Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ viên chức của Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.1. Vị trí, chức năng của Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những năm của thập niên 50-70 ở thế kỷ XX, Sài Gòn với trên 4 triệu dân và cả miền Nam Việt Nam chỉ có một bệnh viện Nhi đồng (là Bệnh viện Nhi đồng 1 hiện nay, được xây dựng từ năm 1956), không thể đáp ứng cho nhu cầu khám chữa bệnh cho trẻ em ở các tỉnh/thành phía Nam. Sau năm 1975, Bệnh viện Grall (hay còn gọi là “Bệnh viện Đồn Đất”) được Pháp trao trả cho Chính phủ Việt Nam và trở thành bệnh viện Trung cao.
Với nhu cầu bức thiết phải có thêm bệnh viện nhi đồng thứ hai để vừa đủ khả năng đáp ứng việc khám, chữa bệnh cho các cháu thiếu nhi; vừa tạo một môi trường điều trị rộng rãi, thoáng mát, sạch sẽ cho trẻ em, mầm non tương lai của đất nước; vì vậy, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chọn bệnh viện Grall để thành lập Bệnh viện Nhi đồng thứ 2 và chọn ngày Quốc tế thiếu nhi 01/6/1978 để cho ra đời Bệnh viện Nhi đồng 2.
Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, trải qua bao nhiêu năm dài của chiến tranh, đất nước còn rất nhiều thử thách và gian khó, Bệnh viện đã vượt qua rất nhiều khó khăn từ việc thiếu thốn thuốc men, trang thiết bị, vật tư cung ứng chỉ đáp ứng một phần so với yêu cầu; đội ngũ y tế từ nhiều nguồn khác nhau, trình độ chuyên môn không đồng đều, cả những người chưa từng khám bệnh cho trẻ em; cơ sở vật chất, trang thiết bị cũ kỹ, vừa không đồng bộ, vừa không phù hợp, chỉ dành cho người lớn…nhưng tất cả đều chung tay xây dựng Bệnh viện.
Năm 2018 bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện tự chủ giai đoạn 2018-2020 theo Quyết định số 1207/QĐ-UBND ngày 29/3/2018 của UBND Thành phố. Hiện nay, Bệnh viện Nhi đồng 2 là đơn vị trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập (tự chủ nhóm 2) thực hiện theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Bệnh viện Nhi đồng 2 là bệnh viện chuyên khoa được Ủy ban nhân dân Thành phố xếp hạng I tại Quyết định số 421/QĐ-UBND ngày 10 tháng 02 năm 2020 và được Bộ trưởng Bộ Y tế phân công đầu ngành và phạm vi chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa Nhi tại các tỉnh, thành phố: Tây Nguyên, Duyên Hải Miền Trung, Đông Nam bộ theo Quyết định số 4026/QĐ-BYT ngày 20 tháng 10 năm 2010. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Bệnh viện Nhi đồng 2 có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật; chấp hành sự lãnh đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và hoạt động tài chính, cơ sở vật chất của Sở Y tế. Để đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành y tế, bệnh viện chịu sự chấp hành sự chỉ đạo, hỗ trợ, hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra, giám sát về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế và Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Bệnh viện Nhi Đồng 2 là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em dưới 16 tuổi và có các nhiệm vụ sau đây: Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ y tế; Nghiên cứu khoa học về y học; Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế; Quản lý kinh tế trong bệnh viện; Thực hiện công tác xã hội trong bệnh viện; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Y tế giao, cụ thể:
- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh:
Tiếp nhận để xử trí cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú đối với tất cả các trường hợp người bệnh được chuyển đến từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố trong cả nước hoặc các bệnh viện khác. Đối với những ca bệnh có liên quan đến nhi khoa, sẽ tham gia phối hợp với đơn vị bạn thực hiện hội chẩn, cho ý kiến chuyên môn.
Thực hiện khám, giám định sức khỏe khi có trưng cầu của Hội đồng Giám định Y khoa; thực hiện khám giám định pháp y khi có trưng cầu của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Liên doanh, liên kết với các cơ sở y tế khác kể cả cơ sở y tế công lập và ngoài công lập; tổ chức các loại hình dịch vụ khám, chẩn đoán và điều trị theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đào tạo cán bộ y tế: Bệnh viện được Sở Y tế Thành phố công bố là cơ sở thực hành, đào tạo đối với cán bộ y tế trình độ sau đại học, đại học và cao đẳng. Bệnh viện tự tổ chức đào tạo liên tục tại bệnh viện cho nhân viên y tế và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn.
- Nghiên cứu khoa học về y học:
Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học về chuyên khoa ở cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Thành phố và cấp Cơ sở. Chú trọng nghiên cứu kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại, các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu: thực hiện nghiên cứu về dịch tễ học cộng đồng theo lĩnh vực chuyên khoa phụ trách.
Hợp tác quốc tế về hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và chuyển giao công nghệ trong công tác chẩn đoán và điều trị.
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo các bệnh viện được phân công thuộc tuyến dưới để phát triển kỹ thuật chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng cấp cứu, chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh;
- Kết hợp các cơ sở y tế tuyến dưới thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khỏe ban đầu trong địa phương;
Phòng bệnh: Thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng; phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh.
- Hợp tác quốc tế:
Xây dựng đội ngũ nhân viên có năng lực hợp tác quốc tế và quản lý các dự án này đảm bảo hợp tác theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo các nguyên tắc thực chất, hiệu quả, bền vững và cùng có lợi.
Quản lý kinh tế trong bệnh viện:
- Quản lý, sử dụng mang lại hiệu quả từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác;
- Thực hiện thu, chi ngân sách của bệnh viện, viện phí, bảo hiểm y tế, từng bước hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo đúng quy định;
- Quản lý và sử dụng chặt chẽ các nguồn viện trợ, đầu tư của nước ngoài (nếu có), tài sản, vốn, quỹ của bệnh viện và các tổ chức kinh tế khác theo đúng quy định của Nhà nước. Không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng sống của viên chức và người lao động tại bệnh viện.
Thực hiện công tác xã hội trong bệnh viện:
- Tổ chức các hoạt động công tác xã hội để hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho người bệnh và người nhà người bệnh;
- Hỗ trợ nhân viên y tế trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người bệnh tại Bệnh viện Nhi Đồng 2;
- Tham gia phát triển chương trình xã hội và sức khỏe cộng đồng;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Y tế giao: trường hợp xảy ra thiên tai, địch họa hoặc dịch bệnh bệnh viện có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ của Giám đốc Sở Y tế giáo.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Sở Y tế Thành phố đã ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Nhi đồng 2 trực thuộc Sở Y tế (theo Quyết định số 6227/QĐ-SYT ngày 15 tháng 11 năm 2022).
Bệnh viện Nhi đồng 2 có Giám đốc và các Phó Giám đốc. Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 là người đứng đầu Bệnh viện Nhi đồng 2 do Giám đốc Sở Y tế bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Ủy ban Nhân dân Thành phố, Giám đốc Sở Y tế và trước pháp luật về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền được giao.
Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 do Giám đốc Sở Y tế bổ nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2, giúp Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ cụ thể do Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 phân công, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi Giám đốc bệnh viện đi vắng, sẽ thực hiện ủy quyền bằng văn bản cho một Phó Giám đốc Bệnh viện để điều hành, chỉ đạo và giải quyết các công tác của bệnh viện; đồng thời người được ủy quyền không được ủy quyền lại.
Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng 2 được phép thành lập các Hội đồng trong bệnh viện nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị và hoạt động công tác chuyên môn được cấp có thẩm quyền giao như công tác quản lý chất lượng khám, chữa bệnh và an toàn người bệnh; hoạt động nghiên cứu khoa học; mua sắm, đấu thầu thuốc và trang thiết bị…. Các Hội đồng trong bệnh viện, gồm:
- Hội đồng quản lý chất lượng bệnh viện;
- Hội đồng khoa học và công nghệ;
- Hội đồng thuốc và điều trị;
- Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học;
- Hội đồng thi đua khen thưởng;
- Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn;
- Hội đồng điều dưỡng.
Khi cần thiết theo yêu cầu công tác, Bệnh viện Nhi Đồng 2 có thể thành lập các hội đồng khác cho phù hợp với tình hình thực tế.
Tổ chức bộ máy hiện nay của Bệnh viện Nhi đồng 2 bao gồm 10 phòng chức năng, 31 khoa lâm sàng và 07 khoa cận lâm sàng cụ thể dưới đây: Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
- phòng Chức năng:
- Phòng Kế hoạch tổng hợp
- Phòng Tổ chức cán bộ
- Phòng Tài chính kế toán
- Phòng Hành chính quản trị
- Phòng Trang thiết bị
- Phòng Điều dưỡng
- Phòng Chỉ đạo tuyến
- Phòng Quản lý chất lượng
- Phòng Công nghệ thông tin
- Phòng Công tác xã hội
31 khoa Lâm sàng:
- Khoa Khám bệnh
- Khoa Sức khỏe trẻ em
- Khoa Phòng khám chất lượng cao – Tâm lý
- Khoa Ngoại tổng hợp
- Khoa Bỏng – Chỉnh trực
- Khoa Thận niệu
- Khoa Ngoại Thần kinh
- Khoa Liên chuyên khoa
- Khoa Phẫu thuật – Gây mê hồi sức
- Khoa Hồi sức tích cực và chống độc
- Khoa Cấp cứu
- Khoa Sơ sinh
- Khoa Thận nội tiết
- Khoa Hô hấp 1
- Khoa Hô hấp 2
- Khoa Nội tổng hợp
- Khoa Thần kinh
- Khoa Tim mạch
- Khoa Nhiễm
- Khoa Ung bướu huyết học
- Khoa Tiêu hóa
- Khoa Nội 1
- Khoa Nội 2
- Khoa Nội 3
- Khoa Dinh dưỡng
- Khoa Hồi sức sơ sinh
- Khoa Phẫu thuật trong ngày
- Khoa Điều trị ban ngày
- Khoa Gan, Mật, Tụy và Ghép gan.
