật quốc tế mà Việt nam là thành viên được kể đến như: Công ước Luật biển 1982; Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng (BASEL), 1989; Tuyên bố Rio de Janeiro về Môi trường và phát triển bền vững năm 1992; Công ước Stockholm về các chất hữu cơ khó phân hủy (Công ước POPs), … Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng cần phải quan tâm tới các điều ước song phương mà Việt Nam ký kết với một số quốc gia khác. Cần tiếp tục tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Úc, Nam Phi, Hà Lan, … các nước có điều kiện tương đồng trên thế giới như Thái Lan, Philippin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước phải đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, hiện nay có thể thấy, Đảng và Nhà nước ta đã khá quan tâm tới vấn đề này. Cụ thể, biểu hiện ở việc ban hành những văn bản pháp luật có liên quan về vấn đề môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Có thể thấy, pháp luật về bảo vệ môi trường tính đến thời điểm hiện tại là hoạt động kế thừa những văn bản pháp luật đã có trước đó. Tuy nhiên, bên cạnh việc kế thừa những quy định được coi là còn phù hợp và có giá trị áp dụng cho đến nay thì hoạt động này cần phải được bổ sung, sửa đổi những điều mà thực tiễn đòi hỏi mà pháp luật cũ chưa điều chỉnh được. Do đó, hoạt động này cần phải có sự đánh giá chính xác cũng như dự trù một cách kỹ lưỡng.

Cụ thể, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng về nhu cầu thực tế cần pháp luật điều chỉnh về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước phải có những nội dung gì, nhu cầu, khả năng thực hiện của người dân ra sao, trách nhiệm của từng chủ thể như thế nào, gắn với xu thế hội nhập quốc tế, … để có cơ sở cho việc xây dựng những quy định phù hợp với thực tiễn. Có thể thấy, mức độ phù hợp với thực tiễn xã hội càng cao thì tính khả thi của pháp luật cũng từ đó tăng lên. Do đó, việc làm tốt công tác này là cách hiệu quả nhất để giúp cho những quy định trong luật được thực thi trong thực tế mang lại kết quả mà định hướng đề ra. Từ đó, có thể giải quyết được một số những vấn đề còn tồn tại dẫn tới sự ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và đời sống của mọi người.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội. Theo đây, có thể thấy pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng phải tuân thủ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra. Theo đó, đây được coi là một trong những yếu tố góp phần quan trọng đối với sự phát triển bền vững của quốc gia nói chung và cụ thể tại một địa bàn nói riêng. Theo đó, việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này phải đảm bảo các yêu cầu sau: “Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường; Tăng cường xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải ở các đô thị và khu công nghiệp; Tăng cường nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Ngăn ngừa suy thoái và phục hồi chất lượng các nguồn nước; Hoạt động phòng ngừa ô nhiễm phải được coi trọng hơn là khắc phục và xử lý hậu quả gây ô nhiễm.

Như vậy, từ những yêu cầu được nêu ra trên đây, để việc hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này mang lại những giá trị thực tế thì về nguyên tắc người có hành vi vi phạm phải bị xử lý một cách nghiêm khắc. Chính vì vậy, cần tính tới việc sửa đổi các quy định liên quan đến trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong thực thi pháp luật liên quan đến lĩnh vực này, góp phần xây dựng một xã hội đồng lòng để mang lại hiệu quả tốt nhất. Đồng thời, cũng theo đây cần phải tăng cường các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quy định này trên thực tế.

3.2. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Từ những định hướng nêu trên, tác giả cho rằng nếu chỉ dừng lại ở việc đưa ra những định hướng thì công tác áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng chưa mang lại được hiệu quả thực sự mà theo đó cần phải có những đề xuất về hoàn thiện pháp luật cụ thể. Theo đó, hoạt động này không chỉ có giá trị áp dụng đối với địa bàn tỉnh Bình Dương mà còn có thể áp dụng ở những phạm vi rộng hơn trong cả nước. Chính vì vậy, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể về hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta có liên quan tới công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Theo đó, vấn đề hiện nay là pháp luật quy định ở rất nhiều những văn bản khác nhau như được liệt kê ở trên. Vì vậy, đối với vấn đề này cần rà soát lại các quy định có liên quan về công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đang bị mâu thuẫn, chồng chéo, chưa cụ thể, khó thực hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Theo đó, để hạn chế vấn đề này, theo tác giả có thể đề xuất xây dựng một đạo luật quy định chuyên về công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Từ đó, sẽ giải quyết được vấn đề áp dụng không đúng, không đủ các quy định có liên quan gây ảnh hưởng tới kết quả của việc thực hiện hoạt động này trên thực tế.

