Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Thực trạng hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Ngày càng nhận thức được vai trò của tài sản trí tuệ đối với sự phát triển nền kinh tế, hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ngày càng đươc thực hiện phổ biến hơn. Tuy nhiên không phải đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nào cũng được đem đi góp vốn mà chủ yếu là các đối tượng như thương hiệu, nhãn hiệu, quyền sử dụng công nghệ. Còn hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu đối với các đối tượng là các giải pháp kỹ thuật hay các quy trình chưa được phổ biến. Hiện nay, nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước như VINACONEX, CONTREXIM, VIGLACERA… đã sử dụng quyền sử dụng nhãn hiệu để góp vốn thành lập doanh nghiệp với các tổ chức, cá nhân khác. Cụ thể Công ty Cổ phần Sông Đà đã sử dụng quyền sử dụng nhãn hiệu để góp vốn thành lập ba công ty con. Đó là, Công ty Cổ phần Sông Đà 909 (S99), Công ty Cổ phần Sông Đà 10 (SDT) và Công ty cổ phần Cơ giới Lắp máy và Xây dựng (VMC).
Một số trường hợp ví dụ về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam cho tới hiện nay:
- Góp vốn bằng thương hiệu VINASHIN vào các doanh nghiệp mới được thành lập:
Việc góp vốn bằng quyền sử dụng nhãn hiệu là nội dung áp dụng thí điểm theo Công văn số 2349/BTC-TCDN của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thí điểm đối với tập đoàn Vinashin ký ban hành ngày 25/2/2010. Đến nay, theo báo cáo của Vinashin, tất cả các trường hợp góp vốn bằng thương hiệu của Tập đoàn đều phát sinh từ năm 2009 trở về trước, do tập đoàn tự thực hiện, không có trường hợp nào phát sinh sau ngày 25/2/2010. Vinashin cũng chưa thực hiện điều chỉnh lại việc góp vốn bằng nhãn hiệu đã phát sinh trước đây theo hướng dẫn tại văn bản nói trên của Bộ Tài chính. Do vậy, việc đánh giá rút kinh nghiệm là rất khó. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Cũng theo báo cáo của Vinashin, số lượng doanh nghiệp nhận góp vốn bằng nhãn hiệu của Ctymẹ Vinashin là 60. Số lượng doanh nghiệp nhận góp vốn bằng nhãn hiệu của các công ty con Vinashin là 38. Tổng giá trị góp vốn bằng thương hiệu của cả 98 doanh nghiệp là 1.926 tỉ đồng; lỗ luỹ kế của các đơn vị nhận góp vốn tính đến 30/6/2010 là 616 tỉ đồng; cổ tức được chia luỹ kế đến nay là 107 tỉ đồng. Vinashin đề xuất giữ lại 13 doanh nghiệp, số còn lại thực hiện thoái vốn. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là khi rút vốn bằng thương hiệu của Vinashin hiện cũng đang có vướng mắc. Cụ thể, theo Luật doanh nghiệp 2005, Công ty cổ phần không được giảm vốn điều lệ, trong khi phần vốn góp bằng thương hiệu của Vinashin tại các công ty cổ phần đã nằm trong vốn điều lệ đăng ký theo quy định. Như vậy, việc thực hiện thí điểm góp vốn bằng giá trị thương hiệu của Vinashin là không khả thi. Hơn nữa, khi đem thương hiệu đi góp vốn vào nhiều doanh nghiệp khác nhau như ví dụ này, trong quá trình góp vốn bằng nhãn hiệu, nhiều khi bản thân các doanh nghiệp không giữ được uy tín ổn định một thời gian dài, thậm chí có thể bị giảm sút về uy tín, giá trị doanh nghiệp giảm mạnh…sẽ ảnh hưởng đến các bên có quyền khai thác nhãn hiệu đó. Tình trạng một số Tổng Công ty mang nhãn hiệu đi góp vốn với nhiều đối tác trong nhiều lĩnh vực không được đánh giá cao cũng có thể làm loãng giá trị nhãn hiệu.