- Khoa Covid-19
- Khoa Hồi sức tích cực Nhiễm và Covid-19
7 khoa Cận lâm sàng:
- Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn
- Khoa Dược
- Khoa Huyết học
- Khoa Hóa sinh
- Khoa Vi sinh
- Khoa Giải phẫu bệnh
- Khoa Chẩn đoán hình ảnh Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Khi cần thiết theo yêu cầu công tác, Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 có thể đề nghị bằng văn bản với Giám đốc Sở Y tế về việc thành lập, sáp nhập, điều chỉnh các khoa, phòng để phù hợp với tình hình thực tế.
Thực hiện theo phân cấp, các chức danh lãnh đạo, quản lý như: Trưởng khoa, Trưởng phòng; Phó Trưởng khoa; Phó Trưởng phòng; Điều dưỡng Trưởng khoa; Kỹ thuật viên Trưởng khoa trực thuộc bệnh viện Nhi đồng 2 do Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 bổ nhiệm theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 là người chịu trách nhiệm chuyên môn, kỹ thuật của bệnh viện; nếu là một người khác thì phải có văn bản phân công của Giám đốc.
2.1.3. Thực trạng đội ngũ viên chức của Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.3.1. Về quản lý, sử dụng số lượng người làm việc được giao
Số lượng người làm việc được Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh giao từ năm 2018 đến năm 2023, như sau:
- Năm 2018 và năm 2019: 1.880 người;
- Năm 2020 và năm 2021: 1.874 người;
- Năm 2022: 1.874 người;
- Năm 2023: 1.777 người.
Tính đến thời điểm 31/12/2023, tổng số lượng người làm việc của Bệnh viện Nhi đồng 2 là 1.744 người.
2.1.3.2. Về cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp
Trên nhu cầu thực tế và việc thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn được giao, Đề án vị trí việc làm đã được Giám đốc bệnh viện phê duyệt và theo Thông báo số lượng người làm việc được Sở Y tế Thành phố giao hàng năm;
Bệnh viện Nhi đồng 2 xác định cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức như sau:
Tổng số vị trí việc làm: 1.777 người, cụ thể:
- Chức danh nghề nghiệp hạng I với số lượng viên chức tương ứng: 02 người.
- Chức danh nghề nghiệp hạng II với số lượng viên chức tương ứng: 149 người.
- Chức danh nghề nghiệp hạng III với số lượng viên chức tương ứng: 920 người.
- Chức danh nghề nghiệp hạng IV với số lượng viên chức tương ứng: 472 người.
Trong đó: 234 người thuộc nhóm hỗ trợ, phục vụ.
2.1.3.3. Về trình độ đào tạo của viên chức Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Trong tổng số lượng người làm việc của Bệnh viện Nhi đồng 2 là 1.202 viên chức, trình độ đào tạo của viên chức như sau:
- Tiến sĩ/Chuyên khoa cấp II: 56 người (chiếm 4.65%);
- Thạc sĩ/Chuyên khoa cấp I: 171 người (chiếm 14.22%);
- Đại học: 489 người (chiếm 40.68%);
- Cao đẳng: 147 người (chiếm 12.22%);
- Trung cấp: 331 người (chiếm 27.53%).
- Sơ cấp: 8 người (chiếm 0.66%).
2.1.3.4. Về trình độ lý luận chính trị
Trong tổng số biên chế viên chức của Bệnh viện Nhi đồng 2 là 1.202 người, viên chức đạt trình độ lý luận chính trị như sau:
- Cao cấp chính trị: 4 người (chiếm 0.3%);
- Trung cấp lý luận chính trị: 149 người (chiếm 12.5%);
- Sơ cấp chính trị: 44 người (chiếm 3.6%).
2.2. Kết quả thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
2.2.1. Về công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện pháp luật về quản lý viên chức.
Bệnh viện Nhi đồng 2 là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật có liên quan và quy định về cơ cấu tổ chức và hoạt động của bệnh viện do Giám đốc Sở Y tế quyết định theo sự phân cấp của UBND Thành phố. Vì vậy, viên chức đang làm việc tại bệnh viện Nhi đồng 2 chịu sự điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các luật của Quốc Hội; nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ Nội vụ, Bộ Y tế và các văn bản cụ thể hóa công tác quản lý của nhà nước về viên chức do Sở Nội vụ, Sở Y tế ban hành.
2.2.2. Kết quả công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức.
2.2.2.1. Vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức hành chính
Vị trí việc làm là công việc cụ thể của từng cá nhân gắn với chức vụ, cơ cấu và hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; là căn cứ để xác định số lượng người làm việc và bố trí con người trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước. Việc xây dựng Đề án vị trí việc làm để có cơ sở thực hiện bố trí đúng người, đúng việc trong bộ máy, tránh dư thừa nhân lực không cần thiết, gây lãng phí … đảm bảo hoạt động của bộ máy được tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Đồng thời là cơ sở để tiến hành đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch viên chức hoặc tinh giản biên chế (nếu có).
Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện theo quy định của Luật viên chức năm 2010 và Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ công chức và Luật viên chức (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020); Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ; Nghị định 106/2020/NĐ -CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ; Quyết định 854/QĐ-UBND ngày 05/3/2018 của Ủy ban Nhân dân Thành phố về phê duyệt Danh mục vị trí việc làm đối với 36 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế; Quyết định 4741/QĐ-SYT ngày 07/7/2017 của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Nhi đồng 2 thuộc Sở Y tế; Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 23/4/2021 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính giai đoạn 2021 – 2023 đối với đơn vị sự nghiệp công lập: Bệnh viện Nhi đồng 2.
Bệnh viện Nhi đồng 2 xác định cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức theo Đề án vị trí việc làm được Giám đốc bệnh viện phê duyệt và Thông báo số lượng người làm việc của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh (1.777 người) như sau:
- Viên chức ứng với chức danh nghề nghiệp hạng I: 02 người.
- Viên chức ứng với chức danh nghề nghiệp hạng II: 149 người.
- Viên chức ứng với chức danh nghề nghiệp hạng III: 920 người.
- Viên chức ứng với chức danh nghề nghiệp hạng IV: 472 người. Trong đó: 234 người thuộc nhóm hỗ trợ, phục vụ.
2.2.2.2. Tuyển dụng, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức
- Về tuyển dụng viên chức Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện theo quy định của Luật viên chức năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật viên chức; Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012; Quyết định số 03/2016/QĐ-UBND ngày 04/02/2016 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018; Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2020; Thông tư số 06/2020/TT-BNV ngày 02/12/2020 và các văn bản hướng dẫn cụ thể hóa công tác tuyển dụng của Sở Nội vụ và Sở Y tế để làm cơ sở xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức hằng năm tại bệnh viện.
Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện công tác tuyển dụng viên chức thông qua hình thức xét tuyển và thực hiện theo trình tự các bước dưới đây:
Bước 1: Căn cứ các văn bản hướng dẫn về vị trí việc làm, số lượng người làm việc do cơ quan có thẩm quyền ban hành, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và dựa vào tình hình thực tế theo chức năng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động chuyên môn… Hàng năm, bệnh viện xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức trên cơ sở Đề án vị trí việc làm đã được Giám đốc bệnh viện phê duyệt và theo thông báo số lượng người làm việc do Sở Y tế Thành phố ban hành để trình Sở Y tế xem xét, thẩm định và cho ý kiến; kế hoạch nêu rõ yêu cầu như: số lượng, chất lượng, cơ cấu, vị trí viên chức cần thiết của từng khoa, phòng thuộc bệnh viện.
Bước 2: Sở Y tế Thành phố là cơ quan quản lý trực tiếp sẽ thẩm định kế hoạch tuyển dụng viên chức của bệnh viện và ban hành văn bản thỏa thuận chấp thuận kế hoạch tuyển dụng viên chức năm của Bệnh viện Nhi đồng 2.
Bước 3: Ngoài việc thông báo tuyển dụng viên chức sẽ đăng công khai tối thiểu 01 lần trên một trong những phương tiện thông tin đại chúng, bệnh viện Nhi đồng 2 đăng trên báo Sài Gòn Giải phóng; bệnh viện phải thực hiện đăng tải trên trang thông tin điện tử chính thức của bệnh viện là http://www.benhviennhi.org.vn và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của bệnh viện. Việc tiếp nhận Phiếu dự tuyển kéo dài trong vòng 30 ngày sau khi thông tin tuyển dụng được công khai.
Thông báo tuyển dụng phải có đầy đủ nội dung cụ thể như: số lượng người làm việc cần tuyển ứng với từng vị trí việc làm; số lượng vị trí việc làm; tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký tuyển; thời gian, địa chỉ rõ ràng, cụ thể để tiếp nhận phiếu dự tuyển.
Bước 4: Song song với việc thực hiện tiếp nhận dự tuyển viên chức, Giám đốc bệnh viện thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức và Ban giám sát;
Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng viên chức thành lập các ban giúp việc cho Hội đồng tuyển dụng như: Ban kiểm tra phiếu đăng ký dự tuyển; Ban kiểm tra sát hạch; Ban đề thi… để tổ chức thực hiện các hoạt động trong tuyển dụng viên chức.
Bước 5: tổ chức xét tuyển viên chức vòng 1, vòng 2 theo quy định và thực hiện hồ sơ theo trình tự, thủ tục luật định gửi về Sở Y tế đề nghị công nhận kết quả xét tuyển. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Sau khi có Quyết định công nhận kết quả xét tuyển viên chức của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhi đồng 2 theo phân cấp sẽ thực hiện: gửi thông báo kết quả trúng tuyển bằng văn bản đến người dự tuyển và chịu trách nhiệm trong việc tiếp nhận Phiếu dự tuyển và hồ sơ theo quy định, kết quả đạt được từ năm 2018 đến năm 2022, cụ thể:
- Năm 2018: Nhu cầu tuyển dụng của bệnh viện là 471 người, đăng ký dự thi là 261 người, kết quả trúng tuyển là 210.