Đối với sự bất cập trong quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước như phân tích ở trên, nếu như áp dụng theo Luật Bảo vệ môi trường thì tất yếu việc đùn đẩy trách nhiệm sẽ xảy ra. Bên cạnh đó, theo nội dung này thì không hề có trách nhiệm của Bộ TNMT. Vì vậy đối với nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia có còn là trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh không. Do đó, đối với quy định này, pháp luật về bảo vệ môi trường cần có sự sửa đổi, bổ sung, theo đó đề cập đến trách nhiệm của từng cơ quan cụ thể đối với phạm vi quan trắc, giám sát của mình để hạn chế việc có sự mâu thuẫn như hiện nay.

Thứ hai, đối với Luật Tài nguyên nước được ban hành năm 2012 có thể thấy đây là một đạo luật được ban hành đã khá lâu. Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng sau hơn 11 năm thi hành, do các mối quan hệ kinh tế, xã hội có nhiều thay đổi. Bên cạnh đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật liên quan đến quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước nên Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế. Chính vì vậy, để công tác kiểm soát tốt nhất về việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả, hạn chế tình trạng sử dụng lãng phí, gây tổn hại đến chất lượng nguồn tài nguyên này, tác giả cho rằng cần phải tiến hành rà soát những quy định tại văn bản này, để có cái nhìn khách quan nhất về quá trình thực thi những nội dung này trên thực tế và tiến hành đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc cần thiết có thể thay thế văn bản này nhằm củng cố và hoàn thiện công tác quản lý, kiểm soát nguồn tài nguyên nước bảo đảm tính thống nhất, toàn diện, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường nói chung trong giai đoạn hội nhập hiện nay và góp phần thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Thứ ba, đối với bất cập về việc một số đề án của tỉnh phải dừng triển khai thực hiện do chưa có thông tư hướng dẫn khiến cho tốc độ phát triển của địa phương bị trì trệ, ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện Quy hoạch đã đề ra, trong đó được kể đến như đề án “Kiểm kê tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh”, đề án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất các vùng khan hiếm nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương”… Chính vì vậy, để hạn chế tình trạng này xảy ra trong thời gian tới, địa phương cần thiết phải ban hành những thông tư, văn bản hướng dẫn thực hiện đối với những nội dung này, cụ thể là thông tư hướng dẫn nội dung, biểu mẫu kiểm kê, báo cáo kết quả kiểm kê tài nguyên nước; bổ sung nội dung về đơn giá để triển khai thực hiện đề án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất các vùng khan hiếm nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương”… một cách nhanh chóng nhất bởi đây là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng không chỉ riêng đối với những đề án nêu trên mà còn tác động tới những vấn đề có liên quan trong tương lai.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định về đánh giá công nghệ môi trường, công nghệ thân thiện với môi trường. Theo quy định hiện nay, việc thẩm định, đánh giá công nghệ môi trường, công nghệ thân thiện với môi trường được giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ TNMT đều có trách nhiệm thẩm định đánh giá. Tuy nhiên, để công tác kiểm soát môi trường, đặc biệt là nguồn nước đạt được những kết quả nhất định, cần phải nâng cao vai trò của hệ thống cơ sở dữ liệu về nguồn nước và những vấn đề liên quan tới nguồn nước để các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào đó đánh giá được tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước một cách tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế cao nhất vấn đề ô nhiễm xảy ra. Hướng tới quản lý tài nguyên nước trên nền tảng công nghệ số.

