Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính trong thời đại kỹ thuật số dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả

  • Một CTMT sẽ gồm những thành phần sau:

Ngôn ngữ lập trình: một nhạc sĩ sáng tác bài hát thì cần phải thuộc các ký hiệu âm nhạc như khuông nhạc, khóa nhạc,… nốt nhạc để viết nên một bài hát hoàn chỉnh, còn nhà văn nhà thơ thi dùng ngôn từ để viết nên tác phẩm viết của mình. Còn lịnh vực lập trình cụ thể là viết nên một CTMT nào cũng sẽ cần ngôn ngữ lập trình thích hợp để truyền tải ý đồ của tác giả ở đây sẽ là lập trình viên mỗi lập trình viên sẽ có giỏi về một ngôn ngữ lập trình nào đó như Javascrip, Python, PHP, C#,..

Giao diện (screen display) : có thể xem như trung gian giao tiếp giữa người dùng tương tác và ra lệnh cho thiết bị điện tử hoạt động.

Mã máy là chuỗi câu lệnh nhị phân la kết quả của mã nguồn có nhiệm vụ giúp thực thi lệnh làm thiết bị điện tử hoạt động theo ý muốn. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Mã nguồn có thể xem như là một sản phẩm trước biên dịch của một phần mềm chỉ giúp cho máy hiểu nhưng thiết bị điện tử vẫn chưa thể thực thi khi lệnh từ mã nguồn truyền xuống mà phải được dịch giải lại.

Theo quy định của Luật SHTT năm 2022 thì chỉ có mã máy và mã nguồn sẽ được bảo vệ theo luật định. Tuy nhiên một CTMT hoàn chỉnh thì sẽ không bao gồm hai yếu tố này mà còn có cả giao diện là cầu nối giúp tương tác qua lại giữa người dùng và máy tính. Tuy nhiên giao diện thì không cố định mà sẽ tùy biến theo thời gian khi có nhiều tác vụ hay nhu cầu người dùng cần thay đổi nên sẽ rất khó để được bảo vệ vì đặc thù của CTMT như đã nói là luôn cần được cập nhật theo thời gian để đáp ứng nhu cầu hiện tại hơn là chỉ giữ nguyên không biến đổi, còn tác phẩm văn học nghệ thuật thì là những tác phẩm văn chương đã cố định có giá trị bền bỉ theo thời gian. Nên nếu bảo vệ CTMT theo tác phẩm văn học sẽ có một sự kiềm hãm. Tuy nhiên giao diện hiện đang được bỏ ngỏ trong quy định ngay cả tại khoản 3 Điều 8 NĐ 17/2023 cũng chỉ nêu các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả gồm quy trình, hệ thống, phương pháp, khái niệm, nguyên lý.

Khoản 9 Điều 43 về hồ sơ đăng ký quyền tác giả thì có yêu cầu ngoài nộp bản cứng CD có chứa CTMT thì một bản in trên khổ giấy A4 có chứa giao diện và mã code của CTMT, có thể đây là một cách ngầm hiểu là giao diện cũng sẽ được coi như một đối tượng được bảo hộ nếu có tranh chấp xảy ra.

Để được bảo hộ một cách chính thức hạn chế tranh chấp ở thi tương lại thì cần tác giả, chủ sở hữu phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, cụ thể cơ quan chuyên trách nhận đăng ký QTG là Cục bản quyền tác giả thuộc Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch sẽ thực hiện việc xác lập quyền tác giả. Thủ tục cần có sẽ tuân theo Điều 39 NĐ 17/2023:

  • Tờ khai đăng ký
  • Hai bản sao tác phẩm gồm cả bản điện tử
  • Văn bản ủy quyền nếu người nộp được tác giả, chủ sở hữu ủy quyền

Tài liệu chứng mình là chủ sở hữu (cá nhân thì phải có căn cước công dân hoặc hộ chiếu; tư cách pháp nhân thì phải giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, quyết định thành lập; chủ sở hữu giao nhiệm vụ sáng tạo cho đơn vị hoặc cá nhân cụ thể nào đó thì phải có quyết định nhiệm vụ và quyết định này phải là bản gốc hoặc bản sao có công chứng, chứng thực; chủ sở hữu có quyền thông qua giao kết hợp đồng sáng tạo là hợp đồng, thể lệ, các cuộc thi; chủ sở hữu quyền do được chuyển giao quyền thông qua hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, mua bán, góp vốn bằng văn bản có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật; tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả phải có văn bản cam đoan về việc tự sáng tạo và sáng tạo theo quyết định hoặc xác nhận giao việc, hợp đồng; tham gia cuộc thi và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam đoan.

2.2 Chủ thể của quyền tác giả Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

2.2.1 Tác giả của chương trình máy tính

Đối với hệ thống pháp luật Anh – Hoa Kỳ thì thường áp dụng khái niệm copyright (bản quyền) để ám chỉ cho quyền tác giả, trong khi đó hệ thống dân luật thì sẽ dùng khái niệm droit d’auteur (authors’ rights) nghĩa là quyền tác giả như Việt Nam vẫn sử dụng. Hai thuật ngữ này nhìn tưởng như là một nhưng vẫn có một chút khác biệt tùy vào quan niệm của từng hệ thống luật. Khi nói từ bản quyền sẽ thường coi trong việc khả năng sinh lời hay giá trị thương mại do tác phẩm của nhà sáng tạo, những nhà sản xuất, chủ sở hữu thông qua các hoạt động sao chép, phân phối,…Ngược lại, quyền tác giả thì tập trung coi trọng quyền nhân thân của tác giả đề cao sự sáng tạo của tác giả và từ đó mà tác giả sẽ có được sự danh tiếng.

Tại Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bởi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 quy định tác giả, đồng tác giả như sau ”tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm” điều này đã có sự thay đổi so với quy định trước đây thì tác giả sẽ là người trực tiếp sáng tạo một phần hay toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Theo đó ta cũng sẽ chia tác giả theo từng tiêu chí khác nhau:

Một là, tác giả trực tiếp tạo ra CTMT. Cũng giống như các tác phẩm văn học nghệ thuật như thơ văn của Xuân Diệu như Vội vàng, Dại Khờ,… do chính tác giả viết nên nên sẽ được nêu tên vì là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, còn CTMT thì cũng tương tự như vậy nhưng thường sẽ được biết một cách rộng rãi là tác giả phần mềm vi du nhưng bỗ gõ unikey mà ta vẫn thường dùng gõ tiếng Việt cho bộ ứng dụng office do Phạm Kim Long lập trình nên hay game Flappy bird do nhà lập trình viên Nguyễn Hà Đông đã tạo nên một làn trào lưu nổi tiếng một thời.

Hai là, CTMT được nhiều tác giả hay đồng tác giả viết. Một CTMT được sáng tạo từ một nhóm những người có cùng kỹ năng, kiến thức kiến tạo nên một CTMT để tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh thì sẽ được xác định là đồng tác giả, còn những ai chỉ thuần túy góp ý kiến hoặc cung cấp tài liệu nhưng lại thực hiện cùng với người lập trình thì sẽ không thể gọi là đồng tác giả.

Ba là, CTMT được bảo hộ thông hợp đồng. Trường hợp một là hợp đồng lao động, tức do người sử dụng lao động yêu cầu người lao động thực hiện viết một phần mềm hay bất kỳ chương trình máy tính nào thì người viết nên chương trình máy tính này sẽ được xem như tác giả, còn người sử dụng lao động đã đầu tư cơ sở vật chất và tài chính để hỗ trợ cho người lập trình viên này thực hiện thì sẽ là chủ sở hữu nếu trong hợp đồng lao động có nêu rõ ràng.Trường hợp hai là hợp đồng thuê ngoài, một công ty A (bên thuê) thuê một công ty B (bên được thuê) viết cho mình một CTMT ứng dụng vào việc kiểm kho và chương trình này sẽ được cài đặt trên một máy đọc mã vạch lúc này QTG sẽ vẫn do bên công ty B viết nên nhưng chủ sở hữu lại thuộc về công ty A. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Có thể hiểu quyền tác giả là một loại quyền sở hữu đối với các tác phẩm văn hóa và nghệ thuật và cũng giống bao quyền SHTT khác như quyền đối với sáng chế, quyền đối với giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa…Các tác phẩm văn học chính là bài báo, sách báo, truyện,…tác phẩm nghệ thuật là tranh, nhiếp ảnh, phim ảnh, nhạc,.. còn đối với CTMT thì là các chương trình đã được lập trình cụ thể giúp thiết bị phần cứng hoạt động tức sẽ liên quan đến phần mềm và những quyền này sẽ được pháp luật bảo hộ cho chủ thể của quyền tác giả chính là những nhà sáng tạo, người sở hữu.

Gần đây là sự nổi lên của trí tuệ nhân tạo một thực thể được mô phỏng theo cấu trúc não bộ của con người để có thể sáng tạo hoặc là trợ thủ cho người dùng.

Alan Turing được xem là cha đẻ cho trí tuệ nhân tạo khi lần đầu tiên sản xuất ra được máy giải mã các mật thư của Đức Quốc Xã. Vào năm 1948, ông đã tạo ra một báo cáo mà chưa bao giờ được công bố với nhan đề “Cỗ máy thông minh” với nội dung chính là tạo ra một mạng lưới thần kinh nhân tạo để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Vào năm 1950, Turing test ra đời để kiểm tra mức độ thông minh cũng như giúp phân biệt xem liệu đây có phải làm người thực hiện hay là máy thực hiện. Tuy nhiên thiết kế ban đầu của bài kiểm tra khá đơn giản vì chủ yếu đánh giá kết quả đầu là kiểu text. Trong khi một AI mạnh thì có thể xử lý một dữ liệu khổng lồ đa dạng từ text, video, hình ảnh,…vào năm 1980, một thí nghiệm được gọi là “Căn Phòng Trung Hoa” do John Searle tạo ra nhằm chỉ ra những thiếu sót của bài kiểm tra Turing điều này giúp tái định nghĩa về trí tuệ nhân tạo theo một cấp độ cao hơn.