- Năm 2019: Nhu cầu tuyển dụng là 343 người, đăng ký dự thi là 157 người, kết quả trúng tuyển là 142.
- Năm 2020: Bệnh viện không tổ chức tuyển dụng viên chức.
- Năm 2021: Bệnh viện không tổ chức tuyển dụng viên chức.
- Năm 2022: Nhu cầu tuyển dụng là 270 người, đăng ký dự thi là 216 người, kết quả trúng tuyển là 145.
- Năm 2023: Bệnh viện không tổ chức tuyển dụng viên chức.
Hiện nay, Nghị định 85/2023/NĐ-CP hiệu lực 07/12/2023 đã nêu rõ theo phân cấp và mức độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch và tổ chức tuyển dụng; cũng như việc ký quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, quyết định về công tác nâng bậc lương, phụ cấp vượt khung với CDNN hạng hai trở xuống.
- Về công tác bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức
Bệnh viện Nhi đồng 2 căn cứ quy định tại các Nghị định về tuyển dụng, sử dụng viên chức của Chính phủ; Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ; Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ Nội vụ; Thông tư số 03/2021/TT-BNV ngày 29/6/2021 của Bộ Nội vụ; Thông tư số 04/2015/TT-BNV ngày 31/8/2015 của Bộ Nội vụ; các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực y tế và văn bản cụ thể hóa công tác theo hướng dẫn của Sở Y tế Thành phố, bệnh viện sẽ thực hiện trình tự, thủ tục để bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp.
Sau khi Sở Y tế Thành phố ban hành Quyết định công nhận kết quả xét tuyển viên chức của Bệnh viện Nhi đồng 2, phòng Tổ chức cán bộ sẽ thực hiện: gửi văn bản đến người dự tuyển để thông báo kết quả trúng tuyển; yêu cầu nộp hồ sơ, trình diện theo quy định và sau đó tiếp nhận hồ sơ, thẩm tra, xác minh văn bằng, chứng chỉ của người trúng tuyển bảo đảm chính xác theo quy định của pháp luật trước khi tiến hành ký kết hợp đồng làm việc, thực hiện chế độ tập sự (nếu có). Kết quả đạt được, từ năm 2018 đến năm 2023 bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp cho 712 viên chức, cụ thể:
- Năm 2018: 07 Điều dưỡng hạng III, 49 Điều dưỡng hạng IV, 108 Bác sĩ hạng III; các chức danh khác: 46 người.
- Năm 2019: 22 Điều dưỡng hạng III, 56 Điều dưỡng hạng IV, 45 Bác sĩ hạng III; các chức danh khác: 19 người.
- Năm 2020: không có trường hợp bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp.
- Năm 2021: 29 Điều dưỡng hạng III, 24 Điều dưỡng hạng IV, 49 Bác sĩ hạng III; các chức danh khác: 43 người.
- Năm 2022: không có trường hợp bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp.
Năm 2023: Bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp: 80 trường hợp. Bổ nhiệm thăng hạng chức danh nghề nghiệp: 23 Bác sĩ hạng II, 01 Dược hạng II; 06 Kỹ thuật y hạng III, 104 Điều dưỡng hạng III, 01 Kỹ sư hạng III.
- Về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển viên chức Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Về công tác quy hoạch: trong thời gian qua, công tác quy hoạch từng bước đi vào nề nếp, sát với thực tiễn, có tính khả thi cao, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị để xác định tiêu chuẩn, cơ cấu nhân sự … đảm bảo thực hiện theo quy định và đạt được một số kết quả nhất định về nguồn quy hoạch chức danh, trình độ đào tạo, cơ cấu tuổi, tỷ lệ viên chức trẻ, viên chức nữ và đặc biệt viên chức quy hoạch đều có chiều hướng phát triển tốt. Qua thực hiện công tác quy hoạch, đã chọn lọc được đội ngũ viên chức trẻ có năng lực, phẩm chất, triển vọng phát triển để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo kế cận, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chính trị của bệnh viện Nhi đồng 2 trong thời gian tiếp theo.
Quy hoạch nguồn nhân sự cấp ủy và cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo, hằng năm, Bệnh viện Nhi đồng 2 ban hành, triển khai kế hoạch quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, cụ thể: đối với lãnh đạo, quản lý cơ quan (quy hoạch Giám đốc bệnh viện là 03 người; quy hoạch Phó Giám đốc bệnh viện là 08 người); Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý phòng, khoa trực thuộc bệnh viện (quy hoạch Trưởng phòng /Trưởng khoa là 71 người; Phó Trưởng phòng/ Phó trưởng khoa là 76 người; Điều dưỡng trưởng/ kỹ thuật viên trưởng khoa là 73 người).
Quy hoạch nguồn nhân sự cấp ủy và cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2025 và những năm tiếp theo, hằng năm, Bệnh viện Nhi đồng 2 ban hành, triển khai kế hoạch quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, cụ thể: đối với lãnh đạo, quản lý cơ quan (quy hoạch Giám đốc bệnh viện là 04 người; quy hoạch Phó Giám đốc bệnh viện là 11 người); Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý phòng, khoa trực thuộc bệnh viện (quy hoạch Trưởng phòng /Trưởng khoa là 51 người; Phó Trưởng phòng/ Phó trưởng khoa là 76 người; Điều dưỡng trưởng/ kỹ thuật viên trưởng khoa là 34 người).
- Về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại:
Khi quy hoạch đã được phê duyệt, căn cứ vào Đề án vị trí việc làm và các quy định của pháp luật để rà soát, thực hiện việc bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý. Phòng Tổ chức cán bộ có trách nhiệm tham mưu cho Ban Giám đốc về công tác tổ chức, rà soát lại bổ sung quy hoạch theo quy định, đế xuất đưa ra khỏi danh sách quy hoạch những viên chức không đủ tiêu chuẩn và bổ sung đội ngũ kế thừa vào diện quy hoạch.
Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại căn cứ trên quy định Luật Viên chức; Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ; Luật Viên chức sửa đổi, bổ sung năm 2019; Nghị định số 115/2020/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết định số 49/2018/QĐ-UBND ngày 21/12/2018 của UBND Thành phố; căn cứ tiêu chuẩn chức danh theo Quyết định số 30-QĐ/ĐU ngày 11/11/2020 của Đảng ủy Sở Y tế. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Bệnh viện Nhi đồng 2 đã xây dựng quy định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển, từ chức của cán bộ lãnh đạo tại Quyết định số 1599/QĐ- BVNĐ2 ngày 31/12/2021.
Từ ngày 05/5/2022, thực hiện công tác bổ nhiệm theo quy định tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng ủy Sở Y tế (tại Quyết định số 120-QĐ/ĐU ngày 05 tháng 5 năm 2022) và theo quy chế bổ nhiệm tại Quyết định số 121-QĐ/ĐU ngày 05 tháng 5 năm 2022 .
Theo phân cấp quản lý, Giám đốc bệnh viện đã tổ chức thực hiện công tác bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý tại bệnh viện đảm bảo công khai, minh bạch và đúng trình tự thủ tục luật định. Từ năm 2018 đến 2022, kết quả thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại trong từng năm cụ thể như sau:
- Năm 2018: Bổ nhiệm 16 trường hợp (05 Trưởng phòng/Trưởng khoa; 06 Phó trưởng phòng/Phó trưởng khoa; 05 kỹ thuật viên trưởng/Điều dưỡng trưởng). Bổ nhiệm lại 07 trường hợp (02 Phó trưởng khoa; 05 Điều dưỡng trưởng). Điều động và bổ nhiệm 01 Phó khoa.
- Năm 2019: Bổ nhiệm 08 trường hợp (01 Phó Giám đốc; 04 Trưởng phòng/Trưởng khoa; 03 Phó trưởng phòng/Phó trưởng khoa). Bổ nhiệm lại 17 trường hợp (04 Trưởng khoa; 06 Phó trưởng khoa; 07 Điều dưỡng trưởng).
- Năm 2020: Bổ nhiệm 06 trường hợp (03 Trưởng phòng/Trưởng khoa; 03 Phó trưởng phòng/Phó trưởng khoa). Bổ nhiệm lại 13 trường hợp (06 Trưởng phòng; 01 Phó trưởng khoa; 06 Điều dưỡng trưởng).
- Năm 2021: Bổ nhiệm 28 trường hợp (02 Trưởng khoa; 24 Phó trưởng phòng/Phó trưởng khoa; 02 kỹ thuật viên trưởng/Điều dưỡng trưởng). Bổ nhiệm lại 13 trường hợp (02 Phó Giám đốc, 03 Trưởng khoa; 03 Phó trưởng phòng/Phó trưởng khoa; 05 kỹ thuật viên trưởng/Điều dưỡng trưởng). Điều động, bổ nhiệm 07 trường hợp (04 Trưởng phòng/Trưởng khoa; 03 kỹ thuật viên trưởng khoa/Điều dưỡng trưởng khoa).
- Năm 2022: Bổ nhiệm 26 trường hợp (07 Trưởng phòng/Trưởng khoa; 15 Phó trưởng phòng/ Phó trưởng khoa; 04 kỹ thuật viên trưởng/Điều dưỡng trưởng). Về bổ nhiệm lại: 01 Giám đốc và 01 Phó Giám đốc, 04 Trưởng phòng/Trưởng khoa; 03 Phó trưởng phòng; 02 Điều dưỡng trưởng. Điều động, bổ nhiệm 10 trường hợp (01 Trưởng phòng/Trưởng khoa; 05 Phó trưởng phòng/ Phó trưởng khoa; 04 kỹ thuật viên trưởng/Điều dưỡng trưởng).