Thứ năm, đối với bất cập về việc phân công trách nhiệm của các chủ thể còn chưa rõ ràng. Theo đây, cần phải cần phải bổ sung quy định rõ ràng về trách nhiệm này đối với từng cơ quan, tổ chức có liên quan, đặc biệt là trách nhiệm của Bộ TNMT, Sở TNMT cũng như sự phối hợp của cơ quan này với UBND và các cấp, các ngành có liên quan, nhằm giúp cho công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước đạt hiệu quả hơn. Ngoài ra, trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn tài nguyên này, cần có sự bố trí, làm rõ, tạo cơ chế phối hợp giữa các chức năng quản lý, giám sát, thanh tra, xử lý, cấp phép. Do môi trường nước có phạm vi rộng, ảnh hưởng đến nhiều vùng miền và ngành nghề khác nhau, nên kiểm soát các cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước hiện đang khá chồng chéo giữa các bộ ngành. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự rà soát, thống nhất các chức năng với nhau. Cần cải cách, thu gọn cơ quan có thẩm quyền về một mối để đảm bảo thực hiện có hiệu quả. Ví dụ như, UBND cấp tỉnh sẽ có nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trọng tâm là rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước,… trong phạm vi địa phương, Sở TNMT sẽ chịu trách nhiệm giám sát, thanh tra, xử lý các vấn đề thuộc lãnh thổ mình quản lý. Bên cạnh đó, các cơ quan này tuy làm việc một cách độc lập nhưng vẫn có sự phối hợp tham mưu, hướng dẫn tới những cơ quan còn lại để mang lại kết quả tốt nhất đối với nhiệm vụ kiểm soát ô nhiễm nguồn tài nguyên này do đặc tính của nước có tính luân chuyển, do đó rất dễ xảy ra tình trạng nguồn nước ô nhiễm sẽ bị ảnh hưởng tới những khu vực lân cận, nếu không có sự phối hợp có thể khiến cho tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn. Chính vì vậy, đối với nhóm giải pháp này cần phải tăng cường cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương có liên quan tới vấn đề môi trường để từ đó hạn chế việc ỷ lại cũng như đùn đẩy trách nhiệm, góp phần kiểm soát tốt nhất những vấn đề xảy ra đối với nguồn nước. Đây cũng là lực lượng nòng cốt giữ vai trò kim chỉ nan đối với công tác này, do đó, đối với nhóm giải pháp này cần phải đặc biệt quan tâm và làm rõ.

Thứ sáu, đối với thực trạng trong công tác xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng như trên cho thấy hiện nay đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ này còn mỏng, vi phạm khó phát hiện, dẫn tới việc kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước sau cấp phép còn hạn chế. Việc doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh bị xử lý hình phạt chưa tương xứng so với hậu quả gây ra trên thực tế. Điều đó dẫn tới sự mất ổn định xã hội cũng như khiến cho các doanh nghiệp này xem thường pháp luật, vì mục đích lợi nhuận mà thường xuyên bỏ qua yêu cầu về bảo vệ môi trường, xả nước thải, cũng như không xử lý nước thải trước khi xả thải ra nguồn nước làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên này. Đặc biệt là các khu vực hạ nguồn, người dân xung quanh chịu ảnh hưởng rất nhiều mà các doanh nghiệp không hề quan tâm. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Chính vì vậy, để hạn chế thấp nhất tình trạng ô nhiễm xảy ra cũng như đảm bảo giải quyết triệt để những hành vi vi phạm này, pháp luật cần phải bổ sung quy định về chế tài xử lý nặng hơn đối với những cơ sở sản xuất kinh doanh không tập trung đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải cũng như phân loại và xử lý rác thải trong quá trình hoạt động để nâng cao tính răn đe đối với những trường hợp không tuân thủ quy định cũng như cưỡng chế trong công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Bên cạnh đó, ngoài việc quy định các hình phạt chính thì biện pháp bồi thường thiệt hại là một hình phạt vô cùng cần thiết và có hiệu quả đối với công tác này trên thực tế. Theo đó, cần phải quy định rõ ràng về mức bồi thường do hành vi này tùy thuộc vào mức độ của hành vi vi phạm gây ra. Tuy nhiên, việc cung cấp tài liệu chứng minh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khá khó khăn trên thực tế, đặc biệt là thiệt hại mang tính lâu dài. Chính vì vậy, đối với vấn đề này pháp luật cần thiết phải bổ sung những quy định hướng dẫn rõ ràng. Trong đó, có quy định cụ thể về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với trường hợp bị thiệt hại mang tính lâu dài, khó khắc phục, …

