Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
2.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp, để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Doanh nghiệp sử dụng quyền SDĐ để làm tài sản bảo đảm cho hợp đồng vay tại các ngân hàng là hoạt động khá phổ biến. Các vấn đề pháp lý trong giao dịch thế chấp quyền SDĐ rất phức tạp và đa dạng, được điều chỉnh bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Thu hồi quyền SDĐ đất của doanh nghiệp đang làm tài sản thế chấp là một trong những vấn đề pháp lý khá phức tạp, gây khó khăn cho công tác áp dụng pháp luật để thực hiện hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp. Do đó, khi thực hiện hoạt động thu hồi đất của các doanh nghiệp, cơ quan thực thi cần có sự quan tâm đúng mực, sâu sát trong công tác rà soát, tra cứu thông tin về đăng ký tài sản bảo đảm là quyền SDĐ của các doanh nghiệp. Cần đảm bảo công tác phối hợp chặt chẽ giữa Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB và Văn phòng Đăng ký quyền SDĐ để kịp thời nắm bắt thông tin và có phương án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Cần điều chỉnh, sửa đổi Khoản 1, Điều 6, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thay vì Tổ chức có nhiệm vụ GPMB có trách nhiệm tìm hiểu thông tin về quyền SDĐ, tài sản gắn liền với đất bị thu hồi tại Văn phòng đăng ký quyền SDĐ trong giai đoạn lập phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, pháp luật cần điều chỉnh lại thành Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB có trách nhiệm tìm hiểu thông tin về quyền SDĐ, tài sản gắn liền với đất bị thu hồi tại Văn phòng đăng ký quyền SDĐ trong giai đoạn UBND có thẩm quyền ban hành thông báo thu hồi đất. Như vậy, Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB sớm tiếp cận được thông tin thế chấp quyền SDĐ của doanh nghiệp, tránh tình trạng lúng túng, cập rập trong việc xử lý, gây ra những thiếu sót trong áp dụng pháp luật.
Song song đó, để tránh tình trạng bị động trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng thế chấp quyền SDĐ của doanh nghiệp, pháp luật cần bổ sung quy định về việc thông báo cho bên nhận thế chấp về các thông tin đối với quyền SDĐ đang sử dụng làm tài sản thế chấp khi Nhà nước thu hồi đất “tại thời điểm UBND có thẩm quyền ban hành thông báo thu hồi đất” như số thửa, số tờ bản đồ, diện tích thu hồi, tài sản gắn liền với đất sẽ được bồi thường…, để bên thế chấp và bên nhận thế chấp có những phương án xử lý tối ưu, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên, tránh các tranh chấp không đáng có xảy ra.
Bên cạnh đó, pháp luật quy định về việc bên nhận thế chấp chỉ được thông báo về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường trong quá trình Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB lập phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là chưa phù hợp với thực tiễn. Bởi, phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được UBND có thẩm quyền phê duyệt, không thể công bố đến bên thế chấp và bên nhận thế chấp về số tiền bồi thường, hỗ trợ. Do đó, pháp luật cần xác định cụ thể thời điểm thông báo về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường khi UBND có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2.2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
Thứ nhất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mức hỗ trợ ổn định sản xuất. Hiện nay, Chính phủ chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về mức hỗ trợ ổn định sản xuất đối với trường hợp doanh nghiệp bị giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở kinh doanh sản xuất. Tuy nhiên, UBND các tỉnh, thành phố đã có Quyết định quy định về mức hỗ trợ đối với trường hợp này. Vì vậy, để tạo tính thống nhất trong công tác bồi thường, hỗ trợ, GPMB trên cả nước, Chính phủ cần điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, quy định cụ thể về việc hỗ trợ ổn định sản xuất đối với trường hợp doanh nghiệp bị giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh.
Đối với tỉnh Long An, việc quy định trường hợp “giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ được hỗ trợ 15% mức thu nhập sau thuế,”65 theo Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh Long An là chưa phù hợp so với thực tiễn. Do mức hỗ trợ trên chỉ bằng một nữa so với mức hỗ trợ đối với trường hợp giải tỏa trắng nhà xưởng, cơ sở kinh doanh. Xét về góc độ thực tiễn, thiệt hại của doanh nghiệp khi bị giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh là không thua kém so với trường hợp doanh nghiệp bị giải tỏa trắng nhà xưởng, cơ sở kinh doanh. Vì vậy, UBND tỉnh Long An cần xem xét nâng mức “hỗ trợ ổn định sản xuất” đối với doanh nghiệp bị giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh. Mức hỗ trợ ít nhất bằng hai phần ba mức “hỗ trợ ổn định sản xuất” đối với trường hợp doanh nghiệp bị giải tỏa trắng nhà xưởng, cơ sở kinh doanh.