  • Có thể tạm chia AI làm hai loại phổ biến:

AI hẹp là một dạng trí tuệ nhân tạo chỉ thực hiện những tác vụ đơn giản mang tính lập lại không cần sáng tạo ví như một chiếc tủ lạnh hay máy giặt có tích hợp AI dùng để đo xem nhiệt độ lạnh của tủ đã chuẩn để điều chỉnh cường độ tiêu thụ điện, cảm biến trong máy giặt để xác định thói quen giặt nhằm tối ưu quy trình giặt…trợ lý ảo Siri, Alexa, Cortana,… tức sẽ được lập trình sẵn những nhiệm vụ trong khuôn khổ.

AI mạnh được hình thành từ Trí Tuệ Nhân Tạo Phổ Quát (Artificial General Intelligence-AGI) và Siêu Trí Tuệ Nhân Tạo (Artificial Super Intelligence-ASI). AGI sẽ có độ thông minh tương đương con người có khả năng tự giải quyết vấn đề, tự học hỏi. Còn ASI sẽ cao hơn một bậc so với AGI khi sự thông minh có khi vượt cả con người. Để đạt được điều đó thì AI mạnh cần trang bị cho mình hai công cụ là máy học và học sâu. Với máy học thì AI cần có sự can thiệp của con người tức cần được cung cấp dữ liệu, hình mẫu, các nhãn dán cho từng đối tượng, các nhiệm vụ cụ thể như khi nào thức ăn nhanh thì sẽ tạo một liên kết tới bánh mì, hamburger,..với công cụ học sâu AI có thể tự mình tìm kiếm dữ liệu khi được kết nối mạng tự dán nhãn, tự so sánh các mẫu hình, học từ các phản hồi. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Dựa vào thuyết tân vỏ não do Ray Kurzweil là một nhà phát minh, tương lai học và hiện là Giám đốc dự án trí tuệ nhân tạo tại Google đã chỉ ra tân vỏ não của con người là nơi tư duy xử lý các hình ảnh mà được gọi là các hình mẫu được ghi nhận phản ánh bằng giác quan giúp định hình các sự vật hiện tượng xung quanh từ đó giúp con người nhận thức được thế giới quan, quá trình này được gọi là suy nghĩ. Vậy có thể biến máy tính có “tính người” điều này được Ray khẳng định là có thể được theo như lập luận là máy tính chạy các thuật toán mang tính phổ quát dự vào dung lượng lưu trữ hiện hữu mà máy tính thu thập được vi dụ chè đậu xanh không phải là đậu xanh điều này là đúng nhưng chè đậu xanh không thể thành chè đậu xanh nếu không có đậu xanh. Khi não người tiếp nhận thông tin chè đậu xanh thì sẽ có tư duy hai chiều là chè đậu xanh này được làm từ đậu xanh mới thành chè đây là cách mà não người thể hiện sự thông minh linh hoạt và cho phép khái quát hóa vấn đề lên dựa trên những trải nghiệm của bản thân. Ray có thể làm điều này nếu giả lập các chức năng cho AI bằng phần mềm.

Hiện tại khi có sự ra đời của trí thông minh nhân tạo kết hợp với thuật toán học sâu đã giúp cho việc lập trình trở nên tốt hơn. Tuy nhiên khi các cỗ máy nhân tạo này có đầy đủ cơ sơ dữ liệu về tất cả ngôn ngữ lập trình, về nguồn dữ liệu phong phú thì bất kỳ ai cũng có thể ra lệnh cho ứng dụng đã được lập trình sẵn một CTMT để có thể xuất ra những những dòng lệnh để tạo ra một CTMT bất kỳ như tạo hiệu ứng tuyến rơi, mưa rơi ngay trên màn hình máy tính,… có thể đây chỉ là một bước khởi đầu ở dạng sơ khai nhưng cũng để ta thấy là AI đang trở thành một chủ thể phi nhân mới nổi. Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng chưa có quy định rõ ràng là có bảo hộ hay không nhưng tại Điều 2 VBHN về Luật SHTT năm 2022 thì quy định định đối tượng điều chỉnh sẽ là tổ chức, cá nhân Việt Nam tức có thể hiểu tính tới thời điểm hiện tại vì con người vẫn sẽ tiếp tục nắm giữ tác quyền và AI sẽ chỉ là một loại công cụ trợ giúp.

2.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền được xác định là chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của VBHN về Luật SHTT năm 2022 như sau:

Chủ sở hữu QTG và tác giả là một thì sẽ hưởng mọi quyền nhân thân và tài sản đối với CTMT.

Đồng tác giả: cùng nhau giành thời gian, tài lực, trang thiết bị kỹ thuật của chính mình để tạo ra CTMT mà không phải do bổn phận phải thực hiện thậm chí cũng không chuyển giao quyền tài sản của mình cho bất kỳ người nào thì được xem như là chủ sở hữu QTG để cùng thụ hưởng các quyền theo quy định. Đồng tác giả có thể là hai cá nhân cùng nhau thực hiện, hoặc hai tổ chức cùng hợp tác để tạo ra “ một đứa con chung”. Khi các đồng tác giả sáng tạo ra CTMT nếu có phần riêng biệt sử dụng hoàn toàn độc lập nhau nhưng không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đó.

Chủ sở hữu QTG là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả: Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo CTMT cho tác giả là nhân viên trong tổ chức chính là chủ sở hữu các quyền tài sản và quyền công bố CTMT, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Tác giả viết CTMT trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động nhưng không theo nhiệm vụ được giao thì tác giả đó vẫn là chủ sở hữu CTMT do mình tạo nên.

Chủ sở hữu QTG là người thừa kế: theo quy định thì bất kỳ tổ chức, cá nhân được thừa kế là từ chủ sở hữu trước về các quyền quyền tài sản và quyền công bố đối với CTMT theo pháp luật về thừa kế.

Chủ sở hữu QTG là người được chuyển giao quyền: theo thỏa thuận trong hợp đồng được giao kết thì các quyền tài sản và quyền công bố CTMT sẽ được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ cho tổ chức, cá nhân được nhận chuyển giao và được xem như là chủ sở hữu.

Chủ sở hữu QTG là Nhà nước: vì CTMT được bảo hộ theo tác phẩm văn học nên việc chủ sở hữu QTG là nước sẽ được áp dụng cho những đối tượng sau : chương trình khuyết danh, thường ta sẽ thấy phổ biến nhất là sở hữu về tác phẩm văn học nghệ thuật, tác phẩm dân gian hơn là CTMT ; chủ sở hữu QTG chết không có người thừa kế dù thời gian bảo hộ vẫn còn hiệu lực, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản; chủ sở hữu QTG đối với CTMT tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

Quyền của hai đối tượng là tác giả CTMT và chủ sở hữu QTG đối với CTMT cần xác định cụ thể vì sẽ hạn chế tranh chấp giữa đôi bên.

2.3 Nội dung về quyền tác giả đối với chương trình máy tính Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

2.3.1 Quyền nhân thân

Theo khoản 3 Điều 19 VBHN về Luật SHTT năm 2022: “Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm” có thể hiểu là quyền này sẽ bị giới hạn nhất định về mặt thời gian tức tác giả có thể chuyển giao một người nào đó dưới dạng hợp đồng tác quyền có thời hạn sử dụng nhất định và trả phí tác quyền. Việc công bố tác phẩm sẽ tuân theo :

Phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng phải do chính tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện. Với sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thì những cá nhân tổ chức được ủy thác mới có thể thay mặt thực hiện.

Công bố tác phẩm chưa được đủ điều kiện để xác nhận nếu chỉ là đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; hay phát sóng về tác phẩm văn học, nghệ thuật.

  • Một là, đặt tên cho chính tác phm mình sáng tạo ra

Bất kỳ tác phẩm nào được tạo ra thì tác giả chính là nhà sáng tạo và họ luôn có quyền là muốn đặt tên cho tác phẩm của mình một cái danh để cái danh đó sẽ khi được nhắc tới thì sẽ liên hệ ngay tác giả là ai vi dụ Chiều một mình qua phố là sẽ giúp ta liên tưởng tới cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, …. Quyền đặt tên cũng không thể chuyển giao cho người khác được. Thêm vào đó, sự toàn vẹn của tác phẩm gốc cũng được đề cao và được pháp luật bảo vệ. Khi một người được cấp tác quyền cho dịch hay chuyển thể thì vẫn đảm bảo tính nguyên gốc như một cách tôn trọng tác giả, không xâm quyền để không làm ảnh hưởng đến uy tín của tác giả. Và đối với một CTMT thì việc đạt tên cho chương trình cũng mang ý nghĩa quan trọng nó giúp định danh được tác giả tác phẩm vi dụ như Ada Lovelace được xem như nữ lập trình CTMT đầu tiên trên thế giới vào những năm 1800 khi bà đã giúp ông Charles Babbage lập trình cho cỗ máy The Analytical Engine.