Căn cứ vào quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 – Tài sản cố định vô hình, ban hành kèm theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính quy định về tiêu chuẩn ghi nhận tài sản thì nhãn hiệu, mặc dù là tài sản vô hình được tạo tư nội bộ doanh nghiệp nhưng không được ghi nhận là tài sản. Do vậy, phần vốn góp của VINASHIN thông qua Công ty TNHH một thành viên Công nghiệp Tàu thủy Soài Rạp vào Công ty Cổ phần VINASHIN Việt Quang sẽ không được ghi nhận là tài sản cố định để trích khấu hao. Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố đinh do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành cũng không quy định nhãn hiệu là tài sản cố định vô hình, bởi vậy nhiều doanh nghiệp đã phải gánh chịu những thiệt hại không nhỏ khi góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu.
- Góp vốn bằng nhãn hiệu Sông Đà
Khi nhắc đến việc “phát huy khả năng kinh tế của thương hiệu” không thể không kể đến Tổng công ty (TCty) Sông Đà. Nói về thương hiệu Sông Đà, rõ ràng cùng một thương hiệu nhưng tại các DN khác nhau lại được ghi nhận giá trị vốn góp khác nhau. Có vẻ như việc áp giá trị này mang tính chủ quan, mà theo ý kiến của các kiểm toán viên, đây là việc ghi nhận giá trị vô hình do nội bộ tạo ra là tài sản.Thương hiệu Sông Đà đang được chia năm sẻ bảy cho các Cty con, như Cty cổ phần Sông Đà 99 (S99), CTCP Sông Đà 10 (SDT). Tuy nhiên, tại các DN khác nhau lại được ghi nhận giá trị vốn góp khác nhau. Cụ thể: báo cáo kiểm toán 2007 khoản góp vốn bằng thương hiệu của Tổng công ty Sông Đà tại S99 là 250 triệu đồng, khấu hao lũy kế đến hết năm 2007 là 28 triệu đồng; tại SDT là 4,93 tỉ đồng, khấu hao luỹ kế đến hết 2007 là 1,214 tỉ đồng. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Đến thời điểm này, tính hợp pháp của việc góp vốn bằng thương hiệu vẫn chưa thống nhất. Hiện chưa có văn bản nào quy định riêng về góp vốn bằng nhãn hiệu nên việc này thường được lập hợp đồng như các hợp đồng góp vốn thông thường. Khó khăn xảy ra là: các DN thực hiện góp vốn bằng thương hiệu – trên thực tế chưa được định giá, song lại ghi trong giấy đăng ký kinh doanh là góp vốn bằng tiền. Hành động góp vốn bằng tiền nhưng lại không có tiền này sẽ gây rắc rối cho hệ thống kế toán; và có nhiều vướng mắc nếu DN góp vốn muốn rút vốn, hay DN nhận vốn góp không muốn tiếp tục hợp tác.
Tổng Công ty Sông Đà đã ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu Sông Đà”, theo đó các đơn vị thành viên đều phải có nghĩa vụ ký kết Hợp đồng sử dụng nhãn hiệu hàng hóa Sông Đà với Tổng Công ty. Điển hành là Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Phát triển Đô thị Sông Đà, đơn vị thành viên của Tổng Công ty Sông Đà, là doanh nghiệp được thành lập theo Quyết định số 26/TCT-HĐQT ngày 13/2/2007 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Sông Đà. Vốn điều lệ 100 tỷ đồng, trong đó, vốn bằng nhãn hiệu: 5 tỷ đồng. Ngoài ra, có thể kế đến các Nghị quyết của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Sông Đà (số 06/2007/TCT/HDQT, số 381/2007/TCT/HDQT) quy định “giá trị nhãn hiệu Sông Đà là một phần vốn góp của Tổng Công ty tương ứng 5% vốn điều lệ áp dụng cho các doanh nghiệp thành lập mới như Công ty Cổ phần thủy điện Cao Nguyên – Sông Đà; Công ty Cổ phần Năng lượng Sông Đà.
Vấn đề là, cùng ghi nhận phần giá trị thương hiệu vào vốn góp của chủ sở hữu, nhưng với mỗi doanh nghiệp lại ghi nhận một kiểu, mỗi công ty kiểm toán lại nhận định một cách. Việc góp vốn bằng thương hiệu là một hiện tượng đã và đang diễn ra, nhưng đến nay vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn cụ thể việc định giá và ghi nhận giá trị này. Có lẽ vì thế mà mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty kiểm toán có cách nhìn, cách “ứng xử” khác nhau, tạo sự thiếu đồng bộ trong hoạt động này.