Bên cạnh đó, trường hợp giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh phải đáp ứng điều kiện “có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh” sẽ được hỗ trợ 15% mức thu nhập sau thuế. UBND tỉnh Long An cần loại bỏ điều kiện trên, vì đây là điều kiện mang tính chất định tính, chỉ có thể xác định theo ý chí chủ quan của cơ quan có thẩm quyền trong việc xem xét có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh hay không. Hơn nữa, mỗi diện tích nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được xây dựng đều phục vụ cho mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, việc giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh đương nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết địa điểm kinh doanh, sản xuất mới cho doanh nghiệp sau khi Nhà nước thu hồi đất. Pháp luật cần có chính sách cụ thể đối với việc hỗ trợ địa điểm mới để doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh, sản xuất sau khi Nhà nước thu hồi đất. Hạn chế bó buộc việc áp dụng chính sách hỗ trợ địa điểm sản xuất, kinh doanh mới trong phạm vi các đối tượng “không được bồi thường về đất” khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Cần mở rộng phạm vi đối tượng được hỗ trợ về địa điểm sản xuất, kinh doanh mới khi Nhà nước thu hồi đất, đặt biệt là các doanh nghiệp đang SDĐ thông qua hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền, Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê… Hình thức hỗ trợ về địa điểm sản xuất, kinh doanh mới tương ứng hình thức SDĐ trước khi Nhà nước thu hồi đất.
UBND các tỉnh, thành phố nói chung và UBND tỉnh Long An nói riêng, khi tiến hành hoạt động thu hồi đất có chủ thể bị thu hồi là các doanh nghiệp cần phải điều tra, khảo sát, nghiên cứu, lập ra phương án về hỗ trợ địa điểm sản xuất kinh doanh mới cho đối tượng này. Cần tập trung khảo sát, nghiên cứu các địa điểm sản xuất, kinh doanh mới có tính chất tương đồng về vị trí địa lý, diện tích thửa đất, điều kiện hạ tầng, giao thông… với địa điểm đất bị thu hồi. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, pháp luật nên bổ sung quy định về giảm tiền thuê đất đối với các doanh nghiệp bị Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Qua đó, đảm bảo tối đa quyền lợi của doanh nghiệp, tránh những phản ứng gay gắt của các doanh nghiệp đối với hoạt động thu hồi đất của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp sớm ổn định và tiếp tục hoạt động kinh doanh, sản xuất. Đồng thời, giúp nâng cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH, vì lợi ích quốc gia, công cộng.
2.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định giá đất cụ thể để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Pháp luật về đất đai đã có những quy định khá cụ thể về xác định “giá đất bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, chủ đầu tư và chủ thể bị thu hồi đất. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế, cần phải có những sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện.
Thứ nhất, cần phải xác định vai trò chủ đạo của Hội đồng thẩm định giá đất, bằng các biện pháp như UBND cấp có thẩm quyền thường xuyên tạo điều kiện cho thành viên Hội đồng thẩm định giá đất tham gia lớp đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao tính chuyên môn và sự chuyên nghiệp trong hoạt động thẩm định giá đất. Từ đó, có thể đảm bảo tốt công tác về đánh giá, phân tích kết quả thẩm định giá của đơn vị thẩm định giá độc lập, kịp thời có những góp ý, điều chỉnh phù hợp, nhằm mục đích đảm bảo “giá đất bồi thường” phù hợp với giá đất phổ biến trên thực tế, bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ thể bị thu hồi đất.
Thứ hai, UBND cấp có thẩm quyền cần cân nhắc lựa chọn hai đơn vị thẩm định giá độc lập trở lên để tư vấn về giá đất bồi thường. Từ kết quả thẩm định giá đất của các đơn vị thẩm định giá, Hội đồng thẩm định giá đất sẽ căn cứ vào đó để so sánh, đối chiếu, phân tích và đưa ra “giá đất bồi thường” phù hợp để trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, “theo tiêu chuẩn thẩm định giá hiện nay (Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 11), để đảm bảo tính chính xác của giá đất được quyết định, khi tiến hành thẩm định giá đất, xây dựng phương án giá đất thì chủ thể thẩm định giá phải áp dụng ít nhất hai phương pháp định giá đất để kiểm tra, so sánh, đối chiếu.”66 Như vậy, để có kết quả thẩm định giá được sát với các giao dịch thực tế, đơn vị thẩm định giá độc lập cần sử dụng nhiều phương pháp định giá đất khác nhau.