3.3. Đề xuất giải pháp về nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian qua cho thấy, có khá nhiều những vướng mắc, bất cập ảnh hưởng tới chất lượng của công tác này. Theo đây, để khắc phục các vấn đề bất cập trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm nguồn nước như đã phân tích. Bên cạnh những kiến nghị hoàn thiện pháp luật đã được nêu ở trên, tác giả đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, cụ thể như sau:

Thứ nhất, nâng cao sự lãnh đạo của cơ quan Đảng và Nhà nước trong việc đề ra các chủ trương, chính sách cụ thể bằng việc chấp hành nghiêm chỉnh những chủ trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra. Kết quả của hoạt động này là việc áp dụng nghiêm túc những điều luật mà người làm luật hướng đến. Từ đó, góp phần giảm tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Đồng thời, qua đó góp phần làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức có liên quan trong toàn xã hội để góp phần xây dựng một môi trường sống tốt nhất cho con người, đặc biệt là những khu vực có nguồn nước chảy qua. Theo đây, việc chấp hành nghiêm chỉnh những quy định này thể hiện qua kết quả báo cáo hằng năm của từng địa phương. Từ đó, sẽ giúp duy trì, cải thiện nguồn tài nguyên này đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của con người, giúp mang lại những giá trị tốt đẹp hơn. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Thứ hai, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng. Theo đó, cần phải tăng cường việc tổ chức các buổi tập huấn, các buổi tọa đàm, trao đổi về kinh nghiệm, kỹ năng của cán bộ làm công tác này tại các địa phương khác nhau, nhằm nâng cao tinh thần học hỏi của các chủ thể này. Qua đó, giúp cho việc triển khai thực hiện tại địa phương mình mang lại những kết quả tích cực. Theo đây, bên cạnh những hoạt động này thì đội ngũ cán bộ cần phải ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý nguồn tài nguyên này; hạn chế tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp không phù hợp; hình thành cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả trên cơ sở phân công trách nhiệm rõ ràng và hợp lý giữa các bộ, ngành trong hoạt động điều tra cơ bản, quản lý, sử dụng tài nguyên; tăng cường đào tạo, phát triển nhân lực, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao về quản lý tài nguyên góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và người dân trong giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên; xây dựng hệ thống quản lý ngành ở các cấp theo hướng tối ưu hóa, để các hoạt động thông suốt có hiệu quả; đẩy mạnh cải cách hành chính, tích cực phân cấp quản lý, đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cấp.

Thứ ba, cơ quan quản lý về tài nguyên nước cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên nước và xả thải vào nguồn nước, theo dõi biến động về nguồn nước. Bên cạnh đó, trong trường hợp nếu phát hiện có hành vi vi phạm gây ô nhiễm nguồn nước cũng được phát hiện và xử lý kịp thời. Chính vì vậy, để mang lại hiệu quả cao nhất mà hoạt động này mang lại, công tác thanh tra, kiểm tra cần phải được tiến hành định kỳ. Bên cạnh đó, tổ chức các kỳ kiểm tra đột xuất nhằm phát hiện một cách khách quan nhất về tình hình biến động về nguồn nước của địa phương. Đối với nhóm giải pháp này yêu cầu mỗi tổ chức, doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ báo cáo về tình hình sản xuất, kinh doanh của tổ chức đó. Theo đây, phải áp dụng công nghệ xử lý nước thải trước khi xả thải ra môi trường, khi có hành vi vi phạm thì phải bị xử lý một cách nghiêm túc.