  • Hai là, tác giả cần được nêu bút danh và tên thật của chính tác phẩm của mình

Các tác phẩm không tự sinh ra mà luôn có một người tạo ra chúng điều này sẽ kích thích sự tò mò của độc giả ai đã làm nên tác phẩm văn học, hội họa,… mà lại lôi cuốn đến thế đây là lúc tên thật hay bút danh của tác giả được gắn liền với tác phẩm đó vì khi làm ra một tác phẩm tác giả luôn muốn nhận được sự công nhận từ công chúng thì tên tac giả chính là cách để sự công nhận đó được thăng hoa. Khi chỉ cần nói truyện ngắn Chí Phèo, truyện ngắn Lão Hạc là biết của tác giả Nam Cao, hay Vợ Chồng A Phủ là của tác giả Tồ Hoài, ở lĩnh vực máy tinh điển hình như hệ điều hành MacOS (Macintosh) của Apple được kỹ sư máy tính Andy Hertzfield. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

  • Ba là, sự toàn vẹn của tác phẩm điều quan trọng

Cắt xén, chỉnh sửa làm sai lệch tác phẩm gốc là điều không được chấp nhận vì thể hiện sự thiếu tôn trọng làm mất dấu ấn cá nhân của chính tác giả. Vì thế việc chuyển tải đầy đủ nội hàm của tác phẩm là điều bắt buộc. Quy định về quyền nhân thân của tác giả tại khoản 4 Điều 19 VBHN về Luật SHTT năm 2022“Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” đây là hành vi gây tác hại tới danh dự của tác giả, vậy nếu việc cắt xén sao chép lại làm cho tác phẩm đó trở nên thú vị hơn thì có sẽ miễn nhiên là không vi phạm vì như ta biết là việc cắt xén, chỉnh sửa này theo dẫn dã hay gọi là “ chế” vì cùng một sự vật hiện tượng mỗi người sẽ có những góc nhìn khác nhau nên sẽ có thể phát triển cái tác phẩm gốc thành một phiên bản “lột xác”. Sự “lột xác” này có khi lại làm danh tiếng của tác giả nổi tiếng hơn nhưng sẽ có hai hướng một là tác giả sẽ chấp nhận, hai là sẽ kiện. Tuy nhiên ở khía cạnh CTMT thuộc về khoa học đòi hỏi sự sáng tạo nâng cấp không ngừng để có thể vận hành những chương trình phức tạp tương ứng với phần cứng cao cấp hơn thì việc chỉnh sửa, tùy biến từ mã nguồn là rất phổ biến để phù hợp với từng loại thiết bị ví dụ máy tính bảng sẽ có hệ điều hành là android nhưng giao diện sẽ khác với android được cài trên tivi. Hay như hệ điều hành OS của Apple khi chạy trên điện thoại iphone sẽ khác khi chạy trên máy Mac, Apple Watch. Sự khác biệt này sẽ đến từ giao diện và kích cỡ màn hình và phần cứng của từng thiết bị. Cuối cùng, nếu có sự thỏa thuận từ trước với tác giả thì việc chỉnh sửa, cắt xén sẽ được xem như chấp nhận được, còn việc tự ý làm thì sẽ bị xem như vi phạm tác quyền.

2.3.2 Quyền tài sản

Đối với tác giả thì quyền tài sản được pháp luật bảo vệ căn cứ theo Điều 115 BLDS năm 2015 “quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” và Điều VBHN về Luật SHTT năm 2022 khi trao cho tác giả có quyền khai thác tác phẩm, chuyển nhượng, biểu diễn…: đây là một loại quyền giúp cho tác giả, chủ sở hữu một cái lợi đó chính là được hưởng các khoản vật chất, tài chính để bù đắp cho những khoảng thời gian mà họ đã dành tâm sức. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Hành vi sao chép : khoản 10 Điều 4 VBHN về Luật SHTT năm 2022 quy định: “Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử”

Tác giả muốn phổ cập tác phẩm của mình thì hành động sao chép là một cách truyền bá hữu hiệu nhất có thể truyền thông qua các thiết bị phần cứng như ổ cứng di động, đĩa CD, hay bất kỳ dạng vất chất nào có thể chưa được dữ liệu điện tử dạng file … hay thậm chí là tải trực tuyến. Đây là một dạng sao lưu mang tính định hình lâu dài tức lưu trữ kéo dài nhiều năm trừ phi thiết bị phần cứng bị phá bỏ hoặc dữ liệu bị con người chủ động xóa bỏ khỏi thiết bị vật lý hoặc trên đám mây. Tức hành vi này sẽ bị liệt vào dạng vi phạm quyền tác giả. Tuy nhiên có một dạng sao lưu mang tính tạm thời và không bị xem là vi phạm quyền tác giả theo điểm a khoản điều 20 VBHN luật SHTT năm 2022:“Sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại”

Sao lưu tạm thời này chính là RAM (Random Access Memory) thường gọi là bộ nhớ tạm thời có chức năng lưu trữ thông tin trong giúp tải các ứng dụng nhanh hơn và những gì lưu trên RAM sẽ mất đi khi không còn nguồn điện. Không gian lưu trữ bộ nhớ đệm là có giới hạn nên những dữ liệu đã lưu trữ sẽ được thay thế bởi những dữ liệu sau này. Có thể hiểu là RAM như một trạm trung chuyển tạm thời không lưu lại quá lâu khi truyền dữ liệu tới CPU, thường RAM sẽ có thêm tính năng là độ trễ (latency) được tính bằng đơn vị nanosecond (ns)hay picosecond(ps) tức đơn vị tính này nhỏ hơn cả second (giây). Với đặc tính kỹ thuật như vậy, bất cứ khi nào một người dùng mở một tập tin hay ứng dụng trên máy tính thì một bản sao của tập tin sẽ được đặt trong bộ nhớ tạm thời RAM. Như vậy, có thể xem bản sao lưu trữ tạm thời trong RAM như một bản sao trong môi trường vật chất hữu hình nhưng thiếu tính lâu dài khác với. Tuy nhiên khi xét về tại khoản 5 điều 3 của NĐ 17/2023 thì lại không thấy đề cập tới bản sao tạm thời mà chỉ có định nghĩa chung chung là “Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” Đây là một sự thiếu nhất quán.

Làm phái sinh cho CTMT: theo khoản 8 điều 4 Luật SHTT “tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn” theo định nghĩa này thì được xây dựng dựa trên tác phẩm văn học nghệ thuật thật sự không phù hợp với CTMT vì đặc điểm của CTMT là sẽ được nâng cấp thường xuyên để đáp ứng phần cứng của thiết bị mới hay mỗi một thiết bị khác nhau thì giao diện và độ tương thích cũng sẽ được lập trình lại hay tinh chỉnh lại cho phù hợp. Ví dụ hệ điều hành Android trên tivi, trên điện thoại hay trên xe hơi đã có sự khác biệt nhất định do mỗi thiết bị phục vụ cho những nhu cầu khác nhau. Theo luật thì chỉ bảo vệ CTMT dựa trên mã máy và mã nguồn đây là những yếu tố mang tính bất biến, nhưng có một yếu tố gọi là tùy biến: cấu trúc hệ thống, giao diện,.. là những cái trong luật không đề cập đến vậy nếu một người dựa trên giao diện của chương trình gốc sẽ bắt chước tinh chỉnh lại phần danh mục, thành phần cho một CTMT khác thì liệu có gọi là xâm phạm quyền? thực tế là không. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Tạo ra bản sao, phân phối và nhập khẩu bản gốc CTMT: bất kỳ một tổ chức ,doanh nghiệp, cá nhân nào muốn được phân phối hay nhập khẩu bản sao, bản gốc của CTMT nhằm mục đích thương mại thì cần được sự cấp phép từ chủ sở hữu hay tác giả có thể thông qua bằng hợp đồng phân phối lúc này thì việc phân phối ở lần kế tiếp do chính tổ chức, cá nhân được cấp phép trước đó sẽ nghiễm nhiên không bị cho là vi phạm QTG. Theo quy định mới VBHN về Luật SHTT năm 2022 thì như một cách thừa nhận về cạn quyền hay học thuyết bán hàng lần đầu. Đây chính là một điểm mới thể hiện sự cấp tiến trong quy định của luật.

Quyền được thụ hưởng các quyền lợi vật chất hay tiền bản quyền từ việc cho người khác sử dụng CTMT: dù dưới bất kỳ hình thức nào như phát hành trên nền tảng trực tuyến, hay thông qua các thiết bị lưu trữ để truyền bá về CTMT, trình diễn trước công chúng thì bên sử dụng CTMT có nghĩa vụ trả một khoản lợi ích vật chất, hay tiền bản quyền theo thỏa thuận trong hợp đồng cho chủ sở hữu, tác giả. Đây được xem như sự bù đáp cho những hao phí về thời gian, tâm trí, cũng như các trang thiết bi cần thiết nhằm phục vụ cho việc tạo ra CTMT. Một hình thức khác để tạo quyền lợi vậy chất chính là trao giải thưởng, việc này không chỉ là sự động viên khi trao bằng khen và công nhận một cách rộng rãi giúp tác giả sẽ nhận thưởng là các khoản tài trợ tài chính để khích lệ cho tác giả sẽ tạo ra nhiều sáng tạo mới sau này trong tương lai.

Quyền truyền đạt ra công chúng: chủ thể QTG có quyền truyền đạt tác phẩm một cách đại chúng bằng bất kỳ phương tiện và cách thức nào như trưng bày, giới thiệu tại hội thảo…về CTMT của mình. Để làm được điều này đòi hỏi phải được sự chấp thuận của chủ sở hữu QTG đối với CTMT nếu người truyền đạt không phải chủ sở hữu. Mục đích của hanh vi này là bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu QTG một cách chính đáng.

Quyền cho thuê: đây cũng được xem như một biện pháp mà chủ sở hửu bảo vệ chính quyền tác giả của minh khi mà sự phát triển công nghệ giúp cho một người khác có thể sao chép hay tạo ra các bản bẻ khóa để bán những người khác nhằm trục lợi. Ta có thể thấy rõ nhất là bộ ứng dụng văn phòng word, excel… của Microsoft phát triển các bản phiên bản trước khi có sự ra đời của office 365 thì đa phần khi mua máy tính khi có yêu cầu sẽ được cài bản bẻ khóa thay vì mua bản quyền. Sự ra đồi của office 365 áp dụng chính sách thuê bao hàng năm cho người dùng cuối. Giúp hạn chế việc sao chép bẻ khóa các phần mềm.

Như đã phân tích ở trên về nội dung quyền của chủ thể QTG đối với CTMT, ta nhận thấy rằng quyền nhân thân hỗ trợ công nhận về mặt tinh thần, danh dự và quyền tài sản mang lại những lợi ích về vật chất. Mặc khác, chủ thể của QTG gồm hai đối tượng là tác giả và chủ sở hữu QTG vì thế không phải tất cả trường hợp thì chủ thể đều thừa hưởng cùng lúc các quyền trên. Tà sẽ diễn giải như sau:

Các quyền của chủ thể QTG đối với CTMT khi tác giả đồng thời là chủ sở hữu thì sẽ thụ hưởng đầy đủ cả quyền về nhân thân và quyền tài sản đối.