- Năm 2023: Bổ nhiệm 29 trường hợp (04 Trưởng khoa; 18 Phó trưởng phòng/Phó trưởng khoa; 07 Điều dưỡng trưởng/Kỹ thuật viên trưởng). Về bổ nhiệm lại: 09 trường hợp, 01 Trưởng phòng; 02 Phó trưởng phòng/Phó trưởng khoa; 06 Điều dưỡng trưởng. Điều động, bổ nhiệm 05 trường hợp (03 Trưởng khoa; 02 Phó trưởng phòng/ Phó trưởng khoa).
Về luân chuyển viên chức, chuyển đổi vị trí công tác
Căn cứ vào tình hình nhân sự, tình hình bệnh nhân nội, ngoại trú và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019, bệnh viện thực hiện việc luân phiên người hành nghề và chuyển đổi vị trí công tác đối với viên chức. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Bệnh viện Nhi đồng 2 luôn quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện về chuyển đổi vị trí công tác. Vào tháng 12 mỗi năm, trên cơ sở danh mục các vị trí công tác phải thực hiện chuyển đổi và thời hạn định kỳ chuyển đổi, các phòng chức năng của bệnh viện lập danh sách các vị trí công tác chuyển đổi, gửi về phòng Tổ chức cán bộ để tổng hợp tham mưu trình danh sách và kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác hằng năm để lãnh đạo bệnh viện xem xét, phê duyệt.
Kết quả từ năm 2018 đến 2023, chuyển đổi vị trí công tác cho 14 người, cụ thể: năm 2018 là 07 người; năm 2019 là 03 người; năm 2020 là 13 người; năm 2021 là 11 người; năm 2022: 10 người; năm 2023: 10 người.
Đồng thời, hàng năm bệnh viện thực hiện luân chuyển hơn 60 lượt viên chức để đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ công tác khám, chữa bệnh và thực hiện luân phiên người hành nghề để đảm bảo hoạt động công tác khám, chữa bệnh hỗ trợ tuyến dưới như bệnh viện vệ tinh tại Quận 2, Huyện Cần Giờ, Quận 7….
- Về công tác thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức
Thực hiện quy định Luật Viên chức; Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ; Luật sửa đổi, bổ sung Luật viên chức năm 2019; Nghị định số 115/2020/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư số 06/2020/TT-BNV ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Thông tư số 06/2021/TT-BYT ngày 06/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Kế hoạch tổ chức thăng hạng chức danh nghề nghiệp của Sở Nội vụ, các văn bản triển khai và hướng dẫn thủ tục hồ sơ thăng hạng của Sở Y tế, bệnh viện thực hiện thông báo đến toàn thể viên chức của bệnh viện, nếu đủ điều kiện nộp hồ sơ về phòng Tổ chức cán bộ để tổng hợp trình Ban Giám đốc bệnh viện xét duyệt.
Từ năm 2018 đến năm 2023, Bệnh viện Nhi đồng 2 đã đăng ký cho 117 viên chức tham dự kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp cán sự, chuyên viên hoặc tương đương và 26 viên chức tham dự kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp lên Bác sĩ chính, Dược sĩ chính, Bác sĩ cao cấp. Kết quả, Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đã ký Quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, xếp lương mới cho 136 viên chức trúng tuyển và năm 2023 đang đề nghị các trường hợp, cụ thể:
- Năm 2018: Thành phố Hồ Chí Minh không tổ chức thi thăng hạng.
- Năm 2019: Thành phố Hồ Chí Minh không tổ chức thi thăng hạng.
- Năm 2020: Bác sĩ cao cấp (hạng I) 02 viên chức; Chuyên viên 02 viên chức.
- Năm 2021: Thành phố Hồ Chí Minh không tổ chức thi thăng hạng.
- Năm 2022: Điều dưỡng hạng III là 114 viên chức, Kỹ sư hạng III là 01 viên chức, Bác sĩ chính (hạng II) là 20 viên chức, Dược sĩ chính (hạng II) là 01 viên chức.
Năm 2023: thực hiện hồ sơ thăng hạng chức danh nghề nghiệp hạng IV lên hạng III: 79 trường hợp; chức danh nghề nghiệp hạng III lên hạng II: 17 trường hợp. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
- Công tác nâng bậc lương
Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện các quy định về thang bảng lương viên chức tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ; luôn luôn quán triệt, triển khai và thực hiện công tác nâng bậc lương theo Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ Nội vụ; Thông tư số 03/2021/TT-BNV ngày 29/6/2021 của Bộ Nội vụ và các văn bản khác có liên quan về công tác nâng lương đối với viên chức như: quy định kéo dài mốc nâng lương khi có thời gian nghỉ không tham gia công tác, không hưởng lương từ 11 ngày làm việc trở lên hoặc bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ, bị xử lý kỷ luật…
Đồng thời, bệnh viện Nhi đồng 2 đã xây dựng và ban hành, triển khai, quán triệt đến toàn thể viên chức, người lao động các văn bản:
Quyết định số 1051/QĐ-BVNĐ2 ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Bệnh viện Nhi đồng 2 về ban hành quy chế nâng bậc lương trước thời hạn của Bệnh viện Nhi đồng 2.
Quyết định số 1522/QĐ-BVNĐ2 ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Bệnh viện Nhi đồng 2 về ban hành quy chế nâng bậc lương trước thời hạn năm 2021 của Bệnh viện Nhi đồng 2.
Quyết định số 2212/QĐ-BVNĐ2 ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Bệnh viện Nhi đồng 2 về ban hành quy chế nâng bậc lương trước thời hạn năm 2023 của Bệnh viện Nhi đồng 2.
Kết quả thực hiện nâng bậc lương thường xuyên, từ năm 2018 đến năm 2023, Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện nâng bậc lương thường xuyên cho 2159 trường hợp viên chức, cụ thể: năm 2018 là 387 người; năm 2019 là 396 người; năm 2020 là 488 người; năm 2021 là 395 người; năm 2022 là 493 người; năm 2023 là 368 người.
Kết quả thực hiện nâng bậc lương trước thời hạn, từ năm 2018 đến năm 2023, Bệnh viện Nhi đồng 2 đã thực hiện thủ tục xét nâng bậc lương trước thời hạn cho 650 viên chức có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, cụ thể: năm 2018 là 134 người; năm 2019 là 141 người; năm 2020 là 145 người; năm 2021 là 113 người; năm 2022 là 117 người; năm 2023 là 37 người.
- Công tác nghỉ hưu, nghỉ việc
Bệnh viện Nhi đồng 2 dựa trên nội dung các Luật, Nghị định, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến viên chức và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Nghị định 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ… đã thực hiện thủ tục, hồ sơ giải quyết các chế độ hưu trí, thôi việc
Kết quả, từ năm 2018 đến năm 2023, Bệnh viện Nhi đồng 2 đã trình hồ sơ về Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giải quyết theo quy định, cụ thể: Giải quyết thôi việc theo nguyện vọng cho 211 viên chức. Giải quyết chế độ hưu trí cho 63 viên chức.
Qua bảng số liệu trên, nhận thấy: số lượng viên chức thôi việc từ năm 2021 đến nay khá nhiều, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nguồn thu của bệnh viện giảm nhiều, việc tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong thu chi đã ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của nhân viên. Sau đại dịch Covid-19 vì áp lực công việc, nguồn thu nhập bị giảm sút và khủng hoảng kinh tế nên không đủ kinh tế để đảm bảo cuộc sống của gia đình, nhiều viên chức chuyên môn cao, nhiều năm kinh nghiệm đã nghỉ việc để chuyển từ khu vực y tế công sang khu vực y tế tư nhân hoặc chuyển công việc khác để có thêm thu nhập chi phí cho gia đình.
2.2.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện theo quy định của Luật Viên chức, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành hướng dẫn về đào tạo, bồi dưỡng. Bệnh viện xây dựng và ban hành Quyết định số 173/QĐ-NĐ2 ngày 25/12/2018 và Quyết định số 1598/QĐ-BVNĐ2 ngày 31/12/2020 về ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức và người lao động tại Bệnh viện Nhi đồng 2.
Hàng năm, Bệnh viện đều xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng viên chức để đáp ứng việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và định hướng phát triển của bệnh viện. Các khoa, phòng trên cơ sở kế hoạch phát triển của khoa, bệnh viện và tình hình thực tế tại khoa, phòng sẽ thực hiện đề xuất nhân sự tham gia đào tạo, bồ dưỡng hàng năm. Bệnh viện sẽ hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện hiện hành đã lấy ý kiến của viên chức tại Hội nghị đại biểu viên chức.
- Kết quả:
Năm 2018 bệnh viện cử đi đào tạo: Chuyên khoa cấp I: 23; Chuyên khoa cấp II: 5; Thạc sĩ 01; Tiến sĩ 01; Cử nhân Điều dưỡng/ Cử nhân Kỹ thuật viên 129; trung cấp lý luận chính trị 36; quản lý bệnh viện/quản lý điều dưỡng/quản lý cấp phòng 11.
Năm 2019 bệnh viện cử đi đào tạo: Chuyên khoa cấp I: 19; Chuyên khoa cấp II: 5; trung cấp lý luận chính trị 19; quản lý bệnh viện/quản lý điều dưỡng/quản lý cấp phòng 28.
Năm 2020 bệnh viện cử đi đào tạo: Chuyên khoa cấp I: 10; Chuyên khoa cấp II: 5; Cử nhân Điều dưỡng/Cử nhân Kỹ thuật viên: 113 (Đại học) và 39 (Cao đẳng); trung cấp lý luận chính trị 14; quản lý bệnh viện/quản lý điều dưỡng/quản lý cấp phòng: 85.
Năm 2021 bệnh viện cử đi đào tạo: Chuyên khoa cấp I: 17; Chuyên khoa cấp II 7; Thạc sĩ 3; trung cấp lý luận chính trị 20; quản lý bệnh viện/quản lý điều dưỡng/quản lý cấp phòng: 96.