Thứ tư, để khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, không chỉ các cơ quan hữu quan mới thể hiện vai trò của mình mà đây còn là nhiệm vụ của toàn dân, đặc biệt là những chủ thể có liên quan trực tiếp tới nguồn nước. Chính vì vậy, để phát huy tối đa sức mạnh toàn dân cần phải tăng cường các công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục vận động người dân trên địa bàn về việc tuân thủ và thực hiện các yêu cầu, trách nhiệm của mình đối với công tác bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng tại các nguồn khác nhau. Theo đó, hoạt động này sẽ giúp người dân nhận thức được vai trò và tầm quan trọng trong hoạt động bảo vệ, kiểm soát và xử lý ô nhiễm nguồn nước. Khi thay đổi được nhận thức sẽ giúp người dân thay đổi được hành vi của mình theo chiều hướng tích cực trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật. Đối với nhóm giải pháp này, chính quyền địa phương có thể tổ chức thực hiện qua các hình thức như:

Thông qua trao đổi trực tiếp với từng địa phương, doanh nghiệp về pháp Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên nước nhằm giúp cho những chủ thể này hiểu được ý nghĩa của công tác quản lý, kiểm soát môi trường nước nói chung để từ đây giúp họ nâng cao ý thức chấp hành những quy định này. Bên cạnh đó, thông qua những buổi tuyên truyền trực tiếp này còn có thể lấy ý kiến người dân về các nội dung văn bản dưới luật cần phải sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế mà địa phương gặp phải.

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo đài, tạp chí,… góp phần giúp những nội dung liên quan đến vấn đề này đi sâu vào nhận thức của người dân. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói riêng giúp người dân tiếp cận một cách nhanh chóng, kịp thời những vấn đề xảy ra trong xã hội. Từ đó, có cái nhìn khách quan về sự biến đổi của môi trường sống và giúp họ chú ý hơn trong những hoạt động thường ngày có thể dẫn tới tình trạng ô nhiễm nguồn tài nguyên này.

Kết luận Chương 3 Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Qua phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước xảy ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương được phân tích ở Chương 2, tại Chương này tác giả đã đưa ra một số định hướng hoàn thiện pháp luật về công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nói chung, đặc biệt có ý nghĩa áp dụng đối với tỉnh Bình Dương. Qua đây, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật với từng vấn đề cụ thể, cùng với đó là những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này trên thực tế.

Như vậy, có thể thấy xã hội ngày càng phát triển, đồng nghĩa với đó là việc nhu cầu sử dụng nước của các cá nhân, tổ chức cũng ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất mở ra ngày càng dày đặc khiến cho tình trạng môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng đang bị ảnh hưởng và diễn biến theo chiều hướng tiêu cực. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người. Chính vì lý do trên, việc đưa ra những đề xuất, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tài nguyên này là một nhiệm vụ vô cũng cần thiết và cần được sự tiếp cận, tham gia từ toàn thể xã hội để mang lại hiệu quả tốt nhất cho công tác quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên này, góp phần tạo nên một môi trường sống lành mạnh phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của con người.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Hiện nay, ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng ở nước ta cũng như trên địa bàn tỉnh Bình Dương đang ở mức báo động, đặc biệt ở thời điểm hiện tại khi địa phương được coi là “thủ phủ của các khu công nghiệp”. Quản lý, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước không phải là vấn đề của một cá nhân, một cơ quan hay một tổ chức mà là của toàn xã hội. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ra đời cùng với những pháp luật có liên quan thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có ý nghĩa rất quan trọng, bổ sung nhiều chế định giúp quá trình áp dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả tích cực. Theo đó, cùng với Luật Tài nguyên nước năm 2012 và những văn bản có liên quan đến công tác này đã tạo nên hành lang pháp lý vững chắc của hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm điều chỉnh công tác này.

Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng quy định pháp luật về vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương có thể thấy, bên cạnh những kết quả mà địa phương đã đạt được thì cũng gặp không ít khó khăn, bất cập. Do đó, việc tìm ra những điểm bất cập, vướng mắc trong quá trình thực thi tại địa phương để từ đó tìm ra những hướng khắc phục cũng như hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là việc rất quan trọng. Việc kịp thời khắc phục những bất cập về vấn đề kiểm soát ô nhiễm nguồn nước góp phần giúp phòng ngừa, khắc phục những hậu quả mà quá trình sinh hoạt hay trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người tạo ra. Chính vì vậy, để mang lại hiệu quả triệt để về vấn đề này theo những định hướng, chủ trương đã đề ra thì cần phải có sự tích cực tham gia của toàn thể xã hội. Luận văn: Giải pháp pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464