Thứ ba, để đảm bảo tính dân chủ, công khai trong công tác định giá bồi thường đất, song song với “giá đất bồi thường” do UBND cấp có thẩm quyền quyết định, pháp luật cần trao quyền cho chủ thể bị thu hồi đất được phép thuê đơn vị thẩm định giá độc lập để xác định giá của đất cụ thể, đặc biệt là những loại đất do doanh nghiệp sử dụng để kinh doanh, sản xuất như đất khu công nghiệp (SKK), đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (SKC) và quy định kết quả thẩm định giá đó là một cơ sở để đối chiếu, so sánh với kết quả thẩm định giá của đơn vị thẩm định giá do UBND cấp có thẩm quyền lựa chọn. Từ kết quả so sánh, đối chiếu đó, Hội đồng thẩm định giá đất sẽ cân nhắc, thống nhất “giá đất bồi thường”, trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt. Kiến nghị nêu trên giúp đảm bảo về nguyên tắc “dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật” được quy định tại Khoản 3, Điều 74, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018.
Thứ tư, về phía cơ quan có thẩm quyền, trong hoạt động xác định “giá đất bồi thường”, cần có những so sánh, cân nhắc về tính tương đồng đối với “giá đất bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất để triển khai các dự án khác nhau ở cùng một vị trí, tránh tình trạng cùng một vị trí mà giá đất lại có sự chênh lệch quá lớn, gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng đến tiến độ GPMB.
2.2.4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
Để giải quyết những bất cập về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp, pháp luật cần có những sửa đổi, điều chỉnh kịp thời, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa phạm vi UBND cấp tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và thẩm quyền quyết định thu hồi đất của UBND huyện.
Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 cần sửa đổi để mở rộng phạm vi ủy quyền của UBND cấp tỉnh cho UBND cấp huyện về quyết định thu hồi đất. Tùy vào tình hình cụ thể, UBND cấp tỉnh được ủy quyền cho UBND cấp huyện ban hành quyết định thu hồi đất đối với những đối tượng SDĐ thuộc thẩm quyền quyết định thu hồi đất của UBND cấp tỉnh, kể cả trường hợp trong khu vực thu hồi đất chỉ có duy nhất đối tượng bị thu hồi thuộc thẩm quyền quyết định thu hồi đất của UBND cấp tỉnh. Qua đó, tạo tính linh hoạt trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất đối với doanh nghiệp.
Đối với thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể, khi thực hiện theo nội dung Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 06/5/2023 của Chính phủ, UBND cấp tỉnh không nên cứng nhắc ban hành quyết định ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo đúng nguyên văn của Nghị quyết số 73/NQ-CP, mà cần có sự linh hoạt đối với từng chủ thể bị thu hồi đất. UBND cấp tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với những chủ thể thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND cấp huyện được quy định tại Khoản 2, Điều 66, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 gồm: “Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.”68 Các chủ thể thuộc thẩm quyền quyết định thu hồi đất của UBND cấp tỉnh gồm: “Tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…”69 do UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Hoặc tùy tình hình thực tế, UBND tỉnh có thể ủy quyền cho UBND huyện quyết định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với những chủ thể thuộc thẩm quyền quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh.
Bên cạnh đó, Chính phủ cần có văn bản hướng dẫn để xác định chính xác tinh thần của Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 06/5/2023 là không bắt buộc UBND cấp tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện về việc quyết định giá đất bồi thường, mà chỉ là một trong những phương pháp mà địa phương lựa chọn để áp dụng, đảm bảo tính linh hoạt trong hoạt động thu hồi đất. UBND cấp tỉnh sẽ căn cứ vào điều kiện cụ thể (về đối tượng thu hồi đất, năng lực của các cơ quan xác định giá đất…) để quyết định có ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định “giá đất bồi thường” hay không. Bên cạnh đó, cần xác định rõ phạm vi ủy quyền, thay vì ủy quyền rập khuôn theo nguyên văn Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 06/5/2023.