Năm 2022 bệnh viện cử đi đào tạo: Chuyên khoa cấp I: 15; Chuyên khoa cấp II: 11; Thạc sĩ 6; Tiến sĩ 1; Cử nhân Điều dưỡng/ Cử nhân Kỹ thuật viên 33; sơ cấp lý luận chính trị 43; quản lý bệnh viện/quản lý điều dưỡng/quản lý cấp phòng: 17.
Năm 2023 bệnh viện cử đi đào tạo: Chuyên khoa cấp I: 25; Chuyên khoa cấp II: 10; Thạc sĩ 6; Tiến sĩ 01; sơ cấp lý luận chính trị 07; quản lý điều dưỡng/quản lý cấp phòng 12; quản lý chất lượng bệnh viện 28.
Hàng năm bệnh viện cử hơn 1000 lượt viên chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và các lớp tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn phục vụ công tác khám, chữa bệnh.
2.2.2.4. Đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Trên cơ sở các quy định của Luật viên chức, Luật Viên chức sửa đổi, bổ sung và các nghị định về công tác đánh giá, xếp loại viên chức như: Nghị định số 56/2015/NĐ-CP; Nghị định số 88/2017/NĐ-CP; Nghị định số 90/2020/NĐ-CP; Nghị định 48/2023/NĐ-CP và các văn bản triển khai thực hiện của UBND Thành phố, văn bản hướng dẫn cụ thể hóa công tác đánh giá, xếp loại của Sở Y tế thành phố.
Bệnh viện Nhi đồng 2 xây dựng và ban hành Quyết định số 1410/QĐ-BVNĐ2 ngày 26/8/2022 về đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức. Bệnh viện xác định công tác đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình quản lý viên chức, đạt kết quả như sau:
- Năm 2018: Tổng số 1.072 người, trong đó mức độ Hoàn thành nhiệm vụ bao gồm: Xuất sắc 114 người; Tốt 907 người; Hoàn thành nhưng năng lực hạn chế 51 người; Không có trường hợp Không hoàn thành.
- Năm 2019: Tổng số 1.162 người, trong đó mức độ Hoàn thành nhiệm vụ, cụ thể: Xuất sắc 173 người; Tốt 926 người; Hoàn thành nhưng năng lực hạn chế 52 người; Không hoàn thành 11 người.
- Năm 2020: Tổng số 1.268 người, trong đó mức độ Hoàn thành nhiệm vụ, cụ thể: Xuất sắc 137 người; Tốt 1110 người; Hoàn thành 18 người; Không hoàn thành nhiệm vụ 03 người.
- Năm 2021: Tổng số 1.231 người, trong đó mức độ Hoàn thành nhiệm vụ, cụ thể: Xuất sắc 124 người; Tốt 1088 người; Hoàn thành 17 người; Không hoàn thành 02 người.
- Năm 2022: Tổng số 1.179 người, trong đó mức độ Hoàn thành nhiệm vụ, cụ thể: Xuất sắc 204 người; Tốt 968 người; Hoàn thành 07 người; Không hoàn thành 0 người.
- Năm 2023: Tổng số 1.102 người, trong đó mức độ Hoàn thành nhiệm vụ, cụ thể: Xuất sắc 174 người; Tốt 1014 người; Hoàn thành 13 người; Không hoàn thành 01 người.
Từ năm 2019 đến nay, bệnh viện đã thực hiện Nghị quyết của HĐND Thành phố về việc đánh giá kết quả thực hiện công việc để chi thu nhập tăng thêm hàng quý đối với viên chức. Khi Nghị định số 90/2020/NĐ-CP có hiệu lực đã quy định rõ ràng, chi tiết tiêu chí đánh giá theo chính trị tư tưởng, ý thức kỷ luật, kết quả hoàn thành công việc… tuy nhiên, không khống chế tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và chưa quy định rõ ràng các nội dung, tiêu chí để xác định hoàn thành vượt mức 50% so với hợp đồng làm việc đã ký kết, điều này gây khó khăn trong công tác xác định việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và dẫn đến số lượng xuất sắc tràn lan, không định lượng được. Do đó, phải thực hiện xây dựng các nội dung để lượng giá tỷ lệ vượt mức trong hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Với yêu cầu trong công tác đánh giá, phòng Tổ chức cán bộ đã tham mưu và trực tiếp thực hiện sáng kiến cải tiến “Bảng tiêu chí lượng giá quy đổi trong đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức – người lao động hàng năm tại Bệnh viện Nhi đồng 2” được Sở Y tế công nhận phạm vi ảnh hưởng cấp cơ sở theo Quyết định số 8615/QĐ-SYT ngày 12/5/2023 của Sở Y tế; để thực hiện việc đánh giá mức độ vượt mức trong hoàn thành nhiệm vụ và từ đó xác định được viên chức, người lao động Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, áp dụng từ tháng 11 năm 2020 đến nay.
Đến 15/9/2023, Chính phủ ban hành nghị định số 48/2023/NĐ-CP đã quy định việc khống chế tỷ lệ đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “không vượt quá tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như trong đánh giá đảng viên” và quy định về việc lưu trữ kết quả, hồ sơ công tác đánh giá. Với đặc thù chuyên môn, số lượng viên chức của bệnh viện khá lớn, do đó việc thực hiện lưu trữ vừa lưu văn bản giấy vừa thực hiện lưu văn bản điện tử các thành phần: phiếu tự đánh giá, phiếu nhận xét kết quả giám sát của Mặt trận Tổ quốc nơi cư trú, biên bản họp đánh giá của viên chức và kết quả công nhận đánh giá của từng viên chức là vấn đề đặt ra, tốn thời gian, chi phí và nhân sự để thực hiện công tác này.
2.2.2.5. Thi đua, khen thưởng
Thực hiện theo tiêu chuẩn, điều kiện, phương pháp và trình tự quy định của các Luật liên quan đến viên chức, đặc biệt là công tác thi đua, khen thưởng; Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ; Thông tư số 38/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Bộ Y tế; Quyết định số 24/2018/QĐ-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc ban hành quy định về công tác thi đua, khen thưởng tại TP. Hồ Chí Minh; Quyết định số 3769/QĐ-SYT ngày 13/8/2015 của Sở Y tế. Bệnh viện Nhi đồng 2 xây dựng Quy định về công tác thi đua, khen thưởng của bệnh viện theo Quyết định số 1355/QĐ-NĐ2 ngày 07/11/2017.
Kết quả đạt được:
- Năm 2018: Bằng khen UBND Thành phố 36 cá nhân và 8 tập thể; Chiến sĩ thi đua cơ sở: 119.
- Năm 2019: 02 cá nhân được khen tặng Bằng khen Thủ tướng Chính phủ.
- Về khen thưởng cấp Thành phố: 31 cá nhân và 22 tập thể được tặng Bằng khen UBND Thành phố; Chiến sĩ thi đua cơ sở: 178.
- Năm 2020: Về danh hiệu, khen thưởng cấp Nhà nước: Thầy thuốc ưu tú:
- Cấp Thành phố Bằng khen UBND Thành phố 40 cá nhân và 01 tập thể; Chiến sĩ thi đua cơ sở: 92.
Năm 2021: Về khen thưởng cấp Nhà nước: Bằng khen Thủ tướng Chính phủ 03 cá nhân và 02 tập thể. Cấp Thành phố: Bằng khen UBND Thành phố cá nhân và 27 tập thể; Chiến sĩ thi đua cơ sở: 112.
Năm 2022: 03 cá nhân được khen tặng Bằng khen Thủ tướng Chính phủ. Khen thưởng cấp Thành phố: 46 cá nhân và 40 tập thể được nhận Bằng khen UBND Thành phố; Chiến sĩ thi đua cơ sở:196.
Năm 2023: đề nghị khen thưởng Bằng khen Thủ tướng Chính phủ: 24 cá nhân và 03 tập thể; Huân chương lao động hạng Ba: 08 cá nhân và 01 tập thể. Khen thưởng cấp Thành phố: 56 cá nhân và 22 tập thể được nhận Bằng khen UBND Thành phố; Chiến sĩ thi đua cơ sở: 237 người. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
2.2.2.6. Về xử lý kỷ luật viên chức
Viên chức tại bệnh viện ngoài việc phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của viên chức theo quy định còn phải chấp hành nghiêm nội quy, quy chế, quy định, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ theo quy chế làm việc của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và của bệnh viện Nhi đồng 2.
Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện theo quy định của Luật viên chức năm 2010 và Luật số 52/2019/QH14 hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020; Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ; Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ và Quy chế xử lý kỷ luật công chức, viên chức của Sở Y tế. Theo đó, Bệnh viện Nhi đồng 2 đã triển khai, quán triệt các VBQPPL và hướng dẫn cụ thể hóa công tác xử lý kỷ luật của Sở Y tế Thành phố đến toàn thể viên chức.
Đồng thời, Bệnh viện Nhi đồng ban hành quy định về xử lý kỷ luật và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức, người lao động tại Quyết định số 1632/QĐ-NĐ2 ngày 09 tháng 11 năm 2017. Sau đó vào ngày 13/10/2020, bệnh viện đã ban hành quy định về xử lý kỷ luật viên chức theo Quyết định số 1127/QĐ-BVNĐ2.
Kết quả thực hiện công tác xử lý kỷ luật: từ năm 2018 đến năm 2023, bệnh viện đã thực hiện xử lý kỷ luật 12 trường hợp, cụ thể theo bảng số liệu:
Qua bảng số liệu trên, từ 05 trường hợp bị xử lý kỷ luật năm 2019 do vi phạm trong công tác quản lý, sử dụng thuốc, trang thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn nghề nghiệp; đến năm 2023 chỉ còn 01 viên chức vi phạm bị xử lý kỷ luật là lỗi về quy tắc ứng xử. Nhận thấy số lượng viên chức vi phạm bị xử lý kỷ luật giảm dần qua các năm và các vi phạm do lỗi chủ quan, khách quan gây ra. Qua các sự việc viên chức vi phạm bị xử lý kỷ luật, đã góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và tác động trực tiếp đến viên chức tại bệnh viện Nhi đồng 2 đã tự trao dồi, nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm của bản thân trong việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính, tuân thủ nội quy, quy định trong hoạt động chuyên môn nghề nghiệp hướng tới sự hài lòng của người bệnh và nhân viên y tế.
Từ ngày 20/9/2023 theo quy định của Nghị định số 71/2023/NĐ-CP của Chính phủ các cơ quan, đơn vị sẽ thực hiện việc xem xét xử lý kỷ luật đối với các trường hợp viên chức đang trong thời kỳ nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ mà có đơn đề nghị xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm mà không cần phải đợi hết thời gian 12 nuôi con nhỏ. Đồng thời, cũng rút ngắn hơn thời gian trong công tác tổ chức họp kiểm điểm và họp Hội đồng kỷ luật…
2.2.2.7. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật của Sở Y tế, Bệnh viên Nhi đồng 2 xây dựng kế hoạch tại bệnh viện, chú trọng các nội dung, hình thức triển khai, phổ biến đến viên chức, người lao động phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình thực tế của bệnh viện. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp: thường xuyên tổ chức các Hội thảo, Hội nghị để triển khai các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực y tế được Quốc hội, Chính phủ và Bộ Y tế ban hành. Ngoài các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực y tế, bệnh viện còn tổ chức triển khai một số Luật được
Quốc hội thông qua như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật khiếu nại, tố cáo lồng ghép trong các buổi báo cáo chuyên đề do Đảng bộ bệnh viện hoặc Công đoàn bệnh viện thực hiện. Năm 2020 và năm 2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên việc tổ chức phổ biến và giáo dục pháp luật trực tiếp diễn ra rất ít.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật gián tiếp: thông qua việc đăng tải tất cả các VBQPPL trong lĩnh vực y tế và triển khai dưới hình thức văn bản phổ biến các VBQPPL liên quan mới ban hành trên Trang thông tin điện tử của Bệnh viện Nhi đồng 2.
Hưởng ứng ngày Pháp luật Việt Nam 9/11 và với mục đích cung cấp kiến thức pháp luật cơ bản về lĩnh vực lao động; xây dựng, hình thành thói quen chủ động học tập, tìm hiểu pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành và bảo vệ pháp luật của các viên chức tại bệnh viện, giúp giảm thiểu các hành vi phạm pháp luật; Bệnh viện Nhi đồng 2 đã tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu Bộ luật lao động và chính sách pháp luật đối với lao động nữ năm 2020”. Cuộc thi đã thu hút 243 người tham gia trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và trả lời các tình huống liên quan pháp luật lao động và chính sách đối với lao động nữ.
Năm 2020 và năm 2021, các hoạt động tuyên truyền, PBGDPL của bệnh viện đã được triển khai nhiều, đặc biệt trong công tác tuyên truyền, phổ biến về phòng, chống dịch Covid – 19, góp phần nâng cao nhận thức của người dân và nhân viên y tế trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.
Năm 2022 bệnh viện tổ chức cuộc thi Tìm hiểu Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 và Luật Bảo hiểm y tế với sự tham gia của 96 viên chức đại diện cho 47 khoa phòng của bệnh viện; nhằm củng cố và nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong lĩnh vực khám chữa bệnh và công tác bảo hiểm y tế.
Hàng năm, thực hiện báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về Bộ phận Pháp chế thuộc văn phòng Sở Y tế theo đúng quy định.
2.2.2.8. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật
Công tác kiểm tra, giám sát là một hoạt động vô cùng quan trọng và cần thiết phải thực hiện một cách nghiêm túc, thường xuyên trong các cơ quan nhà nước.
Bệnh viện Nhi đồng 2 báo cáo kết quả hoạt động và thực hiện công tác tiếp đoàn của Sở Y tế Thành phố và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra theo chuyên đề hoặc khi có sự vụ.
Để đảm bảo công tác, bệnh viện tự tổ chức giám sát, kiểm tra các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Việc kiểm tra, giám sát sẽ kịp thời khắc phục các thiếu sót, phát hiện những hành vi sai trái và tạo tâm lý răn đe góp phần hạn chế vi phạm, do đó phải tiến hành một cách chủ động, thường xuyên, toàn diện và chặt chẽ, trong đó lấy phòng ngừa là chính.
Tháng 9 năm 2019, bệnh viện tiếp đoàn Thanh tra Sở Nội vụ về thực hiện các quy định pháp luật liên quan nghiệp vụ công tác tổ chức cán bộ. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Tháng 11 năm 2019, bệnh viện tiếp đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Y tế về thanh tra hoạt động khoa Dược năm 2017 và việc kỷ luật Trưởng khoa Dược Bệnh viện Nhi đồng 2.
Tháng 4 năm 2020, bệnh viện tiếp đoàn Thanh tra Sở Y tế về kiểm tra hoạt động khoa Xét nghiệm huyết học và thi hành kỷ luật Trưởng khoa Xét nghiệm huyết học Bệnh viện Nhi đồng 2.
Tháng 7 năm 2020, bệnh viện tiếp đoàn Sở Y tế Thành phố về kiểm tra hoạt động công tác cải cách hành chính, pháp chế và các quy trình liên quan trực tiếp người dân.
Tháng 11 năm 2022, bệnh viện tiếp đoàn Thanh tra Chính phủ về việc thực hiện công tác mua sắm thuốc, vật tư trang thiết bị, hóa chất, kít xét nghiệm phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19.
2.3. Đánh giá việc thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
2.3.1. Những thành quả đạt được trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại bệnh viện Nhi đồng 2
Đảng ủy, Ban Giám đốc bệnh viện có sự quan tâm chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về quản lý viên chức, chú trọng công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác, đào tạo bồi dưỡng, nâng bậc lương trước thời hạn, xử lý kỷ luật và tinh giản biên chế. Bước đầu chú trọng việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, có sự quan tâm tạo chuyển biến tích cực trong từng mảng công tác liên quan đến QLVC, cụ thể:
Một là, trong công tác tuyển dụng, có sự quan tâm sâu sát trong việc rà soát, cập nhật các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp để thực hiện việc tuyển dụng phù hợp với khung tiêu chuẩn theo Đề án vị trí việc làm đã xây dựng, phê duyệt. Đội ngũ viên chức ngày càng tăng về số lượng, chất lượng trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng môi trường, đáp ứng yêu cầu công việc tốt.
Hai là, công tác bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp viên chức căn cứ trên cơ sở kết quả xét tuyển viên chức hàng năm và kết quả xác minh văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật. Từ đó, góp phần bổ sung nhân sự có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, phù hợp về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí công tác.
Ba là, công tác đánh giá viên chức dựa trên các tiêu chí cụ thể như: phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chất lượng, hiệu quả, trách nhiệm công việc, thức tổ chức kỷ luật và mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết. Qua đó, kết quả của quá trình đánh giá được xem là cơ sở để cấp ủy nghiên cứu, xem xét, đưa ra các quyết định phù hợp về quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm…
Bốn là, việc chuyển đổi vị trí công tác tạo nên không khí làm việc và sự chuyển động mới trong công tác cán bộ, khắc phục sự khép kín và tình trạng cục bộ trong công tác cán bộ, có tác dụng thúc đẩy các khâu khác của công tác cán bộ (đánh giá, xây dựng quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng viên chức). Đồng thời, từng bước điều chỉnh và bố trí viên chức hợp lý hơn, tăng cường viên chức cho những khoa, phòng có nhu cầu cấp bách, góp phần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý; làm cho việc luân chuyển dần trở thành việc làm bình thường, thành nề nếp, phá bỏ những quan điểm và thói quen lạc hậu. Bên cạnh đó, thể hiện tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn của viên chức, tự giác nhận nhiệm vụ, tiếp cận với điều kiện, môi trường công tác mới, đổi mới tác phong, lề lối làm việc, tăng cường đoàn kết nội bộ, giải quyết các mâu thuẫn; tạo sự chủ động, năng động, sáng tạo hơn trong thực hiện nhiệm vụ được giao; tạo động lực để viên chức tích cực học tập, nâng cao trình độ; khắc phục tâm lý thỏa mãn, chủ quan ‘‘sống lâu lên lão làng” của một số viên chức.
Năm là, có quy định rõ ràng về thành viên Hội đồng xét nâng bậc lương trước thời hạn và các bước thực hiện. Các khoa, phòng sẽ thuận lợi hơn khi thực hiện công tác xét nâng lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ đối với viên chức, người lao động thuộc quyền quản lý. Đây là một đổi mới công tác nâng bậc lương trước thời hạn nhằm đảm bảo hơn quyền lợi cho viên chức so với trước đây. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Cụ thể, từ năm 2020 trở về trước tỷ lệ viên chức được nâng bậc lương trước thời hạn không quá 10%/tổng số viên chức trong danh sách trả lương của bệnh viện/năm. Bệnh viện đã xây dựng quy định nâng bậc lương trước thời hạn chỉ 01 mức duy nhất là không vượt quá 12 tháng.
Tuy nhiên, tại Quyết định số 1522/QĐ-BVNĐ2 ngày 28/12/2020 của Bệnh viện Nhi đồng 2 về ban hành quy chế nâng bậc lương trước thời hạn năm 2021, đã nêu rõ về thành tích để xét nâng bậc lương trước thời hạn được xác định theo thời điểm ban hành quyết định công nhận thành tích đạt được trong khoảng thời gian 06 năm gần nhất đối với các chức danh nghề nghiệp yêu cầu trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên và 04 năm gần nhất đối với các chức danh nghề nghiệp yêu cầu trình độ đào tạo từ trung cấp trở xuống tính đến ngày 31 tháng 12 của năm xét nâng bậc lương trước thời hạn. Đồng thời, đã bổ sung thời gian nâng bậc lương trước thời hạn 09 tháng và 06 tháng. Điều này để bảo đảm sự công bằng giữa các viên chức đạt tiêu chuẩn thành tích như nhau thì sẽ xét theo thứ tự ưu tiên.
