Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức hòa giải ngoài tố tụng ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định pháp luật đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải.

Việt Nam đổi mới từ năm 1986, từ đó xuất hiện nền kinh tế nhiều thành phần. Có thể nói, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam luôn thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, đồng thời không ngừng cải thiện môi trường pháp lý nhằm tạo cơ hội, điều kiện cho các cá nhân, doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế thuận lợi trong hoạt động thương mại. Các quan hệ thương mại càng phát triển thì không tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp đòi hỏi phải được giải quyết một cách kịp thời và thỏa đáng, có như thế mới tạo được lòng tin và sự yên tâm đầu tư kinh doanh của các thương nhân và các doanh nghiệp. Vì lý do này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách đổi mới trong hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp hiệu quả và phù hợp với thông lệ, tập quán quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết và những văn bản pháp luật mà Việt Nam đã ban hành.

2.1.1. Các cam kết quốc tế của Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải.

Tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ ngoại giao đa phương của Việt Nam, điều này góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Theo thống kê của Bộ Ngoại giao thì hiện nay với chính sách mở cửa, Việt Nam đã là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc, phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN và đặc biệt là sau 11 năm đàm phán, ngày 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO [46]. Những kết quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cổ tạo ra thế chủ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, góp phần trong việc bảo vệ độc lập, tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước. Với tình hình đó Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại với các quốc gia. Một trong những nội dung quan trọng nhằm bảo đảm cho các quan hệ thương mại trong các Hiệp định thương mại là các quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh như:

  • Trong phạm vi quốc tế Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Hiệp định giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (Dispute Settlement Understanding – DSU) được ghi nhận tại phụ lục 2 của Hiệp định Marrakesh tại Vòng đàm phán Uruguay. DSU là sự kế thừa các quy định về giải quyết tranh chấp đã từng phát huy tác dụng gần 50 năm qua trong lịch sử GATT 1947 và đã thiết lập một trình tự thủ tục thống nhất, mang tính bắt buộc cho việc giải quyết tranh chấp phát sinh đối với tất cả các thành viên khi tham gia vào WTO. Theo DSU thì các tranh chấp có thể được giải quyết thông qua hình thức tham vấn, trung gian, hòa giải, trọng tài hoặc trước Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm. Riêng đối với thủ tục hòa giải thì được DSU quy định tại khoản 10 Điều 3, khoản 7 Điều 12 và được quy định riêng thành một điều tại Điều 5 của Hiệp định, cụ thể:

Theo khoản 10 Điều 3 DSU quy định “Được hiểu rằng yêu cầu hòa giải và việc sử dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp không được nhằm mục đích hoặc được xem là những hành vi gây bất đồng và nếu có tranh chấp phát sinh, tất cả Thành viên phải tham gia một cách thiện chí vào những thủ tục này để nỗ lực giải quyết tranh chấp.

Tại Điều 5 DSU quy định:

  1. Môi giới, hòa giải và trung gian là những thủ tục được tiến hành tự nguyện, nếu các bên tranh chấp đồng ý như vậy.
  2. Việc môi giới, hòa giải và trung gian, và đặc biệt là quan điểm của các bên tranh chấp trong việc này phải được giữ bí mật và không làm phương hại đến quyền của bất cứ bên nào trong những bước tố tụng tiếp theo những thủ tục này.
  3. Bất cứ bên tranh chấp nào đều có thể yêu cầu môi giới, hòa giải hoặc trung gian vào bất cứ lúc nào. Những thủ tục này có thể được bắt đầu và chấm dứt vào bất kỳ thời điểm nào. Một khi những thủ tục này đã chấm dứt, bên nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập ban hội thẩm.
  4. Khi thủ tục môi giới, hòa giải hoặc trung gian được tiến hành trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, bên nguyên đơn phải cho phép một thời hạn là 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn trước khi yêu cầu thành lập ban hội thẩm. Bên nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập ban hội thẩm trong thời hạn 60 ngày này, nếu các bên có tranh chấp cùng cho rằng môi giới, hoà giải hoặc trung gian đã không thể giải quyết được tranh chấp.
  5. Nếu các bên tranh chấp đồng ý, thì thủ tục môi giới, hòa giải hoặc trung gian có thể được tiếp tục ngay cả khi ban hội thẩm tiến hành tố tụng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
  6. Tổng Giám đốc có thể, trên cương vị công tác chính thức của mình, đưa ra sáng kiến về việc mình phải làm người môi giới, người hòa giải hoặc trung gian nhằm giúp các Thành viên giải quyết tranh chấp.

Tại khoản 7 Điều 12 DSU quy định: “ Khi các bên tranh chấp không tìm ra được một giải pháp thỏa đáng cho cả hai bên, thì ban hội thẩm phải đệ trình bản ý kiến của mình dưới dạng báo cáo bằng văn bản lên DSB. Trong trường hợp như vậy, bản báo cáo của ban hội thẩm phải đưa ra các ý kiến về các tình tiết, về khả năng áp dụng các điều khoản liên quan và lý lẽ đằng sau bất cứ kết luận và khuyến nghị nào được đưa ra. Nếu có sự hoà giải giải quyết vấn đề giữa các bên tranh chấp, thì bản báo cáo của ban hội thẩm phải được hạn chế ở mức mô tả ngắn gọn về vụ việc này và báo cáo rằng đã đạt được một giải pháp”

Bằng những quy định trên phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải được DSU đặc biệt quan tâm và khuyến khích sử dụng. Theo đó, thủ tục hòa giải mang tính chất không chính thức, nó được tiến hành một cách tự nguyện nếu các bên tranh chấp đồng ý. Những giai đoạn trong hòa giải được thực hiện một cách kín đáo, hơn thế nữa các bên có thể tiến hành hòa giải ở bất cứ giai đoạn nào kể cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành tố tụng. Nhìn chung cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang đậm tính chất hòa giải, bởi lẽ Ban hội thẩm không đưa ra phán quyết mà chỉ đưa ra một “báo cáo”, báo cáo này không có giá trị bắt buộc và sẽ được xem xét chung cuộc bởi một cơ quan mang tính chính trị là các bên ký kết.