Các quyền của chủ thể QTG đối với CTMT khi tác giả không đồng thời là chủ sở hữu thì tác giả sẽ thụ hưởng các quyền nhân thân như quyền đặt tên; quyền đứng tên bút danh, tên thật cho chính tác phẩm của mình khi được công bố đại chúng và được ghi rõ trên tác phẩm để người sử dụng có thể biết; và được quyền bảo vệ sự toàn vẹn của chính tác phẩm của mình ngăn không cho xuyên tạc ảnh hưởng đến danh dự của tác giả. Chủ sở hữu sẽ chỉ được công bố tác phẩm ra công chúng và phải đảm bảo cho các cá nhân tổ chức khác được sao chép theo quy định của Luật SHTT, hay sao chép vào các quy trình công nghệ không nhằm mục đích thương mại và bản sao sẽ có cơ chế tự xóa bỏ mất tính năng tự khôi phục lại nguyên trạng; đồng thời chủ sở hữu phải cho phép cá nhân tổ chức được tiếp tục phân phối cho những lần kế tiếp cũng như nhập khẩu bản gốc để thực hiện quyền phân phối với sự cấp phép của chủ sở hữu.

2.3.3 Thời hạn bảo hộ đối với chương trình máy tính Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Bất kỳ tác giả nào khi làm ra một ra một tác phẩm nào từ văn học, tiểu thuyết,thơ ca,… CTMT đề mong được lưu danh vì họ đã dành trọn thời gian, ,trí lực, tài lực của mình để kiến tạo nên tác phẩm do đó họ cần được bù đắp vừa mặt tinh thần tức công nhận về quyền nhân thân về mặt vật chất tức là quyền tài sản để bù đắp cho họ cũng như khuyến khích thêm những sáng tạo sau này của tác giả. Vậy thì tác giả có thể khai thác bản quyền mãi mãi? Chắc chắn là không vì sản phẩm trí tuệ được tạo ra mục đích vẫn là cải thiện cuộc sống của con người, đóng góp vào sự phát triển của xã hội loài người nhưng nếu phí bản quyền cứ bị làm giá khiến cho việc tiếp cận trở nên khó khăn hơn thì lúc này vai trò của Nhà nước sẽ xuất hiện để điều tiết nhằm trung hòa lợi ích cá nhân và tập thể. Vì CTMT được bảo hộ dưới dạng tác phẩm văn học do đó sẽ có một vài ràng buộc nhất định theo loại hình này.

Quyền nhân thân của tác giả đối với CTMT được bảo hộ vô thời hạn đối với khoản 1, 2, 4 của điều 19 Luật SHTT vì một lẽ đây là quyền đặc biệt giúp ghi danh cho chính tác giả duy chỉ có quyền công bố là không được áp dụng điều kiện bảo hộ này. Điều này đã được quy định tại khoản 1 điều 27 Luật SHTT.

Thời hạn bảo hộ : vì CTMT là được bảo hộ dưới dạng tác phẩm văn học nghệ thuật nên thời hạn bản hộ sẽ là suốt cuộc đời tác giả, tác giả kể từ khi tác giả qua đời thì sẽ được bảo hộ thêm năm mươi năm tiếp theo nữa ; tại Điều 27 VBHN về Luật SHTT năm 2022 đã có chỉ ra rằng nếu có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt sẽ rơi vào năm thứ năm mươi sau năm mà đồng tác giả cuối cùng mất, và thời điểm đúng 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ QTG.

Sau thời hạn này thì CTMT sẽ được sử dụng rộng rãi một cách đại chúng mà không cần trả bất kỳ phí bản quyền nào cho chủ sở hữu QTG hay tác giả nhưng vẫn phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả. Thực tế chúng ta thấy rằng, trong thời đại công nghệ kỹ thuật phát triển không ngơi nghỉ như hiện nay đòi hỏi phải thường xuyên nâng cấp CTMT cho phù hợp với nhu cầu của người sử dụng và phù hợp với phần cứng của các thiết bị điện tử, bảo mật thiết bị thì việc quy định thời hạn bảo hộ QTG đối với các CTMT là suốt đời và 50 năm sau khi tác giả mất dường như là một khoản thời gian quá dài.Tuy nhiên, tại khoán 1 Điều 22 VBHN về Luật SHTT năm 2022 dã có một quy định cấp tiến khi cho phép chủ sở hữu QTG, tác giả có thể thỏa thuận bằng văn bản cho phép nâng cấp phần mềm. Với quy định này thì việc thời hạn bảo hộ dài vẫn đảm bao theo quy định và nâng cấp CTMT vẫn sẽ được diễn ra mà không bị hạn chế. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

2.4 Hình thức bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Ta có thể thấy là cả Quyết định và Luật đều có sự mô tả tương đồng nhau nhưng Luật vẫn có giá trị pháp lý cao hơn nên sự diễn đạt sẽ được ưu tiên.

Tại điều 10 của Hiệp định TRIPS có nêu CTMT phải được bảo hộ theo tác phẩm văn học theo Công ước Berne áp dụng cho cả mã máy và mã nguồn. Tuy nhiên có điều khoản mở cho bảo hộ CTMT tại Hiệp định này:

Theo Điều 27 thì không có việc loại trừ bảo hộ CTMT theo sáng chế:

  • Các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật

Thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh, và các quy trình sản xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh. Tuy nhiên, các thành viên phải bảo hộ giống cây bằng sáng chế hoặc bằng một cơ chế riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai cách thức này dưới bất kỳ hình thức nào.

  • Điều 39 Bảo hộ bí mật kinh doanh:

Các thể nhân và pháp nhân phải có được khả năng ngăn chặn để thông tin mà mình kiểm soát một cách hợp pháp không bị tiết lộ cho những người không được mình đồng ý, không bị những người đó chiếm đoạt hoặc sử dụng theo cách thức trái với hoạt động thương mại trung thực, nếu thông tin đó:

Có tính chất bí mật khi những người thường xuyên xử lý loại thông tin đó nhìn chung sẽ không thể biết hoặc không thể tiếp cận một cách dễ dàng toàn bộ thông tin, hoặc có thể ghép mọi chi tiết của thông tin đó theo trật tự.

  • Có giá trị thương mại
  • Được giữ bí mật bằng những biện pháp phù hợp thực tế.

Rõ ràng là tuy không có những loại trừ bảo hộ CTMT theo sáng chế hay bí mật kinh doanh theo Hiệp định này và các nước thành việc sẽ có quyền tự định quyết nhưng vẫn đảm bảo sự hài hòa giữa quy định quốc tế và luật quốc nội.

  • Bảo hộ theo quyền tác giả Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Hình thức bảo hộ theo quyền tác giả này rất phổ biến, vì thế mà hiện nay Luật SHTT của Việt Nam đang theo hướng bảo hộ cho CTMT bằng quyền tác giả theo Công ước Berne đây cũng là cách thể hiện sự hội nhập của Việt Nam trên trường quốc tế. Cái hay của bảo hộ theo QTG là dù chỉ được bảo hộ cho hình thức thức thể hiện chứ không bảo hộ các ý tưởng nếu tác giả đã lưu CTMT của mình vào phần cứng máy tính hay đĩa CD, USB thì hiển nhiên đã được bảo hộ mà không cần phải làm các bước làm đơn đăng ký bảo hộ. Nhưng nhìn về tương lai xa hơn thì việc đăng ký để hạn chế những tranh chấp và cần phải chứng mình rằng CTMT của mình đã được làm ra trước đối thủ. Bên cạnh đó, chi phí để đăng ký quyền tác giả thì lại rất thấp chỉ 600,000 đồng theo thông tư 211/2016/TT-BTC và thời hạn được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả chỉ mười lăm ngày làm việc khi hồ sơ hợp lệ nhưng thời hạn bảo hộ suốt cuộc đời của tác giả.

  • Bảo hộ theo danh nghĩa sáng chế

Theo điều 58 của VBHN về Luật SHTT năm 2022 thì sáng chế sẽ được bảo hộ và cấp hai loại văn bằng khác nhau : một là Bằng độc quyền sáng chế khi đáp ứng đủ ba điều kiện là có tính mới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng công nghiệp; hai là Bằng độc quyền giải pháp hữu ích khi đáp ứng đủ hai điều kiện là có tính mới, có khả năng áp dụng công nghiệp.

Để một CTMT được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế thì cần giải quyết được các vấn đề sau. Một là thời hạn bảo hộ cho sáng chế theo quy định chỉ có 20 năm thì quá dài đối với CTMT vốn có đặc thù là thay đổi theo thời gian nếu cần chỉnh sửa hay năng cấp gì thì sẽ như sợi dây trói buộc lại tính sáng tạo và phát triển vi du như hệ điểu hành window của Microsoft khởi đầu là Win 95 trải qua hơn 20 năm với nhiều phiên bản khác nhau được cập nhật để bây giờ phát triển thành win 11. Hai là quy trình xử lý đơn sáng chế sẽ kéo dài, đầu tiên là người nộp đơn sẽ phải trải qua: thẩm định hình thức đơn một tháng,(2) công bố đơn trong vòng hai tháng khi có yêu cầu công bố sớm , ngược lại thì sẽ là trong vòng mười chín tháng để đơn của mình được công bố nếu không có quyền ưu tiên, (3) thẩm định nội dung đơn tính từ ngày công bố sẽ là 18 tháng trước khi được cấp văn bằng bảo hộ, điều này dẫn tới hơn 30 tháng mới giải quyết xong đơn cấp bằng sáng chế. Bên cạnh đó, hiện nay theo VBHN về Luật SHTT năm 2022 thì CTMT đã không được bảo hộ theo hình thức sáng chế. Nói thế không có nghĩa là CTMT không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế chỉ khi đáp ứng được yêu cầu là tạo ra hiệu quả kỹ thuật khác ngoài các tương tác thông thường giữa chương trình và máy tính thuần túy. Quy trình để đáp ứng giải pháp kỹ thuật là sẽ căn cứ vào Quyết định 6193/QĐ-SHTT ban hành ngày 31/12/2021 của Cục SHTT. Nhưng có thể gói gọn như sau : nếu một CTMT vận hành theo một cách thông thường là truyền dữ liệu, tín hiệu từ CTMT đến phần cứng của thiết bị tương ứng giúp thiết bị vận hành ví dụ một bo mạch được cài chương trình máy tính để giúp tạo hiệu ứng đèn nhấp nháy như trên các mẫu dây đèn treo trên cây thông thi cái đó sẽ không được gọi là sáng chế. Ngược lại, hệ thống ABS ( chống bó cứng phanh) được lắp trên xe để đảm bảo an toàn vận hành cho xe thì có thể được xem như giải pháp kỹ thuật vì sẽ được tích hợp một ECU (electronic Control Unit) là mạch tổ hợp vi mạch gắn trên xe và đã được cài sẵn một CTMT có nhiệm vụ phân tích tốc độ quay của bánh xe, lực bóp phanh, cảm biến gia tốc khi những tín hiệu từ các thông số này được truyền lại ECU mà có sự sai khác tức chạm ngưỡng nguy hiểm như đã lập trình thì ECU sẽ phát tín hiệu nhấp nhả phanh để phanh không kẹp cứng dĩa thắng mà sẽ tạo quán tính giảm tốc từ từ đảm bảo an toàn cho người điều khiển nếu không có ABS thì khi bóp phanh gấp sẽ bị đứng bánh khiếp người điều khiển bị té ngã khi xe bị ngã. Cần lưu ý tuy CTMT được bảo hộ theo sáng chế nhưng trong đơn sáng chế không được có các cụm từ chương trình máy tính”, “phần mềm máy tính”, “sản phẩm chương trình/phần mềm máy tính”, hoặc “tín hiệu mang chương trình”…thì đơn sẽ bị bác. Mà phải là một các tên hoàn toàn khác, như đã ví dụ ở trên là hệ thống chống bó cứng phanh. Tuy nhiên, bảo vệ bằng sáng chế sẽ có rủi ro là việc công bố đơn sáng chế dễ bị bên thứ ba phát hiện mã nguồn trong khi chưa được văn bằng bảo hộ.