Sáu là, các lớp đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức theo đối tượng viên chức phù hợp với trình độ chuyên môn và vị trí công tác của viên chức, đảm bảo phù hợp về chuyên khoa nhi của bệnh viện. Viên chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng có sự chuyển biến về nhận thức, về tư tưởng chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ được nâng lên, vận dụng kiến thức đã học tập vào thực tiễn công tác, phát huy trình độ chuyên môn, kiến thức được đào tạo, nâng cao chất lượng công tác tham mưu và công tác chuyên môn, nghiệp vụ.
Bảy là, đã có sự đổi mới về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện các phong trào thi đua và công tác khen thưởng. Các phong trào thi đua của Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã có sự phát triển sâu rộng, được gắn kết với việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với việc hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm của bệnh viện và việc thực hiện chủ đề năm của Sở Y tế, của thành phố, góp phần khơi dậy lòng tự hào, năng lực và nhiệt tình của các viên chức, trở thành động lực cho việc phấn đấu góp phần xây dựng Bệnh viện Nhi Đồng 2 phát triển bền vững. Khen thưởng thực hiện nghiêm túc, kịp thời các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc trong hoạt động chuyên môn như khen thưởng êkíp ghép gan, ghép thận từ người hiến chết não hoặc ghép tế bào gốc tự thân… Công tác tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến đã có những chuyển biến tích cực, có sự phối hợp, hỗ trợ tích cực trong công tác truyền thông về việc giới thiệu, tuyên truyền các điển hình tiên tiến.
Tám là, công tác xử lý kỷ luật được chú trọng hơn trước, bệnh viện đã tăng cường tự kiểm tra, giám sát những khoa, phòng thực hiện các công tác như mua sắm, đấu thầu, tài chính … dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng. Đồng thời, đã kịp thời kiểm điểm, xem xét xử lý kỷ luật các viên chức khi có hành vi vi phạm; xử lý nghiêm các sai phạm, nhiều vụ việc phức tạp, nghiêm trọng, liên quan đến viên chức đã nghỉ việc cũng đã thực hiện xử lý theo quy định.
Chín là, trong công tác giải quyết chế độ thôi việc, nghỉ hưu, Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã xây dựng quy trình giải quyết nghỉ việc của viên chức và hoàn thiện việc hệ thống hóa các biểu mẫu trên cơ sở quy định pháp luật, nhằm giải quyết chế độ chính sách cho viên chức (thôi việc, nghỉ hưu) một cách nhanh chóng, hiệu quả, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Ngoài ra, chính sách tinh giản biên chế được thực hiện tốt ở khâu tuyên truyền, phổ biến, quán triệt kế hoạch cho toàn thể viên chức. Trong quá trình tổ chức thực hiện, Trưởng các khoa, phòng trực thuộc bệnh viện đưa ra tập thể để bàn bạc, lấy ý kiến viên chức, để phát huy tinh thần tự nguyện của viên chức trong thực hiện công tác tinh giản biên chế.
Thời điểm hiện nay, đội ngũ viên chức Bệnh viện Nhi Đồng 2 cơ bản có trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực lãnh đạo, quản lý để thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tinh thần và thái độ phục vụ Nhân dân của viên chức có nhiều chuyển biến tích cực, được các cơ quan, tổ chức, cá nhân ghi nhận, góp phần vào sự nghiệp phát triển y tế, xây dựng Đảng, chính quyền, đảm bảo an ninh, chính trị, quốc phòng trên địa bàn thành phố.
2.3.2. Những hạn chế, nguyên nhân trong công tác thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại bệnh viện Nhi đồng 2 Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
2.3.2.1. Những hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật về QLVC tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 còn một số khó khăn, vướng mắc cụ thể sau:
- Về công tác tuyển dụng viên chức
Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức ngành y tế, có sự thay đổi về tiêu chuẩn ngoại ngữ, tin học như: từ yêu cầu phù hợp với chức danh nghề nghiệp dự tuyển; chuyển sang yêu cầu có khả năng sử dụng được ngoại ngữ, tin học tương ứng. Việc quy định không rõ ràng như vậy, gây lúng túng trong công tác xác định việc “có khả năng” theo trình độ ngoại ngữ, tin học tương ứng của các ứng viên dự tuyển viên chức.
Thứ hai, quy định yêu cầu có khả năng sử dụng được ngoại ngữ, tin học tương ứng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng viên chức chuyên môn y tế như bác sĩ, điều dưỡng gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các chương trình đào tạo y tế của các tổ chức y tế ở các quốc gia trên thế giới. Đặc thù của ngành y tế là chăm sóc sức khỏe, liên quan trực tiếp đến tính mạng con người; do đó việc tiếp cận với những kiến thức y khoa tiến bộ của các nước nhằm nâng cao chất lượng, kỹ năng tay nghề chuyên môn của viên chức gặp hạn chế khi chưa đạt yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, tin học theo yêu cầu.
- Về công tác luân chuyển viên chức lãnh đạo, quản lý và chuyển đổi vị trí công tác viên chức
Thứ nhất, tại một số khoa, phòng có viên chức được điều động, chuyển đổi vị trí công tác chưa có sự quan tâm, kiểm tra, theo dõi, đặc biệt là hỗ trợ, động viên viên chức được điều động, chuyển đổi vị trí công tác, nên nhiều viên chức có cảm giác chưa được sự quan tâm, đồng thời khi thực hiện đánh giá, chưa đánh giá đúng thực lực viên chức được chuyển đến.
Thứ hai, những viên chức đang làm công tác mang tính chuyên môn, nghiệp vụ khi luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác sang làm công tác quản lý trong thời gian đầu thường hay lúng túng, chưa nắm chắc cơ sở pháp lý có liên quan đến vấn đề.
- Về công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Một là, mặc dù số lượng được đào tạo, bồi dưỡng tăng lên, nhưng chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ viên chức nhìn chung chưa đáp ứng với yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước, vẫn còn tình trạng viên chức giải quyết công việc chậm trễ, một số viên chức được cử đi học chưa chấp hành nghiêm nội quy, quy chế học tập của cơ sở đào tạo.
Hai là, việc sắp xếp học tập và giải quyết công việc chuyên môn chưa hợp lý dẫn đến tình trạng chậm trễ công việc được giao, chưa tham gia đầy đủ các khóa học hoặc đăng ký nhưng không tham gia hoặc đăng ký nhiều lớp dẫn đến việc trùng thời gian đào tạo, bồi dưỡng, xin chuyển đổi lớp học hoặc có đơn xin không tham dự khóa học gây khó khăn trong công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng.
Ba là, đang trong giai đoạn đi đào tạo hoặc sau khi hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng viên chức xin nghỉ việc, do đó phải thực hiện việc đền bù chi phí đào tạo theo quy định của pháp luật vì chưa phục vụ đủ thời gian cam kết. Việc thực hiện trình tự, thủ tục đền bù mất nhiều thời gian trước khi giải quyết hồ sơ nghỉ việc của viên chức. Qua đó, sẽ ảnh hưởng đến việc cử đi học của viên chức và lòng tin của lãnh đạo cơ quan, đơn vị với tâm lý e dè “học xong sẽ nghỉ việc” khi thực hiện cử viên chức đi học.
Bốn là, về đền bù chi phí đào tạo, viên chức cũng như bệnh viện có những bất cập khi áp dụng việc thu hồi kinh phí đền bù. Hiện tại, các biện pháp có thể áp dụng để thu hồi chi phí đào tạo theo quy định của pháp luật là: đơn vị sử dụng, quản lý viên chức ban hành quyết định việc bồi thường chi phí đào tạo; Không tiến hành thủ tục giải quyết thôi việc cho viên chức; khởi kiện dân sự đến tòa án yêu cầu viên chức đền bù chi phí đào tạo. Tuy nhiên, các chế tài pháp lý này chưa phát huy tốt hiệu quả trong thực tế bởi rất nhiều lý do như: viên chức cố tình chây ì, không thực hiện quyết định đền bù chi phí đào tạo hoặc tự ý bỏ việc… mà chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục.
Năm là, chưa thực hiện đúng trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng của viên chức làm việc trong các cơ sở y tế phải có nghĩa vụ tham gia các khóa đào tạo liên tục nhằm đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ đang đảm nhiệm, cụ thể: viên chức y tế đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp; viên chức khác có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp, trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học.
Sáu là, chưa thực hiện được đúng lộ trình đào tạo chuẩn hóa trình độ cao đẳng của các chức danh nghề nghiệp: điều dưỡng, dược, kỹ thuật y theo quy định của pháp luật.
- Về công tác thi đua – khen thưởng
Thứ nhất, các khoa, phòng trực thuộc bệnh viện tham gia phong trào thi đua còn mang nặng tính thành tích, tham gia hời hợt, không thực sự mặn mà với các phong trào thi đua, đặc biệt là lãnh đạo khoa, phòng chưa thực sự quan tâm việc triển khai thực hiện vì vậy, chưa tạo được động lực và sự tham gia của đông đảo viên chức.
Thứ hai, việc thực hiện sơ kết, tổng kết phong trào thi đua và thực hiện khen thưởng chưa thường xuyên vì do nguồn kinh phí bị ảnh hưởng sau đại dịch Covid-19. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Thứ ba, khi được bình xét danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng, cá nhân viên chức phải thực hiện viết báo cáo thành tích trong đó thể hiện các thành tích của cá nhân hoặc của tập thể (đối với viên chức lãnh đạo). Tuy nhiên, các viên chức do thực hiện công tác chuyên môn nên thực hiện báo cáo trễ hạn hoặc viết không đúng, không đạt yêu cầu… ảnh hưởng đến công tác tổng hợp và thẩm định hồ sơ khen thưởng của bệnh viện, cũng như của Sở Y tế.