Công ước về Công nhận và Thi hành các phán quyết của Trọng tài Quốc tế. Đây là một Công ước quốc tế có tầm quan trọng bậc nhất đối với hoạt động trọng tài thương mại trên thế giới.

Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp. Tuy Công ước không có những quy định về giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, nhưng nếu trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài các bên hòa giải và thỏa thuận được thì vẫn được trọng tài công nhận. Do đó, quyết định của Trọng tài vẫn được thi hành tại bất cứ nơi nào trên các nước thành viên của công ước. Hiểu rõ tầm quan trọng của công ước, Việt Nam đã tham gia Công ước vào năm 1995, mà cụ thể là ngày 28/7/1995 Chủ tịch nước CHXHCNVN đã ra Quyết định số 453/QĐ-CTN phê chuẩn việc tham gia Công ước về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài và bảo lưu 3 điều. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

  • Trong phạm vi khu vực và Asean và các đối tác kinh tế khác.

Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp Asean ngày 20/11/1996 nhằm tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực hợp tác kinh tế ASEAN. Ngoài hình thức tham vấn được quy định tại Điều 2 thì tại Điều 3 của Nghị định thư quy định về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải, theo đó vào bất kì thời điểm nào, các Quốc gia thành viên là các bên tranh chấp cũng được quyền chấp nhận các hình thức dàn xếp, hòa giải hoặc trung gian hòa giải. Các hình thức này có thể bắt đầu vào bất kì lúc nào và cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào. Một khi thủ tục dàn xếp, hòa giải hoặc trung gian hòa giải đã chấm dứt thì bên khiếu nại mới được tiến hành đưa vấn đề lên Hội nghị các quan chức kinh tế cấp cao (SEOM).

Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp thuộc hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa chính phủ các nước thành viên hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Đại Hàn Dân Quốc. Ngoài hình thức tham vấn để giải quyết tranh chấp quy định tại Điều 3, thì theo Điều 4 của Hiệp định quy định Trung gian hòa giải là những thủ tục được tiến hành một cách tự nguyện nếu các bên tranh chấp đồng ý. Các bên trong tranh chấp có thể yêu cầu tiến hành thủ tục trung gian hòa giải ở bất kỳ thời điểm nào. Nếu các bên đồng ý, thủ tục trung gian hòa giải thông qua cá nhân hoặc tổ chức được các bên trong vụ tranh chấp nhất trí có thể được tiến hành song song với thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Ủy ban trọng tài theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định. Về thủ tục hòa giải tại khoản 4 của Điều 4 Hiệp định quy định Thủ tục trung gian hòa giải sẽ được giữ bí mật và không ngăn cản quyền của các bên được tiến hành các thủ tục tố tụng cao hơn theo Hiệp định này hoặc các thủ tục tố tụng khác trước một cơ quan giải quyết tranh chấp do các bên lựa chọn.

Hiệp định về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa các quốc gia thành viên hiệp hội các nước Đông Nam Á và Nhật Bản năm 2008: hiệp định này đã dành một chương riêng để quy định về giải quyết tranh chấp, cụ thể là chương 9. Trong đó hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải được quy định tại Điều 63 quy định trung gian hòa giải là “những thủ tục được tiến hành một cách tự nguyện nếu các bên trong tranh chấp đồng ý” và tại khoản 2 quy định “các bên trong tranh chấp có thể yêu cầu tiến hành thủ tục trung gian hòa giải ở bất kỳ lúc nào”. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 63 cũng quy định các bên có thể ký kết hợp giữa thủ tục hòa giải và thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Ủy ban trọng tài theo quy định của Chương 9 Hiệp định.

Hiệp định giữa Nhật Bản và Cộng hòa XHCNVN về đối tác kinh tế: đã quy định về các phương thức cụ thể giải quyết tranh chấp cụ thể tại chương 13 gồm tham vấn; môi giới; trung gian; hòa giải và Ủy ban trọng tài, trong đó giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải được quy định tại Điều 118 cùng với hình thức môi giới, trung gian, theo đó một bên trong tranh chấp có thể yêu cầu tiến hành hòa giải ở bất kỳ lúc nào theo yêu cầu của bất kỳ bên nào Nếu các Bên đồng ý, hòa giải có thể vẫn tiếp tục cùng với thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Ủy ban trọng tài được quy định từ Điều 119 đến Điều 124, Chương 13 của Hiệp định.

Hiệp định thương mại giữa chính phủ CHXHCNVN và chính phủ Cộng hòa Singapore (1992): quy định hình thức giải quyết tranh chấp thương mại mà các bên tranh chấp có thể áp dung là hòa giải hoặc trọng tài thương mại. Thủ tục hòa giải được quy định tại Điều 9 như sau “những tranh chấp phát sinh giữa các công ty thương mại hoặc các công ty liên quan đến thương mại của các bên khi thực hiện hay liên quan đến hợp đồng sẽ giải quyết bằng hòa giải qua những cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp hòa giải không được sẽ đưa ra trọng tài Quốc tế giải quyết theo sự thỏa thuận của hai bên như trọng tài thuộc trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam hoặc Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore, chịu sự điều chỉnh theo nhưng quy định của trung tâm đó”.