3.2. Thực trạng hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở một số nước trên thế giới Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Con người cùng với trí tuệ ngày càng phát triển. Theo đó, các sản phẩm sáng tạo của trí tuệ con người cũng ngày càng được coi trọng và tạo nên giá trị lớn vào nền kinh tế đất nước. Do vậy, các tác phẩm, sản phẩm từ trí tuệ con người đã được pháp luật bảo hộ và được quy định là một trong những tài sản góp vốn vào các tổ chức kinh tế. Không chỉ có Việt Nam, các nước khác trên thế giới cũng có những quy định về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Dưới đây là một số nước tiêu biểu:
- Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những quốc gia trên thế giới nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của TSTT trong nền kinh tế thị trường như hiện nay.
Hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT đã sớm được ghi nhận trong Luật công ty và ngày càng hoàn thiện những quy định này hơn. Đến năm 2006, Trung Quốc đã ban hành mới Luật Công ty với những quy định mở hơn về hạn mức về góp vốn bằng quyền SHTT. Luật Công ty năm 2006 của Trung Quốc quy định “Cổ đông có quyền góp vốn bằng tiền, TSTT, quyền sử dụng đất hoặc các tài sản không phải là tiền khác”, “giá trị của các tài sản không phải là tiền khi góp vốn phải được định giá và xác định nhưng không được cao hơn hoặc thấp hơn giá trị của nó” và “tổng giá trị vốn góp bằng tiền của tất cả các cổ đông không được thấp hơn 30% vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn”. Những quy định này thực sự có hiệu quả trên thực tiễn. Trước khi ban hành luật mới này, quy định về tỷ lệ góp vốn vào công ty bằng TSTT chỉ là 20% vốn đăng ký, nay tăng lên đến 70%, thậm chí không hạn chế tỷ lệ góp vốn bằng TSTT ở các khu công nghiệp phát triển.
Tháng 4 năm 2006, Bộ Tài chính và Cơ quan SHTT Nhà nước Trung Quốc đã cùng ban hành văn bản quy định các trường hợp bắt buộc phải định giá TSTT. Chúng tiêu biểu như: các trường hợp sử dụng TSTT để góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, thế chấp TSTT mà không có tham chiếu trên thị trường thì phải yêu cầu định giá; các cơ quan hành chính phát mại, chuyển nhượng, trao đổi TSTT, các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi cơ cấu, hợp nhất, chia tách, giải thể, đầu tư, chuyển nhượng, trao đổi, phát mại, trả nợ…có yếu tố liên quan đến TSTT; và một số trường hợp khác. Bên cạnh đó, pháp luật Trung Quốc quy định chủ thể tiến hành đinh giá TSTT, hoạt động này phải được tiến hành bởi các tổ chức định giá tài sản do Bộ Tài chính phê chuẩn. Các tổ chức định giá này trong quá trình thực hiện hoạt động nghiệp vụ của mình có thể mời các chuyên gia về sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền…hỗ trợ về mặt chuyên môn, nhưng không vì thế mà được giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý cho những cán bộ làm công tác định giá. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Qua đây có thể thấy, Trung Quốc cũng như hầu hết ở các quốc gia khác, không có một công thức chung cho việc định giá TSTT. Việc phân tích, định giá một TSTT cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào đối tượng được định giá, mục đích của việc định giá để đưa ra phương thức phù hợp nhất. Chính phủ Trung Quốc đã sớm quy định những nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động định giá tài sản, đó là phải tuân thủ tính chân thực, tính khoa học và tính khả thi. Hoạt động định giá tài sản nói chung và hoạt động định giá TSTT nói riêng phải được tiến hành theo trình tự pháp luật quy định, từ đăng ký định giá, điều tra tài sản, đánh giá tính toán, nghiệm chứng xác nhận… và thường được tiến hành dựa trên giá trị gốc của tài sản, giá trị tịnh, giá thành, khả năng thu lời. Các biện pháp thường được thường áp dụng có thể kể đến: biện pháp giá trị thu lợi hiện thời, biện pháp tái tạo lại thành phẩm, biện pháp giá trị thị trường, biện pháp giá theo tính toán và một số biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, so với các trường hợp định giá tài sản khác thì định giá TSTT của doanh nghiệp có một số đặc điểm riêng, đó là việc định giá TSTT còn cần dựa trên nguyên tắc về tính mục đích và nguyên tắc cơ chế tác dụng của nội dung đánh giá. Mỗi nguyên tắc này có ý nghĩa riêng như nguyên tắc về tính mục đích là tiền đề để đưa ra phán đoán công bằng, hợp lý; còn nguyên tắc cơ chế tác dụng của nội dung đánh giá là cơ sở để đảm bảo hoạt động đánh giá được khoa học, chân thực và khả thi. Muốn cho hoạt động định giá tài sản SHTT được hiệu quả thì cần tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc này.