- Về công tác đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức
Thứ nhất, kết quả đánh giá viên chức còn có sự liên quan đến trách nhiệm, kết quả đánh giá của người đứng đầu, phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thành tích của khoa, phòng và bệnh viện. Vì vậy, khi đánh giá viên chức tại các khoa, phòng còn nể nang, tình cảm và mang tính “dĩ hòa di quý”. Mặt khác, bản thân viên chức đều tự nhận xét mình hoàn thành tốt hoặc xuất sắc nhiệm vụ. Vì vậy kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức chưa thật sự làm rõ ưu khuyết điểm, tồn tại, hạn chế của viên chức. Thậm chí, nhiều lãnh đạo khoa, phòng trực thuộc không dám thẳng thắn đánh giá viên chức thuộc quyền yếu kém, vì sợ bị mất lòng và ảnh hưởng đến thi đua của tập thể.
Thứ hai, việc quy định lưu hồ sơ đánh giá bằng hình thức điện tử đối với từng viên chức gồm: phiếu tự đánh giá của cá nhân, biên bản nhận xét của đơn vị cấu thành nơi công tác và kết quả đánh giá của người có thẩm quyền; đồng thời, thực hiện lưu giữ ở hồ sơ viên chức. Đối với đặc thù của bệnh viện, lực lượng viên chức khá đông nên việc lưu trữ song song 02 hình thức này là khó khả thi và nếu thực hiện như vậy sẽ tốn rất nhiều nhân lực cho một công việc.
- Về công tác xử lý kỷ luật viên chức
Theo quy định của Nghị định 71/2023/NĐ-CP thì xử lý kỷ luật viên chức gồm các trình tự: họp kiểm điểm viên chức; thành lập Hội đồng kỷ luật và Cấp có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật. Tại cuộc họp kiểm điểm thì không thực hiện việc phát phiếu thăm dò ý kiến hay biểu quyết, tuy nhiên theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 33 Nghị định 112/2020/NĐ-CP thì sau khi cuộc họp kiểm điểm kết thúc, trong thời gian 03 ngày, người chủ trì cuộc họp phải báo cáo cấp có thẩm quyền trong đó có nội dung kiến nghị xử lý kỷ luật và hình thức kỷ luật; giả sử như một vi phạm phải xử lý kỷ luật nhưng tại cuộc họp kiểm điểm các ý kiến đều cho rằng chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở thì việc kiến nghị của người chủ trì là ý kiến chủ quan, do đó sẽ khó quyết định việc áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm.
- Về việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính
Số lượng viên chức, người lao động ở bệnh viện khá đông nên việc quản lý còn chưa chặt chẽ. Ở một số khoa, phòng vẫn chưa nghiêm, vẫn còn có tình trạng viên chức né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, làm việc qua loa đại khái thiếu trách nhiệm, cá biệt có những trường hợp cố tình sách nhiễu, gây phiền hà cho người nhà bệnh nhân. Đặc biệt, một số trường hợp còn lợi dụng ngày giờ công của bệnh viện để thực hiện các hoạt động nghề nghiệp bên ngoài và lợi dụng thương hiệu, uy tín bệnh viện để trục lợi cho bản thân, dẫn đến phải xử lý kỷ luật, thậm chí là xử lý hình sự.
- Về tinh giản biên chế Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Một số khoa, phòng chưa mạnh dạn đề xuất giảm những người hạn chế năng lực, đạo đức công vụ kém, trình độ chuyên môn không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, để thu hút những người có năng lực, có tài, có đức vào công tác. Đồng thời, trong những năm qua sau ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh Covid- 19 nên số lượng viên chức nghỉ việc nhiều, không đảm bảo nhân sự công tác nên không thực hiện tinh giản biên chế.
2.3.2.2. Nguyên nhân Hạn chế
- Về công tác tuyển dụng
Văn bản quy phạm pháp luật chưa quy định rõ ràng, cụ thể việc quy định có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học tương đương theo quy định; việc quy định như vậy gây khó khăn lúng túng trong công tác xác định của đơn vị thực hiện xét tuyển viên chức, cụ thể: có thể sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ, tin học của người dự tuyển để xác định tương đương hay việc người ra đề thi sát hạch có trình độ như thế nào để xây dựng đề thi ngoại ngữ, tin học phù hợp trình độ.
- Về công tác đánh giá, xếp loại chất lượng
Quy định của pháp luật chưa có sự tách bạch, rõ ràng mức độ ảnh hưởng: giữa nhiệm vụ của người đứng đầu khoa, phòng, bệnh viện với kết quả đánh giá của từng viên chức thuộc quyền quản lý; giữa kết quả đánh giá của cá nhân viên chức với kết quả hoạt động và thành tích của tập thể đơn vị cấu thành, trách nhiệm của người đứng đầu mà cào bằng với từng cá nhân viên chức trong bệnh viện.
- Về công tác đào tạo, bồi dưỡng
Một là, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chưa thật sự gắn với kế hoạch, quy hoạch bố trí, sử dụng, chỉ tập trung vào việc trang bị kiến thức theo tiêu chuẩn trình độ, vị trí, chức danh mà chưa tập trung vào việc trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc nên hiệu quả chưa cao.
Hai là, công tác phối hợp kiểm tra giữa các cơ sở đào tạo và cơ quan chưa thường xuyên, kịp thời, dẫn đến tình trạng các viên chức tham gia các lớp học chưa nghiêm túc như trên, đi học theo kiểu chiếu lệ,…
Ba là, quy định tiền lương và phụ cấp, ưu đãi nghề nghiệp chưa tương xứng với đặc thù công việc áp lực của ngành y tế. Do đó, số lượng nhân viên y tế nghỉ việc rất nhiều, đặc biệt là sau đại dịch Covid-19, với mô hình tự chủ chi thường xuyên nên nguồn thu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đồng thời quy định về tiền lương, phụ cấp chưa tương xứng.
- Về công tác thi đua, khen thưởng Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
Một là, viên chức phụ trách công tác thi đua, khen thưởng thay đổi và không cố định nên dẫn đến việc theo dõi thành tích còn hạn chế, thiếu tính thực tiễn, chưa nắm rõ thành tích cũng như quy định, thực hiện hồ sơ chậm trễ…, chưa chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực viên chức làm công tác thi đua, khen thưởng.
Hai là, tổ chức bộ máy thực hiện công tác thi đua, khen thưởng còn bất cập và thiếu thống nhất. Công tác thi đua chưa liên hệ mật thiết với công tác khen thưởng, còn hình thức trong việc đề ra các nội dung thi đua, chưa có chính sách đãi ngộ thỏa đáng với người có nhiều thành tích trong công tác thi đua ví dụ như: chưa có hình thức khen thưởng cho các cá nhân, tập thể được công nhận, biểu dương là gương điển hình tiên tiến giai đoạn 2021-2023…
Ba là, tại các khoa, phòng việc tổ chức tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của thi đua, khen thưởng cho viên chức chưa được chú trọng thực hiện thường xuyên. Công tác nhân rộng điển hình tiên tiến, việc bình xét thi đua, khen thưởng chưa bám sát quy định về sáng kiến, nghiên cứu khoa học thực tiễn, quy trình thủ tục, hồ sơ khen thưởng chưa đúng quy định, dẫn đến có hiện tượng đề cử luân phiên nhau hoặc tại một số khoa, phòng có viên chức đông, có nhiều hoạt động tốt, nhưng số lượng viên chức được đề nghị khen thưởng rất ít, cũng có khoa, phòng lại đề nghị quá nhiều.
- Về công tác xử lý kỷ luật
Một là, Viên chức vi phạm có tâm lý ỷ lại, không ý thức hành vi vi phạm, đùn đẩy trách nhiệm cho đồng nghiệp, chưa thể hiện sự cầu thị nhận thức trách nhiệm do hành vi vi phạm gây ra. Trong hoạt động chuyên môn, xảy ra các trường hợp sự cố y khoa nặng hoặc có trường hợp tử vong thì việc xem xét chỉ dừng lại ở kết luận của Hội đồng chuyên môn là có sai sót hoặc không sai sót đối với hoạt động chuyên môn, chứ chưa có trường hợp nào đưa ra xem xét, xử lý kỷ luật.
Hai là, trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu khoa, phòng trên thực tế một số chưa thực hiện nghiêm túc, chưa đúng tinh thần nêu gương, gương mẫu đi đầu.
Ba là, ý thức trách nhiệm của các chủ thể (bao gồm cá nhân viên chức, tập thể là người đứng đầu đơn vị) chưa cao, còn tâm lý nể nang, bao che, ngại nói thẳng nói thật trong việc nhận xét, góp ý hoặc báo cáo vi phạm của viên chức do đó, khi có vi phạm xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng phải xử lý kỷ luật.
Tiểu kết Chương 2.
Trên cơ sở trình bày, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh ở Chương 2, Luận án nhận thấy: Trong những năm qua, hoạt động thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi đồng 2 đã đạt được những thành quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực hiện pháp luật về quản lý viên chức cũng tồn tại những khó khăn, hạn chế nhất định. Những khó khăn, hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan như hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất, thiếu đồng bộ…Điều đó đã làm cho những văn bản pháp luật của nhà nước đôi lúc chỉ mang tính quy định chung.
Do vậy, qua việc phân tích, đánh giá thực trạng này đã thấy được những hạn chế, bất cập, thiếu cụ thể, thậm chí có quy định còn mâu thuẫn nhau của hệ thống pháp luật quản lý về quản lý viên chức; những kết quả, hạn chế và nguyên nhân đạt được, nguyên nhân tồn tại những hạn chế về quản lý viên chức ở Bệnh viện Nhi đồng 2. Từ những kết quả nghiên cứu ở Chương 2 Luận văn sẽ làm cơ sở để tác giả đưa ra những quan điểm, yêu cầu và những giải pháp cụ thể hoàn thiện hoạt động thực hiện pháp luật về quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh một cách hiệu quả và phù hợp. Luận văn: Thực trạng PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi Đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về quản lý viên chức tại Bệnh viện Nhi đồng