Nhìn chung, trong các hiệp định thương mại quốc tế và khu vực mà Việt Nam tham gia và ký kết thì các biện pháp giải quyết tranh chấp đã được quy định khá đầy đủ. Tuy có quy định cơ chế khác nhau trong giải quyết các tranh chấp giữa các cá nhân, công ty phát sinh từ các giao dịch thương mại phù hợp với thực tiễn pháp luật từng nước nhưng hầu hết thừa nhận nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên trong việc lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp. Đây là một biện pháp bảo đảm để các nhà kinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại tại Việt Nam.

Việc tham gia các Điều ước quốc tế khiến Việt Nam không những phải có nghĩa vụ thực hiện các cam kết này mà còn phải nội luật hóa sao cho phù hợp với pháp luật quốc gia. Theo luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy định tại khoản 3 Điều 6 như sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó.

Từ quy định này có thể thấy pháp luật Việt Nam thừa nhận hai cách thức áp dụng điều ước quốc tế vào thực tiễn pháp luật đó là: áp dụng trực tiếp và áp dụng gián tiếp. Theo đó, áp dụng trực tiếp là khi điều ước quốc tế đã được ký kết và có hiệu lực thì mọi cá nhân, tổ chức là đối tượng điều chỉnh của điều ước đó đều có nghĩa vụ thi hành và hoàn toàn có thể viện dẫn các quy định của điều ước đó để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình khi có tranh chấp xảy ra. Còn áp dụng gián tiếp là việc quốc gia thành viên ban hành một đạo luật để chuyển hóa các quy định của điều ước quốc tế vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước mình, áp dụng đối với những quy định chưa rõ ràng, cụ thể.

Tóm lại, có thể khẳng định Điều ước quốc tế về giải quyết tranh chấp thương mại nói chung, giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải nói riêng mà Nhà nước Việt Nam ký kết và tham gia là một yếu tố quan trọng, có vị trí đặc biệt trong khuôn khổ pháp luật thương mại Việt Nam. Đồng thời việc ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật nhằm nội luật hóa các điều ước quốc tế đã góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, thúc đẩy quá trình hội nhập phát triển.

2.1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải (hòa giải thương mại), ngoài các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết tham gia thì nhà nước ta cũng đã ban hành một số quy định nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật như sau:

BLDS 2015 không có quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải, tuy nhiên tại khoản 2 Điều 7 về chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự quy định: “Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với qui định của pháp luật được khuyến khích”. Có thể thấy, hòa giải luôn là một phương thức giải quyết tranh chấp được khuyến khích sử dụng để giải quyết khúc mắc giữa cá bên do tính hiệu quả mà hòa giải mang lại.

Trong các văn bản pháp luật có quy định về hòa giải thương mại phải kể đến một đạo luật quan trọng là Luật Thương mại 2005. Tại Điều 11 Luật Thương mại quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại: “các bên có quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại..”. Đồng thời, Luật Thương mại 2005 đã dành riêng mục 2 chương VII với 3 điều để quy định về giải quyết tranh chấp trong thương mại, trong đó Điều 317 quy định về hình thức giải quyết tranh chấp gồm:

  1. Thương lượng giữa các bên.
  2. Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải
  3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án

Ngoài ra, Luật Thương mại 2005 còn đưa ra quy định về thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi kiện tại Điều 318 và Điều 319 bắt buộc các bên có quyền lợi bị vi phạm phải khiếu nại trong thời hạn nhất định.

Trong khi đó theo quy định của Luật Thương mại 1997, quy định về giải quyết tranh chấp thương mại tại chương 4 mục 2 gồm 6 Điều, trong đó Điều 238 quy định về khái niệm tranh chấp thương mại, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại với thương nhân nước ngoài theo quy định tại Điều 240, về thời hạn khiếu nại và thời hiệu tố tụng được quy định tại Điều 241 và Điều 242, Điều 243 quy định về việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, các phán quyết, quyết định của Trọng tài. Còn về hình thức giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 239, cụ thể: “1. Tranh chấp thương mại trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên, 2. Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận chọn một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân làm trung gian hòa giải. 3. Trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giải không đạt được kết quả thì tranh chấp thương mại được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án”. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Có thể thấy theo tinh thần của Luật Thương mại 1997 thì cả thương lượng và hòa giải là biện pháp bắt buộc khi các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hay Tòa án. Việc quy định này hoàn toàn không phù hợp với xu hướng phát triển pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại của thế giới, trong quá trình hội nhập việc thay đổi quy định này là điều tất yếu và Luật Thương mại 2005 ra đời đã làm được điều đó. Song đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải mới chỉ được liệt kê ra trong số các phương thức giải quyết tranh chấp chứ chưa được quy định cụ thể thành một văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục… giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải.

Ngoài ra, Luật Đầu tư năm 2014 tại Điều 14 quy định: “Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này”

Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 tại Điều 55 quy định về hình thức giải quyết tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa gồm:

  1. Thương lượng giữa các bên tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
  2. Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thoả thuận chọn làm trung gian.
  3. Giải quyết tại trọng tài hoặc toà án.

Thủ tục giải quyết tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại trọng tài hoặc toà án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng trọng tài hoặc tố tụng dân sự”.

Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 quy định tại khoản 1 Điều 30 quy định về phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cụ thể:

“1. Tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được giải quyết thông qua:

  1. Thương lượng;
  2. Hòa giải;
  3. Trọng tài;
  4. Tòa án”.

Đối với quy định của Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, cần xác định tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tranh chấp thương mại hay dân sự. Theo quy định của pháp luật, trường hợp người tiêu dùng đồng ý áp dụng pháp luật về thương mại điều chỉnh thì lúc đó mới áp dụng, còn người tiêu dùng không lựa chọn thì đó là tranh chấp dân sự thuần túy.

Nghị định số 22/2017/NĐ-CP (Ngày 24/02/2017) Nghị định về hòa giải thương mại ra đời đã quy định khá cụ thể về trình tự, thủ tục, điều kiện,…để giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại (hòa giải ngoài tố tụng).

Tóm lại, Việt Nam dã tham gia và cam kết thực hiện các điều ước quốc tế về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải và pháp luật thương mại Việt Nam đã công nhận phương thức hòa giải trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong lĩnh vực luật tư như BLDS 2015, Luật Thương mại 2005,… trước thời điểm Nghị định số 22/2017/NĐ-CP Nghị định về hòa giải thương mại được ban hành thì các quy định về hòa giải thương mại nằm rải rác trong các văn bản pháp luật. Sự ra đời của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục, điều kiện,…tiến hành giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thương mại. Đó là bước đột phá của pháp luật Việt Nam để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới ngày càng phát triển .

2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Trong những năm qua, cùng với chính sách hoàn thiện pháp luật và chủ trương cải cách tư pháp, các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài ngày càng được khuyến khích sử dụng ở Việt Nam thì hòa giải là một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng được đánh giá cao về tính hiệu quả, chính xác và khách quan bởi các yếu tố sau: các bên tranh chấp được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình hòa giải như các bên có thể quyết định số lượng, cách thức chỉ định và tiêu chuẩn của hòa giải viên, thời gian giải quyết vụ tranh chấp, luật áp dụng, ngôn ngữ, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp. Ngoài ra, hòa giải viên là những người có kiến thức rộng và kinh nghiệm trong các lĩnh vực thương mại như tài chính, xây dựng, vận tải… Tuy nhiên, dù giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải được đánh giá là phương thức có nhiều ưu điểm về thời gian giải quyết ngắn, chi phí tương đối thấp, thủ tục đơn giản và giữ được mối quan hệ làm ăn trong tương lai, song thực tế phương thức này được các doanh nghiệp sử dụng ở mức khiêm tốn. Cụ thể: theo số liệu điều tra qua phiếu hỏi của nhóm thư ký Dự án điều tra cơ bản của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư Pháp về “Thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và vai trò của các thiết chế tư pháp, bổ trợ tư pháp” đã khảo sát trong số 367 doanh nghiêp Việt Nam (tại Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang) đã gặp tranh chấp thương mại quốc tế có 100 doanh nghiệp từng giải quyết tranh chấp bằng hòa giải (tỷ lệ 26,9%) [57], đây là một tỷ lệ không cao. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam ít được các doanh nghiệp áp dụng, bởi những lí do sau:

Thứ nhất, trước khi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP được ban hành thì pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật nào quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về quy trình, thủ tục, nội dung, hiệu lực của phương thức giải quyết tranh chấp này, chỉ ghi nhận trong pháp luật thực định ở những nguyên tắc cơ bản nên giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải dường như vẫn được coi là công việc riêng tư của các bên. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Thứ hai, thực tế, hòa giải thương mại đã được tiến hành một cách tự phát bởi các luật sư ở một số văn phòng luật sư, trọng tài viên ở trung tâm trọng tài theo yêu cầu của khách hàng nhưng các tổ chức này chưa coi hòa giải là một hoạt động chuyên nghiệp. Vì thế, thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải rất khó xác định được số lượng các vụ tranh chấp thương mại mà các bên lựa chọn phương thức hòa giải để giải quyết như đối với giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài hay tòa án.

Thứ ba, Nghị Định số 22/2017/NĐ-CP mới ra đời, tuy là một bước đột phá lớn trong cải cách pháp luật về hòa giải thương mại, song nó cần thời gian để mọi người kịp thích nghi và thực sự thấy nó hiệu quả. Hiệu lực của thỏa thuận hòa giải thành tuy được Tòa án công nhận theo yêu cầu của các bên được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng trên thực tế vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này làm các doanh nghiệp vẫn còn hoài nghi về tính hiệu quả cũng như cơ chế thi hành kết quả hòa giải thành.

Theo báo cáo khảo sát doanh nghiệp về vấn đề hòa giải thương mại và giải quyết tranh chấp tại Việt Nam tháng 6/2017 được thực hiện bởi Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) và Nhóm Ngân hàng thế giới (World Bank Group), 78% doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ sẵn sàng thử phương thức hòa giải. Có 64 doanh nghiệp có kinh nghiệm hòa giải, (đa số – 41 doanh nghiệp – thuộc lĩnh vực sản xuất, sau đó là lĩnh vực thương mại). Trong số này, 77% doanh nghiệp hài lòng với kết quả hòa giải, 79% sẽ tiếp tục sử dụng phương thức hòa giải, 78% doanh nghiệp sẽ giới thiệu với doanh nghiệp khác và chỉ có 2% tuyên bố sẽ không sử dụng dịch vụ hòa giải nữa. Theo kết quả trên, nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam đối với phương pháp giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải là rất cao.

Đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có kết quả hòa giải nào được công nhận bởi tòa án [33]. Theo Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, kết quả hòa giải vụ việc ngoài tòa án chỉ được tòa án xem xét ra quyết định công nhận khi vụ việc hòa giải được thực hiện bởi cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải. Nhưng đó mới chỉ là quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, nó vẫn chưa có một trình tự nào để thi hành quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong Luật Thi hành án dân sự cũng như chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể nào về việc thi hành này. Mặc dù các quy định tại chương XXXIII Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là những quy định rất tiến bộ, song trên thực tế những quy định này chưa phát huy được hiệu quả của nó.

Số liệu về các vụ tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại đa phần là được giữ bí mật tại các tổ chức tiến hành hòa giải. Song theo nhận xét của các hòa giải viên tại các tổ chức tiến hành hòa giải thì từ khi có Nghị định số 22/2017 ra đời thì số các vụ tranh chấp được các bên đưa ra hòa giải tại các tổ chức đã tăng rất nhiều so với thời gian trước [69] nhưng vẫn chưa đưa ra con số cụ thể. Có thể thấy hiệu quả bước đầu đạt được sau 1 năm Nghị định về hòa giải thương mại có hiệu lực, đây là một bước tiến vượt bậc trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam góp phần tạo động lực cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ thương mại thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập và phát triển. Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ thương mại trong nước cũng như quốc tế khi có một phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Trước khi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ra đời, chỉ có duy nhất VIAC đã hiện thực hóa quy định tại khoản 2 Điều 317 Luật Thương mại năm 2005 thành Quy tắc hòa giải của VIAC (gồm 20 điều). Tuy nhiên, đó chỉ là bộ quy tắc “nội bộ” được áp dụng cho các doanh nghiệp có nhu cầu đề nghị VIAC tiến hành hòa giải. Còn ở các trung tâm trọng tài khác nếu doanh nghiệp yêu cầu tiến hành hòa giải thì sẽ không có cơ sở pháp lý. Như vậy, ở Việt Nam trước khi có Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đối với hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải tại Trung tâm Trọng tài thương mại thì chủ yếu là được thực hiện bởi Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, bộ quy tắc hòa giải của VIAC tuy có chi tiết và quy mô, song nhìn chung vẫn chưa thể hiện được một cách triệt để quy trình thủ tục hòa giải. Chính vì thế hiệu quả hòa giải còn hạn chế do số vụ việc được trọng tài thương mại thụ lý và giải quyết còn rất ít. Theo thống kê của VIAC thì số lượng các vụ tranh chấp đã được đưa ra hòa giải được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Tình hình giải quyết tranh chấp bằng hòa giải ở VIAC năm 2012, 2013 và 2017

Năm Tổng số vụ Số vụ tranh chấp đưa ra hòa giải Hòa giải thành
Số vụ Tỷ lệ
2012 64 14 1 1,5%
2013 99 20 2 2%
2017 151 30 19 12,6%

(Nguồn: Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC)

Có thể nhận thấy một dấu hiệu tích cực của hoạt động hòa giải tại Việt Nam kết từ khi ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP. Số vụ tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại tăng lên một cách rõ rệt, số vụ hòa giải thành cũng tăng lên tương ứng. Như vậy, bước đầu của việc ban hành Nghị định về hòa giải thương mại là một điều đúng đắn.

Nhìn chung, cho đến nay ở Việt Nam đã có một khuôn khổ pháp lý nhất định để điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải song nó vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên để áp dụng một cách phổ biến thì phải cần thời gian để các bên xảy ra tranh chấp hiểu rõ được lợi ích và hạn chế của phương thức này từ đó lựa chọn sử dụng nó để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Để làm được vậy cần sự tuyên truyền pháp luật phổ biến đến giới doanh nghiệp để mọi người có thể nhận thấy được những ưu điểm vượt trội của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải. Bên cạnh đó còn phải hoàn thiện khung pháp lý về hòa giải thương mại để các doanh nghiệp có thể an tâm lựa chọn phương thức này để giải quyết tranh chấp khi có phát sinh. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

2.3. Một số vấn đề pháp lý tiến bộ theo pháp luật Việt Nam khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải

Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải đối với nền kinh tế trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hiện nay và thực trạng pháp luật hiện hành về lĩnh vực này cho thấy một số vấn đề pháp lý tiến bộ sau:

Thứ nhất, về điều khoản hòa giải, đây chính là căn cứ để tiến hành thủ tục hòa giải. Điều khoản hòa giải được hiểu là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp sẽ phát sinh bằng phương thức hòa giải. Vấn đề đặt ra là thỏa thuận về hòa giải được lập ra khi nào và hình thức như thế nào? Theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP tại Điều 6 quy định “tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại nếu các bên có thỏa thuận hòa giải. Các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải trước, sau khi xảy ra tranh chấp hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp”. Như vậy, có thể hiểu điều khoản hòa giải được các bên quy định ngay trong hợp đồng hoặc thỏa thuận thành một hợp đồng riêng. Tuy nhiên, soạn thảo điều khoản như thế nào cho hợp lý lại chưa có hướng dẫn. Thực tiễn ở một số quốc gia cho thấy, một điều khoản hòa giải thông thường sẽ được soạn thảo như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này trước hết sẽ được giải quyết bằng phương thức hòa giải tại…(tên của một trung tâm hòa giải)..phù hợp với bản Quy tắc hòa giải của trung tâm này. Các bên cam kết sẽ tham gia hòa giải với thái độ thiện chí và bị ràng buộc bởi thỏa thuận đạt được trong quá trình hòa giải”. Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận thêm về việc giải quyết vụ tranh chấp tại Tòa án hay trọng tài nếu việc hòa giải không thành công [44, tr.46].

Thứ hai, về vấn đề đảm bảo tính bí mật của quá trình hòa giải. Để hòa giải đạt hiệu quả thì mỗi bên cần cởi mở, hợp tác với nhau và với hòa giải viên trong việc đưa ra đầy đủ các bản trình bày kèm theo là những tài liệu liên quan và những bằng chứng. Vấn đề đặt ra là các bên có thể lợi dụng những thông tin hiểu biết về đối phương đặc biệt là các bí mật kinh doanh trong quá trình hòa giải để đưa ra làm chứng cứ tại Tòa án và Trọng tài nếu như pháp luật không có cơ chế nào để đảm bảo tính bí mật của các thông tin và tài liệu được trao đổi trong quá trình hòa giải. Vì vậy, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP đã đưa ra nguyên tắc đảm bảo bí mật thông tin trong quá trình hòa giải và nó có nghĩa vụ ràng buộc các bên khi tham gia vào quá trình hòa giải.

Thứ ba, về vấn đề hiệu lực thi hành của thỏa thuận hòa giải thành. Trong quá trình hòa giải, khi các bên đạt được thỏa thuận thì các bên cùng ký kết vào thỏa thuận hòa giải thành. Khi chưa có Nghị định số 22/2017/NĐ-CP và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ra đời thì việc thi hành kết quả hòa giải thành phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí và sự tự nguyện của các bên, các bên có thể thực hiện hoặc không thực hiện đối với kết quả hòa giải thành mà không có cơ chế thực thi nào ràng buộc các bên phải thực hiện. Điều này dẫn đến việc tốn thời gian, công sức, tinh thần hợp tác giữa các bên có thể bị rạn nứt mặc dù đã thỏa thuận thành nhưng lại không tiến hành thực hiện thỏa thuận đó. Khắc phục hạn chế này, tại Điều 13 Nghị định 22/2017/NĐ-CP quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải theo đó:

  1. Các bên tranh chấp có các nghĩa vụ sau đây:
  2. Thi hành kết quả hòa giải thành”

Cùng với quy định này, Điều 416 BLTTDS 2015 quy định về công nhân kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án như sau: “Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải”.

Như vậy, có thể thấy rằng kết quả hòa giải thành buộc các bên phải thực hiện và đã có cơ chế đảm bảo sự ràng buộc đó bởi quyết định công nhận của Tòa án khi có đơn yêu cầu của một hoặc tất cả các bên. Điều này là một sự tiến bộ vượt bậc, nâng tầm phương thức hòa giải nên một bước mới và khiến thu hút sự quan tâm của các chủ thể kinh doanh thương mại đối với phương thức giải quyết tranh chấp này.

2.4. Một số vấn đề pháp lý hạn chế khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải theo pháp luật Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Thứ nhất, về mối quan hệ giữa hòa giải thương mại với trọng tài và tòa án. Ở đây cần xem xét vấn đề nếu có tranh chấp thương mại xảy ra mà các bên không tiến hành hòa giải theo như điều khoản hòa giải đã thỏa thuận mà lại khởi kiện ngay ra Tòa án hay trọng tài thì những cơ quan này sẽ trả lại đơn khởi kiện hay vẫn thụ lý, giải quyết? Điều này đang rất cần một chuẩn mực pháp lý để giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải đi vào khuôn khổ.

Việt Nam, khi các bên thỏa thuận hòa giải tại VIAC, thì phải cam kết sẽ không tiến hành tố tụng tại trọng tài hay Tòa án theo quy định tại Điều 16

Quy tắc hòa giải:

  1. Trong quá trình hòa giải, các bên cam kết không tiến hành bất cứ tố tụng trọng tài hoặc tòa án nào đối với tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hòa giải
  2. Trong quá trình hòa giải, nếu một bên hoặc các bên đưa vụ tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hòa giải ra kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án thì việc hòa giải mặc nhiên bị coi là chấm dứt”

Ngoài quy định trên của Quy tắc hòa giải của VIAC thì theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì việc các bên có thỏa thuận hòa giải không phải là một căn cứ để Tòa án hay trọng tài từ chối thụ lý vụ án. Qua đó, có thể thấy ở nước ta, việc bên có thỏa thuận hòa giải chỉ có ý nghĩa khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải thương mại chứ không có tính chất ràng buộc của một quy định hợp đồng. Theo quan điểm của các nước trên thế giới về hòa giải thương mại cho rằng để thúc đẩy sự phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại này thì việc Tòa án hay trọng tài tạm dừng việc thụ lý vụ án và yêu cầu các bên tiến hành hòa giải trước là một việc làm hết sức ý nghĩa, bên cạnh đó vẫn chú ý đến đảm bảo quyền được tiếp cận hệ thống Tòa án và Trọng tài của các tổ chức, cá nhân. Hiện nay, pháp luật của một số nước như Anh, Australia, Hong Kong, Singapore,…cũng đang theo xu hướng công nhận và cho thi hành điều khoản hòa giải. Theo kinh nghiệm của các nước này, trường hợp trong hợp đồng giữa các bên có điều khoản hòa giải, Tòa án sẽ chỉ tiến hành thụ lý vụ án nếu 1) điều khoản hòa giải giữa các bên được quy định không rõ ràng (ví dụ không quy định thời hạn dành cho việc hòa giải), hoặc 2) đã hết thời hạn dành cho việc hòa giải theo hợp đồng mà các bên không tiến hành hòa giải; hoặc 3) các bên đã tham gia vào quá trình hòa giải và đã hết thời hạn dành cho việc hòa giải theo hợp đồng mà các bên không đạt được thỏa thuận. Nếu bên khởi kiện không chứng minh được vụ tranh chấp thuộc một trong các trường hợp nói trên, Tòa án sẽ tạm dừng quá trình tố tụng và yêu cầu các bên thực hiện điều khoản hòa giải trước [56, tr.47]. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Như vậy, pháp luật Việt Nam cần quy định rõ khi thỏa thuận giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thì các bên phải có thỏa thuận rõ ràng về việc từ bỏ quyền tiến hành tố tụng trước trọng tài hay tòa án. Tuy nhiên, khi xét thấy cần thiêt để bảo vệ quyền lợi của mình thì các bên có thể đưa ra tố tụng trọng tài hoặc tòa án.