Hiện tại ở Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã cấp văn bằng cho chương trình máy tính với danh nghĩa sáng chế:

Số bằng 3609 (số đơn 2-2023-00197) về Phương pháp tạo ra bản tóm tắt video sử dụng thiết bị tính toán thuộc về chủ đơn Công ty cổ phần giải pháp công nghệ thông tin và truyền thông MQ, tác giả sáng chế Lương Hồng Quân. Tóm tắt về nội dung đơn như sau để tóm lược nội dung video thì áp dụng phương pháp xử lý tự nhiên, học máy (Decision Tree, Random Forest, Suport Vector Machine hay Neural Network), trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật tiền xử lý, kỹ thuật tối ưu hóa nhằm giúp nâng cao khả năng tinh chỉnh cải thiện hình ảnh giảm nhiễu cho hình ảnh và âm thanh.. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Số bằng 3613 (số đơn 2-2021-00385) Hệ thống trợ thở không xâm lấn thuộc chủ đơn Đại học Bách khoa Hà Nội, đồng tác giả sáng chế : Vũ Duy Hải (VN); Phan Anh Tuấn (VN); Đào Việt Hùng (VN); Lại Hữu Phương Trung (VN); Trần Khánh Dương (VN); Đỗ Thành Công (VN); Trương Đức Phức (VN); Phạm Mạnh Hùng (VN); Phan Trung Nghĩa (VN); Nguyễn Phan Kiên (VN). Tóm tắt đơn : sử dụng thiết bị cơ khí có bộ xử lí tín hiệu và điều khiển trung tâm được lập trình sẵn các bộ thông số kỹ thuật cho dòng dưỡng khí cung cấp tới mỗi loại bệnh nhân, màn hình cài đặt và hiển thị thông số kỹ thuật dòng dưỡng khí với công nghệ cảm ứng, giải pháp hữu ích này được ứng dụng trong lĩnh vực y tế phục vụ điều trị đường hô hấp

  • Bảo hộ theo bí mật kinh doanh

Khi nói tới bí mật kinh doanh thì nhiều người sẽ liên tưởng tới những công thức bí mật giống Coca Cola, Heineken…. hay giữ riêng công thức pha chế của mình để tạo nên hương vị sản phẩm độc đáo từ đó mà tạo ra lợi nhuận đây cũng được xem như một yếu tố tạo lợi thế kinh doanh. Tương tự với CTMT cũng vậy, nếu muốn được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh thì phải đáp ứng : Một là không phải là hiểu biết thông thường và khó đặt được, hai là tạo cho người nắm giữ lợi thế trong kinh doanh, ba là chủ sở hữu dùng các biện pháp hữu hiệp để giữ cho bí mật không bị tiết lộ ra bên ngoài. Điều này CTMT hoàn đáp ứng được vì chủ sở hữu hay lập trình viên cho chương trình đều muốn giữ kín trước khi có được bản hoàn chỉnh tức họ sẽ giữ cho mã nguồn, mã máy trong vòng bí mật trước khi công chúng được biết tới rộng rãi ,khi được công báo thì sẽ trao cho tác giả chủ sỡ hữu quyền tài sản để họ được hưởng những gì mà mình đã dày công tạo dựng. Bên cạnh đó, bảo hộ theo dạng này cũng hoàn toàn phù hợp với Điều 85 VBHN về Luật SHTT năm 2022 đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh thi cũng không có đề cập đến việc CTMT không được bảo hộ. Bên cạnh đó, tại khoản 23 Điều 4 VBHN về Luật SHTT năm 2022: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” ta có thể hiểu đây là một hướng mở cho việc bảo hộ CTMT theo dạng bí mật kinh doanh vì để viết nên CTMT thì đây là một hoạt động sáng tạo không đơn thuần cần có tư duy về toán, logic….kỹ năng hiểu biết rõ về các loại ngôn ngữ lập trình để có thể chọn ngôn ngữ phù hợp cho chương trình mình muốn viết nên có thể xem là đây là hoạt động về trí tuệ.

Như chúng ta biết, CTMT là một loại tác phẩm đặc thù mang tính công nghệ nên việc có quan điểm về bảo hộ riêng là điều hoàn toàn có thể xảy ra như Ts.Trần Văn Hải đã có ý kiến tách riêng CTMT thành một đối tượng bảo hộ độc lập như cách đã từng làm đối với thiết kế bo mạch tích hợp, giống cây mới,…vì những điều chưa hợp lý khi áp dụng bảo hộ CTMT bằng sáng chế. Bên cạnh đó, luận án của Ts.Trương Thị Tường Vi đã phản đối việc tạo ra một quy định riêng chỉ để khắc phục các nhược điểm về bảo hộ quyền tác giả theo hướng sáng chế hay bảo hộ theo dạng tác phẩm văn học nghệ thuật với lập luận là trước khi tạo ra một đạo luật điều chỉnh riêng cho CTMT thì cần phải trải có các vụ việc thực tiễn đang diễn ra tại Việt Nam thì sau đó mới có cơ sở để tạo ra luật riêng và vẫn bảo lưu quan điểm là để nguyên quy định bảo hộ QTG theo như quy định chung của Công ước Berne và theo quy định Luật SHTT từ trước tới nay và sẽ có sự tương hỗ bù đắp bằng bảo hộ QTG theo sáng chế và bí mật kinh doanh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Hiện tại để có sự thay đổi thì cần một lượng nhất định như lượng về thời gian, lượng về sự phát triển của công nghệ mà ở đây như học viên có trình bày ở trên là sự ra đời của AI với khả năng “tư duy” ngày một thông minh dựa trên các nguồn dữ liệu điện tử thu thập kết hợp các thuật toán càng chuyên biệt giúp AI tạo ra được cái mới. Điều này sẽ dẫn tới một cách nhìn khác hoàn toàn đối với những quy định về bảo hộ đối với sở hữu trí tuệ khi có sự xuất hiện của một chủ thể mới là AI. Chúng ta không cần phải tạo ra một luật riêng mà chỉ cần mở rộng quy định hiện có với một thông tư hay nghị định hướng dẫn. Mới đây Văn phòng Bản Quyền Hoa Kỳ đã đưa ra bản hướng dẫn đăng ký tác phẩm nếu có sự can thiệt từ AI, cụ thể như sau tác phẩm tạo ra có bất kỳ một phần nào là có sự hỗ trợ của AI để giúp hoàn thiện tác phẩm hay là tác phẩm được AI tạo ra hoàn toàn khi được con người nhập lệnh nếu do AI tạo ra 100% thì tác phẩm sẽ không được bảo hộ vì thiếu “tính người” . Vi dụ khi một người nhập vào yêu cầu là cần sáng tác một bài thơ với nội dung về luật sở hữu trí tuệ theo văn phong theo phong cách trào phúng thì lúc này AI sẽ tự chọn thể thơ là lục bát, song thất lúc bát, hay ngũ ngôn tứ tuyệt,.. sau đó sắp xếp câu chữ theo ý của chính AI tức tác phẩm này sẽ mang phong cách của AI. Thì tác phẩm này sẽ không được bảo hộ theo Luật Bản quyền Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nếu xét AI chỉ là một công cụ hỗ trợ để hoàn thiện tác phẩm thì điều đó vẫn được chấp nhận. Luật SHTT của Việt Nam có thể đi theo hướng này tức quy định cụ thể hơn.