Như vậy, có thể nói, đến nay pháp luật Trung Quốc đã đặt ra nền tảng cơ bản cho hoạt động góp vốn kinh doanh bằng TSTT cũng như định giá tài sản này nhằm giúp cho chủ thể cũng như các tổ chức định giá có căn cứ để sử dụng tối đa hóa TSTT vào hoạt động đầu tư, kinh doanh. Từ thực tiễn có thể cho thấy, vài trò của Tài sản SHTT ngày càng thể hiện tầm quan trọng của nó đối với các doanh nghiệp Trung Quốc. Pháp luật tại Trung Quốc đã nâng cao tầm quan trọng của TSTT và tạo ra được những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động góp vốn bằng TSTT và phát huy những giá trị to lớn của nó.
- Pháp
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp pháp luật Cộng hòa Pháp quy định chủ thể, cá nhân kinh doanh có quyền được góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT và một số trường hợp quyền SHTT không được mang đi góp vào vốn điều lệ của một số loại hình công ty phức tạp như: Cổ phần niêm yết, công ty ủy thác…. Bởi vì quyền SHTT không phải là vật có thể cưỡng chế thi hành, ko mang lại bất kỳ sự bảo đảm nào cho chủ nợ.
Các quy định về góp vốn bằng quyền SHTT vào doanh nghiệp được thực hiện bởi bên góp vốn, bên nhận góp vốn và được nêu rõ tại các điều khoản của điều lệ: giá trị góp vốn, điều kiện, thời gian thực hiện,… Đây là một điểm tiến bộ và Việt Nam có thể học hỏi. Theo Luật Doanh nghiệp pháp luật Cộng hòa Pháp, định giá giá trị quyền SHTT được thực hiện bằng việc định lượng chi phí mà công ty phải chịu để hưởng lợi từ một đối tượng SHTT tương ứng. Điều kiện để được các cổ đông, thành viên tự thực hiện đánh giá: (i) giá trị quyền SHTT thấp hơn 30.000 € (Euro); (ii) tổng giá trị góp vốn bằng quyền SHTT không quá một phần hai vốn điều lệ. Các trường hợp còn lại, sự góp mặt của các chuyên gia thẩm định giá TSVH là bắt buộc cho việc đánh giá những đối tượng quyền SHTT mang đi góp vốn. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Theo pháp luật nước này, chủ thể có quyền thực hiện hoạt động định giá tài sản góp vốn là hiện vật nói chung và quyền SHTT nói riêng là Hội đồng về góp vốn định giá. Hội đồng này được chỉ định bởi Chánh Tòa thương mại theo yêu cầu thống nhất giữa những thành viên tương lai của công ty hoặc sáng lập viên hoặc một trong những sáng lập viên. Đối với tài sản là quyền SHTT – một loại tài sản đặc biệt hơn so với các TSVH khác – việc định giá TSTT được thực hiện bởi một tổ chức định giá chuyên nghiệp trong lĩnh vực SHTT.
Một điểm tiến bộ khác là Luật Pháp quy định cả trách nhiệm dân sự và hình sự đối với những chủ thể tiến hành định giá sai. Nếu Hội đồng về góp vốn tiến hành định giá TSTT được góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, Hội đồng này phải chịu trách nhiệm về tính chính xác về giá trị định giá. Nếu không có Hội đồng về góp vốn hoặc khi giá trị được xác định khác với giá trị do Hội đồng về góp vốn định giá, thì các thành viên chịu trách nhiệm liên đới với người thứ ba trong vòng năm năm về giá trị góp vốn bằng TSTT khi thành lập công ty. Về trách nhiệm hình sự, người có hành vi định giá vượt quá giá trị thực tế của tài sản góp vốn thì bị phạt tù năm năm và đóng phạt số tiền 350.000 Euro. Phạm vi áp dụng hình phạt này là tất cả những người tham gia định giá. Những quy định này sẽ ràng buộc hơn về trách nhiệm của chủ thể tiến hành định giá tài sản, bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên khi tham gia góp vốn bằng hình thức này.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, pháp luật của nước công hòa Pháp cũng đã chú trọng đến pháp luật góp vốn bằng tài sarn SHTT. Với nhiều quy định pháp luật rõ ràng, chặt chẽ về điều kiện góp vốn, định giá tài sản SHTT, đặc biệt là trách nhiệm của tổ chức thẩm định giá TSTT sẽ giúp cho hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT tại Pháp ngày càng phát triển và hiệu quả.
- Thổ Nhĩ Kỳ
Để tìm hiểu rõ hơn và có thể học tập kinh nghiệm về hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, ta đi tìm hiểu thực tiễn hoạt động này của một quốc gia khác như Thổ Nhĩ Kỳ. Theo pháp luật Thổ Nhĩ Kỳ, cụ thể là điều 127 Bộ Luật Thương Mại Thổ Nhĩ Kỳ, các loại tài sản có thể góp vốn bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, sáng tạo cá nhân… Theo đó, việc đánh giá TSTT là một trong những bước quan trọng của việc góp vốn bằng TSTT và phải được nêu rõ trong điều lệ của công ty. Chủ thể tiến hành định giá tài sản SHTT Theo quy định của Pháp luật Thổ Nhĩ Kỳ là một chuyên gia thẩm định giá được chỉ định bởi tòa án Thương Mại ở quận, huyện nơi có trụ sở chính của công ty. Quy định này là một phần mở rộng của quy tắc về đảm bảo vốn, nhằm bảo đảm an toàn cho giá trị ngang tiền của phần tài sản đóng góp. Giá trị được định giá bởi Chuyên gia phải được ghi rõ trong điều lệ của công ty.
Như vậy, góp vốn bằng quyền SHTT theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có sự khác nhau nhưng nhìn chung đều đề cao vai trò của việc thẩm định giá trị của TSTT. Với xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu, thì việc hoàn thiện hành lang pháp lý về góp vốn bằng quyền SHTT là cơ sở để các chủ thể, cá nhân hiểu rõ vai trò của TSTT và áp dụng hiệu quả trên thực tiễn. Pháp luật mỗi nước cần nâng cao tầm quan trọng của TSTT, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động góp vốn bằng TSTT trên thực tiễn hơn để TSTT được khai thác một cách triệt để và có hiệu quả.
3.3. Một số biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
3.3.1. Giải pháp hàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Hệ thông pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ tuy đã được sửa đổi bổ sung, tạo được hành lang pháp lý bảo đảm cho hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ được thực thi. Tuy nhiên hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều điểm hạn chế làm cho việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ chưa đạt được hiệu quả trên thực tiễn.Từ thực tiễn cho thấy hệ thống pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ vẫn chưa được đồng bộ và thống nhất với nhau. Tài sản trí tuệ là loại tài sản vô hình đặc biệt nhưng vẫn chưa có những văn bản pháp luật riêng quy định cụ thể về các điều kiện góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ hay thủ tục góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Tài sản sở hữu trí tuệ được định giá vẫn còn theo thỏa thuận của các bên tham gia góp vốn hoặc do cơ quan định giá chuyên nghiệp nhưng tiêu chí để định giá thì chưa có những tiêu chí cụ thể. Điều này gây ra những khó khăn cho việc định giá tài sản trí tuệ khi tham gia góp vốn mà vốn dĩ đây là một loại tài sản vô hình đặc biệt. Từ những điều này, để hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ đặt được nhiều hiệu quả hơn nữa trên thực tiễn, đặc biệt là trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay thì yêu cầu về hoàn thiện hệ thống pháp luật là cần thiết.
- Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ:
Thứ nhất,từ các quy định của pháp luật về chủ thể có quyền góp vốn bằng quyền SHTT chưa cụ thể, rõ ràng. Hiện nay, căn cứ vào các quy định của Luật SHTT cho chúng ta hiểu rằng, chủ thể góp vốn bằng quyền SHTT là chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng các đối tượng quyền SHTT, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, thực tế chưa có một văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về các chủ thể góp vốn bằng quyền SHTT. Vì vậy, pháp luật Việt nam cần bổ sung quy định về chủ thể góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT.
Thứ hai, hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện góp vốn và thủ tục góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.Từ thực tiễn, ta thấy rằng chưa có văn bản nào quy định về điều kiện và thủ tục góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ một cách rõ ràng mà các bên tham gia góp vốn chỉ thực hiện căn cứ theo các quy định về góp vốn một cách chung chung. Hơn nữa, hậu quả pháp lý của góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ có hai trường hợp xảy ra là: hình thành pháp nhân mới và không hình thành pháp nhân mới nên cần có những quy định cụ thể hướng dẫn thủ tục góp vốn cho từng trường hợp riêng. Vậy, tài sản góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ là trường hợp đặc biệt sinh ra từ các đặc trưng của loại tài sản vô hình này nên rất cần có những văn bản pháp luật quy định cụ thể về điều kiện và thủ tục góp vốn. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ ba, bổ sung quy định pháp luật về định giá tài sản: Ở Việt Nam, việc góp vốn, liên doanh bằng tài sản trí tuệ (chủ yếu là góp vốn bằng thương hiệu) diễn ra khá sôi động, đi trước các quy định của pháp luật. Từ những năm 1990, các tập đoàn đa quốc gia đã tiếp cận thị trường Việt Nam thông qua việc liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập với các DN trong nước.
Thực tiễn trong hoạt động liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ chú ý vào giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản hữu hình mà chưa chú ý đến các tài sản vô hình như tài sản trí tuệ. Đến nay vẫn chưa có quy định hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu, vì hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và cũng chưa có tổng kết, đánh giá được hết các vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn.Việc xác định giá trị, nhượng quyền sử dụng tài sản trí tuệ, góp vốn liên doanh, liên kết… bằng giá trị tài sản trí tuệ đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở nước ta đến nay vẫn còn là một khoảng trống.
Theo ủy ban kinh tế Liên Hợp Quốc, có 4 hình thức định giá tài tài sản sở hữu trí tuệ như đã trình bày ở phần trước và theo hướng dẫn số 4 của Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế, có ba phương pháp để thẩm định giá tài sản vô hình. Cụ thể là phương pháp chi phí, phương pháp thu nhập và phương pháp thị trường. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này không phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta. Bởi vậy, chúng ta cần phải xây dựng những phương pháp xác định giá trị quyền SHTT trên cở sở học hỏi, kế thừa quy định của Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế nhưng phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Vì vậy Pháp luật Việt Nam cần bổ sung các quy định cũng như các tiêu chí để định giá tài sản sở hữu trí tuệ, góp phần tạo thuận lợi cho quá trình góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ tư, bổ sung quy định về hợp đồng góp vốn bằng quyền SHTT: Có thể nhận thấy rằng, góp vốn bằng quyền SHTT là một hoạt động mang tính chất đặc thù, có nhiều điểm khác biết so với việc góp vốn bằng tài sản hữu hình thông thường. Dó đó, pháp luật Việt Nam nên có Nghị định hướng dẫn thủ tục góp vốn bằng quyền SHTT, trong đó có quy định về hợp đồng góp vốn bằng quyền SHTT. Nội dung hợp đồng góp vốn bằng quyền SHTTphải đầy đủ các điểu khoản để đảm bảo tính pháp lý và bảo đảm quyền và lợi ích của các bên chủ thể liên quan. Nội dung của hợp đồng góp vốn bằng quyền SHTT cần quy định cụ thể, chi tiết, đầy đủ các điều khoản cơ bản cụ thể như sau:
- Tên, địa chỉ của các bên;
- Đối tượng quyền SHTT dùng để góp vốn;
- Thời hạn góp vốn;
- Giá trị quyền SHTT góp vốn;
- Thời điểm giao quyền sở hữu/sử dụng các đối tượng quyền SHTT dùng để góp vốn;
- Quyền của người thứ ba đối với tài sản góp vốn (nếu có);
- Quyền và trách nhiệm của các bên góp vốn;
- Nghĩa vụ của các bên khi vi phạm hợp đồng;
- Giải quyết tranh chấp…
Hợp đồng luôn giữ một vài trò quan trọng trong mọi giao dịch kinh doanh.
Do đó, hợp đồng quy định càng rõ ràng, chi tiết, chặt chẽ càng thuận lợi cho các chủ thể tuân thủ, áp dụng và hạn chế tối đa rủi ro tranh chấp phát sinh sau này.
3.2.3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật góp vốn bằng quyền SHTT Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ nhất,cần có sự phân biệt rõ ràng thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời cũng phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này. Hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ có sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý nhà nước như: Cục Sở Hữu Trí Tuệ, Sở kế hoạch đầu tư, Cơ quan quản lý thuế,… nên để hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ đạt hiệu quả cao thì cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan này. Tuy nhiên vẫn cần xác định rõ ràng thẩm quyền của từng cơ quan quản lý nhà nước tham gia để không có sự chồng chéo về chức năng, thẩm quyền của các cơ quan này. Hơn thế nữa, nhiệm vụ của các cơ quan này không chỉ là nắm bắt tình tình thực hiện pháp luật góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT mà còn phải thường xuyên tổng kết đánh giá hoạt động góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT, tổ chức nghiên cứu; từ đó, đề xuất, tư vấn sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT nhằm điều chỉnh kịp thời hoạt động góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT, gắn liền với thực tiễn và nâng cao hiệu quả thực thi.
Hai là, nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước trong góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ và hoàn thiện thủ tục về hành chính quản lý quyền sở hữu trí tuệ để thủ tục thực hiện việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ đạt đươc hiệu quả cao nhất.
Hai là, cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc quản lý sở hữu trí tuệ, vì đây là một lĩnh vực phực tạp. Cần xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT; đồng thời, nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định.
Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo giục pháp luật cho các bên trong quan hệ góp vốn bằng quyền SHTT nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật, nắm được các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Để tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về ổn định, cần nâng cao nhận thức hiểu biết pháp luật của các nhà đầu tư, nắm được các quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ góp vốn, từ đó, chủ động hơn trong việc thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi tham gia vào quan hệ góp vốn bằng quyền Sở hữu trí tuệ.
KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành một loại tài sản góp vốn ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Đây là loại tài sản góp vốn đặc biệt, có bản chất và mang những đặc trưng khác với những tài sản thông thường.Tuy có thể tạo ra nhiều lợi ích vật chất cho chủ thể khai thác, nhưng loại tài sản đặc biệt này cũng gây ra khá nhiều rắc rối và khó khăn cho các bên liên quan khi đưa nó trở thành tài sản góp vốn vào doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật muộn hơn so với các quốc gia khác. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009, Bộ luật dân sự 2015, luật doanh nghiệp 2014… đã có nhiều quy định khắc phục được những thiếu sót của các văn bản pháp luật trước đó. Song hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành tuy đã được sửa đổi, bổ sung những quy định mới nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế.
Với việc phân tích những vấn đề lý luận, những quy định pháp luật cụ thể có đối chiếu với thực tế thực thi,khóa luận đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó, khóa luận đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động này tại Việt Nam.
Đối với phạm vi của khóa luận tốt nghiệp cử nhân, có lẽ chưa thể bao quát hết được các vấn đề phức tạp và đưa ra được các giải pháp toàn diện để giải quyết những bất cập của pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Tuy nhiên, hy vọng các giải pháp mà khóa luận đưa ra sẽ góp phần nào đó hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