Thứ hai, về việc quy định tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại. cần phải xác định rằng Hòa giải viên thương mại không giống như Trọng tài viên. Hòa giải viên không phải là người phán xét ai đúng, ai sai hoặc đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp như Trọng tài viên. Hòa giải viên chỉ là người hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận để giải quyết tranh chấp. Chính vì thế, các bên có thể chọn bất cứ người nào mà họ tin tưởng để làm hòa giải viên. Vì vậy, theo tác giả không cần quy định tiêu chuẩn của Hòa giải viên. Nếu có chăng cũng chỉ cần quy định những điều cơ bản như: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không phải là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích hoặc không phải là công chức hoặc cán bộ cơ quan tư pháp như Công an, Kiểm sát, Tòa án và thi hành án. Những tiêu chuẩn về trình độ của hòa giải viên cũng như kỹ năng hòa giải không cần thiết phải quy định. Bởi lẽ, có những người không có trình độ đại học và cũng không có thực tế công tác nhưng họ lại có khả năng thuyết phục được các bên và được các bên tin tưởng lựa chọn, do đó hoàn toàn đủ khả năng làm Hòa giải viên. Về kĩ năng hòa giải, do không có tiêu chí cũng như tiêu chuẩn để đánh giá nên tác giả cho rằng cũng không cần phải quy định. Nói chung những quy định chặt chẽ về trình độ của Hòa giải viên là không hợp lý và cũng không phù hợp với thực tiễn quốc tế nên không nên quy định trong Nghị định. Việc quy định như vậy sẽ giới hạn những người có năng lực làm hòa giải viên tham gia vào giải quyết các tranh chấp thương mại. Hoạt động hòa giải diễn ra sẽ không đạt được hiệu quả cao.

Thứ ba, về phí hòa giải, giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải thường có chi phí thấp hơn so với giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài hay tòa án. Tuy nhiên, pháp luật nước ta hiện nay cũng chưa quy định về vấn đề này. Trong thời gian tới, để đảm bảo cho sự phát triển và duy trì hoạt động của trung tâm hòa giải hay hòa giải viên thì pháp luật Việt Nam cần quy định về phí hòa giải. Việc quy định này có thể tham khảo cách thức quy định về phí của Trung tâm hòa giải Singapore. Ngoài ra, có thể tham khảo cách thức quy định về chi phí hòa giải tại Điều 17 Quy tắc hòa giải của VIAC, cụ thể chi phí hòa giải bao gồm: phí hành chính, một khoản thù lao hợp lý cho hòa giải viên, chi phí đi lại và các chi phí khác của hòa giải viên, các chi phí khác của nhân chứng theo yêu cầu của hòa giải viên với sự đồng ý của các bên; chi phí tư vấn của các chuyên gia,… về cách thức nộp được quy định tại khoản 1 Điều 18 của quy tắc, theo đó bên nộp đơn yêu cầu hòa giải phải nộp tạm ứng 50% phí hòa giải. Khi chấp nhận hòa giải, bên nhận được yêu cầu hòa giải phải nộp tạm ứng 50% phí hòa giải. Trong trường hợp các bên có đơn yêu cầu hòa giải phải gửi tới VIAC mỗi bên nộp 50% phí hòa giải. Sau khi chấm dứt quá trình hòa giải, VIAC sẽ tính toán chi phí trong số tiền đã ứng trước và trả lại cho các bên bất cứ khoản chi phí còn lại nào không chi tới.

2.5. Nguyên nhân những hạn chế cơ bản của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ngoài tố tụng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Là một nước phương Đông với truyền thống đoàn kết, luôn đề cao tinh thần tương thân tương ái và tình nghĩa “lấy hòa làm trọng”, do đó khi có tranh chấp với nhau mọi người có tâm lý ngại kiện cáo nên biện pháp trước tiên được áp dụng là thương lượng, hòa giải, vì thông qua những biện pháp này mà các bên có thể hiểu nhau hơn và mâu thuẫn có thể được giải quyết mà vẫn giữ được tình người. Như vậy, lẽ ra giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải rất phát triển ở Việt Nam, tuy nhiên trên thực tế hoàn toàn ngược lại. Có thể thấy Pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại còn nhiều hạn chế như chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến hòa giải, đã một thời gian rất dài trước khi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ra đời thì pháp luật Việt Nam chưa có những quy định cụ thể như hình thức pháp lý, trình tự tiến hành hòa giải, hiệu lực pháp lý khi hòa giải thành, chưa có những quy định phối kết hợp giữa hòa giải và các phương thức giải quyết tranh chấp khác, chưa có sự thống nhất chung về pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại mà mới chỉ dừng lại ở việc quy định đó là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại. Khi Nghị định sô 22/2017/NĐ-CP ra đời tuy khỏa lấp phần lớn được những hạn chế trên nhưng về mặt thực tế nó lại quá mới mẻ đối với các doanh nghiệp, thậm chí nó còn ít được biết đến do khâu tuyên truyền phổ biến pháp luật của Việt Nam còn yếu, song cũng vẫn còn một số những quy định pháp lý làm các doanh nghiệp chưa an tâm lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp này. Vậy nguyên nhân của những hạn chế đó là:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa nắm bắt và phản ánh nhanh các yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng hòa giải mãi cho đến khi xảy ra các vấn đề quá tải về giải quyết các vụ án được giải quyết bởi Tòa án, vấn đề tồn đọng án cũng như tính hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng các phương thức khác kém hiệu quả chúng ta mới đi tìm đến và hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải. Trong khi đó, các quốc gia trên thế giới đã coi đây là phương thức giải quyết tranh chấp chủ yếu, quan trọng khi tham gia vào các quan hệ thương mại. Lý do này cũng xuất phát từ việc Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với những chính sách và định hướng lạc hậu, trình độ phát triển thấp lên nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, trong thời đại mở cửa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức và khó khăn như năng lực cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ doanh nghiệp cà cả nền kinh tế của nước ta còn yếu, nhiều thị trường quan trọng chưa được chú trọng đầu tư và phát triển. Bên cạnh đó, những yếu kém về quản ý và điều hành của các cơ quan nhà nước cũng tạo ra những cản trở đối với quá trình hội nhập kinh tế của đất nước. Việc tiếp cận với hệ thống pháp luật của thế giới tuy đã được thực hiện nhưng nó chua thực sự phù hợp và hiệu quả đối với tình hình kinh tế và nhận thức của giới doanh nhân Việt Nam. Vì vậy tuy đã có khung pháp lý về hòa giải thương mại nhưng trên thực tế nó vẫn còn được áp dụng ít, chưa thực sự đạt được kỳ vọng của các nhà làm luật bởi tính mới và hiệu quả của nó.

Thứ hai, các thương nhân Việt Nam chưa chuông các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế mà thường chọn Tòa án nhân dân để giải quyết, do bị ảnh hưởng to lớn của Tòa án nhân dân trong suốt thời kì kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không hiểu biết về hòa giải, chưa hội nhập sâu với thương mại thế giới. Nhận thức của doanh nghiệp về tác dụng của hòa giải còn hạn chế.

Có thể lấy ví dụ về hạn chế của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án thông qua vụ án sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

Đối với tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu nông thổ sản An Bình và bị đơn Công ty Cổ phần Việt Trung Hà Anh: ngày 03/7/2008, nguyên đơn khởi kiện, ngày 16/9/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, sau đó bị đơn khang cáo, ngày 03/7/2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm. Sau đó, bị đơn tiếp tục có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Đến ngày 30/5/2012, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyết định giám đốc thẩm số 06/2012/KDTM-GĐT quyết định không chấp nhận quyết định kháng nghị và giữ nguyên bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm. Như thế, vụ kiện này kéo dài 4 năm từ năm 2008 đến năm 2012 [58, tr.45 – 48].

Đối với tranh chấp về hợp đồng xây dựng giữa nguyên đơn Công ty TNHH Nhật Linh – Đà Nẵng và bị đơn Công ty Cổ phần Bạch Đằng: ngày 10/4/2004 nguyên đơn khởi kiện. Ngày 31/12/2007, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, sau đó cả nguyên đơn và bị đơn đều kháng cáo và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng kháng nghị. Ngày 08/7/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Sau đó, bị đơn có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngày 15/3/2012, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyết định giám đốc thẩm số 01/2012/KDTM-GĐT quyết định hủy cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm và giao hồ sơ vụ án xét xử sơ thẩm lại. Như vậy, vụ án này đã kéo dài 8 năm từ năm 2004 đến năm 2012 và vẫn còn tiếp tục được xét xử lại từ đầu [59, tr.43 – 48].

Có thể thấy các vụ án tranh chấp nói chung và án tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng được giải quyết bằng Tòa án chưa nói về tính hiệu quả nhưng xét về mặt thời gian thì thực sự là rất lâu để giải quyết xong một vụ tranh chấp, đặc biệt đối với đặc tính giải quyết mọi vấn đề phát sinh một cách nhanh chóng như trong lĩnh vực thương mại thì sự kéo dài này là vô cùng bất tiện, gây ra những hậu quả xấu trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải xét về mặt thời gian giải quyết đã có lợi thể hơn hẳn giải quyết bằng tố tụng tại Tòa án.

Tóm lại, để phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải phổ biến thì pháp luật Việt Nam cần có một khung pháp lý quy định rõ ràng hơn, chi tiết hơn về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế độc lập. Cụ thể, cần giải thích rõ vấn đề công nhận và cho thi hành kết quả hòa giải thành bởi Tòa án để doanh nghiệp có thể an tâm lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp này bởi tính ràng buộc của nó. Bên cạnh đó, về điều kiện để tiến hành hòa giải phải rõ ràng tránh những quy định chồng chéo giữa phương thức giải quyết tranh chấp này với phương thức tố tụng Trọng tài hay Tòa án. Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại

One thought on “Khóa luận: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại

  1. Pingback: Khóa luận: Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464