2.5 Giới hạn việc bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Thuật ngữ pháp lý của hệ thống thông luật là quyền sử dụng hợp lý nhưng tại Việt Nam thì thường sẽ dùng một khác niệm khác là ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả (Điều 25) và giới hạn quyền tác giả (Điều 26)

Không xin phép không trả tiền bản quyền cho tác giả khi tác phẩm đã được công bố. Tại khoản 1 Điều 25 các hành vi trích dẫn sau đây sẽ được chấp nhận :

Tự sao chép phục vụ cho học tập nghiên cứu của cá nhân, hoặc sao chép một phần của chương trình bằng thiết bị công nghệ không có mục đích thương mại:

Kiến thức sẽ mang tính kế thừa giúp cho thế hệ sau có thể tiếp bước thể hệ trước để thực hiện các nghiên cứu còn dang dở và đây cũng là một điều đang khuyến khích tuy nhiên việc tiệp nhận cần trích nguồn chứ không phải che giấu để xem đó là công trình của mình thì điều này là vi phạm quyền tác giả. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

  • Sử dụng cho việc giảng dạy nhưng cần phải có biện pháp công nghệ can thiệp để đảm bảo chỉ ngưởi dạy và học có thể tiếp cận được các trích dẫn đoạn mã.
  • Vì lợi ích của Nhà nước tức mục đích công vụ,
  • Việc lưu giữ trong thư viện vẫn được xem là bản sao không vi phạm bản quyền vì là phục vụ cho người học,
  • Nhập khẩu bản sao không vì mục đích thương mại
  • Sao chép để đăng tải lên phương tiện truyền thông dưới dạng bài phát biểu, bài giảng,

Tuy thế, tại khoản 3 Điều 25 không áp dụng việc sao chép đối với CTMT dù đó là cho mục đích học tập nghiên cứu. Lý giải về vần đề này có thể hiểu là nếu như những tác phẩm văn học thơ ca, hay các loại hình sở hữu trí tuệ khác thì vẫn cho phép tạo bản sao theo luật định vì sẽ giúp truyển đạt tư tưởng của tác giả ra cho người đọc và vẫn đảm bảo quyền. Trong khi CTMT thì không được tạo bản sao để nghiên cứu học tập vì đấy vừa có thể được bảo vệ dưới dạng bí mật kinh doanh bên cạnh bảo vệ theo quyền tác giả, nếu bị bộc lộ một cách công khai thì dễ bị khai thác làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu hoặc tác giả khi đã đầu tư nhiều công sức kiến tạo nên.

Tuy nhiên ở tại Điều 22 VBHN về Luật SHTT năm 2022 thì vẫn cho tổ chức, cá nhân tạo bản sao nhằm mục đích phục hồi lại chương trình, hoặc chương trình không thể sử dụng được, đây có thể xem như một ngoại lệ vì như ta biết CTMT có thể được định hình dưới dạng vật chất nhất định. CTMT có thể được tải trực tiếp từ trang web của chính công ty tạo ra phần mềm này ví dụ phần mềm Winrar có thể tải bản dùng thử (trial) sau đó mua mã kích hoạt và chỉ việc nhập mã vào trong phần kích hoạt phần mềm là có ngay bản quyền phần mềm. Bên cạnh đó, phân phối CTMT ra thị trường dưới dạng dĩa CD vật lý cụ thể là hệ điều hành Window thì việc hư hỏng vật lý do tác nhân bên ngoài đối với thiết bị lưu trữ này là hoàn toàn có thể xảy ra.

Thêm vào đó, tại khoản 3 Điều 12 của NĐ 17/2023 thì cho phép sửa lỗi trên chính bản sao khi cần thiết trong quá trình sử dụng.

Như đã trình bày ở trên thì VBHN về Luật SHTT năm 2022 cho phép một khoản hợp lý nhất định, và phù hợp với tiêu chí của Điều 7 giới hạn quyền sở hữu trí tuệ là đảm bảo cho chủ sở hữu và tác giả những lợi ich vốn dĩ phải có. Tuy VBHN của Luật SHTT năm 2022 không dùng từ sử dụng hợp lý nhưng cách diễn đạt vẫn có nội hàm là sử dụng hợp lý.

Tuy nhiên, căn cứ theo khoản 3 Điều 25 VBHN về Luật SHTT năm 2022 không cho phép sao chép CTMT quy định này thì mâu thuẫn với tinh thần vì cộng đồng của mã nguồn mở. Ngược lại tại khoản 2 thuộc Thông tư 20/2014/TT-BTTTT quy định về các sản phẩm phần mềm nguồn mở được ưu tiên mua sắm, sử dụng trong cơ quan, tổ chức Nhà Nước tiêu chí về tính mở và tính bền vững của phần mềm mở: “(a) Phần mềm phải đảm bảo các quyền: Tự do sử dụng phần mềm không phải trả phí bản quyền, tự do phân phối lại phần mềm, tự do sửa đổi phần mềm theo nhu cầu sử dụng, tự do phân phối lại phần mềm đã chỉnh sửa (có thể thu phí hoặc miễn phí); (b) Phần mềm phải có bản mã nguồn, bản cài đặt được cung cấp miễn phí trên mạng (internet). Ưu tiên phần mềm có sẵn tài liệu hướng dẫn cài đặt, tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt”

Thông tư này áp dụng cho các cơ quan, tổ chức nhà nước sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư, mua sắm phục vụ cho mục đích hoạt động của cơ quan không vì mục đích thương mại; và các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp phần mềm cho cơ quan tổ chức nhà nước có thể hiểu là nếu các tổ chức, doanh nghiệp này sử dụng mã nguồn mở để phát triển thì phải ghi rõ nguồn trích dẫn. Đồng thời thông tư này cũng khuyến khích cá nhân tổ chức không thuộc những đối tượng trên áp dụng thông tư này. Thêm vào đó, căn cứ khoản 12 Điều 3 Nghị định 73/2019/NĐ-CP quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sừ dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước: “Phần mềm nguồn mở là phần mềm được cung cấp với mã nguồn kèm theo, người sử dụng không phải trả chi phí bản quyền mua mã nguồn nhưng phải tuân thủ các quy định quốc tế về sử dụng phần mềm nguồn mở” Có thể thấy thuật ngữ mã nguồn mở hiện nằm rải rác và liên quan đến sử dụng ngân sách nhà nước, đây như một sự thừa nhận về mã nguồn mở nhưng chưa thật sự được nêu trong Luật Sở hữu trí tuệ. Vì thế đề nâng cao tính pháp lý của thuật ngữ này thì cần phải liệt kê trong Luật Sở hữu trí tuệ.

2.6 Các biện pháp bảo vệ chống lại hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

2.6.1 Biện pháp tự bảo vệ

Trước bất kỳ sự xâm phạm quyền nào thì chủ thể quyền tác giả cần chủ động tự bảo vệ. Chỉ dẫn cho việc tự bảo vệ này đã được quy định cụ thể tại điểm a khoản 1 Điều 198 VBHN về Luật SHTT năm 2022, thực hiện theo quy định tại NĐ 17/2023 như sau:

Điều 60 NĐ 17/2023 :Thông tin quản lý quyền có thể hiểu là việc nêu tên tác giả, chủ sở hữu tác phẩm trong bản gốc, bản sao tác phẩm chứa các thông tin thể hiện các điều kiện khai thác, sử dụng, số hiệu, mã số

  • Hình 2.1 : Chứng nhận quyền tác giả phần mềm Unikey

Điều 61 NĐ 17/2023 :Biện pháp công nghệ bảo vệ quyền: khi tác giả có thể áp dụng, có thể hiểu là dùng các phương pháp kỹ thuật, công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào đó có chức năng bảo vệ khỏi việc xâm quyền có thể xem như một loại khóa số. Thường sẽ chia ra làm hai loại:

Chống truy cập, hoặc hạn chế truy cập trái phép vào một chương trình máy tính có nhiều cách để đăng nhập vào một CTMT như đánh cấp tài khoản với ID và mật khẩu của người dùng thông qua các cuộc tấn công mạng, các email giả mạo như chèn đường dẫn để khi người dùng bấm vào đường dẫn thì sẽ mất email, từ đó sẽ dùng email này để đăng nhập vào CTMT hay đơn thuần là truy cập vào trang web thiếu tính bảo mật về các file trên đó và máy bị nhiễm virus. Vì thế, hiện người dùng các office 365 của Microsoft sẽ được yêu cầu xác thực tài khoản thông tin bằng hai lớp thông qua một ứng dụng là Authenticator được cài trên điện thoại thay vì ngày xưa khi mất mật khẩu hay xác thực thi chỉ cần nhập email của người dùng nhưng hiện tại tính năng dễ rất khó để xác thực đúng là người thật sự hay là là email bị đánh cắp và kẻ gian lợi dụng để tìm cách đăng nhập vào tài khoản của chính chủ nên việc cài ứng dụng Authenticator từ thiết bị của chính chủ sau đó nhập mã vào sẽ giúp hạn chế việc này , hay như xác thực bằng số điện thoại qua mã OTP, cài chương trình diệt virus cũng là cách để tự bảo vệ dữ liệu của chính mình. Điều này cho ta thấy là công nghệ luôn có sự thay đổi nên biện pháp bảo vệ bằng công nghệ cũng phải “tiến hóa” tương ứng. Một cách hiện đang phổ biến là thu phí thuê bao tháng hoặc năm cũng là một biện pháp công nghệ khá hữu dụng vì vừa thu được tiền bản quyền, vừa hạn chế truy cập đại trà;Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

(b) Chống sao chép : đây là hành vi rất phổ biến khi biến cái của người khác thành của mình , sử dụng CTMT của người khác nhưng không có sự đồng ý phục vụ cho việc kiếm lợi nhuận cho riêng mình, phổ biến nhất là sử dụng phiên bản bẻ khóa chương trình window cài trên máy tính giúp máy vận hành, hay các bộ ứng dụng văn phòng vì thế tác giả chủ sở hữu nên thiết lập thuộc tính cho file là chỉ đọc, chặng tải xuống khi truy cập vào web để ngăn ngừa việc tạo bản sao trái phép, dán nhãn chìm vào tác phẩm của mình… Ngoài việc tự phòng vệ như đã nêu thì còn có các biện pháp bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền thực thi như biện pháp dân sự, biện pháp hình sự, biện pháp hành chính, biện pháp kiểm soat biên giới hoặc những biện pháp khác do nhà nước quy định.

Biện pháp ngăn xâm phạm quyền tác giả trên môi trường số thông qua doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Sự ra đời của Internet of Thing (Vạn vật kết nối) mở ra một cơ hội tiếp cận tri thức cho tất cả mọi người nhưng cũng là công cụ để giúp vi phạm quyền tác giả trên nền tảng số. Do đó, thực thi bảo hộ quyền tác giản trên nên tảng số là một biện pháp cần được triển khai. Cụ thể là thông qua chủ thể trung gian tức là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian. Đây là doanh nghiệp cung cấp dich vụ internet, dich vụ kết nối internet, dịch vụ cho thuê máy chủ, dịch vụ lưu trữ nội dung số, dịch vụ mạng xã hội, dịch vụ tìm kiếm nội dung số. Điều này đã được quy định cụ thể Điều 111 NĐ 17/2023 khi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm xây dựng các công cụ tiếp nhận gỡ bỏ hoặc ngăn chặn các nội dung mang tính chất xâm phạm quyền tác giả như sau:

  • CTMT có thể tiếp nhận thông tin
  • Trang thông tin
  • Các hòm thư điện tử
  • Cổng điện tử
  • Hay các công cụ tiếp nhận khác có tính chất tương tự.

Cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số ngoài sự hỗ trợ của các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự, kiểm soát biên giới do nhà nước đặt ra thì việc chuyển giao một phần trách nhiệm và quyền thực thi cho các chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian là một bước tiến bộ vì những chủ thể này sẽ có điều kiện tốt về mặt cơ sở vật chất và là người cung cấp dịch vụ trực tiếp nên sẽ thuận tiện trong việc ngăn chặn, chấm dứt kịp thời những hành vi xâm pham quyền sở hữu trí tuệ trên nền tảng mà họ cung cấp.

2.6.2 Biện pháp dân sự Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Khi sự xâm phạm QTG ảnh hưởng lớn đến uy tín và gây thiệt hại về mặt tài sản thì sử dụng tố tụng dân sự như một bước để khắc phục hậu quả, chấm dứt hoàn toàn hành vi xâm phạm, buộc cải chính công khai và thực hiện các nghĩa vụ dân sự bắt buộc theo luật định. Người khởi kiện áp dụng biện pháp này có thể thông qua Tòa án, Trọng tài thương mại theo quy định tại điểm d Điều 198 VBHN về Luật SHTT năm 2022.

Tác giả, chủ sở hữu bị xâm phạm quyền tác giả tiến hành khởi tiện tại Tòa: khi tiến tới bước này thì sự việc đã có thể vượt tầm kiểm soát tức có thể hòa giải giữa đôi bên không thành và bên vi phạm vẫn cố chấp thực hiện hành vi sai, và có tổn thất lớn cho bên bị hại. Bằng quy định tại Điều 202 VBHN về Luật SHTT năm 2022 cho phép Tòa sẽ triển khai các hành động bắt buộc để bảo vệ người bị xâm hại chống lại các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm hại quyền sở hữu trí tuệ như: Chấm dứt hành xâm phạm; xin lỗi, cải chính công khai; thực hiện nghĩa vụ dân sự; bồi thường thiệt hại; tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.”

  • Bên nguyên đơn cần tuân thủ một số bước sau khi áp dụng biện pháp dân sự:

Thứ nhất, chứng minh bị xâm phạm. Hiệp định TRIPS cũng khuyến khích các nước thành viên áp dụng biện pháp dân sự khi có sự xâm quyền nhưng vẫn đảm bảo việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ thì tại Mục 2, Điều 42 các thủ tục đúng đắng và công bằng có nhấn mạnh về việc áp dụng biện pháp dân sự trên cơ sở công bằng điều này vẫn được áp dụng tại điều 203 trong VBHN về Luật SHTT năm 2022 bằng việc cả nguyên đơn và bị đơn đều có quyền biện minh cho hành động của mình bằng việc tự bào chữa hoặc có cố vấn pháp luật độc lập hỗ trợ. Nguyên đơn phải có bằng chứng để khẳng định mình là chủ sở hữu hoặc tác giả thông qua bản sao giấy chứng nhận quyền tác giả, nếu không có giấy chứng nhận quyền tác giả thì phải có chứng cứ khác để chứng mình rằng đã phát sinh quyền tác giả, hoặc bản sao hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ. Đồng thời phải thu thập được bằng chứng về hành vi xâm hại của bị đơn, tức phải lấy mã nguồn để giải thuật, bốc tách hay còn gọi là dịch ngược nhằm xác định xem những đoạn mã nào đã bị đánh cấp, sao chép bất hợp pháp. Chứng cứ cần phải thỏa : một là tính khách quan tức có tồn tại thực không phụ thuộc vào ý muốn của những người tham gia tố tụng mà những người này chỉ có nhiệm vụ thu thập, xử lý, đánh giá chứng cứ. Đây sẽ là cơ sở cho Tòa loại bỏ đi việc ngụy tạo chứng cứ giúp xử lý vụ án đúng với bản chất; hai là tính liên quan tức vụ án và chứng cứ có một mối liên hệ nhất định và có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới vụ án đây là mấu chốt để Tòa có thể nhận định được những tình tiết liên quan tới vụ và loại dần, thu hẹp phạm vi chứng cứ để đảm bảo chứng cứ chính xác nhất, xác thực nhất hạn chế những chứng cứ không liên quan gây mất thời gian trong quá trình giải quyết vụ án; ba là tính hợp pháp tức chứng cứ phải được thu thập đúng nguồn, đánh giá theo trình tự quy định của luật và các chủ thể tham gia tố tụng phải đãm bảo theo đúng trình tự nếu sai trong việc trích lục nguồn, không thu thập, nghiên cứu, và đánh giá chứng cứ một cách có hệ thống theo quy định thì sẽ xem như là chứng cứ bị loại.

Thứ hai, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm không bị gia tăng thêm nữa để hạn chế tổn thất của nguyên đơn, tổn thất ở đây có thể về mặt vật chất và tinh thần và để ngăn chặn kịp thời chứng cứ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xóa bỏ làm ảnh hưởng đến quá trình tố tụng. Biện pháp tạm thời sẽ được sử dụng là thu giữ, kê biên, niêm phong, giữ nguyên hiện trạng, không cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc các biện pháp khác do luật quy định. CTMT có thể lưu trữ vào USB, ổ cứng tuy nhiên khi thời đại của internet phát triển sự ra đồi của các dich vụ lưu trữ đám máy trả phí và miễn phí sẽ được xem như công cụ cho người phạm tội tẩu tán chứng chứ cứ, lúc này cần phối hợp với bên cung cấp dịch vụ trung gian nơi quản lý các dịch vụ đám mây để phối hợp phong tỏa chứng cứ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nếu xem biện pháp khẩn cấp tạm thời này là có tính một chiều thì là chưa đúng mà là biện pháp này có tính cân bằng đó theo Điều 208 thì người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải đóng một khoản phí 20% giá trị hàng hóa bị vi phạm cần áp dụng biện pháp tức thời ví dụ giá trị lô hàng này trị giá 400 triệu đồng thì phải nộp bảo đảm là 80 triệu hoặc vì tình hình khẩn cấp mà giá trị hàng hóa bị vi phạm chưa xác định cụ thể thì phải nộp bảo lãnh tối đa là 20 triệu đồng. Trong quá trình xác minh vụ án, nếu người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không có vi phạm theo như đơn kiện thì người đề nghị áp dụng biện pháp có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Thứ ba, chứng minh bồi thường thiệt hại sẽ chia làm hai loại bồi thường: một là thiệt hại về tinh thần tức các tổn thương về uy tín, nhân phẩm, danh tiếng và mức bồi thường thì sẽ do các bên thỏa thuận nếu không đạt được thỏa thuận cuối cùng thì mức bồi thường sẽ không vượt quá gấp 10 lần mức lương cơ sở. Hai là bồi thường thiệt hại về tài sản và căn cứ để tính thiệt hại sẽ dựa vào giá trị tính bằng tiền của đối tượng quyền tác giả có thể là giá trên hợp đồng chuyển nhượng quyền, giá trị dùng góp vốn kinh doanh dưới dạng quyền tác giả, hay giá trị đầu tư mà tác giả chủ sở hữu đã dành tài lực, nhân lực để đầu tư nghiên cứu phát triển ra CTMT. Cần lưu ý là việc xác định giá trị thành tiền này sẽ cần phải thông qua doanh nghiệp định giá theo quy định pháp luật về thẩm định giá.

Khởi kiện thông qua con đường trọng tài: nếu như Tòa án có quy trình đi qua nhiều bước từ khởi kiện, hòa giải, xét xử sơ thẩm, xét xừ phúc thẩm, thì cuối cùng mới thi hành án. Bên cạnh đó nếu kháng cáo thi sẽ qua giam đốc thẩm, tái thẩm nên phán quyết có khi bi thay đổi và hai bên tham gia sẽ tốn nhiều thời gian và chi phí liên quan đến xét xử như chi phí thuê luật sư,..Tuy quy trình kéo dài nhưng sau khi có phán quyết cuối cùng thì sẽ có thêm cơ quan thi hành án hỗ trợ bên thắng kiện thu hồi các thiệt hại mà bên nguyên đơn đáng được nhận. Ngược lại, hình thức trọng tài thương mại thủ tục sẽ đơn giản hơn từ làm đơn khởi kiện, chọn lựa trọng tài, triển khai công tác điều tra, sau đó chọn ngày xét xử và phán quyết của trọng tài là chung thẩm và hai bên cam kết tự nguyện thi hành nhưng nếu hết thời hạn thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện thì bên được yêu cầu thi hành án sẽ có đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận để xử nếu đã có đăng ký phán quyết trọng tài trước đó theo quy định. Bên cạnh đó, giải quyết bằng trọng tài thì bên nguyên đơn và bị đơn phải có một trong hai là pháp nhân nếu không thì sẽ không thể theo bằng con đường này đường. Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng là bản án của tòa án là công khai, còn trọng tài sẽ giữ bí mật. Vì thế, tùy vào từng tình huống khác nhau mà hai bên tranh chấp có thể chọn lựa hình thức nào cảm thấy là phù hợp nhất.

2.6.3 Biện pháp hình sự

Việc áp dụng biện pháp hình sự sẽ được áp dụng khi Tòa có phán quyết và có yếu tố cấu thành của tội phạm : (i) khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, là đối tượng bị xâm phạm, một quan hệ xã hội có thể xâm hại một hoặc nhiều khách thể khác nhau mà ở đây giới hạn sẽ là quyền nhân thân và quyền tài sản; (ii) mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện bên ngoài cụ thể như hành vi sao chép, tấn công vào CTMT bằng cách cài mã độc để xâm nhập vào mã nguồn, mã máy nhằm mục đích xấu, hậu quả cho hành vi này sẽ làm máy tính bị tấn công không hoạt động bình thường người bị hại không thể thực hiện công việc như mong muốn, hay việc sao chép mã nguồn máy tính và đi phát tán ra trước khi tác giả công bố sẽ gây thiệt hai về mặt tài sản khi bao công lao đầu tư về nhân lực tài lực để hoàn thiện CTMT đã bị người khác lấy mất; (iii) mặt chủ quan của tội phạm là thể hiện động cơ mà tội phạm muốn thực hiện là cố ý, vô ý; (iv) chủ thể của tội phạm phải là người đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, không thuộc vào trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Chương IV của Luật HS sửa đổi 2017. Từ đây ta sẽ nhóm lại trong hai đối tượng chịu trách nhiệm hình sự khi xâm phạm quyền tác giả: (i) sao chép, phân phối bản sao khi không có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu; (ii) phán tán chương trình tin học gây hại. Cụ thể là : Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Sao chép, phân phối bản sao khi không có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu : tại Điều 225 Luật HS năm 2017 thì hành vi sao chép, phân phối tác phẩm ra công chứng khi không được sự đồng ý của chủ thể quyền tác giả, tác phẩm ở đây để ám chỉ chung cho các loại hình tác phẩm không cụ thể hóa chỉ cho mỗi CTMT. Hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Điều 225 sẽ áp dụng chung cho cá nhân và pháp nhân thương mại và khung phạt sẽ khác nhau. Cụ thể cá nhân thu lợi bất chính từ 50,000,000 đến dưới 300,000,000 đồng sẽ bị phạt tiền từ 50,000,000 đến dưới 300,000,000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Hoặc người phạm tội sẽ bị cấm hành nghề cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm. Pháp nhân phạm tội thu lợi bất chính từ 50,000,000 đến dưới 300,000,000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200,000,000 đến dưới 500,000,000 đồng thì sẽ chịu hình phạt 300,000,000 đến 1,000,000,000 đồng khi phạm vào khoản 1 Điều 225, Còn khi vi phạm tài khoản thì sẽ chịu phạt từ 1,000,000,000 đến 3,000,000,000 hoặc đình chỉ hoạt động 06 tháng đến 02 năm.

Phán tán chương trình tin học gây hại : tại khoản 1 Điều 286 của Luật HS năm 2017 ai có ý phát tán chương trình tin học gây hại hay mã độc tấn công vào mạng máy tính viễn thông thi sẽ bi phát từ 50,000,000 đồng tới 200,000,000 đồng phat cải tạo không giam giữ tới 03 năm hoặc phat tù từ 06 tháng đến 03 năm và tại khoản 1 Điều 287 Luật HS năm 2017 ai tự xóa, thay đổi, làm tổn hại đến phần mềm, dữ liệu điện tử nếu không thuộc quy đinh tại Điều 286 và 289 thì sẽ bị phạt 30,000,000 đến 200,000,000 đồng hoặc phạt từ 06 tháng đến 03 năm. Những mức phạt này được áp dụng cũng chưa thể bù đắp hết thiệt hại do mã độc gây nhưng cũng là một nỗ lực nhằm ngăn chặn. Theo báo cáo an ninh mạng 2022 do Bkav công bố thì có tới 180,000 máy tính nhiễm mã độc gây thiêt hại 833 USD.

Có thể thấy biện pháp hành sự là một công cụ hữu hiệu khi vừa có thể ngăn chặn vừa có thể kèm theo cưỡng chế với đa dạng hình phạt, và vừa có thể áp dụng một hình phạt chính và có thể áp dụng thêm hình phạt bổ sung.

2.6.4 Biện pháp hành chính

Tại Khoản 1 Điều 214 Luật SHTT, theo đó, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm QTG sẽ bị xử lý hành chính nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội
  • Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về SHTT hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.
  • Hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ.

Biện pháp dân sự và biện pháp hình sự đòi hỏi người bị hại phải khởi kiện và chứng minh hành vi bị xâm phạm còn biện pháp hành chính thì khi cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện hành vi vi phạm thì có thể căn cứ theo quy định để ra biên bản xử phạt. Hiện tại VBHN 380/VBHT-BVHTTDL năm 2022 đang được sử dụng như một công cụ trong đó quy định khung hình phạt, biện pháp khắc phục hậu quả thời hiệu xử phạt cùng hành vi nào vị phạm sẽ tương ứng với mức phạt bao nhiêu. Mặc dù việc phạt vi phạm hành chính không trực tiếp bù đắp thiệt hại cho người bị hại mà nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước nhưng thông qua đó vẫn đảm bảo việc thực thi quyền và có tính cảnh cáo đây có thể xem như một chế tài đặc thù.

2.6.5 Biện pháp kiểm soát biên giới Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Như ta biết những chương trình máy tính có thể được xuất nhập khẩu dưới dạng đĩa CD như win bản quyền, ứng dụng office, chương trình diệt virus,…hay những dạng vật chất khác. Những dạng vật chất này có thể là thiết bị điện tử đã được cài sẵn CTMT. Bên cạnh đó, nếu như ở trên chủ sở hữu, hoặc tác giả tự bảo vệ mình thì có thể yêu cầu hải quan kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu khi có liên quan tới tác phẩm của mình nếu nghi ngờ bị xâm phạm. Việc yêu cầu này đã nằm trong Điều

  • Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH về Luật Hải Quan về nhiệm vụ phải thực hiện :
  • Kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
  • Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đề nghị biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Biên giới ở đây cần được hiểu rộng ra là đất liền , trên biển, trong lòng đất và trên không, Hải quan sẽ kiểm soát không phải ngay chính cửa khẩu mà còn có thể bên trong nội địa khi hàng hóa đó có liên quan đến yếu tố xuất nhập khẩu như kho ngoại quan, khu chế xuất, hàng quá cảnh, các ga tàu biển, tàu hỏa, thủy nội địa… Ta có thể chia ra thành một vài đặc điểm chính cho biện pháp kiểm soát biên giới như sau:

  • Chủ thể thực hiện là cơ quan Hải Quan khi hàng hóa nhập khẩu vào Việt nam hay xuất khẩu đi ra nước ngoài. Bên cạnh đó, cần sự phối hợp với lực lượng biên phòng, công an và các cơ quan chuyên ngành khác.
  • Nghiệp vụ kiểm soát : Kiểm tra, giám sát, kiểm hóa thực tế, tạm dừng làm thũ tuc thông quan nếu nghi ngờ có yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
  • Đối tượng được bảo vệ chính là các tác phẩm nói chung và chương trình máy tính nói riêng khi bị sao chép, phân phối mà không được sự cho phép từ chủ sở hữu hay tác giả. Hoặc khi có yêu cầu của chủ thể quyền thông báo trước đó cho Hải Quan về việc tác phẩm của mình có nguy cơ rò rỉ và chuyển lậu ra nước ngoài.
  • Phạm vi: không phải tất cả mọi nơi đều có sự xuất hiện của Hải quan cho vấn đề kiểm soát biên giới mà sẽ bị giới hạn lại trong một phạm vi nhất định nằm trong khu vực chịu sự quản lý của Cơ quan Hải quan mà sẽ được gọi là địa bàn hoạt động của Hải quan.

Nếu như biện pháp dân sự, hình sự, hành chính mang tính xử lý đối tượng vi phạm một cách độc lập thi kiểm soát biên giới sẽ là bước đầu tiên giúp mở ra hướng xử lý vi phạm hành chính.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

Kết quả nghiên cứu tại chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về bảo hộ quyền tác giả, thời hạn, vai trò, quy định của một số nước trên thế giới cũng như là các công ước quốc tế, và những nghiên cứu sau đây từ Chương 2 sẽ là tiền đề làm cơ sở đánh giá về thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả tại Chương 3. Sau đây là những đúc kết từ chương 2:

Thứ nhất, xác định được đối tượng, chủ thể được bảo hộ đối với chương trình máy tính cũng như các quyền mà các chủ thể tương ứng sẽ được hưởng. Bảo vệ một CTMT thì không phải chỉ bảo vệ một cách chung chung mà sẽ được quy định cụ thể hóa áp dụng việc bảo vệ cho đối tượng cụ thể, mà ở đây sẽ là mã máy và mã nguồn và loại trừ những thành phần khác.

Thứ hai, xác định giới hạn bảo vệ quyền sở hữu của tác giả, chủ sở hữu CTMT. Một CTMT muốn được bảo hộ một cách hợp pháp thì chủ sở hữu, tác giả cần phải hiểu được được tác phẩm được tạo ra sẽ được bảo hộ trong giới hạn như thế nào, giới hạn ở đây là một việc Nhà nước mong muốn cân bằng lợi ích giữa người sáng tạo và cộng đồng. Vì quyền tác giả được cung cấp sự độc quyền thương mại như một cách kích thích, tưởng thưởng cho sự sáng tạo của chủ sở hữu, tác giả, nhưng các kiến thức, sáng tạo mà họ tạo ra suy cho cùng thì cũng để xã hội phát triển hơn tạo thuận lợi cho con người trong công việc và cuộc sống. Do đó, Nhà nước có quy định những trường hợp khai thác tác phẩm đã công bố mà không cần xin phép tuy nhiên đối với CTMT thì sẽ bị loại trừ khỏi quy định này.

Thứ ba, các biện pháp bảo vệ chống xâm quyền. Khi có sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì những biện pháp bảo hộ quyền tác giả sẽ được áp dụng. Và việc áp dụng này có thể chia làm hai một là biện pháp tự bảo vệ tức do chính tác giả, chủ sở hữu bằng tài chính, trí tuệ của mình tự sáng tạo hay thuê, mua các công cụ bằng công nghệ để bảo vệ, mã hóa cho tác phẩm của mình khỏi các cuộc tấn cộng, xâm nhập từ bên ngoài. Hai là biện pháp mang tính công quyền tức là lúc này chủ sở hữu, tác giả nắm giữ quyền tác giả hợp pháp sẽ thông qua biện pháp dân sự, hình sự để khởi kiện các đối tượng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả

One thought on “Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464