Kết luận chương 2 Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
Hoạt động thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với chủ thể SDĐ là doanh nghiệp chưa được pháp luật quan tâm một cách tương xứng với tầm quan trọng của nó. Trên thực tế, chủ thể bị thu hồi thông thường là cá nhân, hộ gia đình, tỷ lệ thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với tổ chức, đặt biệt là doanh nghiệp chiếm tỷ lệ khá thấp. Do đó, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thu hồi đất đối với doanh nghiệp còn khá lỏng lẻo, chưa bắt kịp với tình hình thực tế.
Qua quá trình nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng trong phạm vi tỉnh Long An, tác giả đã nhận thấy còn tồn tại nhiều bất cập, khó khăn trong quá trình thực hiện, cụ thể: Công tác áp dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp còn chưa phù hợp với quy định pháp luật, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng; Các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp khi Nhà nước thu đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng chưa được đảm bảo, mức hỗ trợ ổn định sản xuất còn thấp so với những tổn thất của doanh nghiệp, cơ chế về hỗ trợ nơi sản xuất, kinh doanh mới cho doanh nghiệp chưa được pháp luật quan tâm; Việc xác định giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong xác định đơn giá bồi thường những loại đất của doanh nghiệp sử dụng để kinh doanh, sản xuất như đất khu công nghiệp (SKK), đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (SKC), giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường còn thấp so với giá trên thị trường, việc thẩm định, phê duyệt giá còn thiếu tính dân chủ, kết quả phê duyệt hoàn toàn dựa trên tư vấn của đơn vị thẩm định giá; Về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp còn thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện.
Từ những thực trạng nêu trên tác giả đã đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, tăng cường hiểu quả trong thực hiện công tác thu hồi đất, góp phần giúp công tác bồi thường, GPMB được diễn ra thuận lợi.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
Thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng giữ vai trò quan trọng cho việc đẩy nhanh tiến trình CNH – HĐH của đất nước. Thu hồi đất nói chung và thu hồi đất đối với chủ thể là doanh nghiệp nói riêng để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là vấn đề tất yếu khách quan. Hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp hiện nay vô cùng nhạy cảm, liên quan nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Mặc dù vậy, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp lại đang bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, chưa đảm bảo được sự hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất.
Luận văn “Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng” đã giải quyết được các vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Luận văn đã làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Đồng thời, có những phân tích, đánh giá đối với quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể SDĐ là doanh nghiệp khi bị Nhà nước thu hồi đất; Những trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thẩm quyền thu hồi đất đối với doanh nghiệp; Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất.
Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung đối với hoạt động thu hồi đất, với mục đích ngày càng hoàn thiện khung pháp lý về thu hồi đất, đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch, dân chủ… Những thay đổi này, đã góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị thu hồi đất nói chung và doanh nghiệp bị thu hồi đất nói riêng, giảm thiểu sự bức xúc trong nhân dân, hạn chế các trường hợp khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, góp phần thúc đẩy phát triển KT – XH của đất nước.
Liên hệ thực tế địa phương tỉnh Long An, luận văn đã ghi nhận những kết quả đạt được trong công tác xây dựng quy chế điều chỉnh hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ 2015 đến nay. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thu hồi đất ở tỉnh Long An còn gặp phải những vướng mắc, bất cập trong thực thi các quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp; về hỗ trợ cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất; về xác định giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp; về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất những kiến nghị nhằm giải quyết triệt để những bất cập, vướng mắc nêu trên. Đồng thời, hoàn thiện các quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Cụ thể, luận văn đưa ra những kiến nghị về công tác phối hợp và áp dụng pháp luật của các cơ quan chuyên môn, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về thời điểm thông báo cho bên nhận thế chấp về nội dung thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp; tập trung hoàn thiện pháp luật về mức hỗ trợ ổn định sản xuất và giải quyết địa điểm kinh doanh, sản xuất mới cho doanh nghiệp sau khi Nhà nước thu hồi đất; các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp như cần xác định vai trò quan trọng của Hội đồng thẩm định giá đất, xem xét lựa chọn hai đơn vị thẩm định giá độc lập trở lên để tư vấn về giá đất bồi thường, cho phép người có đất bị thu hồi có quyền thuê đơn vị thẩm định giá độc lập, cơ quan có thẩm quyền cần có những so sánh, cân nhắc về tính tương đồng đối với “giá đất bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án có cùng vị trí.
Đối với doanh nghiệp, đất đai giữ vai trò hết sức quan trọng, không chỉ là nơi để kinh doanh, sản xuất mà còn là tài sản để góp vốn, thế chấp….để tạo ra nguồn tiền phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng cần nhận được sự quan tâm nhiều hơn từ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng cần tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp